Đối chiếu thuật ngữ hôn nhân và gia đình AnhViệt (qua Family Law Act của Anh và Luật Hôn nhân và Gia đình của Việt Nam)Đối chiếu thuật ngữ hôn nhân và gia đình AnhViệt (qua Family Law Act của Anh và Luật Hôn nhân và Gia đình của Việt Nam)Đối chiếu thuật ngữ hôn nhân và gia đình AnhViệt (qua Family Law Act của Anh và Luật Hôn nhân và Gia đình của Việt Nam)Đối chiếu thuật ngữ hôn nhân và gia đình AnhViệt (qua Family Law Act của Anh và Luật Hôn nhân và Gia đình của Việt Nam)Đối chiếu thuật ngữ hôn nhân và gia đình AnhViệt (qua Family Law Act của Anh và Luật Hôn nhân và Gia đình của Việt Nam)Đối chiếu thuật ngữ hôn nhân và gia đình AnhViệt (qua Family Law Act của Anh và Luật Hôn nhân và Gia đình của Việt Nam)
Trang 1Hà Nội - 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ MINH TRANG
ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH ANH-VIỆT
(QUA FAMILY LAW ACT CỦA ANH
VÀ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA VIỆT NAM)
LUẬN ÁN TIẾN SỸ NGÔN NGỮ HỌC
Trang 2Hà Nội – 2018
VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ MINH TRANG
ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH ANH-VIỆT
(QUA FAMILY LAW ACT CỦA ANH
VÀ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA VIỆT NAM)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
LUẬN ÁN TIẾN SỸ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS NGUYỄN HỮU HOÀNH
2. GS.TS NGUYỄN VĂN LỢI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu
và số liệu trong luận án là trung thực Đề tài nghiên cứu và các kết quả chưađược ai công bố
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Minh Trang
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu thuật ngữ học trên thế giới và tại Việt Nam 8
1.1.2. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ hôn nhân và gia đình 15
1.2.1. Một số vấn đề lý luận về thuật ngữ 16
1.2.2. Một số vấn đề về lý thuyết định danh ngôn ngữ 30
1.2.3. Một số vấn đề lý luận về ngôn ngữ học đối chiếu 33
Chương 2: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA THUẬT NGỮ 39
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
2.1. Nhận diện và xác lập danh sách thuật ngữ hôn nhân và gia đình 39
tiếng Anh và tiếng Việt
2.2. Đơn vị và phương thức cấu tạo từ trong tiếng Anh và tiếng Việt 40
2.2.1. Đơn vị và phương thức cấu tạo từ trong tiếng Anh 40
2.2.2. Đơn vị và phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt 42
2.3. Đơn vị cấu tạo thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh và tiếng Việt 44
2.4. Đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh và 45tiếng Việt
2.4.1. Thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh và tiếng Việt xét từ 46
số lượng yếu tố thuật ngữ
2.4.2. Thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh và tiếng Việt xét từ 49
phương thức cấu tạo
2.4.3. Thuật ngữ hôn nhân gia đình tiếng Anh, tiếng Việt xét từ phương diện từ loại53
Trang 52.4.4. Mô hình cấu tạo thuật ngữ hôn nhân gia đình tiếng Anh và tiếng Việt 56
2.5. Một số điểm tương đồng và khác biệt về cấu tạo giữa thuật ngữ hôn 65 nhân và gia đình tiếng Anh và tiếng Việt
2.5.1. Về số lượng yếu tố thuật ngữ 65
2.5.2. Về phương thức cấu tạo 67
2.5.3. Về phương diện từ loại 68
Chương 3: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA THUẬT NGỮ 72
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
3.1. Các con đường hình thành thuật ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt 72
3.1.1. Thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường 73
3.1.2. Tạo thuật ngữ trên ngữ liệu vốn có 74
3.1.3. Vay mượn thuật ngữ nước ngoài 75
3.2. Con đường hình thành thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh 78
và tiếng Việt
3.2.1. Con đường hình thành thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh 78
3.2.2. Con đường hình thành thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Việt 80
3.3. Các tiểu hệ thống và các phạm trù ngữ nghĩa của thuật ngữ hôn 81nhân và gia đình tiếng Anh và tiếng Việt trong Family Law Act
và Luật Hôn nhân và Gia đình
3.3.1. Các tiểu hệ thống của thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh và 82tiếng Việt
3.3.2. Các phạm trù ngữ nghĩa của thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh 82
và tiếng Việt
3.4. Đặc điểm định danh thuật ngữ HNGĐ tiếng Anh và tiếng Việt 84
3.4.1. Các bậc định danh của thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh và 84
tiếng Việt
Trang 63.4.2. Mô hình định danh các thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh và
tiếng Việt
3.5. Một số điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm ngữ nghĩa giữa
thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh và tiếng Việt
3.5.1. Về con đường hình thành
3.5.2. Về các phạm trù ngữ nghĩa
3.5.3. Về đặc trưng định danh
3.6. Tiểu kết chương 3
Chương 4: CHUYỂN DỊCH THUẬT NGỮ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
ANH - VIỆT VÀ VIỆC CHUẨN HÓA THUẬT NGỮ HÔN NHÂN
VÀ GIA ĐÌNH TIẾNG VIỆT
4.1. Một số vấn đề lý thuyết về dịch thuật và dịch thuật ngữ
4.1.1. Dịch thuật
4.1.2. Dịch thuật ngữ
4.1.3. Mối quan hệ giữa nghiên cứu đối chiếu và dịch thuật
4.2. Thực trạng chuyển dịch thuật ngữ hôn nhân và gia đình Anh - Việt
4.2.1. Các tương đương dịch thuật của các thuật ngữ hôn nhân và gia đình
tiếng Anh xét về phương diện cấu tạo
4.2.2. Các tương đương dịch thuật của các thuật ngữ hôn nhân và gia đình
tiếng Anh xét về phương diện nội dung
4.2.3. Các tương đương dịch thuật của các thuật ngữ hôn nhân và gia đình
tiếng Anh xét về phương thức chuyển dịch
4.2.4. Nhận xét về thực trạng chuyển dịch thuật ngữ hôn nhân và gia đình từ
tiếng Anh sang tiếng Việt
4.2.5. Một số đề xuất trong chuyển dịch thuật ngữ hôn nhân và gia đình từ
tiếng Anh sang tiếng Việt
4.3. Vấn đề chuẩn hóa thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Việt
4.3.1. Khái niệm chuẩn và chuẩn hóa
8598
9899100102103
103103109113114115117121125128131132
Trang 74.3.2. Chuẩn hóa thuật ngữ
4.3.3. Thực trạng thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Việt chưa đạt chuẩn
4.3.4. Một số đề xuất chuẩn hóa thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Việt
chưa đạt chuẩn
4.4 Tiểu kết chương 4
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: Thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh và các tương đương
dịch thuật trong tiếng Việt PHỤ LỤC 2: Danh sách các thuật ngữ tiếng Việt đề xuất chuẩn hóa
134136137
141143147148
Trang 8BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
HNGĐ: Hôn nhân và gia đình
YTTN: Yếu tố thuật ngữ
TDDT: Tương đương dịch thuật
NXB: Nhà xuất bản
KHXH: Khoa học xã hội
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Số lượng YTTN trong thuật ngữ HNGĐ tiếng Anh có cấu tạo là
từ Bảng 2.2 Số lượng YTTN trong thuật ngữ HNGĐ tiếng Việt có cấu tạo
là từ Bảng 2.3 Số lượng YTTN trong thuật ngữ HNGĐ tiếng Anh có cấu tạo
là ngữ Bảng 2.4 Số lượng YTTN trong thuật ngữ HNGĐ tiếng Việt có cấutạo là ngữ Bảng 2.5: Thuật ngữ HNGĐ Anh là từ xét từ phương thức cấutạo
Bảng 2.6: Thuật ngữ HNGĐ tiếng Anh là từ phái sinh xét từ phương thức cấu
tạo Bảng 2.7: Thuật ngữ HNGĐ tiếng Anh là từ ghép xét từ phương thức
cấu tạo Bảng 2.8: Thuật ngữ HNGĐ tiếng Anh là ngữ xét từ phương thức
cấu tạo Bảng 2.9: Thuật ngữ HNGĐ tiếng Việt là từ xét từ phương thức cấu
tạo Bảng 2.10: Thuật ngữ HNGĐ tiếng Việt là từ ghép xét từ phương thức
cấu tạo Bảng 2.11: Thuật ngữ HNGĐ tiếng Việt là ngữ xét từ phương thức
cấu tạo Bảng 2.12: Thuật ngữ HNGĐ tiếng Anh là từ xét từ phương diện từ loại Bảng 2.13: Thuật ngữ HNGĐ tiếng Anh là ngữ xét từ phương diện từ
loại Bảng 2.14: Thuật ngữ HNGĐ tiếng Việt là từ xét từ phương diện từ
loại Bảng 2.15: Thuật ngữ HNGĐ tiếng Việt là ngữ xét từ phương diện từ
loại Bảng 2.16: Thuật ngữ HNGĐ Anh - Việt xét từ số lượng YTTN
Bảng 3.1: Các đặc trưng định danh thuật ngữ HNGĐ tiếng Anh
Bảng 3.2: Các đặc trưng định danh thuật ngữ HNGĐ tiếng Việt
Bảng 4.1 Tương đương dịch thuật tiếng Việt của thuật ngữ hôn nhân và
gia đình tiếng Anh từ phương diện hình thức
Bảng 4.2 Các trường hợp tương đương 1 thuật ngữ tiếng Anh/ nhiều
tương đương dịch thuật tiếng Việt
Bảng 4.3 Các trường hợp tương đương nhiều thuật ngữ tiếng Anh/ một
tương dịch thuật tiếng Việt
474748484950505152525253545555679298117119119
Trang 10Bảng 4.4 Các trường hợp tương đương nhiều thuật ngữ tiếng Anh/
nhiều tương dịch thuật tiếng Việt
Bảng 4.5 Các tương đương dịch thuật của thuật ngữ HNGĐ tiếng Anh xét
từ phương diện nội dung
121121
Trang 11Thuật ngữ học - những vấn đề lí luận và thực tiễn do Hà Quang Năng làm chủ
biên xuất bản năm 2012 các tác giả đã nhấn mạnh “xây dựng thuật ngữ khoahọc là công việc có tầm quan trọng đặc biệt trong công cuộc phát triển khoahọc và kỹ thuật của đất nước, có tác động to lớn đến sự phát triển nền giáo dụccủa quốc gia.” [41,tr.7] Vì lẽ đó, việc nghiên cứu về thuật ngữ đã lôi cuốn được
sự chú ý của nhiều nhà khoa học ở trong nước và thế giới
So với hệ thống pháp luật của nhiều nước khác trên thế giới, có thể nóirằng hệ thống pháp luật của Việt Nam còn khá non trẻ Để đẩy nhanh quá trìnhhội nhập và xây dựng thành công nhà nước pháp quyền, việc nghiên cứu hoànthiện hệ thống pháp luật là một nhiệm vụ vô cùng cấp bách và hết sức quantrọng của nước ta hiện nay Trong các ngành luật ở Việt Nam, luật Hôn nhân vàgia đình là một ngành luật có vai trò quan trọng đặc biệt Nếu như các ngànhluật khác chỉ liên quan đến một số đối tượng nhất định (ví dụ luật hiến phápđiều chỉnh các quan hệ cơ bản về tổ chức quyền lực nhà nước, về chế độ chínhtrị, kinh tế, v.v.; luật kinh tế chỉ liên quan đến những cá nhân, tổ chức, đơn vịkinh tế; luật lao động chỉ liên quan đến người lao động và sử dụng lao động,v.v.) thì luật Hôn nhân và gia đình có liên quan đến tất cả mọi thành viên trong
xã hội không phân biệt độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa vị, tôn giáo, giàunghèo, v.v Mặt khác, cùng với sự hòa nhập về mọi mặt, các quan hệ hôn nhân
Trang 12và gia đình có yếu tố nước ngoài ngày càng trở nên phổ biến ở Việt Nam.Những mối quan hệ đó có những tác động đáng kể đến đời sống gia đình - tếbào của xã hội, đến đời sống kinh tế - xã hội của nhiều người dân cũng như của
xã hội Việt Nam Thực tế này đòi hỏi những người trực tiếp tham gia hay liênquan đến các mối quan hệ này cũng như những người công tác trong lĩnh vựchôn nhân và gia đình phải có những hiểu biết thấu đáo về luật pháp và quy địnhcủa các quốc gia trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Lẽ dĩ nhiên, yêu cầu trên
sẽ là bất khả thi nếu các văn bản luật không được chuyển dịch một cách chuẩnxác giữa các ngôn ngữ Trong chuyển dịch các văn bản khoa học như văn bảnluật, Newmark [116,tr.151] cho rằng chủ yếu dựa vào thuật ngữ dù thuật ngữchỉ chiếm khoảng từ 5% đến 10% nội dung văn bản khoa học
Qua khảo sát ban đầu chúng tôi nhận thấy, các thuật ngữ hôn nhân vàgia đình tiếng Anh chưa được chuyển dịch một cách hệ thống sang tiếng Việt
mà mới chỉ nằm rải rác đâu đó trong các từ điển Anh - Việt Thêm vào đó, một
số thuật ngữ của lĩnh vực hôn nhân gia đình được sử dụng trong các văn bảnpháp lý trong tiếng Việt chưa có tính hệ thống cao, còn mang sắc thái miêu tảchứ chưa có tính chất định danh; một số thuật ngữ có trong tiếng Anh và một
số ngôn ngữ khác nhưng chưa có trong tiếng Việt
Vì vậy, việc nghiên cứu đối chiếu các đặc điểm của hệ thuật ngữ hônnhân gia đình trong tiếng Anh và tiếng Việt một cách bài bản nhằm chuyểndịch một cách chính xác các thuật ngữ hôn nhân và gia đình từ tiếng Anh sangtiếng Việt, chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ trong luật và các văn bản liên quan
để góp phần hoàn thiện hệ thống luật nói chung và luật hôn nhân gia đình nóiriêng đã trở nên hết sức cấp thiết Tuy nhiên, cho đến nay, vấn đề này vẫnchưa được các nhà nghiên cứu quan tâm
Chọn đề tài nghiên cứu “Đối chiếu thuật ngữ hôn nhân và gia đình Anh-Việt (qua Family Law Act của Anh và Luật Hôn nhân và Gia đình của Việt Nam)”, chúng tôi muốn góp phần đáp ứng nhu cầu cấp thiết thực tế đặt ra.
Trang 132. Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các thuật ngữ hôn nhân và gia đìnhtiếng Anh và tiếng Việt thu thập trong các văn bản Family Law Act (Đạo luậtgia đình) của Anh và các văn bản Luật Hôn nhân và Gia đình của Việt Namcùng các văn bản, tài liệu liên quan trong tiếng Anh và tiếng Việt
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu đối chiếu các đặc điểm về cấu tạo và ngữnghĩa của thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh và tiếng Việt, thực trạngchuyển dịch thuật ngữ hôn nhân và gia đình từ tiếng Anh sang tiếng Việt
2.3. Tư liệu nghiên cứu
1190 thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh và 1175 thuật ngữ hônnhân và gia đình tiếng Việt được thu thập trong các văn bản Family Law Actcủa Anh và Luật Hôn nhân và Gia đình của Việt Nam, cụ thể như sau:
1. UK Family Law Act 1986 - Stationary Office Limited, 1986
2. UK Family Law Act 1996 - Stationary Office Limited, 1996
3. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 - NXB Chính trị quốc gia, 2010
4. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 - NXB Lao động, 2014
Trong số các luật trên, UK Family Law Act 1996 và Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 là các luật hiện đang có hiệu lực thi hành tại Anh và Việt Nam.Ngoài ra, các thuật ngữ còn được thu thập từ các văn bản hướng dẫn thi hành và các tài liệu liên quan đến các luật trên
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích hướng tới của luận án là:
- Làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thuật ngữ hônnhân và gia đình Anh - Việt về đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa (trong đó tậptrung vào đặc điểm định danh)
Trang 14- Góp phần chuyển dịch một cách chuẩn xác thuật ngữ hôn nhân và giađình tiếng Anh trong các văn bản Family Law Act sang tiếng Việt (nhằm phục
vụ cho việc dạy học Tiếng Anh chuyên ngành và làm từ điển.)
- Góp phần chuẩn hóa thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Việt trong LuậtHôn nhân và Gia đình
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án tập trung vào các nhiệm vụ sau:
- Xây dựng cơ sở lý luận cho nghiên cứu
- Xác lập danh sách thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh trong cácvăn bản Family Law Act và tiếng Việt trong các văn bản Luật Hôn nhân vàGia đình
- Phân tích, đối chiếu các đặc điểm về cấu trúc và ngữ nghĩa của thuậtngữ hôn nhân và gia đình trong tiếng Anh và tiếng Việt
- Đề xuất phương hướng, biện pháp cụ thể trong chuyển dịch thuật ngữhôn nhân và gia đình tiếng Anh sang tiếng Việt
- Đề xuất phương hướng, biện pháp cụ thể để chuẩn hóa thuật ngữ hônnhân và gia đình tiếng Việt
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp và thủpháp nghiên cứu chủ yếu sau:
4.1. Phương pháp miêu tả
Phương pháp miêu tả là hệ thống những thủ pháp nghiên cứu được vậndụng để thể hiện đặc tính của các hiện tượng ngôn ngữ trong một giai đoạn pháttriển nào đó của nó Đây là phương pháp phân tích đồng đại Phương pháp này
có ý nghĩa to lớn đối với việc học tập và giảng dạy ngôn ngữ [11,tr.422]
Trong phương pháp này, chúng tôi sử dụng những thủ pháp nghiên cứu sau:
- Thủ pháp phân tích theo thành tố trực tiếp: Thủ pháp này đã được nhiềunhà khoa học vận dụng vào phân tích cấu trúc cú pháp và cấu trúc của từ
Trang 15Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng thủ pháp phân tích theo thành tố trựctiếp để miêu tả cấu trúc của thuật ngữ hôn nhân gia đình trong tiếng Anh vàtiếng Việt, từ đó xác định các mô hình cấu tạo của các thuật ngữ.
- Thủ pháp thống kê: Thủ pháp này được sử dụng để tìm ra đặc trưng vềlượng của các hiện tượng ngôn ngữ Thủ pháp thống kê được sử dụng trongnghiên cứu này để miêu tả định lượng thuật ngữ hôn nhân gia đình trong haingôn ngữ theo các tiêu chí cần thiết Các kết quả thống kê sẽ được trình bàydưới dạng bảng biểu để tiện cho việc theo dõi
4.2. Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp này là một hệ thống các thủ pháp nghiên cứu khoa học, một
hệ thống phân tích được sử dụng để tìm ra cái chung và cái đặc thù trong cácngôn ngữ được đối chiếu không phụ thuộc vào nguồn gốc của ngôn ngữ Vớiđặc thù của mình, phương pháp này đã được áp dụng nhiều trong dạy họcngoại ngữ, biên - phiên dịch, biên soạn từ điển đối chiếu, v.v
Các thuật ngữ hôn nhân và gia đình là một trường từ vựng - ngữ nghĩa, dovậy thủ pháp đối chiếu trường từ vựng - ngữ nghĩa được chúng tôi sử dụng khiđối chiếu hệ thống thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh với tiếng Việt
4.3. Phương pháp dịch
Phương pháp này sẽ được sử dụng để xem xét tổng quát các cách thức dịchcác đơn vị ngôn ngữ từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác Căn cứ vào đó,chúng tôi sẽ khảo sát, nhận xét, đánh giá, đề xuất các phương pháp và cáchthức chuyển dịch thuật ngữ hôn nhân và gia đình từ tiếng Anh sang tiếng Việt.Tóm lại, các phương pháp nghiên cứu trên sẽ được đồng thời sử dụng trongquá trình thực hiện luận án Các phương pháp này bổ sung, hỗ trợ cho nhau đểđem lại kết quả chính xác cho các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra
5. Cái mới của luận án
Đến nay, việc nghiên cứu thuật ngữ học trên thế giới cũng như tại ViệtNam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể với rất nhiều công trình nghiên cứu
Trang 16Có thể nói rằng, tại Việt Nam, việc ứng dụng những thành tựu và kết quả củanhững công trình khoa học về lý thuyết thuật ngữ vào nghiên cứu các hệ thuậtngữ của các ngành khoa học cụ thể không còn là một hướng đi mới Tuynhiên, luận án này là công trình đầu tiên nghiên cứu đối chiếu một cách toàndiện và chuyên sâu các thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh và tiếng Việttrong các văn bản Family Law Act của Anh và Luật Hôn nhân và Gia đình củaViệt Nam từ góc độ ngôn ngữ học nhằm chuyển dịch chuẩn xác các thuật ngữhôn nhân và gia đình từ tiếng Anh sang tiếng Việt và chuẩn hóa các thuật ngữhôn nhân và gia đình tiếng Việt Đây chính là điểm mới của luận án.
6. Những đóng góp của luận án
Luận án là công trình khoa học đầu tiên về đối chiếu thuật ngữ hôn nhân
và gia đình trong các văn bản Family Law Act của Anh và các văn bản LuậtHôn nhân và Gia đình của Việt Nam Theo đó, luận án có ý nghĩa lý luận vàthực tiễn cao
6.1. Về mặt lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ:
- Góp phần bổ sung và mở rộng các vấn đề lý luận về thuật ngữ học vàchuẩn hóa thuật ngữ trên cơ sở ngữ liệu thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếngAnh và tiếng Việt
- Góp phần bổ sung và hoàn thiện lý thuyết về đối chiếu, lý thuyết dịchthuật và dịch thuật ngữ trên cơ sở đối chiếu hai hệ thuật ngữ và khảo sát việcchuyển dịch thuật ngữ hôn nhân và gia đình từ tiếng Anh sang tiếng Việt
6.2. Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ:
- Giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn đặc điểm của thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh và tiếng Việt
- Là cơ sở để biên soạn từ điển thuật ngữ hôn nhân và gia đình Anh-Việt
- Góp phần hoàn thiện các thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Việt
Trang 17- Là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc giảng dạy, dịch thuật, biên soạncác giáo trình - đặc biệt là giáo trình tiếng Anh chuyên ngành hôn nhân và giađình; là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu về thuật ngữ học.
Chương 3: Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa của thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh và tiếng Việt với các nội dung: đối chiếu con đường hình
thành, các pham trù ngữ nghĩa và đặc điểm định danh của thuật ngữ hôn nhân
và gia đình tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 4: Chuyển dịch thuật ngữ hôn nhân và gia đình Anh-Việt và việc chuẩn hóa thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Việt với hai nội dung
chính là: khảo sát, đánh giá về các tương đương dịch thuật tiếng Việt của cácthuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh, đưa ra các đề xuất để chuẩn hóaviệc chuyển dịch thuật ngữ hôn nhân và gia đình từ tiếng Anh sang tiếng Việt
và đề xuất các phương án chuẩn hóa các thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếngViệt chưa đạt chuẩn
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
Trong chương này, chúng tôi khái quát những nét chính trong lịch sửnghiên cứu thuật ngữ học trên thế giới và tại Việt Nam cũng như tình hìnhnghiên cứu thuật ngữ hôn nhân và gia đình trong tiếng Anh và tiếng Việt Những
cơ sở lý luận làm nền tảng cho nghiên cứu như những vấn đề lý luận về thuậtngữ, ngôn ngữ học đối chiếu, định danh ngôn ngữ cũng được trình bày cụ thể
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Sự hình thành và ra đời của thuật ngữ học vừa mang tính tự sinh giốngnhư sự ra đời của công nghệ lại vừa mang tính lý thuyết giống như động lựcđằng sau sự ra đời của khoa học Với tư cách là một công cụ hữu ích phục vụcho việc truyền bá kiến thức và sự lớn mạnh của công nghệ và truyền thông,thuật ngữ học xuất hiện từ rất sớm, vào khoảng thế kỉ XVIII Tuy nhiên, phảiđến tận thể kỉ XX thì vị thế của thuật ngữ học mới được thừa nhận và thuậtngữ mới được nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu thuật ngữ học trên thế giới và tại Việt Nam
1.1.1.1. Trên thế giới
Trong giai đoạn thế kỉ XVIII, XIX, các nhà khoa học ở các lĩnh vực lànhững người đi đầu trong việc xây dựng thuật ngữ bởi những thuật ngữ nàyđược xây dựng dựa trên các đặc thù về chuyên môn và phục vụ cho công việccủa họ Các nhà khoa học như Lavoisier và Berthollet, Linné với các nghiêncứu về hóa học hay thực vật học và động vật học vào thế kỉ XVIII là những thí
dụ điển hình cho sự quan tâm với việc đặt tên cho các khái niệm khoa học.Sang đến thế kỉ XIX, do việc quốc tế hóa khoa học, hệ thống thuật ngữ thốngnhất cho tất cả các nhà khoa học trên thế giới sử dụng trong các lĩnh vựctương ứng trở nên hết sức cần thiết Nhu cầu này đã được các nhà thực vật
Trang 19học, động vật học và các nhà hóa học đề cập đến một cách rõ ràng trong cáccuộc gặp mang tính quốc tế vào các năm 1876, 1889 và 1892 Tuy nhiên,trong giai đoạn này, các nhà khoa học mới chỉ quan tâm đến sự đa dạng vềhình thức của thuật ngữ và mối quan hệ giữa hình thức và khái niệm chứ họchưa quan tâm đến bản chất của khái niệm cũng như các cơ sở để tạo lập cácthuật ngữ khoa học mới.
Đến những năm 30 của thế kỉ XX, thuật ngữ bắt đầu khẳng định được vịthế của mình Trước sự phát triển mạnh mẽ về khoa học kỹ thuật, các kỹ sư vàcác kỹ thuật viên cũng tham gia vào quá trình xây dựng thuật ngữ để thốngnhất các thuật ngữ được sử dụng Nổi bật trong giai đoạn này là các nghiêncứu của tác giả người Áo Eugen Wuster Wuster đã chỉ ra 4 học giả mà ôngcho là những người cha tinh thần của lý thuyết về thuật ngữ học là: “AlfredSchlomann người Đức - người đầu tiên xem xét bản chất hệ thống của thuậtngữ, nhà ngôn ngữ học người Thụy Sỹ F De Saussure - người đầu tiên đưa rabản chất hệ thống của ngôn ngữ, E.Dresen người Nga - người đi đầu trongviệc đề cao tầm quan trọng của chuẩn hóa, và học giả người Anh đến từ tổchức UNESCO J.E Holmstrom - người có ảnh hưởng mạnh mẽ trong việcphổ biến ngành thuật ngữ học trên phạm vi quốc tế.” [Dẫn theo 92,tr.5] Ông
đã đưa ra ý tưởng về hệ thống hóa các phương pháp nghiên cứu thuật ngữ học,đưa ra các nguyên tắc nghiên cứu thuật ngữ và vạch ra các điểm chính trongphương pháp xử lý số liệu về thuật ngữ Với những ý tưởng trên, ông được coi
là cha đẻ của bộ môn thuật ngữ học Những nghiên cứu của ông là tiền đềquan trọng cho sự phát triển của thuật ngữ học hiện đại và đã dẫn đến sự rađời của 3 trường phái thuật ngữ học cổ điển là trường phái thuật ngữ học Áo(Viên), Liên Xô và Séc (Praha)
Trường phái thuật ngữ học Áo: Người sáng lập và là đại diện tiêu biểu
nhất cho trường phái thuật ngữ học này chính là Eugen Wuster Các học giảcủa trường phái này đã phát triển một hệ thống các nguyên tắc và phương
Trang 20pháp làm nền tảng cho phần lớn các nghiên cứu về mặt lý thuyết cũng nhưcông tác thuật ngữ học hiện đại Một đặc điểm nổi bật của trường phái này là
nó tập trung vào các khái niệm và tập trung vào chuẩn hóa các thuật ngữ vàkhái niệm Nhiều nước ở trung và bắc Âu nghiên cứu thuật ngữ học theođường hướng này và các chuyên gia về các lĩnh vực cụ thể sẽ chịu trách nhiệm
về các thuật ngữ chuyên ngành
Trường phái thuật ngữ học Liên Xô: Ảnh hưởng bởi Wuster nên trường
phái này cũng chủ yếu nghiên cứu chuẩn hóa các khái niệm và thuật ngữ theonhững vấn đề liên quan tới chủ nghĩa đa ngôn ngữ ở Liên bang Xô Viết trướcđây Trường phái thuật ngữ học Liên Xô đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển.Giai đoạn chuẩn bị (1780 - cuối những năm 1920) được đánh dấu bằng việcdịch thuật ngữ và biên soạn từ điển thuật ngữ học vào năm 1780 Đây là giaiđoạn lựa chọn và xử lý sơ bộ các thuật ngữ, đồng thời các khái niệm liên quanđược xác định Giai đoạn thứ nhất (từ 1930 đến 1960) chứng kiến sự ra đờicủa nhiều lý thuyết cũng như các hoạt động thực tiễn về thuật ngữ học Hai đạidiện tiêu biểu của thời kỳ này là D.S Lotte và E.K.Drezen - những người đãđưa “cách tiếp cận kĩ nghệ vào thuật ngữ học” [41,tr.13] Bên cạnh 2 đại diệnnày, các học giả như A.A Reformatskij và G.O.Vinokur cũng có những đónggóp to lớn Giai đoạn thứ 2 (từ 1970 đến 1990) được đánh dấu bằng việc thuậtngữ học trở thành một khoa học độc lập và sự ra đời của các ủy ban thuật ngữ,các bài báo, luận án và hàng nghìn từ điển thuật ngữ ở các lĩnh vực Đây làthời kỳ bùng nổ công tác nghiên cứu thuật ngữ ở Liên Xô với các học giả nổitiếng như: L.N Beljaeva, A.S.Gerd, B.N.Golovin, v.v Tuy nhiên, do Liên Xôsụp đổ nên giai đoạn thứ 3 từ thập niên cuối của thế kỉ XX chứng kiến nhiềukhủng hoảng, thay đổi trong công tác nghiên cứu thuật ngữ
Trường phái thuật ngữ học Séc: Hình thành như một kết quả tất yếu của
đường hướng ngôn ngữ chức năng của trường phái ngôn ngữ Praha, trường pháinày chủ yếu miêu tả đặc điểm về cấu tạo và chức năng của ngôn ngữ chuyên
Trang 21ngành mà thuật ngữ là một bộ phận quan trọng Các học giả của trường pháinày quan niệm ngôn ngữ chuyên ngành là một loại “văn phong đặc biệt”, tồntại song song với các loại văn phong khác như văn phong văn học, văn phongbáo chí hay văn phong hội thoại Theo họ, thuật ngữ là các đơn vị tạo nên vănphong nghề nghiệp mang tính chức năng Với đại diện tiêu biểu là L.Drodz,trường phái này đặc biệt quan tâm đến chuẩn hóa ngôn ngữ và thuật ngữ.
Có thể nhận thấy, ba trường phái thuật ngữ học trên đã định hình các cơ
sở lý thuyết của thuật ngữ học và các nguyên tắc mang tính phương pháp chiphối việc ứng dụng của thuật ngữ học
Gần đây rất nhiều học giả như Juan C Sager, Peter Weissenhofer, BrittaZawada và Piet Swanepoel, M Teresa Cabré, Ingrid Meyer, Kyo Kageura,Rita Temmerman, v.v trong các nghiên cứu của mình đã chỉ ra những hạn chếcủa ba trường phái thuật ngữ học trên, đặc biệt là những quan điểm của trườngphái thuật ngữ học Áo Họ gọi các trường phái này là thuật ngữ học truyềnthống và đưa ra những luận điểm ngược với các nguyên tắc mà thuật ngữ họctruyền thống đã đưa ra
Nếu thuật ngữ học truyền thống coi thuật ngữ học là một khoa học độclập và đưa ra năm nguyên tắc căn bản trong công tác thuật ngữ: 1) thuật ngữhọc bắt nguồn từ khái niệm mà không quan tâm đến ngôn ngữ; 2) một kháiniệm là rõ ràng và có thể có một vị trí trong hệ thống các khái niệm mang tínhlogic học hoặc bản thể học; 3) một khái niệm được định nghĩa một cách lýtưởng trong một định nghĩa định trước; 4) một khái niệm được một thuật ngữmiêu tả và một thuật ngữ chỉ biểu hiện một khái niệm; 5) việc phân công kháiniệm/thuật ngữ là cố định [131,tr.16], thì trong các công trình nghiên cứu củamình các tác giả trên đã đưa ra những luận điểm phản bác lại
Trong cuốn sách A pratical course in Terminology Processing, Sager
không đồng tình với việc cho rằng thuật ngữ học là một môn khoa học độclập [127,tr.1] Ông cũng phản bác lại một số nguyên tắc của thuật ngữ học
Trang 22truyền thống Ông cho rằng không thể tách thuật ngữ ra khỏi ngôn ngữ màthuật ngữ phải được nghiên cứu trong các văn bản hay trong giao tiếp.
Theo trường phái thuật ngữ học Áo, cơ sở cho giao tiếp hiệu quả và rõ
ràng là những thuật ngữ đơn nghĩa và tường minh Trong cuốn Conceptology
in Terminology Theory, Semantics and Word Formation, Peter Weissenhofer
lại cho rằng tùy thuộc vào bản chất của lĩnh vực đang được nói đến, các tiêuchuẩn hay yêu cầu cho các thuật ngữ tường minh có thể khác biệt [134,tr.35]
Trong bài báo On Diversity and Terminology (1995), Cabré đã nghi ngờ
giá trị của lý thuyết truyền thống về thuật ngữ học Bà cho rằng mục tiêu cóđược các thuật ngữ khoa học thống nhất hoàn toàn có lẽ là không tưởng vàkhông thể đạt được [93,tr.14]
Ingrid Meyer đưa ra một số luận điểm trong đó nổi bật là luận điểm chorằng định nghĩa định trước chỉ đưa ra những đặc điểm cần và đủ để mộtchuyên gia (những người hiểu sâu về lĩnh vực) có thể xác định được cái đượcnói đến với tư cách là một ví dụ trong một phạm trù, còn những người khác(những người không hiểu thuật ngữ đó) cần nhiều thông tin hơn [115,tr.15]
Cùng các quan điểm trên, Kyo Kageura cho rằng không thể tách thuậtngữ ra khỏi ngôn ngữ bởi ý nghĩa thường được coi là một thuộc tính của hệthống ngôn ngữ Ông lập luận rằng nếu ai đó đồng ý thay “khái niệm” bằng “ýnghĩa” trong mối quan hệ thuật ngữ - khái niệm thì không có lý do gì tách biệtthuật ngữ học ra khỏi ngôn ngữ học Ông cho rằng thuật ngữ học nên được đặttrong ngôn ngữ học bởi những nghiên cứu về thuật ngữ học của nhiều ngônngữ khác nhau sẽ đem đến những hiểu biết sâu rộng hơn về những nguyên tắccủa ngữ nghĩa học trong ngôn ngữ [108,tr.253]
Cùng với những lập luận trên, Cabré [93], Zawada & Swanepoel [137],Temmerman [131] cũng cho rằng một số hiện tượng của thuật ngữ học có thểđược miêu tả một cách rõ ràng hơn bằng cách sử dụng những cấu trúc kháiniệm vững chắc hơn như là lý thuyết điển mẫu
Trang 23Có thể thấy rằng thuật ngữ học nhận được sự quan tâm nghiên cứu sâurộng của tất cả các nhà khoa học, nhất là các nhà ngôn ngữ học trên thế giới.Rất nhiều các cuộc hội thảo, thảo luận, các diễn đàn trên phạm vi toàn cầu đã
được tổ chức như: Hội thảo quốc tế về thuật ngữ và ngữ nghĩa học từ vựng (tổ chức lần đầu năm 2009 ở Canada), Hội thảo quốc tế về thuật ngữ âm nhạc và khoa học nhân văn (tổ chức tại Croatia tháng 5/2018), Hội thảo quốc tế lần thứ 11 về thuật ngữ học và bản thể học (tổ chức tại Pháp tháng 6/2018), v.v.
1.1.1.2. Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, hệ thống thuật ngữ khoa học bắt đầu hình thành vào đầuthế kỷ XX với một số ít thuật ngữ xuất hiện trong một số lĩnh vực hẹp
Đến những năm 30 của thế kỉ XX, với phong trào đấu tranh vì tiếng nói,chữ viết, thống nhất và làm giàu tiếng nói, thuật ngữ học đã có bước phát triểnmới Hệ thuật ngữ phát triển trước tiên là hệ thuật ngữ khoa học xã hội Tiếpđến là hệ thuật ngữ các ngành khoa học khác như khoa học kĩ thuật, v.v
Với công trình Danh từ khoa học (phần Toán, Lí, Cơ) được in lần đầu
tại Sài Gòn năm 1942, giáo sư Hoàng Xuân Hãn là người đi đầu trong việcxây dựng hệ thống thuật ngữ khoa học tiếng Việt Trong công trình này, ông
đã đưa ra và bàn về các đặc điểm của danh từ khoa học Đặc biệt, ông đã đưa
ra 8 yêu cầu khi đặt một danh từ khoa học mới trong tiếng Việt Từ ảnh hưởngcủa công trình của Hoàng Xuân Hãn, một số nhà trí thức ở các lĩnh vực cũngbắt đầu nghiên cứu về thuật ngữ và cho ra đời những tập thuật ngữ đối chiếunhư: Danh từ thực vật (Nguyễn Hữu Quán, Lê Văn Căn - 1945), Danh từ khoahọc - phần vạn vật học (Đào Văn Tiến - 1945), v.v
Đến những năm 60 và 70 của thế kỷ XX, nhằm đáp ứng yêu cầu của cáccuộc cách mạng tư tưởng văn hóa và cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, hệthống thuật ngữ khoa học tiếng Việt có sự phát triển nhanh chóng Sau sự ra
đời của Quy tắc phiên thuật ngữ khoa học nước ngoài (gốc Ấn - Âu) ra tiếng Việt (Viện Khoa học xã hội Việt Nam công bố tháng 6 - 1966), công tác xây
Trang 24dựng thuật ngữ đã có sự phát triển vượt bậc thể hiện qua hàng loạt các công trình
nghiên cứu mang tính lý luận như: Xây dựng hệ thuật ngữ khoa học bằng tiếng Việt/ Tiếng Việt và dạy đại học bằng tiếng Việt (Lê Khả Kế, 1967), Về công tác biên soạn từ điển thuật ngữ của ta hiện nay (Đức Kỳ, 1973), Vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học (Lưu Vân Lăng, 1977); hay những công trình mang tính thực
tiễn như: Từ điển Pháp-Việt pháp- chính-kinh-tài-xã hội (Vũ Văn Mẫu -1970), Từđiển thuật ngữ luật học Nga-Trung-Pháp-Việt (Vũ Đình Hòe -1971), Từ điểnAnh- Việt (1975), v.v Cùng với đó, nhiều hội nghị về chuẩn mực hóa chính tả vàthuật ngữ đã được tổ chức nhằm thống nhất các thuật ngữ khoa học tiếng Việt:Hội nghị tại Hà Nội (7/1978), Huế (8/1978), Thành phố Hồ Chí Minh (10/1978),v.v Ở thời kỳ này, vấn đề xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ khoa học được quantâm nhất
Từ sau năm 1985 đến cuối thế kỉ XX, các thuật ngữ ở hầu hết lĩnh vựcđược chú trọng nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện để thúc đẩy sự phát triển về mọimặt của đất nước, đáp ứng nhu cầu hợp tác quốc tế về chất lẫn về lượng Đến nay,các nhà khoa học đã xây dựng được các từ điển thuật ngữ (đơn ngữ, đối chiếu,song ngữ, v.v) ở hầu hết các lĩnh vực khác nhau trong xã hội
Cùng với xây dựng từ điển, các nghiên cứu khác về lý luận, thực tiễn xâydựng thuật ngữ (có nghiên cứu, đối chiếu với các thuật ngữ tương đương ở cácthứ tiếng khác) được thực hiện để ngày càng chuẩn hóa, thống nhất các thuật ngữ
ở các ngành Nhiều công trình nghiên cứu mang tính tổng kết hay chuyên sâu đã
được thực hiện như: Chuẩn hóa thuật ngữ nhìn từ bối cảnh xã hội (Nguyễn Văn Khang, 2000), Những vấn đề lí luận và thực tiễn trong thuật ngữ học ở Cộng hòa Liên bang Nga (Nguyễn Văn Lợi, 2012 trong [41]), v.v.
Trong xu thế hội nhập, hướng nghiên cứu mới đã được nhiều học giả quantâm: nghiên cứu về thuật ngữ của một ngành cụ thể để đề xuất những giải phápchỉnh lý, thống nhất, chuẩn hóa hay chuyển dịch các thuật ngữ đó Đây là hướng
đi phù hợp với thực tế bởi mỗi hệ thống thuật ngữ chuyên ngành lại có đặc điểmriêng và cần những nghiên cứu độc lập
Trang 25Có thể nói công trình nghiên cứu hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt vàonăm 1991 của Vũ Quang Hào là công trình mở đường cho hướng nghiên cứunày Tác giả không chỉ dừng lại ở các vấn đề lý luận chung mà đã áp dụngnhững lý luận đó vào thực tế để đưa ra những đóng góp xác đáng cho việc xâydựng, thống nhất và chuẩn hóa một hệ thuật ngữ cụ thể.
Đến nay, một số nghiên cứu theo hướng này đã được thực hiện như:
Khảo sát thuật ngữ y học tiếng Anh và cách phiên chuyển sang tiếng Việt (Vương Thu Minh - 2005), Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa thuật ngữ luật sở hữu trí tuệ tiếng Việt (Mai Thị Loan - 2012), Đối chiếu thuật ngữ âm nhạc Việt - Anh (Nguyễn Thanh Dung - 2017), Đối chiếu thuật ngữ hành chính Việt-Anh (Vũ Thị Yến Nga - 2018), v.v Các tác giả đã hệ thống hóa các quan
điểm lý luận trong nghiên cứu thuật ngữ, mô hình hóa các kiểu cấu tạo củamột hệ thuật ngữ cụ thể, phân tích đặc điểm ngữ nghĩa của hệ thuật ngữ đóhay đối chiếu đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của cùng một hệ thuật ngữ ở haingôn ngữ khác nhau Các tác giả thường áp dụng lý thuyết định danh đểnghiên cứu, khảo sát đặc điểm của các hệ thuật ngữ
Tóm lại, tuy ra đời và phát triển sau so với các nước khác trên thế giớinhưng việc nghiên cứu thuật ngữ học ở Việt Nam phát triển nhanh chóng, đónggóp không nhỏ vào quá trình chuẩn hóa tiếng Việt nói riêng và đóng góp vàocông tác nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới nói chung Những công trình nghiêncứu có chất lượng về mặt lý thuyết cũng như các công trình mang tính thực tiễn,ứng dụng cao đã góp phần thúc đẩy quá trình phát triển, công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước và hòa nhập sâu rộng vào cộng đồng quốc tế
1.1.2. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ hôn nhân và gia đình
1.1.2.1. Trong tiếng Anh
Cùng với sự phát triển của tiếng Anh chuyên ngành phục vụ cho cácngành khoa học cụ thể, các thuật ngữ chuyên môn trong tiếng Anh cũng đượcchú trọng nghiên cứu
Trang 26Thuật ngữ hôn nhân và gia đình đã được nghiên cứu ở một số khía cạnhnhất định trong tiếng Anh Tuy nhiên, tính đến nay chưa có nghiên cứu riêng
và sâu nào về thuật ngữ hôn nhân gia đình nói chung hay thuật ngữ hôn nhângia đình trong UK Family Law Act nói riêng
Gần nhất với đối tượng nghiên cứu của đề tài này có công trình A handbook of family law terms (Sổ tay thuật ngữ luật hôn nhân gia đình) của
tác giả Bryan A Garner (2001) Trong cuốn sổ tay, tác giả đã đưa ra và giảithích ý nghĩa của trên 4.000 thuật ngữ luật hôn nhân gia đình trong tiếng Anh
1.1.2.2. Trong tiếng Việt
Tại Việt Nam, các thuật ngữ hay từ vựng về hôn nhân và gia đình đã ítnhiều được liệt kê, xuất hiện hay nghiên cứu trong một số các công trìnhnghiên cứu về thuật ngữ khoa học xã hội hay các từ điển tiếng Việt, từ điểnthuật ngữ của các ngành khoa học xã hội khác Đến nay, theo thống kê củachúng tôi, chưa có công trình nào nghiên cứu riêng biệt và chuyên sâu về thuậtngữ hôn nhân và gia đình tiếng Việt nói chung cũng như các thuật ngữ hônnhân và gia đình trong luật hôn nhân và gia đình nói riêng
Hiện tại, chúng tôi mới chỉ thấy thống kê không chính thống một sốthuật ngữ cưới hỏi của người Việt tại bách khoa toàn thư mở Wikipedia Mụcđích của thống kê này nhằm nhằm khái quát các thuật ngữ, các thủ tục, nghithức, vật dụng liên quan đến kết hôn, đám cưới, đám hỏi, ly hôn của ngườiViệt Như vậy, đây cũng chỉ là một bảng thống kê một số thuật ngữ có giảithích ý nghĩa của thuật ngữ chứ chưa phải nghiên cứu chuyên sâu về các đặcđiểm về mặt ngôn ngữ của những thuật ngữ này
1.2. Cơ sở lý thuyết liên quan đến luận án
1.2.1. Một số vấn đề lý luận về thuật ngữ
1.2.1.1. Khái niệm thuật ngữ
Trong lịch sử hình thành và phát triển của ngành thuật ngữ học, các nhàkhoa học đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về thuật ngữ Tuy nhiên, việcđưa ra một cách hiểu thống nhất về thuật ngữ là một việc không hề đơn giản
Trang 27Trên đại thể, có thể chia các định nghĩa thuật ngữ thành ba nhóm sau:(1) nhóm các định nghĩa gắn liền với sự phân biệt thuật ngữ với các từ thôngthường, (2) nhóm định nghĩa thuật ngữ gắn với khái niệm và (3) nhóm cácđịnh nghĩa gắn với chức năng.
Cha đẻ của thuật ngữ học truyền thống E Wuster ngay từ đầu đã đưa ra
sự phân biệt giữa thuật ngữ và từ thông thường Theo ông, thuật ngữ khác với
từ ở một số khía cạnh Thứ nhất, nếu khởi điểm nghiên cứu của từ vựng học làcác đơn vị từ vựng thì khởi điểm nghiên cứu của thuật ngữ học là khái niệm.Thứ hai, ông cho rằng các nhà thuật ngữ học chỉ quan tâm tới việc đặt tên chokhái niệm mà không quan tâm đến lý thuyết về hình thái học hay cú pháp học.[Dẫn theo 120,tr.11-12] Điều này cho thấy theo Wuster, thuật ngữ và từ khôngchỉ khác nhau về ý nghĩa mà còn khác nhau về bản chất và cách sử dụng
Ở Liên bang Nga, trong khi D.S Lotte cho rằng “thuật ngữ là từ đặcbiệt” thì G.O.Vinokur đã cho rằng “thuật ngữ không phải là từ đặc biệt, mà chỉ
là từ với chức năng đặc biệt” [dẫn theo 41,tr.18] Hay N.P Kuzkin đã cho rằng:
“nếu như từ thông thường, phi chuyên môn tương ứng với đối tượng thôngdụng thì từ của vốn thuật ngữ lại tương ứng với đối tượng chuyên môn…”[dẫn theo 13,tr.19] A.I Moiseev phân biệt trực tiếp: “chính biên giới giữathuật ngữ và phi thuật ngữ không nằm giữa các loại từ và cụm từ khác nhau
mà nằm trong nội bộ mỗi từ và cụm từ định danh” [dẫn theo 13,tr.19]
Sager đã chỉ rõ sự khác nhau giữa thuật ngữ và từ thông thường:
“Những đơn vị được đặc trưng bởi quy chiếu đặc biệt trong một ngành khoa
học là các thuật ngữ, và tập hợp các thuật ngữ sẽ tạo thành hệ thuật ngữ
(terminology); những đơn vị hoạt động theo quy chiếu chung trong nhiều ngôn
ngữ chi hạ (sublanguages) thì đơn giản được gọi là các từ và tâp hợp các từ tạo thành vốn từ (vocabulary)” [dẫn theo 120,tr.12-13].
Ở Việt Nam, Đỗ Hữu Châu đã phân biệt rất rõ ràng: “khác với từ thôngthường, thuật ngữ có ý nghĩa biểu vật trùng hoàn toàn với sự vật, hiện tượng…”
Trang 28[2, tr.221] Nguyễn Đức Tồn phân biệt thuật ngữ với các từ thông thường khiđưa ra cách định nghĩa thuật ngữ: “…định nghĩa thuật ngữ chỉ cần chỉ ra nhữngđặc trưng bản chất thuộc bản thể của nó, làm nó khác biệt với các từ ngữ phithuật ngữ…” Từ quan điểm trên, ông đã định nghĩa thuật ngữ như sau: “thuậtngữ là từ ngữ biểu hiện khái niệm hoặc biểu thị đối tượng trong phạm vi mộtlĩnh vực khoa học, công nghệ hoặc lĩnh vực chuyên môn.” [65,tr.342].
Các định nghĩa ở nhóm thứ hai - định nghĩa gắn với khái niệm - đượcđưa ra bởi nhiều nhà ngôn ngữ học, đặc biệt là các nhà ngôn ngữ học Xô Viếtnhư O.S Akhmanova, V.P Đanilenko, v.v O.S Akhmanova đã giải thích trong
“Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học”: “Thuật ngữ là những từ hoặc cụm từ củangôn ngữ chuyên môn (ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ kỹ thuật, v.v.) được sáng
tạo ra (được tiếp nhận, được vay mượn v.v.) để biểu hiện chính xác các khái niệm chuyên môn và biểu thị các đối tượng chuyên môn” [dẫn theo 13, tr.20].
V.P Đanilenko cho rằng: “Thuật ngữ dù là từ (ghép hoặc đơn) hay cụm từ đều
là một kí hiệu mà một khái niệm tương ứng với nó” [dẫn theo 20,tr.11]
Nhiều nhà ngôn ngữ học ở các nước Âu Mỹ cũng định nghĩa thuật ngữtheo hướng này E Oeser và G Budin cho rằng: “Thuật ngữ là một tập hợpcác khái niệm, trong mỗi lĩnh vực chuyên ngành đều có các mô hình cấu trúcđại diện cho tập hợp các khái niệm Kiến thức khoa học được sắp xếp thànhcác cấu trúc khái niệm…” [dẫn theo 40,tr.11] Sager cho rằng “thuật ngữ là
các ký hiệu biểu hiện các khái niệm [127,tr.22] Định nghĩa này cho thấy theo
Sager, khái niệm là cái có trước và thuật ngữ được tạo ra sau để biểu hiện kháiniệm đó Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO cũng đã đưa ra định nghĩa về thuậtngữ: “Thuật ngữ là sự quy biểu (designation) của một khái niệm xác định(defined concept) trong một ngôn ngữ chuyên ngành bởi một biểu thức ngônngữ (linguistic expression).” ISO cũng chỉ rõ rằng một thuật ngữ có thể baogồm một (thuật ngữ đơn) hoặc nhiều hơn một từ (thuật ngữ phức) hoặc thậmchí có thể bao gồm cả kí hiệu [106,tr.5] Bessé, Nkwenti-Azeh và Sager thì coi
Trang 29thuật ngữ là “một đơn vị từ vựng gồm một hoặc nhiều hơn một từ biểu hiệnmột khái niệm trong một lĩnh vực.” [87,tr.152].
Rất nhiều các nhà ngôn ngữ ở Việt Nam cũng đồng tình với cách địnhnghĩa thuật ngữ gắn với khái niệm như Nguyễn Văn Tu (1968), Đỗ Hữu Châu(1962), Lưu Vân Lăng và Nguyễn Như Ý (1971), Hoàng Văn Hành (1983),Nguyễn Thiện Giáp (1985), v.v Nguyễn Văn Tu (1968) đã đưa ra định nghĩa
như sau: “Thuật ngữ là những từ và những từ tổ cố định để chỉ những khái niệm của một ngành khoa học nào đó, ngành sản xuất hay ngành văn hóa nào
đó” [66,tr.114] Hoàng Văn Hành đã đưa ra định nghĩa: “Thuật ngữ là những
từ ngữ dùng để biểu thị một khái niệm xác định thuộc một hệ thống những
khái niệm của một ngành khoa học nhất định Toàn bộ hệ thống thuật ngữ củacác ngành khoa học hợp thành vốn thuật ngữ của ngôn ngữ” [15,tr.26] Đỗ HữuChâu lại đưa ra một định nghĩa rộng hơn: “Thuật ngữ không chỉ biểu thị kháiniệm khoa học mà còn chỉ tên một sự vật, một hiện tượng khoa học nhất định,thuật ngữ là những từ chuyên môn được sử dụng trong phạm vi một ngành khoahọc, một nghề nghiệp hoặc một ngành kỹ thuật nào đấy.” [3,tr.167]
Định nghĩa thuật ngữ gắn với chức năng được rất nhiều nhà ngôn ngữhọc Liên Xô đưa ra Vinocur, trong định nghĩa của mình, ngoài việc phân biệtthuật ngữ và từ cũng đã chỉ rõ chức năng của thuật ngữ: “Thuật ngữ khôngphải là một từ đặc biệt mà chỉ là từ có chức năng đặc biệt … là chức năng gọitên.” [dẫn theo 40,tr.10] Moiceev cũng đề cập đến chức năng định danh củathuật ngữ: “có thể xác định chức năng ngôn ngữ của thuật ngữ như là mộtchức năng gọi tên, định danh Thuật ngữ định danh sự vật, hiện tượng tronghiện thực và định danh những khái niệm về chúng.” [dẫn theo 36,tr.13].Levkoxkaya và Vinogradov mở rộng thêm chức năng của thuật ngữ và chorằng ngoài chức năng định danh như các từ khác trong ngôn ngữ, thuật ngữcòn có chức năng định nghĩa Trên cơ sở những nhận định trên, Kapanadze đãchỉ rõ chức năng đặc biệt của thuật ngữ; “Thuật ngữ không gọi tên khái niệm
Trang 30như từ thông thường mà là khái niệm được gán cho nó, giống như định nghĩa
về nó Ý nghĩa của thuật ngữ là định nghĩa khái niệm, là cái định nghĩa đượcgán cho nó.” [dẫn theo 36,tr.14] Ở Việt Nam, Nguyễn Thiện Giáp trong địnhnghĩa về thuật ngữ của mình đã ít nhiều đề cập đến chức năng định danh củathuật ngữ: “Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm
những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các khái niệm và các đối
tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người.” [10,tr.270]
Như vậy, các định nghĩa về thuật ngữ theo ba hướng trên đã cho thấynhững nhận định, những quan điểm cơ bản và khá toàn diện về thuật ngữ, hìnhthức cấu tạo của thuật ngữ, mối quan hệ của thuật ngữ với khái niệm, với địnhnghĩa cũng như phạm vi sử dụng của thuật ngữ
Gần đây, do sự xuất hiện của các đường hướng và phương pháp nghiêncứu mới về thuật ngữ, cách hiểu mới về thuật ngữ xuất phát từ góc nhìn củacác nhà khoa học ở các lĩnh vực khác nhau cũng đã được đưa ra, trong đóđáng chú ý là định nghĩa về thuật ngữ được đưa ra từ quan điểm của thuật ngữhọc Xét mối tương quan giữa thuật ngữ và khái niệm, Leichik cho rằng cáccách diễn đạt mối quan hệ đó (thuật ngữ xác định khái niệm, thuật ngữ biểuđạt khái niệm hay thuật ngữ gọi tên khái niệm), là không chính xác do chúngkhông phân biệt khái niệm logic và khái niệm chuyên ngành về khoa học, kỹthuật hay kinh tế, v.v được chỉ rõ trong các lý thuyết về các lĩnh vực đó Ôngcũng nói rõ rằng bên cạnh cấu trúc ngữ nghĩa thuộc tầng nền ngôn ngữ củathuật ngữ thì các tiêu chí của khái niệm logic thuộc tầng thượng trong cấu trúcnội dung của thuật ngữ Từ quan điểm trên, Leichik đã đưa ra định nghĩa thuậtngữ từ góc nhìn của thuật ngữ học như sau: “Thuật ngữ là một thể phức hợp
đa tầng, gồm tầng nền ngôn ngữ tự nhiên và tầng thượng thuộc về logic Theo
đó, thuật ngữ có cấu tạo: trên-tầng thượng (superstratum) và dưới-tầng nền(substratum), bao bọc hạt nhân thuật ngữ ở giữa, gồm cấu trúc hình thức, cấu
Trang 31trúc chức năng và cấu trúc khái niệm chuyên ngành Ba cấu trúc này lại tươngtác với tầng nền ngôn ngữ và tầng thượng logic.” [dẫn theo 41,tr.15].
Như đã nói ở trên, các nhà ngôn ngữ học cũng như các nhà khoa học ởcác ngành, các lĩnh vực chuyên môn khác nhau đã đưa ra rất nhiều định nghĩa
về thuật ngữ từ góc nhìn của từng chuyên ngành Tuy nhiên, hầu hết các nhàkhoa học đều gặp nhau ở điểm chung, đó là họ đều định nghĩa thuật ngữ ở haiphương diện là hình thức và nội dung của thuật ngữ Trên cơ sở đó, chúng tôihoàn toàn nhất trí với định nghĩa thuật ngữ được đưa ra trong Từ điển bách
khoa Việt Nam: thuật ngữ là từ hay cụm từ cố định được dùng trong các chuyên ngành để biểu thị chính xác các khái niệm và các đối tượng chuyên ngành Do yêu cầu chính xác, thuật ngữ thường được chú trọng trước tiên đến quan hệ một-đối-một giữa hình thức (vỏ ngữ âm) và nội dung (ý nghĩa chuyên ngành) [74,tr.280] Đây là cơ sở để chúng tôi thực hiện nghiên cứu.
1.2.1.2. Vị trí của thuật ngữ trong ngôn ngữ
Cho đến nay, các nhà khoa học, ngôn ngữ học đã đưa ra các quan điểmkhác nhau về vị trí của thuật ngữ trong ngôn ngữ Những quan niệm khác nhau
đó xuất phát từ góc nhìn, từ quan niệm khác nhau về thuật ngữ học
Quan điểm thứ nhất xuất phát từ các nhà khoa học coi thuật ngữ học làmột khoa học độc lập Họ cho rằng thuật ngữ là một hệ thống có tính độc lập
và là đối tượng của thuật ngữ học V.M Leichik trong cuốn Thuật ngữ học : đối tượng, phương pháp, cấu trúc đã quan niệm rằng “thuật ngữ học là chuyên
ngành độc lập, ra đời và phát triển từ ngôn ngữ học trong thế kỉ XX, gồm hailĩnh vực chính: thuật ngữ học lý thuyết và thuật ngữ học ứng dụng Đối tượngcủa thuật ngữ học là thuật ngữ với các lớp, loại khác nhau và hệ thống thuậtngữ hiểu theo nghĩa rộng” [dẫn theo 41,tr.17]
Quan điểm thứ hai cho rằng thuật ngữ là bộ phận từ vựng lớn nhất trong
hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ Nói cách khác, các nhà khoa học theo quanđiểm này cho rằng thuật ngữ là một bộ phận của từ vựng học - một phânngành
Trang 32của ngôn ngữ học Felber, Cabré, v.v đều cho rằng thuật ngữ là một bộ phận củavốn từ vựng của một ngôn ngữ do “ngữ năng của một người không thể khôngbao hàm bộ phận từ vựng đặc biệt” [92,tr.32] Sager quan niệm rằng “…thuậtngữ thuộc về lớp từ chức năng trong các đơn vị từ vựng” [dẫn theo 108, tr.11].
Nhiều nhà ngôn ngữ học Việt Nam cũng đã đồng ý với quan niệm này.Nguyễn Thiện Giáp cho rằng từ vựng, xét theo phạm vi sử dụng được chiathành hai nhóm lớn là từ vựng toàn dân và từ vựng hạn chế về mặt xã hội vàlãnh thổ; trong đó từ vựng hạn chế về mặt xã hội và lãnh thổ bao gồm: từ địaphương, tiếng lóng, từ ngữ nghề nghiệp và thuật ngữ [10,tr.255-270] Ông cũngcho rằng “thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ” [10,tr.270], và
“thụật ngữ dẫu sao vẫn là một bộ phận của hệ thống từ vựng nói chung, có quan
hệ với từ khác trong hệ thống ngôn ngữ Cả các từ thông thường lẫn thuật ngữđều chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, cấu tạo từ và ngữ pháp của ngônngữ nói chung” [10,tr.275] Đinh Trọng Lạc cho rằng “thuật ngữ là thành tốquan trọng nhất của từ ngữ trong phong cách khoa học” [29,tr.59]
Quan niệm thứ ba cho rằng thuật ngữ học là một nhánh của ngôn ngữhọc ứng dụng và ngôn ngữ học ứng dụng là một phân ngành của ngôn ngữ học.[118,tr.50] Đây là quan điểm được đưa ra dựa trên sự ủng hộ luận điểm saucủa Cabré: “ngôn ngữ học ứng dụng coi ngôn ngữ là một hệ thống các phươngngữ và các biến thể chức năng, và cho phép chúng ta coi thuật ngữ học là mộttrong các nhánh của nó do thuật ngữ học là một bộ phận trong các tiểu hệ thốngchức năng được quyết định bởi mức chuyên biệt hóa của chủ đề [dẫn theo118,tr.51]
Quan điểm khác về thuật ngữ học lại đặt thuật ngữ học nằm ở “giaođiểm” của ngôn ngữ học, logic học, bản thể học, khoa học máy tính và cáckhoa học khác [Wuster - dẫn theo 130,tr.25] Nói khác đi, thuật ngữ là đốitượng nghiên cứu chung của nhiều ngành khoa học khác nhau, có liên quanđến nhau và có thể áp dụng các phương pháp khác nhau của các ngành khoahọc đó để nghiên cứu Có thể thấy đây là một quan điểm liên quan đến quan
Trang 33điểm thứ nhất bởi quan điểm này đã thừa nhận thuật ngữ học là một khoa họcđộc lập và chỉ rõ mối quan hệ của thuật ngữ học với những khoa học khác.
Bàn đến vấn đề này, các nhà khoa học Xô Viết cho rằng thuật ngữ họcthuộc về ngôn ngữ học hiện đại vì các đơn vị ngôn ngữ tự nhiên chính là cácđơn vị từ vựng tạo nên hệ thống thuật ngữ học và đơn vị từ vựng cũng chính làđối tượng nghiên cứu của thuật ngữ học Tuy nhiên, họ cũng đưa ra một sốđiểm cần chú ý khi xem xét vị trí của thuật ngữ học so với ngôn ngữ học: thứnhất, đối tượng của thuật ngữ học là hệ thống thuật ngữ, vốn không hoàn toàn
là một phạm trù ngôn ngữ học; thứ hai, hệ vấn đề của thuật ngữ học lí luận cóliên quan đến ngôn ngữ học, nhưng không hoàn toàn thuộc về ngôn ngữ học
mà còn thuộc về các ngành khác như triết học, logic học Thêm vào đó, phầnlớn những vấn đề của thuật ngữ học ứng dụng lại không thuộc về ngôn ngữhọc; thứ ba, các phương pháp được áp dụng trong hoạt động thuật ngữ họccũng không đồng nhất với các phương pháp cơ bản của ngôn ngữ học Trongnghiên cứu thuật ngữ học có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau nhưcác phương pháp ngôn ngữ học, triết học, khoa học tri nhận, các phương pháphình thức, logic biện chứng và logic toán, lý thuyết phân loại học và kí hiệuhọc và một số phương pháp riêng của các khoa học cận kề như khoa học máytính, lý thuyết mã hóa, lý thuyết về chuẩn hóa, v.v [41,tr.26]
Như vậy, tuy có rất nhiều quan điểm khác nhau về vị trí của thuật ngữtrong ngôn ngữ nhưng gần như tất cả các quan điểm đó đều khẳng định mốiliên hệ ở mức độ nào đó giữa thuật ngữ và ngôn ngữ cũng như thuật ngữ học
và ngôn ngữ học Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với quan điểm rằng thuật ngữ làđối tượng của thuật ngữ học - ngành khoa học được phát triển từ ngôn ngữ họccùng kết hợp với các lĩnh vực khoa học và tri thức khác Các nghiên cứu vềthuật ngữ có thể được thực hiện ở nhiều hướng khác nhau, tuy nhiên với tầngnền ngôn ngữ trong thuật ngữ, hướng tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ học là
Trang 34hướng tiếp cận quan trọng hàng đầu nhằm miêu tả đặc điểm cấu tạo và ngữnghĩa của thuật ngữ, từ đó làm cơ sở để đánh giá, chuẩn hóa và đặt thuật ngữ.
1.2.1.3. Các đặc điểm và yêu cầu của thuật ngữ
Những đặc điểm và yêu cầu của thuật ngữ là một vấn đề được các nhànghiên cứu thuật ngữ đặc biệt quan tâm bởi đây chính là cơ sở cho việc xâydựng, thống nhất cũng như chuẩn hóa thuật ngữ Nhiều các đặc điểm, yêu cầucủa thuật ngữ đã được các nhà nghiên cứu đưa ra
Ciobanu, G đưa ra các tiêu chuẩn sau đây của thuật ngữ: chính xác, ngắngọn, dễ viết dễ đọc, dễ hình thành các từ phái sinh và đúng về mặt ngôn ngữ.[97,tr.68] Ông cũng chỉ rõ việc sử dụng các thuật ngữ khiến cho các giải thíchkhoa học chính xác hơn và chắc chắn hơn Một đặc điểm khác của thuật ngữ làthuật ngữ có tính quốc tế và sự khác biệt giữa thuật ngữ ở các ngôn ngữ nằm ở
các đặc điểm về ngữ âm (ví dụ, các thuật ngữ phoneme trong tiếng Anh, phonème trong tiếng Pháp, fonem trong tiếng Rumani) Bên cạnh đó, nhiều nhà
nghiên cứu cho rằng thuật ngữ không được có ý nghĩa biểu cảm, nghĩa bóng.Quan điểm này được Mednikova, E.M ủng hộ Mednikova cho rằng một thuậtngữ được đặt ra phải đảm bảo sự tương ứng 1-1 giữa hình thái học và nội dung.Một thuật ngữ được sử dụng trong lĩnh vực chuyên môn sẽ không có sắc tháitình cảm Thuật ngữ đó chỉ mang nghĩa bóng, sắc thái tình cảm khi nó được sửdụng trong lối nói văn chương với tư cách là một từ thông thường [114,tr.71].Một đặc điểm quan trọng của thuật ngữ là tính hệ thống cũng đã được nhiềunhà nghiên cứu đưa ra như Xumburova, Xuphanuvong [xem 38,tr.17], v.v
Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam cũng bàn nhiều đến vấn đề này HoàngXuân Hãn là người đầu tiên đưa ra các yêu cầu của một danh từ khoa học: (1)mỗi một ý phải có một danh từ để gọi; (2) danh từ ấy phải riêng về ý ấy; (3)một ý đừng có nhiều danh từ; (4) danh từ phải làm cho dễ nhớ đến ý; (5) danh
từ trong các môn phải thành một toàn thể duy nhất; (6) danh từ phải gọn; (7)danh từ phải có âm hưởng Việt âm; (8) danh từ phải đặt theo lối đặt các tiếngthường và phải có tính cách quốc gia [14,tr.XI]
Trang 35Ủng hộ các quan niệm về tiêu chuẩn của thuật ngữ đưa ra trong Hộinghị bàn về vấn đề xây dựng thuật ngữ do Ủy ban khoa học nhà nước tổ chứcnăm 1964, Lê Khả Kế cho rằng thuật ngữ vừa phải khoa học, nghĩa là chínhxác và có hệ thống, vừa phải có tính dân tộc và đại chúng, phải đặt sao chongắn gọn, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ [24,tr.110-114] Lưu Vân Lăng cũng đã đưa
ra 5 tiêu chuẩn của thuật ngữ như sau: (1) chính xác, (2) có hệ thống, (3) cótính bản ngữ (dân tộc), (4) ngắn gọn (cô đọng) và (5) dễ dùng (dễ hiểu, dễnhớ, dễ nói, dễ viết, dễ đọc) Trong 5 tiêu chuẩn này thì 3 điểm đầu là 3 tiêuchuẩn cơ bản, trong đó tính chính xác là quan trọng bậc nhất [34,tr.421]
Trong cuốn Từ vựng học tiếng Việt, Nguyễn Thiện Giáp đã đưa ra 3 đặc
điểm cơ bản của thuật ngữ: (1) tính chính xác, (2) tính hệ thống và (3) tínhquốc tế [10,tr.271-275] Ngoài 3 đặc điểm trên, với quan niệm rằng thuật ngữcũng là một bộ phận của hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ, Đỗ Hữu Châucòn đưa ra thêm hai đặc điểm, yêu cầu nữa đối với thuật ngữ khoa học tiếngViệt là: tính dân tộc và tính đại chúng (dễ hiểu, dễ nhớ) [4, tr.261-264] Gầnđây một số nhà khoa học đã đưa ra quan niệm về các tiêu chuẩn cần và đủ củathuật ngữ hay các thuộc tính bản thể của thuật ngữ là tính khoa học (gồm tínhchính xác, tính hệ thống và tính ngắn gọn) và tính quốc tế [65,tr.344-350]
Rõ ràng các nhà khoa học trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã cónhiều điểm chung khi đưa ra các yêu cầu, đặc điểm hay tiêu chuẩn của thuậtngữ Khái quát những quan điểm trên, căn cứ thực tế nghiên cứu và sử dụngthuật ngữ trong bối cảnh ngày nay, chúng tôi cho rằng thuật ngữ có các tiêuchuẩn như sau: tính chính xác, tính hệ thống, tính ngắn gọn, tính quốc tế vàtính dân tộc Trong số các tiêu chuẩn trên thì các tiêu chuẩn tính chính xác,tính hệ thống, tính ngắn gọn và tính quốc tế là những tiêu chuẩn quan trọngnhất mà tất cả thuật ngữ đều phải có
Tính chính xác của thuật ngữ
Đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất của thuật ngữ Tiêu chuẩn này đòi hỏithuật ngữ phải biểu hiện đúng khái niệm hoặc đối tượng khoa học mà không
Trang 36gây nhầm lẫn Một thuật ngữ lý tưởng là thuật ngữ phản ánh được đặc trưng
cơ bản, nội dung bản chất của khái niệm Tuy nhiên, không phải lúc nào thuậtngữ cũng phản ánh được đầy đủ mọi phương diện, khía cạnh của khái niệm vì
có nhiều trường hợp thuật ngữ chỉ phản ánh một đặc trưng hay khía cạnhkhông cơ bản của khái niệm song đặc trưng hay khía cạnh đó đủ để phân biệtthuật ngữ đó với thuật ngữ khác
Tính đơn nghĩa cũng là một yếu tố quan trọng để đảm bảo tính chínhxác của thuật ngữ Trong nội bộ một ngành khoa học cần cố gắng để mỗi kháiniệm chỉ có một thuật ngữ biểu hiện (tránh hiện tượng thuật ngữ đồng nghĩa)
và ngược lại mỗi thuật ngữ chỉ biểu hiện một khái niệm Rõ ràng chúng takhông thể tuyệt đối hóa nguyên tắc này bởi do sự phát triển của khoa học, cótrường hợp một thuật ngữ cũ vẫn cùng tồn tại trong một khoảng thời gian nhấtđịnh với thuật ngữ mới Thêm vào đó, nguyên tắc này khó có thể thực hiện
giữa thuật ngữ thuộc các ngành khoa học khác nhau (ví dụ thuật ngữ function
trong tiếng Anh được dùng với nhiều ngành khoa học khác nhau gắn với các
khái niệm khác nhau: chức năng trong y học, hàm trong toán học, v.v.)
Đỗ Hữu Châu cho rằng tính chính xác của thuật ngữ thể hiện ở 2 mặt làngữ nghĩa và hình thức [4,tr.641-642]
Về mặt ngữ nghĩa, tính chính xác đảm bảo thuật ngữ biểu thị đúng kháiniệm mà chúng gọi tên Tính chính xác về ngữ nghĩa còn làm cho các thuậtngữ tự thân không mang những ý nghĩa biểu thái và giúp loại trừ tính nhiềunghĩa của thuật ngữ
Về mặt hình thức, tính chính xác của thuật ngữ thể hiện ở một sốđiểm sau: (1) các hình vị tạo nên thuật ngữ phải phù hợp đến mức tối đa vớikhái niệm, (2) không chứa đựng các hình vị dư thừa có thể gây hiểu lầm,
(3) các hình vị cần phải được biến đổi, phát triển cho phù hợp với sự pháttriển của các khái niệm khoa học và (4) phải sử dụng các kiểu cấu tạo phùhợp với tính trí tuệ của các thuật ngữ Do yêu cầu này mà các thuật ngữthường ngắn gọn, chặt chẽ
Trang 37 Tính hệ thống của thuật ngữ
Đây cũng là một tiêu chuẩn quan trọng của thuật ngữ Các thuật ngữ củamột lĩnh vực nhất định không tồn tại độc lập với nhau, chúng cũng không biểuthị sự vô cùng của các yếu tố lẫn lộn mà chúng được kết nối với nhau thôngqua những kiểu quan hệ nhất định Các thuật ngữ này thuộc về một hệ thống
có tổ chức có cấu tạo theo một hay nhiều bậc khác nhau dựa trên sự tồn tạilogic của một hệ thống thứ bậc đặc biệt
Có nhiều cách hiểu khác nhau về tính hệ thống của thuật ngữ Lotte chorằng: “hệ thống thuật ngữ có tính khoa học không thể là tổng thể giản đơn các
từ ngữ mà là hệ thống các từ ngữ liên hệ nhất định với nhau, có lẽ chính đây làtính hệ thống các thuật ngữ trong hệ thống thuật ngữ” [78,tr.172] Bugadovquan niệm thuật ngữ có tính hệ thống hai mặt: một mặt nó là yếu tố của hệthống thuật ngữ, mặt khác nó lại là yếu tố của hệ thống ngôn ngữ [dẫn theo65,tr.347] Reformatskij khẳng định “những mối liên hệ giữa các khái niệm của
hệ thống khái niệm tương ứng phải được phản ánh trong hệ thống thuật ngữ, tức
là thuật ngữ của một ngành kiến thức phải có tính hệ thống.” [79,tr.264]
Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam cũng nêu quan điểm về tính hệ thốngcủa thuật ngữ Đái Xuân Ninh nêu rõ: “thuật ngữ nằm trong hệ thống từ vựngchung của ngôn ngữ, nhưng chỉ tồn tại trong một hệ thống thuật ngữ cụ thểnghĩa là nó chỉ được dùng trong ngôn ngữ chuyên môn Toàn bộ các thuật ngữcủa một lĩnh vực sản xuất, hoạt động, tri thức tạo nên một lớp từ đặc biệt tạothành hệ thuật ngữ” [45,tr.64] Nguyễn Thiện Giáp đưa ra quan niệm tính hệthống về mặt nội dung và tính hệ thống về mặt hình thức của thuật ngữ vàkhẳng định “mỗi lĩnh vực khoa học đều có một hệ thống các khái niệm chặtchẽ, hữu hạn được thể hiện bằng hệ thống các thuật ngữ của mình Như vậy,mỗi thuật ngữ đều chiếm một vị trí trong hệ thống khái niệm, đều nằm trongmột hệ thống thuật ngữ nhất định Giá trị của mỗi thuật ngữ được xác định bởimối quan hệ của nó với những thuật ngữ khác cùng trong hệ thống Nếu tách
Trang 38một thuật ngữ ra khỏi hệ thống thì nội dung thuật ngữ của nó không cònnữa….Tính hệ thống về mặt nội dung của thuật ngữ kéo theo tính hệ thống vềhình thức ….Muốn thuật ngữ „không cản trở đối với cách hiểu‟, lại thể hiệnđược vị trí trong hệ thống thuật ngữ thì qua hình thức của thuật ngữ phải cóthể khu biệt nó về chất với các thuật ngữ khác loạt, đồng thời có thể khu biệt
nó về mặt quan hệ so với những khái niệm khác cùng loại…” [10,tr.272-273]
Tính ngắn gọn của thuật ngữ
Như tất cả các đơn vị từ vựng khác, thuật ngữ cũng mang tính chất địnhdanh Chính vì vậy, nếu thuật ngữ là những cụm từ dài dòng thì thường mangtính chất miêu tả hay định nghĩa khái niệm Thêm vào đó, những thuật ngữ dàidòng sẽ làm cho tính hệ thống của thuật ngữ bị lỏng lẻo Về phương diệnthông tin, thuật ngữ càng ngắn gọn thì lượng thông tin nó truyền tải càng cao,ngược lại, các thuật ngữ dài dòng, bên cạnh việc không đạt được tính hệ thống
về hình thức, đôi khi còn làm lu mờ thậm chí phá vỡ tính chất thuật ngữ của
nó Do đó, để đảm bảo được sự chặt chẽ trong cấu tạo của thuật ngữ cũng nhưtính chất định danh của thuật ngữ thì ngắn gọn là một yêu cầu bắt buộc
Để đảm bảo tính ngắn gọn của thuật ngữ, trong khi đặt thuật ngữ cầnchọn những yếu tố thật cần thiết như những yếu tố gốc, loại bỏ những yếu tốthừa Danilenko cho rằng: “Tính ngắn gọn của thuật ngữ cần được hiểu làtrong thành phần cấu tạo thuật ngữ chỉ cần chứa một số lượng đặc trưng tốithiểu cần thiết nhưng vẫn đủ để đồng nhất hóa và khu biệt các khái niệm đượcphản ảnh bằng thuật ngữ đó.” [76,tr.331]
Xét theo tiêu chuẩn này thì thuật ngữ có dạng lý tưởng nhất là thuật ngữ
có dạng từ (từ đơn hoặc từ ghép) [65,tr.348]
Tính quốc tế của thuật ngữ
Có thể thấy rằng xét từ góc độ ngữ nghĩa thì tính quốc tế của thuật ngữ
là điều hiển nhiên bởi lẽ thuật ngữ biểu thị các khái niệm khoa học - tài sảnchung cho những người nói các thứ tiếng khác nhau Hiển nhiên là “sự thống
Trang 39nhất thuật ngữ giữa các ngôn ngữ là cần thiết và bổ ích Chính điều này tạonên tính quốc tế của thuật ngữ.” [10,tr.274].
Về mặt hình thức cấu tạo, tính quốc tế của thuật ngữ thể hiện ở điểmcác ngôn ngữ dùng các thuật ngữ giống hoặc tương tự như nhau, cùng xuất
phát từ một gốc chung Ví dụ: điện báo, điện đàm trong tiếng Việt; television (tiếng Anh), telévision (tiếng Pháp), v.v.
Tuy nhiên, tính quốc tế của thuật ngữ còn được thể hiện ở hình thái bêntrong của thuật ngữ (nghĩa là cách chọn đặc trưng của sự vật, khái niệm, v.v.làm cơ sở định danh khi đặt thuật ngữ) Điều đó có nghĩa là các ngôn ngữ khácnhau khi định danh cùng một khái niệm hay đối tượng của một lĩnh vực khoahọc hay chuyên môn chọn cùng một đặc trưng nào đó làm cơ sở định danh,đưa đặc trưng đó vào tên gọi hay thuật ngữ làm thành hình thái bên trong củatên gọi hay thuật ngữ ấy [65,tr.349] Điều này thể hiện rõ ràng qua việc vaymượn thuật ngữ bằng hình thức sao phỏng từ một thuật ngữ của một ngôn ngữkhác giữa các ngôn ngữ khác nhau về cả nguồn gốc và loại hình Ví dụ:
standardization of terms (tiếng Anh) và chuẩn hóa thuật ngữ (tiếng Việt).
Những tiêu chuẩn trên là những tiêu chuẩn thuộc bản thể của thuật ngữ,giúp phân biệt thuật ngữ với các từ ngữ phi thuật ngữ Ngoài các tiêu chuẩn này,thuật ngữ sẽ hoàn thiện hơn nếu đáp ứng được thêm tiêu chuẩn sau:
Tính dân tộc
Tuy biểu thị các sự vật, hiện tượng hay đối tượng của một ngành khoahọc nào đó nhưng thuật ngữ vẫn là một bộ phận của hệ thống từ vựng của mộtngôn ngữ nhất định Nói rộng ra, thuật ngữ vẫn là một bộ phận không thể táchrời của một ngôn ngữ nào đó Vì lẽ đó, thuật ngữ có tính dân tộc, phù hợp vớiđặc điểm của ngôn ngữ đó
Đến đây, một câu hỏi có thể được đặt ra là liệu tính dân tộc của thuậtngữ có mâu thuẫn với tính quốc tế không Nhiều nhà ngôn ngữ học đã đưa ranhững lí giải cho vấn đề này Nguyễn Thiện Giáp cho rằng nếu hiểu tính quốc
tế của thuật ngữ chỉ ở hình thức biểu hiện thì sẽ là mâu thuẫn với tính dân tộc,
Trang 40dễ hiểu trong hình thức cấu tạo của thuật ngữ Cần phân biệt những tính chấtvới tư cách là đặc trưng phân biệt thuật ngữ với những lớp từ vựng khác vànhững yêu cầu khi xây dựng thuật ngữ Tính dân tộc, dễ hiểu không phải làđặc trưng của thuật ngữ mà những từ ngữ thông thường cũng cần có, càngphải có đặc điểm này [10,tr.275] Nguyễn Văn Lợi đưa ra quan điểm về sự hàihòa giữa tính dân tộc và tính quốc tế: “Một hình thức khác của việc thống nhấtthuật ngữ và hệ thống hóa thuật ngữ là việc đảm bảo sự hài hòa về phươngdiện dân tộc và quốc tế Do không đặt mục đích có được một thuật ngữ duynhất trong các ngôn ngữ khác nhau, cũng như trong các hệ thống thuật ngữcủa các chuyên ngành gần nhau, nên các chuyên gia thuật ngữ học và đại diệncác lĩnh vực khoa học cần hạn chế sự ràng buộc lẫn nhau Để đảm bảo sự hàihòa giữa bình diện dân tộc và quốc tế, cần chú ý đến 2 nhóm nhân tố: các nhân
tố ngôn ngữ, tức liên quan đến đặc thù của ngôn ngữ mà thuật ngữ đó sởthuộc; và các nhân tố ngoài ngôn ngữ (extralinguistic), tức là liên quan đếnlĩnh vực đối tượng và các lí thuyết miêu tả lĩnh vực đó.” [41,tr.41]
Rõ ràng tính quốc tế và tính dân tộc không hề mâu thuẫn với nhau màtồn tại song song Thuật ngữ có tính quốc tế vì biểu hiện các khái niệm khoahọc chung cho cả nhân loại, lại vừa có tính dân tộc do sử dụng các yếu tố ngônngữ (từ vựng, ngữ âm, văn tự, cú pháp) của một dân tộc nào đó
1.2.2. Một số vấn đề về lý thuyết định danh ngôn ngữ
1.2.2.1. Khái niệm
Đã từ lâu các nhà ngôn ngữ học thống nhất rằng định danh là một trongnhững chức năng cơ bản của ngôn ngữ Chức năng này của ngôn ngữ giúphiện thực hóa một nhu cầu quan trọng của con người - nhu cầu gọi tên các sựvật xung quanh
Vậy định danh là gì? Theo từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học thì
“định danh là sự cấu tạo các đơn vị ngôn ngữ có chức năng dùng để gọi tên,chia tách các đoạn của hiện thực khách quan trên cơ sở đó hình thành nhữngkhái niệm tương ứng về chúng dưới dạng các từ, cụm từ, ngữ cú và câu.” [72,