1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đối chiếu thuật ngữ xã hội học AnhViệt

220 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 220
Dung lượng 2,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án tập trung nghiên cứu, đối chiếu thuật ngữ xã hội học Anh- Việt về cấu tạo và ngữ nghĩa nhằm đưa ra điểm tương đồng và khác biệt về cấu tạo và đặc trưng định danh của thuật ngữ xã

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

NGÔ THỊ THANH VÂN

ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ XÃ HỘI HỌC ANH-VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội-2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

NGÔ THỊ THANH VÂN

ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ XÃ HỘI HỌC ANH-VIỆT

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu

Mã số 9222024

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS.TS Lê Quang Thiêm

Hà Nội-2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do bản thân tôi thực hiện Các số liệu và kết quả được nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được các tác giả khác công bố

Tác giả luận án

Ngô Thị Thanh Vân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô trong Khoa Ngôn ngữ học, Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam đã truyền thụ cho tôi những kiến thức quý báu trong thời gian học tập và nghiên cứu

Lời cảm ơn sâu sắc nhất xin được gửi tới thầy giáo hướng dẫn, GS.TS Lê Quang Thiêm, người thầy uyên bác và rất mực nhân từ đã tận tình chỉ bảo và động viên tôi trong quá trình hoàn thành luận án

Xin cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Công đoàn, đồng nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian học tập

Lời cảm ơn đặc biệt xin gửi tới những người thân yêu trong gia đình đã chia sẻ khó khăn và động viên tôi hoàn thành luận án

Tác giả luận án

Ngô Thị Thanh Vân

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN 7

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

1.1.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới 7

1.1.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam 9

1.2 Cơ sở lí luận 15

1.2.1 Thuật ngữ và các khái niệm liên quan 15

1.2.2 Ngôn ngữ học đối chiếu 24

1.2.3 Lý thuyết định danh 29

1.2.4 Quan niệm về dịch thuật 37

Tiểu kết 43

CHƯƠNG 2: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA THUẬT NGỮ XÃ HỘI HỌC ANH -VIỆT 44

2.1 Quan niệm về thuật ngữ tiếng Anh và tiếng Việt 44

2.1.1 Khái niệm từ và cụm từ tiếng Anh và tiếng Việt 44

2.1.2 Các thành tố trực tiếp cấu tạo thuật ngữ 53

2.1.3 Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ xã hội học Anh- Việt 56

2.2 Đối chiếu cấu tạo thuật ngữ xã hội học Anh-Việt là từ 58

2.2.1 Quan niệm về mô hình cấu tạo 58

2.2.2 Đối chiếu cấu tạo thuật ngữ xã hội học Anh-Việt là từ đơn 58

2.2.3 Đối chiếu cấu tạo thuật ngữ xã hội học Anh-Việt là từ ghép 59

2.2.4 Tương đồng và khác biệt về cấu tạo của thuật ngữ xã hội học Anh-Việt là từ 75

Trang 6

2.3 Đối chiếu cấu tạo thuật ngữ xã hội học Anh- Việt là cụm từ 77

2.3.1 Đối chiếu cấu tạo thuật ngữ xã hội học Anh-Việt là cụm danh từ 77

2.3.2 Đối chiếu cấu tạo thuật ngữ xã hội học Anh-Việt là cụm động từ 82

2.3.3 Tương đồng và khác biệt về cấu tạo của thuật ngữ xã hội học Anh-Việt là cụm từ 84

Tiểu kết 85

CHƯƠNG 3: ĐỐI CHIẾU ĐẶC TRƯNG ĐỊNH DANH THUẬT NGỮ XÃ HỘI HỌC ANH -VIỆT 87

3.1 Đặc trưng định danh 87

3.1.1 Đặc trưng định danh thuật ngữ 87

3.1.2 Đặc trưng định danh thuật ngữ xã hội học Anh- Việt 89

3.1.3 Các phạm vi nội dung chính của thuật ngữ xã hội học Anh-Việt 90

3.2 Đặc trưng đơn vị định danh thuật ngữ xã hội học Anh-Việt 91

3.2.1 Đặc trưng đơn vị định danh cơ bản của thuật ngữ xã hội học Anh-Việt 91

3.2.2 Đặc trưng đơn vị định danh thứ cấp của thuật ngữ xã hội học Anh- Việt 92 3.3 Đối chiếu các đặc trưng định danh của thuật ngữ xã hội học Anh- Việt 117

Tiểu kết 120

CHƯƠNG 4: KIỂM ĐỊNH VÀ CHUẨN HÓA KẾT QUẢ ĐỐI DỊCH THUẬT NGỮ XÃ HỘI HỌC ANH-VIỆT 122

4.1 Tương đương dịch thuật 122

4.1.1 Khái niệm tương đương trong dịch thuật 122

4.1.2 Tương đương dịch thuật ngữ 125

4.2 Kiểm định kết quả dịch thuật ngữ xã hội học Anh-Việt 126

4.2.1 Những biểu thức ngôn ngữ đích không đưa vào đối chiếu 127

4.2.2 Về cấu tạo thuật ngữ xã hội học Anh-Việt 128

4.2.3 Về nội dung được biểu đạt của thuật ngữ xã hội học Anh-Việt 133

4.3 Chuẩn hóa thuật ngữ xã hội học Anh-Việt 136

4.3.1 Khái niệm chuẩn hóa 136

4.3.2 Chuẩn hóa về cấu tạo thuật ngữ xã hội học Anh- Việt 138

4.3.3 Chuẩn hóa về nội dung thuật ngữ xã hội học Anh- Việt 141

Trang 7

4.3.4 Kết quả chuẩn hoá TNXHH Anh-Việt 145

Tiểu kết 146

KẾT LUẬN 148

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Thành tố cấu tạo TNXHH Anh- Việt là từ 55 Bảng 2.2 Thành tố cấu tạo TNXHH Anh- Việt là cụm từ 55

Bảng 3.1 Đặc trưng định danh TNXHH Anh-Việt về các khái niệm

xã hội học

98

Bảng 3.2 Đặc trưng định danh TNXHH Anh-Việt về phương pháp

nghiên cứu xã hội học

Trang 10

Bảng 3.7 Đặc trưng định danh TNXHH Anh-Việt về cá nhân và xã

hội hoá

114

Bảng 3.8 Đặc trưng định danh TNXHH Anh-Việt về biến đổi xã hội 116 Bảng 3.9 Tổng hợp đơn vị định danh TNXHH Anh- Việt 117 Bảng 3.10 Tổng hợp đặc trưng đơn vị định danh thứ cấp của TNXHH

Anh-Việt

118

Bảng 4.1 Tương đương đơn vị dịch TNXHH Anh- Việt 129

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thuật ngữ là từ ngữ biểu thị các khái niệm, đối tượng của một ngành khoa học cụ thể Thuật ngữ là phần rất quan trọng và chiếm tỉ lệ lớn trong hệ thống từ vựng của một ngành khoa học và phản ánh trình độ phát triển của ngành đó Tuy nhiên, cấu trúc thuật ngữ và hệ thống thuật ngữ của một ngành khoa học được thể hiện trong các ngôn ngữ khác nhau Bởi vậy, sự chuyển giao thuật ngữ chính

là sự chuyển giao tri thức Một ngành khoa học muốn phát triển phải có một hệ thống thuật ngữ phong phú và đủ mạnh phản ánh hệ thống khái niệm của ngành khoa học đó

Xã hội học xuất hiện ở Châu Âu vào thế kỷ XIX Tuy ra đời muộn hơn so với các ngành khoa học khác, nhưng ngành xã hội học phát triển nhanh và trở thành một trong các ngành khoa học mũi nhọn trong hệ thống các khoa học xã hội Xã hội học là ngành khoa học gắn liền với quá trình phát triển và biến đổi

xã hội Xã hội học hình thành và phát triển trong mối quan hệ với nhiều ngành khoa học xã hội khác như triết học, kinh tế học, luật học v.v

Được đưa vào giảng dạy tại trường đại học Việt Nam những năm 1990, xã hội học dần được quan tâm và khẳng định vị trí quan trọng của mình trong hệ thống khoa học trong nước Đến nay, xã hội học không ngừng phát triển và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của đời sống con người Các nghiên cứu về xã hội học xuất phát từ hiện thực xã hội và đã giải đáp được những câu hỏi cuộc sống sinh động đặt ra Xã hội học dần dần khẳng định được vị trí quan trọng của mình trong hệ thống các ngành khoa học và giành được sự quan tâm của các nhà khoa học và xã hội Bởi vậy, Nghị quyết 26 của Bộ chính trị Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa V đã khẳng định xã hội học là một trong bốn ngành cần được phát triển nhanh

Hệ thống thuật ngữ là công cụ, là bộ phận cấu thành nên tri thức của một ngành khoa học Hiện nay, ngành xã hội học ở Việt Nam đang phát triển nhanh

và cần một hệ thống thuật ngữ khoa học phong phú và chuẩn mực Tuy vậy, hệ thuật ngữ xã hội học tiếng Việt hiện nay với số lượng thuật ngữ hạn chế chưa

Trang 12

đáp ứng được yêu cầu đó Để phục vụ cho sự phát triển nhanh của ngành xã hội học trong nước thì việc xây dựng và hoàn thiện hệ thuật ngữ của ngành là một việc làm cần thiết

Các công trình nghiên cứu về thuật ngữ xã hội học ở Việt Nam có số lượng khiêm tốn và số lượng thuật ngữ xã hội học được chuyển dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt chưa nhiều Việc vay mượn thuật ngữ tiếng Anh nói chung còn khá phổ biến Bên cạnh đó, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về đối chiếu hệ thuật ngữ xã hội học tiếng Anh và thuật ngữ xã hội học tiếng Việt Để thực hiện tốt vai trò quan trọng của mình trong sự phát triển của xã hội, cũng như để ngày càng phát triển lớn mạnh, xã hội học đặc biệt

là hệ thuật ngữ xã hội học cần được nghiên cứu sâu rộng hơn cả về lý luận và thực tiễn Tiếng Anh và tiếng Việt là hai ngôn ngữ khác nhau về loại hình và ngữ hệ Vì vậy, con đường duy nhất để nghiên cứu hai hệ thuật ngữ là so sánh, đối chiếu để làm rõ điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng

Vì những lí do trên đây, chúng tôi lựa chọn đề tài “Đối chiếu thuật ngữ xã hội học Anh- Việt” làm đề tài nghiên cứu luận án Luận án tập trung nghiên cứu, đối chiếu thuật ngữ xã hội học Anh- Việt về cấu tạo và ngữ nghĩa nhằm đưa ra điểm tương đồng và khác biệt về cấu tạo và đặc trưng định danh của thuật ngữ xã hội học tiếng Anh và tiếng Việt dưới ánh sáng lý luận của ngôn ngữ học so sánh đối chiếu Từ đó, luận án sẽ góp phần xây dựng lý thuyết chung về thuật ngữ học, xây dựng và chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ xã hội học tiếng Việt hiện nay

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là tìm hiểu, đối chiếu nhằm làm sáng tỏ về mặt cấu tạo, đặc trưng định danh của hệ thống thuật ngữ xã hội học trong hai ngôn ngữ Anh và Việt Trên cơ sở đó, luận án đề xuất các biện pháp cụ thể để

chuẩn hóa hệ thuật ngữ xã hội học tiếng Việt

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết các nhiệm vụ sau:

Trang 13

- Tổng quan tình hình nghiên cứu và hệ thống hóa các quan điểm lý luận

về thuật ngữ khoa học trên thế giới và ở Việt Nam, qua đó xác lập cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu

- Miêu tả, phân tích và đối chiếu đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ xã hội học tiếng Anh và tiếng Việt

- Đối chiếu đặc trưng định danh của thuật ngữ xã hội học trong hai ngôn ngữ Anh và Việt

- Kiểm định thuật ngữ xã hội học Anh-Việt về mặt nội dung và cấu tạo và

đề xuất biện pháp chuẩn hoá thuật ngữ xã hội học tiếng Việt trên hai phương diện này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các thuật ngữ xã hội học tiếng Anh

và thuật ngữ xã hội học tiếng Việt được lấy trong các từ điển, các giáo trình và tài liệu chuyên ngành Chúng tôi quan niệm thuật ngữ xã hội học là những từ và cụm từ cố định biểu đạt các khái niệm được sử dụng trong lĩnh vực xã hội học

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận án là đối chiếu các thuật ngữ xã hội học bằng tiếng Anh và tiếng Việt tương ứng trong từ điển thuật ngữ xã hội học và các văn bản khoa học về lĩnh vực xã hội học để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa những thuật ngữ này trong hai ngôn ngữ Anh- Việt trên bình diện đồng đại của chúng Ngôn ngữ cơ sở là tiếng Anh và ngôn ngữ đối chiếu là tiếng Việt

Các thuật ngữ xã hội học trong các ngôn ngữ khác, tên riêng các tổ chức

và tên các nhân vật lịch sử liên quan đến lĩnh vực xã hội học không nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận án

4 Phương pháp và ngữ liệu nghiên cứu của luận án

4.1 Phương pháp miêu tả

Phương pháp miêu tả được sử dụng để miêu tả đặc điểm cấu tạo chung của nhóm thuật ngữ Phương pháp này giải đáp các câu hỏi: các thành tố nào cấu tạo nên thuật ngữ, các mô hình kết hợp các thành tố của nhóm thuật ngữ Bằng

Trang 14

cách sử dụng phương pháp này luận án sẽ chỉ ra các đặc trưng cấu tạo, cũng như các đặc điểm định danh, những bất cập và cách chuẩn hoá thuật ngữ xã hội học

4.2 Phương pháp đối chiếu

Phương pháp đối chiếu đặt các đặc điểm hình thái, cấu trúc, ngữ nghĩa của thuật ngữ xã hội học của hai ngôn ngữ Anh- Việt để xem xét điểm tương đồng

và khác biệt Đồng thời, phương pháp đối chiếu được sử dụng để đưa ra các thủ pháp chuyển dịch chính xác thuật ngữ xã hội học tiếng Anh, tạo ra thuật ngữ xã hội học tiếng Việt phù hợp, xử lý những trường hợp không có tương đương trong tiếng Việt Từ đó, luận án đưa ra nhận xét, đánh giá và đề xuất cách xây dựng thuật ngữ xã hội học chuẩn mực tiếng Việt

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng đồng thời các phương pháp trên Tất cả các phương pháp sẽ bổ sung, hỗ trợ cho nhau để giải quyết hiệu quả nhiệm vụ đề ra

4.3 Thủ pháp nghiên cứu

Luận án cũng vận dụng thủ pháp thống kê định lượng, phân tích thành tố,

mô hình hóa để giúp cho việc định tính và so sánh đối chiếu sáng tỏ

4.4 Ngữ liệu nghiên cứu

Trong nghiên cứu ngôn ngữ học, ngữ liệu nghiên cứu có vai trò rất quan trọng Đây là các minh chứng sinh động, cụ thể được sử dụng để tính toán, phân tích, đánh giá và đưa ra các kết luận khoa học có chất lượng Nguồn ngữ liệu nghiên cứu được chúng tôi lựa chọn trên cơ sở lí luận về thuật ngữ, là công trình nghiên cứu của các nhà chuyên môn uy tín, có chất lượng khoa học Quan điểm của chúng tôi trong định hướng và lựa chọn thuật ngữ đưa vào đối chiếu là các TNXHH tiếng Anh và các kết quả tương đương dịch tiếng Việt, không sử dụng các kết quả dịch để nguyên dạng, phiên âm, định nghĩa hay giải thích

Nguồn ngữ liệu được chúng tôi sử dụng trong luận án là một số cuốn từ điển TNXHH tiêu biểu, giáo trình và tạp chí chuyên ngành trong đó TNXHH được thể hiện bằng tiếng Anh và Việt tương ứng Tiêu biểu là các cuốn từ điển chuyên ngành:

- Từ điển xã hội học do tác giả Nguyễn Khắc Viện chủ biên năm 1994 do

Trang 15

nhà xuất bản Thế giới ấn hành Công trình gồm 208 TNXHH Việt-Anh được xếp theo thứ tự bảng chữ cái

- Từ điển xã hội học do Ngụy Hữu Tâm, Nguyễn Hoài Bão biên dịch năm

2002, nhà xuất bản thế giới ấn hành Số lượng TNXHH trong từ điển là 235, cung cấp các khái niệm, phạm trù, nội dung …cơ bản của xã hội học

- Từ điển xã hội học Oxford, xuất bản năm 2012, do nhóm tác giả Bùi Thế

Cường, Đặng Thị Việt Phương và Trịnh Huy Hóa biên dịch do Ford Foundation tài trợ, thuộc trường Đại học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội

Cuốn sách gồm 525 thuật ngữ, được biên dịch từ cuốn Oxford Dictionary of

Sociology do Gordon Marshall chủ biên, nhà xuất bản Oxford University ấn

hành năm 1998 (tái bản)

Để làm phong phú thêm ngữ liệu nghiên cứu, chúng tôi đã thu thập thêm thuật ngữ xã hội học từ giáo trình và tài liệu chuyên ngành xã hội học và Tạp chí

xã hội học (Xem ngữ liệu nghiên cứu) Số lượng thuật ngữ thu được từ các giáo

trình, tài liệu này là 514 thuật ngữ …

Tổng số thuật ngữ thu được từ các từ điển xã hội học và tài liệu chuyên ngành là 1482 thuật ngữ, trong đó có 1 thuật ngữ được chuyển nguyên dạng, 13

từ, cụm từ là danh pháp cùng với 258 thuật ngữ trùng nhau Với các thuật ngữ

trùng nhau, chúng tôi sẽ chọn một thuật ngữ Sau khi loại bỏ từ, cụm từ danh pháp hoặc chuyển dịch nguyên dạng, các thuật ngữ trùng nhau, chúng tôi thu được 1339 thuật ngữ đưa vào nghiên cứu

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Có thể nói đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam khảo sát và đối chiếu tương đối toàn diện, có hệ thống các đặc điểm cơ bản của thuật ngữ xã hội học tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện cấu tạo và định danh Luận án chỉ ra những yếu tố từ vựng tạo thành hệ thuật ngữ xã hội học tiếng Anh và tiếng Việt, các mô hình cấu tạo, phương thức cấu tạo, đặc điểm định danh của thuật ngữ xã hội học tiếng Anh trong sự đối chiếu với tiếng Việt

Dựa vào kết quả khảo sát và nghiên cứu, luận án sẽ đề xuất các biện pháp khả thi nhằm chuẩn hoá các thuật ngữ xã hội học được dịch từ tiếng Anh sang

Trang 16

tiếng Việt, góp phần chuẩn hoá hệ thuật ngữ xã hội học tiếng Việt nói riêng và phát triển ngành xã hội học Việt Nam nói chung

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm rõ thêm lý thuyết về đối chiếu, chuyển dịch thuật ngữ khoa học, xây dựng và hoàn thiện hệ thống thuật ngữ xã hội học tiếng Việt

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ:

- Là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện từ điển thuật ngữ xã hội học tiếng Việt phục vụ cho sự phát triển ngành xã hội học nước ta

- Đóng góp thiết thực cho việc chỉnh lí để chuẩn hoá hệ thống thuật ngữ

xã hội học tiếng Việt hiện có

- Phục vụ thiết thực cho việc giảng dạy và biên soạn giáo trình, tài liệu xã hội học

Ngoài ra, luận án còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cá nhân, các nhà nghiên cứu thuật ngữ học, các nhà xã hội học

7 Bố cục luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục lục, danh mục các công trình đã công

bố liên quan đến luận án, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án bao gồm 4 chương:

CHƯƠNG 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận của luận án

CHƯƠNG 2: Đối chiếu đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ xã hội học Anh- Việt CHƯƠNG 3: Đối chiếu đặc trưng định danh của thuật ngữ xã hội học Anh- Việt CHƯƠNG 4: Kiểm định và chuẩn hóa kết quả đối dịch thuật ngữ xã hội học Anh-Việt

Trang 17

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ

LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN Dẫn nhập

Thuật ngữ là từ ngữ khoa học, là tấm gương phản chiếu sự phát triển của một ngành khoa học cụ thể Nghiên cứu về thuật ngữ đã bắt đầu từ lâu nhưng gần đây mới được thực hiện một cách hệ thống và khoa học với tên gọi thuật ngữ học Nghiên cứu về thuật ngữ phát triển song hành cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ Vì vậy, công tác nghiên cứu và phát triển thuật ngữ có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển khoa học công nghệ của một quốc gia

Trong chương 1, chúng tôi chúng tôi tổng thuật tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam, quan niệm và các tiêu chuẩn thuật ngữ Chúng tôi cũng đưa ra khung lý thuyết về ngôn ngữ học đối chiếu, lý thuyết định danh, lý thuyết dịch thuật làm cơ sở cho việc nghiên cứu luận án

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới

Thuật ngữ là một bộ phận quan trọng của ngôn ngữ, là tấm gương phản chiếu nền khoa học, kỹ thuật và công nghệ của quốc gia “Thuật ngữ khoa học ra đời trong quá trình thực nghiệm, khám phá tự nhiên và xã hội, trong quá trình lao động sản xuất và đấu tranh của con người nhằm ghi lại và củng cố khái niệm, củng cố nhận thức của con người về sự vật và hiện tượng giúp cho sự thông báo nhận xét và tư tưởng của người này cho người khác, giúp cho thế hệ

sau kế thừa được kinh nghiệm của các thế hệ trước.” [35, tr16]

Vào thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX, các nhà khoa học là những chuyên gia

về thuật ngữ Tuy vậy, vào thời điểm đó họ mới quan tâm đến sự tăng lên nhanh chóng của số lượng thuật ngữ, sự đa dạng về hình thái và mối quan hệ giữa hình thái và khái niệm thuật ngữ mà họ chưa để ý đến bản chất của khái niệm và nền tảng của việc tạo ra thuật ngữ mới

Theo (Cabre, 1992), sự phát triển của thuật ngữ học hiện đại có 4 giai đoạn chính:

- Giai đoạn hình thành (1930-1960)

Trang 18

- Giai đoạn cấu trúc (1960-1975)

- Giai đoạn bùng nổ (1975- 1985)

- Giai đoạn phát triển (1985- đến nay)

Đầu thế kỷ XX, thuật ngữ học chưa được các nhà khoa học và ngôn ngữ học chú ý đến Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ không chỉ

đề ra yêu cầu đặt tên cho các khái niệm mới mà còn cần thống nhất trong việc sử dụng các thuật ngữ Thuật ngữ học hiện đại hình thành vào những năm 1930

Giai đoạn hình thành thuật ngữ học hiện đại (1930- 1960) được đánh dấu bởi các công trình của Wuster và Lotte về các phương pháp tạo thành hệ thống thuật ngữ Wuster, nhà ngôn ngữ học người Áo, được coi là cha đẻ của ngành thuật ngữ học Công trình của Eugen Wuster được xem là nền tảng cho sự khởi đầu của khoa học thuật ngữ, cũng như lý thuyết chung về thuật ngữ Công trình của Wuster cũng đề cập đến ba trường phái thuật ngữ cổ điển, trường phái Áo (Viên), trường phái Xô viết và trường phái Tiệp Khắc (Praha)

Hoạt động nghiên cứu thuật ngữ ở mỗi quốc gia nhằm những mục đích khác nhau Khi nghiên cứu về thuật ngữ, các nhà khoa học Áo quan tâm đến phương pháp xử lý dữ liệu thuật ngữ E.Wuster, người đứng đầu trung tâm nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ ở Áo, cho rằng việc đưa được ra các nguyên tắc thuật ngữ học và từ điển học là nhiệm vụ hết sức quan trọng vì đó là cơ sở cho hoạt động nghiên cứu và biên soạn thuật ngữ ở cấp độ quốc gia và quốc tế

Trong khi đó, các nhà khoa học Liên Xô tập trung nghiên cứu về quốc

tế hoá thuật ngữ Theo nhà thuật ngữ học Canada G.Rondo, Liên Xô là cái nôi của ra đời của bộ môn thuật ngữ học với tư cách là một chuyên ngành khoa học Trung tâm thuật ngữ học Xô Viết gắn với tên tuổi các nhà khoa học nổi tiếng như S.A Chaplugin, Đ.S.Lotte, S.I Corsunop, T.L.Kandelaki… Còn các nhà thuật ngữ Tiệp Khắc lại chú trọng vào việc xây dựng các yếu tố tương đương của quốc gia- các thuật ngữ gốc Slavơ, đối lập với các thuật ngữ Đức

và Hi lạp- Latinh

Theo Wuster [dẫn theo 94, tr5] bốn học giả được cho là người sáng lập ra

lý thuyết thuật ngữ học là: Alfred Schloman, người Đức, là người đầu tiên đề

Trang 19

cập đến bản chất hệ thống của các thuật ngữ đặc biệt, nhà ngôn ngữ học người Thuỵ Sĩ Ferdinand de Saussure là người đầu tiên chú ý đến bản chất hệ thống của ngôn ngữ, E Dresen, người Nga, là người đi tiên phong trong việc nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hệ thống hoá thuật ngữ, và J.E Homlstrom, một học giả Anh làm việc cho UNESCO đã có công lớn trong việc đưa thuật ngữ học lên tầm quốc tế

Giai đoạn cấu trúc (1960-1975) là giai đoạn đổi mới quan trọng nhất của thuật ngữ học nhờ sự phát triển của máy tính và và các kỹ thuật xử lý dữ liệu Vào thời điểm này, các ngân hàng dữ liệu đầu tiên đã xuất hiện, và một tập hợp quy tắc quốc tế về xử lý thuật ngữ đã ra đời Trong giai đoạn này, các bước tiếp cận đầu tiên với việc chuẩn hoá thuật ngữ trong một ngôn ngữ đã được hình thành

Giai đoạn bùng nổ (1975- 1985) được đánh dấu bởi sự gia tăng của các công trình về thuật ngữ Trong giai đoạn này, tầm quan trọng về vai trò của thuật ngữ trong ngôn ngữ hiện đại được đề cao Sự phổ biến của máy tính cá nhân đã mang lại sự thay đổi lớn trong việc xử lý các dữ liệu thuật ngữ

Giai đoạn phát triển (1985- đến nay), chúng ta đề cập đến một số sự kiện lớn Tin học là một trong những yếu tố quan trọng nhất dẫn đến sự thay đổi của thuật ngữ học Các nhà thuật ngữ học đã có một công cụ đáp ứng yêu cầu của mình một cách hiệu quả hơn Thuật ngữ học giành được ưu thế trong ngôn ngữ học Hợp tác quốc tế được củng cố và mở rộng khi các hệ thống quốc tế được tạo ra để kết nối các cơ quan, các quốc gia có chung mục đích nghiên cứu về thuật ngữ học

Trong những thập kỷ gần đây thuật ngữ trở thành đề tài của nhiều cuộc tranh luận và hội thảo trong nước và quốc tế Nhiều công trình nghiên cứu về thuật ngữ và nhiều từ điển thuật ngữ ra đời đáp ứng nhu cầu phát triển của các ngành khoa học

1.1.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam

Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ ở Việt Nam có thể chia thành các giai đoạn:

Trang 20

- Giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến 1945

Do đặc điểm lịch sử và xã hội thuật ngữ khoa học ở Việt Nam xuất hiện khá muộn Đầu thế kỷ XX, thuật ngữ khoa học tiếng Việt hầu như chưa được chú ý Thời kỳ này có rất ít các bài báo viết về thuật ngữ, nổi bật là bài viết của các tác giả Dương Quảng Hàm, Nguyễn Ứng…Xem [23], [52], [70], [87]

Các bài viết của các tác giả trên về thuật ngữ chủ yếu đề cập đến cuộc tranh luận nên dùng tiếng Pháp, tiếng Hán hay tiếng Latinh, Hy Lạp để đặt cho thuật ngữ khoa học

Vào những năm 1930, với chủ trương đúng đắn “đấu tranh vì tiếng nói, chữ viết, thống nhất và làm giàu tiếng nói” thuật ngữ khoa học bắt đầu xuất hiện bằng tiếng Việt Ban đầu chủ yếu là các thuật ngữ khoa học xã hội, đặc biệt là thuật ngữ chính trị và triết học sau đó mới phát triển sang thuật ngữ các ngành khoa học khác Các nhà khoa học đã chú ý đến việc đặt thuật ngữ bằng tiếng Việt Đáng chú ý là quan điểm của tác giả Hoàng Xuân Hãn Trong tác phẩm

Danh từ khoa học [24], ông đã đặt dấu mốc quan trọng trong việc biên soạn,

nghiên cứu thuật ngữ tiếng Việt Ông đã đưa ra “8 tính cách” và 3 phương sách đặt thuật ngữ khoa học Đây là lần đầu tiên thuật ngữ khoa học được xem xét một cách tương đối hệ thống

- Giai đoạn từ năm 1945 đến 1975

Sau Cách mạng tháng Tám miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam trong giai đoạn đấu tranh thống nhất đất nước Vấn

đề xây dựng và thống nhất thuật ngữ trở thành mối quan tâm lớn của các nhà khoa học Việt nam thời kỳ này Ở miền Nam, Lê Văn Thới đã soạn thảo

“danh từ chuyên môn” để chính thức hoá bản nguyên tắc dùng làm tài liệu hướng dẫn việc xây dựng thuật ngữ ở miền Nam Đây là bản nguyên tắc hoàn thiện nhất tính đến thời điểm đó và được áp dụng để biên soạn hơn 50 cuốn thuật ngữ đối chiếu

Ở miền Bắc, các công trình tiêu biểu của các tác giả nghiên cứu cơ sở lý luận về thuật ngữ, xây dựng hệ thống thuật ngữ và biên soạn từ điển như Đỗ Hữu Châu, Lê Khả Kế, Nguyễn Văn Tu xem [4], [34], [35],[68]

Trang 21

Tuy nhiên, các nhà khoa học chưa có sự thống nhất trong xây dựng thuật ngữ Bởi vậy, năm 1960 Uỷ ban khoa học nhà nước đã ban hành Quy định tạm thời về nguyên tắc biên soạn danh từ khoa học tự nhiên” [dẫn theo79], và một bản nguyên tắc xây dựng thuật ngữ khoa học xã hội Bên cạnh đó, các hội nghị

về vấn đề thuật ngữ được tổ chức như Hội nghị bàn về xây dựng thuật ngữ khoa học năm 1964, Hội nghị trưng cầu ý kiến về vấn đề dùng thuật ngữ khoa học năm 1965 Hội đồng Thuật ngữ- Từ điển khoa học được thành lập đã công bố

Đề án về quy tắc phiên thuật ngữ khoa học nước ngoài ra tiếng Việt năm 1966

và Bản quy định tạm thời về quy tắc phiên thuật ngữ nước ngoài ra tiếng Việt

Các quy định này đã đưa ra được các tiêu chuẩn cần thiết của thuật ngữ khoa học và việc phiên chuyển thuật ngữ nước ngoài một cách sáng tạo để chúng trở thành thuật ngữ của dân tộc, đồng hoá vào tiếng Việt Điều này góp phần thúc đẩy các chuyên ngành xây dựng thuật ngữ một các thống nhất hơn và gần 40 tập thuật ngữ đối chiếu đã được biên soạn

Tuy đất nước bị chia cắt làm hai miền nhưng các nhà khoa học miền Bắc

và miền Nam có quan điểm giống nhau trong cách xử lý thuật ngữ nước ngoài trong tiếng Việt Đó là cách phiên các thuật ngữ nước ngoài sang tiếng Việt [dẫn theo 38, tr49]

- Giai đoạn từ 1975 đến nay

Khi đất nước thống nhất, việc xây dựng thuật ngữ khoa học là một công tác hàng đầu trong công cuộc phát triển khoa học kỹ thuật của nước ta Để có sự thống nhất trong sử dụng thuật ngữ các nhà khoa học, các nhà ngôn ngữ học cả nước tập trung nghiên cứu chuẩn hoá thuật ngữ, vay mượn thuật ngữ nước ngoài thế nào Đáng chú ý là các công trình của các tác giả Lưu Vân Lăng, Lê Khả Kế, Hoàng Văn Hành… và nhiều bài báo bàn về thuật ngữ.v.v Xem [15], [18], [25], [36],[37], [41], [43], [73]

Từ những năm 90 của thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu về thuật ngữ của Việt Nam tập trung vào việc khái quát về thuật ngữ tiếng Việt, nghiên cứu

thuật ngữ từ bối cảnh xã hội Năm 1991, tác giả Vũ Quang Hào với Hệ thuật

ngữ quân sự tiếng Việt: đặc điểm và cấu tạo, là một công trình mở đầu một

Trang 22

khuynh hướng mới nghiên cứu về đặc điểm cấu tạo về thuật ngữ Công trình này không dừng lại ở các vấn đề lý luận chung về thuật ngữ mà đưa ra được những đánh giá xác đáng về cấu tạo và đặc điểm, góp phần vào việc xây dựng, thống nhất các vấn đề cụ thể trong một hệ thuật ngữ cụ thể Tiếp đó là một số bài viết

về chuẩn hoá thuật ngữ và xử lý thuật ngữ là từ nước ngoài sang tiếng Việt Xem [38], [40], [89]

Bên cạnh đó, đáng chú ý các nghiên cứu chuyên sâu về thuật ngữ của các tác giả Lê Quang Thiêm, Hà Quang Năng, Nguyễn Đức Tồn… Xem [1], [2],

[50], [51], [64], [65], [66], [67], [68], [69], [77], [79], [80], [82], [83] Đây là các công trình nghiên cứu có tính chất chuyên sâu, tổng kết một số vấn đề lý luận cơ bản về thuật ngữ học, những vấn đề lý luận và thực tiễn của từ điển học thuật ngữ ở Việt Nam và nước ngoài, quan điểm mới về chuẩn hoá thuật ngữ

Bên cạnh các công trình nghiên cứu lí luận về thuật ngữ, một số công trình nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam tiếp tục theo hướng khai thác đặc điểm cấu tạo, đối chiếu thuật ngữ tiếng Việt với thuật ngữ tiếng nước ngoài, chuẩn hoá thuật ngữ tiếng Việt trong một số ngành khoa học cụ thể

Năm 2000, Nguyễn Thị Bích Hà trong công trình nghiên cứu “So sánh

cách cấu tạo thuật ngữ kinh tế thương mại trong tiếng Nhật và tiếng Việt hiện đại” đã phân tích, đối chiếu làm sáng tỏ đặc trưng về phương diện cấu tạo hệ

thống thương mại trong hai ngôn ngữ Nhật và Việt để đề xuất phương hướng, biện pháp xây dựng và chuẩn hoá thuật ngữ thương mại tiếng Việt [22]

Tiếp theo là một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về thuật ngữ của một ngành khoa học cụ thể [Xem danh mục luận án] Có thể nhận thấy, mục đích của các công trình trên đều là xây dựng và chuẩn hoá hệ thuật ngữ của một ngành khoa học cụ thể Các công trình này tập trung chủ yếu vào việc phân tích đặc điểm cấu tạo, đối chiếu mô hình cấu tạo, định danh của thuật ngữ tiếng Việt

và so sánh chúng với thuật ngữ nước ngoài và cách phiên chuyển các thuật ngữ nước ngoài sang tiếng Việt.Như vậy, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu đối chiếu hệ thuật ngữ xã hội học tiếng Anh với tiếng Việt

Trang 23

1.1.3 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ xã hội học trên thế giới và Việt Nam

1.1.3.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ xã hội học trên thế giới

Xã hội học là khoa học về các quy luật và tính quy luật xã hội chung, và đặc thù của sự phát triển và vận hành của hệ thống xã hội xác định về mặt lịch sử; là khoa học về các cơ chế tác động và các hình thức biểu hiện của các quy luật đó trong các hoạt động của cá nhân, các nhóm xã hội, các giai cấp và các

thuần là một ngành khoa học lý giải và phân tích đời sống xã hội, mà còn là phương tiện thay đổi xã hội" [dẫn theo Wikipedia]

Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ngành xã hội học ra đời và đưa vào giảng dạy ở trường đại học một số quốc gia như Mỹ, Anh, Đức, Pháp…Cùng với sự phát triển của ngành hệ thuật ngữ xã hội học cũng từng bước được hoàn thiện Sự hợp tác quốc tế về xã hội học bắt đầu năm 1893 khi Rene Worms thành lập viện xã hội học quốc tế Năm 1949, sự lớn mạnh của ngành xã hội học được đánh dấu bằng sự ra đời của Hiệp hội xã hội học thế giới (ISA) Ngày nay,

xã hội học được nghiên cứu và học tập ở các châu lục và rất nhiều trường đại học lớn trên thế giới

Nước Anh là một thành viên của viện nghiên cứu thuật ngữ quốc tế (IITF) được thành lập năm 1989 với hơn 100 thành viên từ 40 quốc gia Các nhà nghiên cứu Anh đã triển khai các nghiên cứu về thuật ngữ tập trung vào các nội dung sau: quan điểm về thuật ngữ của các nhà thuật ngữ học; các định nghĩa về thuật ngữ, phân biệt hệ thống thuật ngữ với hệ thống từ vựng; các tiêu chuẩn để đánh giá thuật ngữ và tạo thuật ngữ; hình thành mạng lưới trung tâm tiêu chuẩn

để đánh giá, thẩm định thuật ngữ trong cả nước về cả lĩnh vực tự nhiên và xã hội Tuy vậy, đến nay chưa có công trình nghiên cứu lý luận nào dành cho thuật ngữ xã hội học Ở Anh, việc nghiên cứu thuật ngữ xã hội học chú trọng vào giải thích các khái niệm, các vấn đề của xã hội học Đây là thành quả của các công trình nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng về thuật ngữ học và từ điển học Nổi bật

là các cuốn từ điển của các tác giả William Outhwaite, Tom Bottomore, David

Trang 24

Jary- Julia Jary, Bryan S Turner, John Scott, Gordon Marshall Xem [93], [97], [100], [109]

1.1.3.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ xã hội học ở ViệtNam

Sự phát triển của xã hội học ở Việt Nam là một bước tiến với rất nhiều chặng đường khác nhau Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX tri thức xã hội học đã được nghiên cứu, giảng dạy ở miền Nam Việt Nam, tuy đối tượng tiếp cận không nhiều, nhưng nó đã tạo ra được một tiền lệ cho việc nghiên cứu xã hội học ở Việt Nam về sau Đến năm 1977, Ban Xã hội học - tiền thân của Viện

Xã hội học ngày nay thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam được thành lập,

đã tạo cơ sở cho sự phát triển của xã hội học Việt Nam, trong đó có việc thúc đẩy biên soạn và giảng dạy Xã hội học đại cương tại các Viện, trường Đại học, cao đẳng trong cả nước Bước sang đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, Tạp chí Xã hội học ra đời (1983), thuộc Viện Xã hội học là một sự kiện quan trọng nhằm tạo ra một diễn đàn học thuật về xã hội học ở Việt Nam Chính điều này đã thúc đẩy không chỉ các nghiên cứu xã hội học mà còn cả công tác biên soạn và giảng dạy xã hội học đại cương Bên cạnh nhiệm vụ nghiên cứu, hợp tác đào tạo và dịch thuật cũng được chú trọng Việc biên soạn và giảng dạy xã hội học ở Việt Nam trong thời gian này đã được xúc tiến ở khá nhiều nơi trên cả nước

Đến năm 1991, Khoa Xã hội học-Tâm lý của Trường Đại học Tổng hợp

Hà Nội, cơ sở đào tạo cử nhân Xã hội học chính quy đầu tiên trong cả nước được thành lập đã đánh dấu một bước phát triển xã hội học ở nước ta Xã hội học đã khẳng định vị thế quan trọng của mình trong hệ thống các ngành khoa học và ngày càng được xã hội quan tâm

Bước sang thế kỷ mới, ngành xã hội học cũng đã có những bước chuyển mình, dần trưởng thành và khẳng định được vai trò, vị trí của mình trong xã hội Những thành tựu to lớn của các nghiên cứu xã hội học thực nghiệm với nhiều đề tài được triển khai, mang lại những kết quả hết sức ý nghĩa cho các nhà quản lý

xã hội, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước Ngoài việc biên soạn công tác dịch thuật các tài liệu về xã hội học cũng không ngừng được đẩy mạnh Không chỉ có các Viện nghiên cứu, mà các trường đại học cũng tham gia tích

Trang 25

cực vào hoạt động này Việc biên soạn và dịch thuật các tài liệu xã hội học đại cương phục vụ cho công tác giảng dạy cho thấy phần nào sự phát triển cả về sự phổ biến lẫn chiều sâu tri thức Tuy vậy, các công trình nghiên cứu về thuật ngữ

xã hội học chưa nhiều Có thể nhận thấy các công trình nghiên cứu về thuật ngữ

xã hội học là các cuốn từ điển giải thích được các tác giả Nguyễn Khắc Viện, Thanh Lê, Nguỵ Hữu Tâm, Bùi Thế Cường biên soạn hoặc chuyển dịch từ tiếng Đức, Anh sang tiếng Việt Xem [2], [4], [10], [15] phần ngữ liệu nghiên cứu

Các công trình nghiên cứu về thuật ngữ xã hội học ở Việt Nam có số lượng khá khiêm tốn và số lượng thuật ngữ xã hội học được chuyển dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt chưa nhiều Việc vay mượn thuật ngữ tiếng Anh nói chung còn khá phổ biến Bên cạnh đó, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về đối chiếu hệ thuật ngữ xã hội học tiếng Anh và tiếng Việt Để thực hiện tốt vai trò quan trọng của mình trong sự phát triển của xã hội, cũng như để ngày càng phát triển lớn mạnh, xã hội học đặc biệt là hệ thuật ngữ xã hội học cần được nghiên cứu sâu rộng hơn cả về lý luận và thực tiễn Chính vì các lí

do này, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Đối chiếu thuật ngữ xã hội học Anh-Việt” để nghiên cứu đối chiếu

1.2 Cơ sở lí luận

1.2.1 Thuật ngữ và các khái niệm liên quan

1.2.1.1 Khái niệm thuật ngữ

Cho đến nay, các nhà ngôn ngữ học thế giới và Việt Nam đưa ra nhiều quan niệm về thuật ngữ Xuất phát từ cách nhìn khác nhau mà các nhà khoa học

đã đưa ra cách hiểu khác nhau về thuật ngữ Từ góc độ ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu đưa ra định nghĩa thuật ngữ gắn với nội dung khái niệm mà nó biểu thị Một số tác giả lại lấy chức năng của thuật ngữ tạo nét khu biệt hình thành khái niệm của nó

Đại diện cho xu hướng định nghĩa thuật ngữ gắn với khái niệm mà nó biểu đạt là các nhà nghiên cứu Xô Viết Tác giả V.P Danilenko cho rằng “Thuật ngữ dù là từ (ghép hay đơn) hay cụm từ đều là một ký hiệu mà một khái niệm tương ứng với nó” và “Bản chất của thuật ngữ với tư cách là một khái niệm hoàn

Trang 26

toàn không trùng với từ thông thường của ngôn ngữ toàn dân” Hay “Thuật ngữ gọi tên khái niệm chuyên môn Đặc trưng của khái niệm này là ở chỗ nó không

bị mất tính hoàn chỉnh dù nội dung của khái niệm được diễn đạt bằng bất kỳ phương tiện nào, phương thức nào” [dẫn theo 27, tr12-18]

Các nhà ngôn ngữ học Âu Mỹ cũng xem xét thuật ngữ trong mối quan hệ với khái niệm Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO), định nghĩa thuật ngữ chuyên ngành như sau: “Hệ thuật ngữ là một tập hợp các thuật ngữ đại diện cho một hệ thống các khái niệm của một lĩnh vực chuyên ngành đặc biệt” (ISO 1087: 1990) Trong bài nghiên cứu của mình, Erhart Oeser và Gerhart Budin định nghĩa:

“Thuật ngữ là một tập hợp các khái niệm, trong mỗi lĩnh vực chuyên ngành đều

có các mô hình cấu trúc đại diện cho tập hợp các khái niệm Kiến thức khoa học được sắp xếp thành các cấu trúc khái niệm, các phương tiện biểu đạt ngôn ngữ

và ký hiệu tương ứng được sử dụng trong văn phong khoa học để thông tin với người khác về kết quả khoa học và bình luận các ngôn bản khác.” [98, tr12] Dafydd khi nói về tầm quan trọng của thuật ngữ và tiêu chuẩn của thuật ngữ đã cho rằng thuật ngữ là “một tập hợp các khái niệm và biểu đạt của nó (bao gồm các ký tự, các thuật ngữ và đơn vị cụm từ) trong một lĩnh vực chuyên ngành đặc biệt” [96, tr15]

Một số nhà ngôn ngữ học Việt Nam cũng đưa ra quan điểm về thuật ngữ như Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Lưu Vân Lăng, Như Ý, Hoàng Văn Hành…Xem [4], [6], [25], [41], [84], [85]

Năm 1985, tác giả Nguyễn Thiện Giáp đưa ra quan niệm ngắn gọn nhưng nêu bật được vị trí của thuật ngữ trong một ngôn ngữ và các đặc trưng cần có của thuật ngữ Có thể nói đây là định nghĩa đầy đủ nhất về thuật ngữ ở nước ta tính đến thời điểm này: “Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định, là tên gọi chính xác các loại khái niệm và

các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người” [18, tr108-309]

Quan niệm của các tác giả trên đề cập đến thuật ngữ với các đặc trưng sau:

- Là một bộ phận đặc biệt của ngôn ngữ

Trang 27

- Nội hàm của thuật ngữ là nội dung khái niệm của một ngành khoa học mà

nó biểu thị

- Một số đặc trưng của thuật ngữ như tính đơn nghĩa, tính hệ thống

Đại diện cho xu hướng thuật ngữ gắn với chức năng là các nhà thuật ngữ học như G.O Vinokur, V.K Nikiforov, V.V Vinogradov, L.A Kapatnadze, X.M Burdin, A.G Acnexov, N.A Baxkakov, V.A Zoveginxev [dẫn theo 27,

tr12-18], Các nhà nghiên cứu thuật ngữ theo xu hướng này nhấn mạnh chức

năng cơ bản của thuật ngữ là chức năng định danh Thuật ngữ là phương tiện biểu thị của định nghĩa logic hay gọi tên khái niệm Đây là một đặc điểm quan trọng để phân biệt thuật ngữ với từ thông thường

Các tác giả theo xu hướng thứ 3 định nghĩa thuật ngữ trong sự phân biệt với các “từ ngữ phi thuật ngữ” Trong cuốn “Những vấn đề của ngôn ngữ học cấu trúc dưới ánh sáng lý thuyết ngôn ngữ học hiện đại”, tác giả Nguyễn Đức Tồn cho rằng: “Định nghĩa thuật ngữ chỉ cần chỉ ra những đặc trưng bản chất nhất thuộc về bản thể của nó, làm nó khác biệt với các từ phi thuật ngữ (như từ toàn dân (hay còn gọi là từ thông thường), từ nghề nghiệp, từ tiếng lóng…)” Những phẩm chất thứ yếu không đủ khu biệt thuật ngữ với các đơn vị từ vựng phi thuật ngữ hoặc những thuộc tính không thuộc về bản thể của thuật ngữ mà do nhận thức chủ quan hoặc áp đặt của người sử dụng thì nhất quyết không đưa vào nội dung định nghĩa thuật ngữ Do vậy, “Thuật ngữ là từ và cụm từ biểu hiện khái niệm hoặc biểu thị đối tượng trong phạm vi một lĩnh vực khoa học, công nghệ

hoặc lĩnh vực chuyên môn.” [81, tr342]

Quan niệm của các nhà khoa học về thuật ngữ giúp chúng ta có cái nhìn đa chiều và toàn diện về thuật ngữ Tuy có cách tiếp cận khái niệm thuật ngữ khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất quan điểm thuật ngữ là một bộ phận quan

trọng của ngôn ngữ Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ định danh biểu thị chính xác

khái niệm, thuộc tính, đối tượng, sự vật, hiện tượng …thuộc lĩnh vực khoa học, hoặc chuyên môn nhất định Đây cũng là khái niệm về thuật ngữ chúng tôi sử

dụng làm cơ sở nghiên cứu trong luận án

Trang 28

1.2.1.2 Các tiêu chuẩn của thuật ngữ

Khi nghiên cứu về thuật ngữ, các nhà khoa học cũng rất chú ý để xác định các tiêu chuẩn cần và đủ của thuật ngữ nhằm phục vụ cho việc xây dựng và chuẩn hoá chúng

Quan điểm về tiêu chuẩn thuật ngữ của một số tác giả nước ngoài khá phong phú Theo tác giả S.I Corsunov và G Xumburova, thuật ngữ cần có các tiêu chuẩn đơn nghĩa, có hệ thống và phản ánh đặc trưng cần và đủ của khái niệm [dẫn theo 13, tr419]

Nhóm tác giả V.S Kulebakin và I.A Klimovitskij cho rằng thuật ngữ phải đáp ứng các tiêu chuẩn như tính đơn nghĩa, tính chính xác, tính hệ thống,

tính ngắn gọn [dẫn theo 44, tr420]

Sager cho rằng các nước thành viên của Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế phải tuân thủ tuyệt đối các qui định về việc đặt thuật ngữ do tổ chức này đưa ra Tổ chức này đưa ra 12 tiêu chuẩn đặt thuật ngữ, nhấn mạnh tính chính xác, tính đơn nghĩa, tính hệ thống của thuật ngữ Bên cạnh đó, thuật ngữ phải có liên hệ trực tiếp với khái niệm, tuân theo các nguyên tắc chung về hình thành thuật ngữ của mỗi ngôn ngữ, có khả năng sản sinh dựa trên phụ tố, không có từ đồng nghĩa và đồng âm, không có biến thể và nên độc lập với ngữ cảnh Dẫn theo tài liệu của Sager, xem [105, tr89-90]

Ở Việt Nam, hệ thuật ngữ khoa học được xây dựng theo phương châm khoa học, dân tộc, đại chúng của Đề cương Văn hóa [9] Bản đề cương thể hiện đường lối văn hóa của Đảng và sau này là chính sách, quan điểm của nhà nước Theo tác giả Lê Quang Thiêm “Chính ba nguyên tắc, định hướng của bản đề cương về sau cũng được vận dụng thành tiêu chuẩn, nguyên tắc đặt thuật ngữ sau năm 1945, những năm 60 của thế kỷ XX và cả một phần cho đến nay.” [69,

tr107- 120]

Hoàng Xuân Hãn là người đầu tiên đưa ra các tiêu chuẩn thuật ngữ khá

đầy đủ và hệ thống Năm 1948, trong “Danh từ khoa học”, tác giả đưa ra các

tiêu chuẩn đầu tiên của thuật ngữ [dẫn theo 36, tr32] Về vấn đề tiêu chuẩn của

thuật ngữ, tại hội nghị bàn về vấn đề xây dựng thuật ngữ do Uỷ ban khoa học

Trang 29

Nhà nước tiệu tập năm 1964 tại Hà Nội các tiêu chuẩn chung và cụ thể của thuật ngữ, nêu trong bản báo cáo chính:

Các tác giả Nguyễn Văn Tu, Lê Văn Thới, Như Ý, Lưu Vân Lăng, Hồng

Dân, Lê Khả Kế, Nguyễn Thiện Giáp đưa ra các tiêu chuẩn tính chính xác, tính

hệ thống, tính ngắn gọn, tính dân tộc của thuật ngữ Trong đó, quan điểm của Lưu Vân Lăng về tiêu chuẩn thuật ngữ khá toàn diện Trong “Thống nhất quan niệm về tiêu chuẩn thuật ngữ khoa học” Lưu Vân Lăng đưa ra quan điểm của mình, ông nhấn mạnh vào tiêu chuẩn chính xác của thuật ngữ “thuật ngữ tiếng Việt cũng như thuật ngữ nhiều nước phương Đông, cần phải: 1) chính xác, 2) có

hệ thống, 3) có tính bản ngữ (tính chất ngôn ngữ dân tộc), 4) ngắn gọn (cô đọng), 5) dễ dùng (dễ hiểu, dễ nhớ, dễ nói, dễ viết, dễ đọc) Trong 5 tiêu chuẩn này thì 3 tiêu chuẩn đầu là tiêu chuẩn cơ bản, trong đó tính chính xác là quan

trọng bậc nhất.” [dẫn theo19] Xem [14], [36], [43], [71], [85]

Trên cơ sở hệ thống và phân tích các tiêu chuẩn của thuật ngữ của các nhà nghiên cứu nước ngoài và trong nước chúng tôi nhận thấy tiêu chuẩn cơ bản của thuật ngữ bao gồm:

- Tính khoa học (chính xác, hệ thống, ngắn gọn)

- Tính quốc tế

- Tính dân tộc

Đây cũng là cơ sở lý luận để khảo sát, đối chiếu và chuẩn hoá thuật ngữ

xã hội học của luận án

Để đảm bảo tính khoa học, thuật ngữ phải đảm bảo các yêu cầu: tính chính xác, tính hệ thống và tính ngắn gọn Tính chính xác là tiêu chuẩn quan trọng nhất của thuật ngữ Mỗi thuật ngữ phải biểu hiện đúng khái niệm khoa học

để không gây nhầm lẫn từ khái niệm này qua khái niệm khác Theo Đỗ Hữu

Trang 30

Châu, tính chính xác của thuật ngữ thể hiện ở hai mặt: ngữ nghĩa và hình thức

Về mặt ngữ nghĩa, tính chính xác của thuật ngữ là: “biểu thị cho đúng khái niệm (đúng hoặc sai) mà chúng gọi tên Một thuật ngữ chính xác là một thuật ngữ khi nói, viết ra, người nghe, người đọc hiểu một và chỉ một khái niệm khoa học

(đúng hoặc sai) ứng với nó mà thôi.” [6, tr242-243] Tính chính xác của thuật

ngữ thể hiện ở chỗ nghĩa của thuật ngữ luôn cố định và không bị ngữ cảnh làm sai lạc nội dung mà nó biểu thị Như vậy, “một thuật ngữ lý tưởng là thuật ngữ phản ánh được đặc trưng cơ bản, nội dung bản chất của khái niệm mà nó biểu hiện.” [81, tr346] Để đảm bảo tính chính xác của thuật ngữ trong một ngành khoa học, mỗi khái niệm chỉ có một thuật ngữ tương ứng và mỗi thuật ngữ chỉ

có một khái niệm Tính chính xác về mặt ngữ nghĩa của thuật ngữ đòi hỏi hình thức của chúng cũng phải chính xác, tức là phải có sự phù hợp giữa nội dung và hình thức của khái niệm Chức năng của thuật ngữ là định danh, do vậy để hiểu chính xác khái niệm thì thuật ngữ phải đơn nghĩa trong hệ thuật ngữ nào đó

Hệ thuật ngữ là là một tập hợp các đơn vị thuật ngữ Các thuật ngữ này không đơn lẻ mà trong mối quan hệ với các thuật ngữ khác trong hệ thống Tính

hệ thống của thuật ngữ cho thấy mỗi thuật ngữ là một bộ phận cần thiết, không thể tách rời trong một chỉnh thể của hệ thuật ngữ Nghĩa là, mỗi thuật ngữ chỉ biểu thị một khái niệm nhất định, có một vị trí nhất định trong một hệ thuật ngữ

cụ thể Tính hệ thống về nội dung của thuật ngữ qui định tính hệ thống về hình thức của thuật ngữ Các nghĩa của thuật ngữ nằm trong phạm vi các tiểu hệ thống, các nhóm tách biệt, tạo thành hệ thuật ngữ của mỗi ngành cụ thể, có liên

hệ chặt chẽ với nhau Theo Lưu Vân Lăng, khi xây dựng hệ thống thuật ngữ, trước khi đặt hệ thống kí hiệu (về hình thức) cần xác định cho được hệ thống khái niệm (về nội dung) của nó Không thể tách rời từng khái niệm ra để đặt thuật ngữ, mà phải hình dung, xác định vị trí của nó trong toàn bộ hệ thống khái

niệm [dẫn theo 44, tr51] Ông cũng cho rằng: “thuật ngữ khoa học cũng chỉ là

“cái vỏ” chứa đựng một khái niệm khoa học nhất định….vì khái niệm khoa học

là cái được biểu đạt mà thuật ngữ khoa học là cái biểu đạt” [42, tr43] Tác giả Nguyễn Đức Tồn cho rằng: “khi nói đến tính hệ thống của thuật ngữ cần phải

Trang 31

chú ý đến cả hai mặt: tính hệ thống khái niệm (tức là xét về nội dung) và hệ

thống cách biểu thị (xét về hình thức).” [81, tr348] Tính hệ thống của thuật ngữ

làm tăng khả năng sản sinh của thuật ngữ Vì vậy, khi đặt thuật ngữ không thể tách rời từng khái niệm để định kí hiệu, mà phải đặt nó trong tổng thể, phải nghĩ đến hệ thống khái niệm

Thuật ngữ mang tính chất định danh nên phải ngắn gọn Một thuật ngữ ngắn gọn, cô đọng sẽ có nội hàm thông tin cao “Một thuật ngữ dài dòng thì thường có tính chất miêu tả đối tượng hay định nghĩa khái niệm khoa học Tính chất dài dòng này không những làm cho hệ thống ký hiệu của thuật ngữ bị huỷ hoại, mà có khi còn làm lu mờ, thậm chí phá vỡ tính chất của bản thân nó Do

đó, muốn cho kết cấu của thuật ngữ được chặt chẽ, đảm bảo tính chất định danh của thuật ngữ thì về mặt hình thức đòi hỏi thuật ngữ phải ngắn gọn, chặt chẽ, cô đọng Thuật ngữ có dạng lý tưởng nhất xét theo tiêu chuẩn này là thuật ngữ có dạng từ (từ đơn hoặc từ ghép)……các thuật ngữ có dạng cụm từ cố định gồm 3-

4 âm tiết là phổ biến nhất.” [81, tr348] Muốn thuật ngữ ngắn gọn khi đặt thuật

ngữ phải lựa chọn yếu tố cốt lõi, súc tích nhất đồng thời loại bỏ những yếu tố rườm rà, không cần thiết

Tính quốc tế là một đặc điểm quan trọng của nội dung thuật ngữ Thuật ngữ là bộ phận của ngôn ngữ biểu đạt các khái niệm khoa học mà khái niệm khoa học là tri thức chung của nhân loại Chủ thể sử dụng thuật ngữ là các nhà khoa học, các nhà chuyên môn có thể ở các quốc gia khác nhau và họ phải hiểu như nhau về cùng một khái niệm đúng như nó được quy ước và định nghĩa trong khoa học Bởi vậy, có thể nói thuật ngữ biểu hiện những khái niệm khoa học chung cho những người nói các thứ tiếng khác nhau “Sự thống nhất thuật ngữ giữa các ngôn ngữ là cần thiết và bổ ích Chính điều này tạo nên tính quốc tế của thuật ngữ….Nếu chú ý tới mặt nội dung của thuật ngữ thì phải thừa nhận rằng tính quốc tế của thuật ngữ là một nội dung quan trọng, phân biệt thuật ngữ với các bộ phận từ vựng khác” [19, tr275]

Tính quốc tế của thuật ngữ còn thể hiện ở hình thức cấu tạo của nó: các ngôn ngữ dùng các thuật ngữ giống hoặc tương tự nhau, cùng xuất phát từ một

Trang 32

gốc chung …Trên thực tế, về hình thức cấu tạo, tính quốc tế của thuật ngữ chỉ mang tính tương đối Nói chung, không có thuật ngữ nào có sự thống nhất ở tất

cả các ngôn ngữ Mức độ thống nhất của các thuật ngữ là khác nhau, có thuật ngữ thống nhất trong phạm vi rộng, có thuật ngữ thống nhất trong phạm vi hẹp

do truyền thống lịch sử hình thành các khu vực văn hoá khác nhau cũng như đặc trưng của mỗi ngành khoa học” [19, tr274] “Tính quốc tế của thuật ngữ còn thể hiện ở phương thức sao chép hay là phương thức dịch thuật ở nước này sang thuật ngữ của nước mình.” [19, tr244-245]

Theo Nguyễn Đức Tồn: “Tính quốc tế của thuật ngữ không phải chỉ được thể hiện ở mặt hình thức cấu tạo ngữ âm hoặc chữ viết, mà đặc biệt còn được thể hiện ở hình thái bên trong của thuật ngữ (nghĩa là cách chọn đặc trưng của sự vật, khái niệm… làm cơ sở định danh khi đặt thuật ngữ) Nói cụ thể hơn, tính quốc tế của nội dung thuật ngữ còn được thể hiện ở chỗ: cùng một khái niệm hay đối tượng trong một lĩnh vực khoa học/ chuyên môn, các ngôn ngữ chọn cùng một đặc trưng nào đó làm cơ sở định danh, đưa vào tên gọi/ thuật ngữ làm

thành hình thái bên trong của tên gọi/ thuật ngữ ấy.” [81, tr349]

Thuật ngữ là những từ, cụm từ biểu thị các khái niệm của một ngành khoa học hoặc một lĩnh vực chuyên môn Thuật ngữ là một bộ phận của ngôn ngữ và chịu sự chi phối bởi qui luật ngôn ngữ của một dân tộc đó Mỗi ngôn ngữ có màu sắc riêng, đặc điểm riêng Để giữ được linh hồn, tinh hoa của một ngôn ngữ thì phải giữ gìn được bản sắc dân tộc của thuật ngữ khoa học “Thuật ngữ dù thuộc lĩnh vực khoa học, chuyên môn nhất thiết phải là một bộ phận của ngôn ngữ dân tộc Do đó, thuật ngữ phải có tính chất dân tộc, mang màu sắc ngôn ngữ dân tộc…muốn bảo vệ được tính chất dân tộc của thuật ngữ phải hết sức tận dụng vốn từ quý báu và phong phú mà ông cha ta đã mất bao nhiêu thời gian và

công phu để sáng tạo và gom góp nên.” [42, tr58-60] Tuy vậy, đề cao tính dân

tộc của thuật ngữ không có nghĩa là loại bỏ hết các từ Hán -Việt, chỉ dùng các từ thuần Việt Song song với việc khai thác, sử dụng các từ sẵn có trong ngôn ngữ dân tộc thì việc vay mượn các từ ngữ nước ngoài một cách chừng mực là điều hết sức cần thiết để phát triển hệ thuật ngữ

Trang 33

Tính dân tộc của thuật ngữ phải được thể hiện ở nhiều mặt:

“a, Bản chất của yếu tố cấu tạo nên thuật ngữ (tức là mặt từ vựng)

b,Cách cấu tạo, sắp xếp các yếu tố đó (tức là mặt ngữ pháp)

c, Âm hưởng của những yếu tố đó (tức là mặt ngữ âm)” [42, tr63]

Tính dân tộc và tính quốc tế không mâu thuẫn với nhau mà cùng tồn tại và

bổ sung cho nhau Về mặt nội dung thuật ngữ thì tính quốc tế nên được nhấn mạnh để đảm bảo khái niệm mà thuật ngữ phản ánh được hiểu đúng trong các ngôn ngữ khác nhau Về mặt hình thức tính dân tộc được đề cao bởi thuật ngữ phải sử dụng các chất liệu của ngôn ngữ dân tộc như ngữ âm, văn tự cú pháp để cấu tạo nên “Ý nghĩa của thuật ngữ trong các ngôn ngữ khác nhau nếu biểu hiện cùng một khái niệm khoa học thì phải trùng nhau hoàn toàn, tuy về hình thức

thuật ngữ có thể khác nhau.” ” [81, tr359]

1.2.1.3 Khái niệm thuật ngữ xã hội học

Xã hội học (sociology) có gốc ghép chữ Latin là Socius hay Societas nghĩa là xã hội với chữ Hy lạp là Ology hay Logos có nghĩa là học thuyết, nghiên cứu Xã hội học được Auguste Comte sáng lập vào năm 1839 được hiểu

là học thuyết, nghiên cứu về xã hội [dẫn theo 16, tr4]

“Xã hội học là một khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, nghiên

cứu các tương tác xã hội, đặc biệt đi sâu nghiên cứu một cách có hệ

thống sự phát triển, cấu trúc, mối tương quan xã hội và hành vi, hoạt

động của con người trong các tổ chức nhóm xã hội Mối tương tác này

liên hệ với nền văn hóa rộng lớn cũng như toàn bộ cơ cấu xã hội.”[30,tr6-7] Theo cách tiếp cận vĩ mô, xã hội học nghiên cứu các hệ thống xã hội và

cơ cấu xã hội Theo cách tiếp cận vi mô, xã hội học nghiên cứu hành vi xã hội hay hành động xã hội của con người Theo cách tiếp cận tổng hợp, xã hội học nghiên cứu cả xã hội loài người và hành vi xã hội của của người [17, tr11]

Dựa trên các quan điểm của các nhà ngôn ngữ học về thuật ngữ và các định nghĩa về xã hội học, chúng tôi đưa ra định nghĩa về thuật ngữ xã hội học

như sau: Thuật ngữ xã hội học là từ hoặc cụm từ biểu thị chính xác khái niệm,

thuộc tính, đối tượng, sự vật, hiện tượng …thuộc lĩnh vực xã hội học

Trang 34

TNXHH được hiểu là các từ và cụm từ định danh biểu đạt các khái niệm chuyên ngành của xã hội học TNXHH không chấp nhận các từ, cụm từ là danh pháp, cụm từ giải thích, định nghĩa hay bình luận Các TNXHH phải đáp ứng các tiêu chuẩn cần và đủ của thuật ngữ khoa học là tính khoa học (chính xác, hệ thống, ngắn gọn), tính quốc tế và tính dân tộc

1.2.2 Ngôn ngữ học đối chiếu

1.2.2.1 Khái niệm đối chiếu

Ngôn ngữ học đối chiếu ra đời cùng với sự ra đời và phát triển của nhiều ngôn ngữ và nhiều nền văn hoá Ngôn ngữ học đối chiếu hình thành trong trào lưu nghiên cứu so sánh chung Nó bao quát một lúc nhiều ngôn ngữ, bất luận ngôn ngữ đó cùng hay khác loại hình và ngữ hệ Nghiên cứu đối chiếu hình thành một cách trực tiếp trong tiến trình tìm tòi của con người để nắm ngoại ngữ một cách nhanh hơn, tốt hơn và hiểu sâu sắc hơn về tiếng mẹ đẻ

Do nhu cầu giao lưu, trao đổi của các nền văn minh, văn hoá và do chính nhu cầu kết hợp những nghiên cứu lý luận cũng như yêu cầu phát triển nội tại của ngôn ngữ học, yêu cầu nâng cao hiệu quả dạy tiếng, học tiếng, biên soạn sách, dịch thuật… mà ngôn ngữ học đối chiếu ngày càng khẳng định tầm quan trọng của mình Một nhà ngôn ngữ học đã khẳng định: “Trong giới ngôn ngữ học ngày càng có sự khẳng định nhiều hơn ý kiến cho rằng: ngôn ngữ học đối chiếu là một bộ phận độc lập của ngôn ngữ học, cần thiết phải có các tiền đề lý luận nhất định và có sự lựa chọn những phương pháp đặc trưng riêng cho sự phân tích tài liệu ngôn ngữ; còn như những ứng dụng thực tiễn của nó thì vô cùng rộng lớn, thuộc phạm vi nào là do kết quả nghiên cứu định hướng của nó quyết định.” [31,tr5]

Ngoài tên gọi ngôn ngữ học đối chiếu, phân ngành này còn có nhiều tên gọi khác như phân tích đối chiếu, nghiên cứu đối chiếu, nghiên cứu xuyên ngôn

ngữ….Tuy vậy, trên thế giới và ở Việt Nam thuật ngữ ngôn ngữ học đối chiếu

vẫn phổ biến hơn cả

Đối chiếu là việc xuất phát từ một ngôn ngữ để xem xét phương thức thể hiện các phạm trù tương ứng ở một ngôn ngữ khác, chỉ ra sự tương đồng và khác

Trang 35

biệt trong những phương thức đó Ngôn ngữ học đối chiếu là một bộ phận của ngôn ngữ học đồng đại Theo tác giả Lê Quang Thiêm: “mục đích của so sánh đối chiếu là làm sáng tỏ những nét giống nhau và khác nhau hoặc chỉ làm sáng

tỏ những nét khác nhau mà thôi Nguyên tắc đối chiếu chủ yếu là nguyên tắc đồng đại” [61, tr37]

Chúng ta cũng cần phân biệt hai khái niệm so sánh và đối chiếu Khái niệm so sánh là “xem xét cái này với cái kia để thấy sự giống nhau, khác nhau

hoặc sự hơn kém nhau” [91, tr1448] Đối chiếu là “so sánh giữa các cá thể với

nhau, trong đó có một cái làm chuẩn nhằm tìm ra những chỗ giống, khác nhau giữa chúng” [91, tr657]

Trong cách dùng thông thường, qua cách giải thích của nhiều từ điển Tiếng

Việt, sự khác biệt giữa hai từ so sánh và đối chiếu hết sức tinh tế “So sánh là

xem xét cái này với cái kia để thấy được sự giống nhau và khác nhau….còn đối chiếu là so sánh cái này với một cái khác, thường được lấy làm chuẩn để từ những điểm giống nhau và khác nhau mà biết rõ hơn đặc trưng của cái được so

sánh….Sự khác biệt tinh tế giữa hai khái niệm so sánh và đối chiếu được thể hiện

ở chỗ: đối chiếu cũng là so sánh, nhưng là so sánh giữa hai đối tượng trong đó có một được lấy làm chuẩn Có thể lấy khái niệm so sánh để giải thích khái niệm đối

chiếu, nhưng không thể lấy khái niệm đối chiếu để giải thích khái niệm so sánh

Nói cách khác, so sánh có nghĩa rộng hơn đối chiếu” [28, tr149]

Theo tác giả Lê Quang Thiêm, sự phát triển của ngôn ngữ học đối chiếu trải qua ba giai đoạn chính Trong giai đoạn đầu các công trình đối chiếu tiêu biểu là các từ điển đa nghĩa cỡ lớn thực hiện đối chiếu hàng trăm ngôn ngữ thuộc các khu vực địa lí, ngữ hệ, loại hình khác nhau Giai đoạn hai, sự phát triển của ngôn ngữ đối chiếu là thời kỳ của ngôn ngữ học so sánh- lịch sử và triết học ngôn ngữ thế kỷ XIX Thời kỳ này ngôn ngữ học đối chiếu chịu ảnh hưởng sâu sắc của nghiên cứu so sánh-lịch sử Đến cuối thế kỷ XIX, ngôn ngữ học so sánh-lịch sử xác định được phạm vi, phương pháp nghiên cứu riêng để trở thành một phân ngành độc lập Giai đoạn ba, bước vào thế kỷ XX, cùng với

sự phát triển của lịch sử, khoa học, công nghệ, kinh tế…ngôn ngữ học đối chiếu

Trang 36

có tiền đề để phát triển Những công trình nghiên cứu trở nên phong phú gắn với nhiều các nghiên cứu miêu tả và loại hình hoặc cấu trúc Bên cạnh lý luận, các nghiên cứu đối chiếu đặc biệt chú ý đến thực tiễn vận dụng Ở nước ngoài, nhiều trung tâm đối chiếu được hình thành đáp ứng sự phát triển của khoa học kỹ thuật

và nhu cầu giao lưu, trao đổi của các dân tộc với những công trình đa dạng Ngôn ngữ học đối chiếu trở thành một phân ngành độc lập của ngôn ngữ học hiện đại

Ngôn ngữ học đối chiếu được đưa vào Việt Nam những năm 1980 với bài

viết của tác giả Lê Quang Thiêm “Nhận xét nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ”

đăng trên tạp chí khoa học của Đại học Tổng hợp [59] Là một chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực so sánh, đối chiếu, ông có nhiều công trình, bài viết về lĩnh vực

này Tiêu biểu là công trình Đối chiếu các ngôn ngữ (1989), tái bản năm 2004 với tên gọi Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ Cuốn sách đề cập đến những

kiến thức cần thiết về ngôn ngữ học so sánh đối chiếu và một số thủ pháp, phương pháp thường được sử dụng trong phân ngành này [61]Tác giả cũng có

nhiều nghiên cứu về so sánh đối chiếu thuật ngữ như Biến đổi trong tiếp nhận và

hội nhập của hệ thuật ngữ tiếng Việt [62, tr1-5], Về “kho báu” của hệ thống thuật ngữ ngôn ngữ học tiếng Việt [63, tr8-15] Đến nay, đã có một số công trình

nghiên cứu chuyên sâu về so sánh đối chiếu như Ngôn ngữ học đối chiếu của Bùi Mạnh Hùng, Ngôn ngữ học đối chiếu cú pháp tiếng Anh- Việt của Trần Hữu Mạnh, Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ ở Việt Nam của Vương Toàn…Xem

[28], [47], [74]

Ở Việt Nam, trong những năm trở lại đây nghiên cứu đối chiếu được đặc biệt quan tâm Các nghiên cứu đối chiếu tập trung vào hai mảng đề tài lớn là đối chiếu tiếng Việt với những ngôn ngữ không cùng ngữ hệ và loại hình có cùng phạm vi sử dụng rộng rãi như tiếng Anh, tiếng Pháp… mang lại các ứng dụng thiết thực trong dạy học ngoại ngữ và dịch thuật và các nghiên cứu so sánh, đối chiếu tiếng Việt với ngôn ngữ các dân tộc anh em trong nước và các nước trong khu vực

Trang 37

1.2.2.2 Các nguyên tắc nghiên cứu đối chiếu

Trên cơ sở nghiên cứu, tác giả Bùi mạnh Hùng đưa ra một số nguyên tắc

cơ bản mà các công trình đối chiếu cần tuân thủ:

Nguyên tắc 1: Bảo đảm các phương tiện trong hai ngôn ngữ đối chiếu phải

được miêu tả một cách đầy đủ, chính xác và sâu sắc trước khi tiến hành đối chiếu để tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa chúng

Nguyên tắc 2: Việc nghiên cứu đối chiếu không thể chỉ chú ý đến các

phương tiện ngôn ngữ một cách tách biệt mà phải đặt trong hệ thống

Nguyên tắc 3: Phải xem xét các đối tượng đối chiếu không chỉ trong hệ

thống ngôn ngữ mà còn trong hoạt động giao tiếp

Nguyên tắc 4: Phải đảm bảo tính nhất quán trong việc vận dụng các khái

niệm và mô hình lý thuyết để miêu tả các ngôn ngữ được đối chiếu

Nguyên tắc 5: Phải tính đến các mức độ gần gũi về loại hình giữa các

ngôn ngữ cần đối chiếu [28, tr131-146]

1.2.2.3 Các bước phân tích đối chiếu

Trong ngôn ngữ học, phương pháp đối chiếu là một kiểu riêng của phương pháp so sánh Việc phân tích đối chiếu thường được chia thành hai giai đoạn: miêu tả và đối chiếu Hai giai đoạn này có thể phân chia chi tiết hơn thành

ba bước: miêu tả, xác định những gì có thể đối chiếu với nhau và đối chiếu Các bước này không phải lúc nào cũng được phân biệt rạch ròi và hiển ngôn

Theo Bùi Mạnh Hùng, phân tích đối chiếu gồm 3 bước:

- Miêu tả: Đây là cơ sở của nghiên cứu đối chiếu Nhà nghiên cứu có thể

sử dụng kết quả miêu tả do mình xác lập hoặc kết quả miêu tả của người khác và trình bày lại dưới hình thức phù hợp cho mục đích đối chiếu của mình Bước miêu tả trong nghiên cứu đối chiếu phụ thuộc rất nhiều vào ngữ liệu thu thập được Để việc miêu tả đảm bảo tính khách quan thì các ngữ liệu thu thập được phải đảm bảo sự chính xác, tin cậy

- Xác định những gì có thể đối chiếu với nhau: Việc này phụ thuộc nhiều vào khả năng suy xét có tính trực giác của nhà nghiên cứu trong đó năng lực song ngữ của nhà nghiên cứu có vai trò quyết định Cơ sở ngữ liệu chính xác, tin

Trang 38

cậy là cơ sở quan trọng để nhà nghiên cứu xác định các yếu tố tương đương có thể so sánh được với nhau

- Đối chiếu: Đây là bước quan trọng nhất của quá trình nghiên cứu đối chiếu Trong bước này, chúng ta có thể xác định ba khả năng cơ bản khi đối chiếu hai ngôn ngữ:

Cũng theo tác giả, khi đối chiếu sẽ xảy ra ba khả năng Khả năng 1 là khi một đơn vị X nào đó trong ngôn ngữ 1 có thể đồng nhất về một phương diện nào

đó với cái tương đương trong ngôn ngữ 2 Khả năng 2 là đơn vị X trong ngôn ngữ 1 có thể có sự khác biệt về một phương diện nào đó với cái tương đương trong ngôn ngữ 2 Khả năng 3 đơn vị X trong ngôn ngữ 1 không có cái tương

đương trong ngôn ngữ 2 [28, tr151-159]

1.2.3.4 Phạm vi đối chiếu

Phạm vi nghiên cứu đối chiếu thường là hai (rất ít khi nhiều hơn hai) ngôn ngữ để tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa các ngôn ngữ đó Một

số tác giả phân biệt đối chiếu hệ thống và đối chiếu bộ phận Đối chiếu hệ thống

là đối chiếu tổng thể hai ngôn ngữ với nhau Đối chiếu bộ phận là là đối chiếu các đơn vị, phạm trù, hiện tượng cụ thể của hai ngôn ngữ Trong thực tế, không thể có sự đối chiếu hai ngôn ngữ như những tổng thể bởi không thể đối chiếu một cách đầy đủ, toàn diện ngôn ngữ này với ngôn ngữ khác

Có nhiều cách phân biệt đối chiếu bộ phận Theo Krzeszowski, T (1990), đối chiếu có ba lĩnh vực: đối chiếu những hệ thống tương đương, đối chiếu các kết cấu tương đương và đối chiếu các quy tắc tương đương của hai ngôn ngữ [101]

Tác giả Lê Quang Thiêm phân biệt đối chiếu theo cách khác Theo ông,

có đối chiếu phạm trù, đối chiếu cấu trúc hệ thống, đối chiếu chức năng và hoạt động, đối chiếu phong cách, đối chiếu lịch sử- phát triển [61] Tác giả Bùi Mạnh Hùng, các phạm vi đối chiếu cần xác định trên cơ sở phân biệt các bình diện ngôn ngữ: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và ngữ dụng [28]

Có thể nhận thấy đối chiếu thuật ngữ xã hội học Anh-Việt thuộc phạm vi đối chiếu từ vựng, cụ thể là đối chiếu về cấu tạo và ngữ nghĩa Đối tượng của phân tích đối chiếu thuật ngữ khoa học Anh- Việt là các thuật ngữ xã hội học là

Trang 39

từ và cụm từ trong tiếng Anh và tiếng Việt Đây là sự đối chiếu để tìm ra những điểm giống và khác nhau trong hai hệ thống thuật ngữ này nhằm xây dựng và chuẩn hoá hệ thuật ngữ xã hội học tiếng Việt

1.2.3 Lý thuyết định danh

1.2.3.1 Khái niệm định danh

Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất mà còn là hiện thực trực tiếp của tư tưởng của con người Trong quá trình sinh sống và phát triển và chinh phục thế giới khách quan con người cần xác định, đặt tên, phân biệt các sự vật, hiện tượng… của thế giới xung quanh Nói cách khác, mỗi

sự vật hiện tượng …của thế giới khách quan đều được phản chiếu trong ngôn ngữ Đặt tên cho sự vật, hiện tượng… là nhu cầu cần thiết của con người “con người cần đến tên gọi các đối tượng xung quanh như cần không khí.” [7 tr167] Theo Đỗ Hữu Châu, “nhờ các tên gọi mà sự vật, hiện tượng thực tế khách quan tồn tại trong lí trí của chúng ta, phân biệt với các sự vật, hiện tượng khác cùng loại và khác loại.” và “các tên gọi làm cho tư duy trở nên rành mạch sáng sủa” [6, tr98-99]

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, định danh là “sự cấu tạo

các đơn vị ngôn ngữ có chức năng dùng để gọi tên, chia tách các đoạn của hiện thực khách quan trên cơ sở đó hình thành những khái niệm tương ứng về chúng dưới dạng các từ, cụm từ, ngữ cú và câu” [90, tr89]

Tác giả Nguyễn Đức Tồn quan niệm: “Định danh chính là đặt tên gọi cho

sự vật, hiện tượng” [76, tr162] Ông đã cụ thể hoá quan niệm của mình về định danh: “Định danh là gắn cho một ký hiệu ngôn ngữ một khái niệm-biểu niệm phản ánh những đặc trưng nhất định của một biểu vật- các thuộc tính, phẩm chất

và quan hệ của các đối tượng và quá trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần, nhờ đó các đơn vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố của nội dung giao tiếp ngôn

từ.” [75, tr34]

Tuy có những cách diễn đạt khác nhau, nhưng về bản chất định danh theo quan niệm của G.V Konsansky “là sự cố định (hay gắn) cho một kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm -biểu niệm (signifikat) phản ánh những đặc trưng nhất định

Trang 40

của biểu vật (denotat)- các thuộc tính, phẩm chất và quan hệ của các đối tượng

và quá trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần, nhờ đó các đơn vị ngôn ngữ tạo

thành những yếu tố nội dung giao tiếp của ngôn từ.” [dẫn theo 76, tr162]

1.2.3.2 Quá trình định danh

Ngôn ngữ phản ánh thế giới khách quan và là cầu nối con người với hiện thực Con người tạo ra ngôn ngữ bằng tri giác, phân cách hiện thực khách quan, gọi tên hiện thực để tạo ra đơn vị từ vựng, và ghép các tên gọi ấy lại để tạo ra cụm từ và câu Quá trình con người đặt tên cho sự vật, hiện tượng… tồn tại trong thế giới khách quan gọi là quá trình định danh

Đỗ Hữu Châu cho rằng định danh là nhu cầu của con người trước thế giới khách quan bởi “với khả năng đặt tên sự vật, con người hoàn toàn chiếm lĩnh được thế giới tự nhiên cả trong tồn tại cảm tính và cả trong tồn tại lí tính của nó.” [7, tr194] Tham gia vào quá trình định danh là chủ thể định danh và đối tượng được định danh Chủ thể định danh có thể là một người, một nhóm người hoặc cộng động ngôn ngữ Đối tượng được định danh là sự vật, hiện tượng, tính chất… của thế giới khách quan Trong quá trình định danh, chủ thể sử dụng đơn

vị của ngôn ngữ là từ, ngữ… làm phương tiện đặt tên sự vật, hiện tượng… cần định danh

Tác giả Trịnh Sâm quan niệm ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp, phương tiện tư duy của con người mà còn là “quan niệm của chính con người với tư cách là chủ thể tri nhận và phân cách hiện thực bằng các mã của mỗi ngôn ngữ.” [57, tr32]

Tác giả Rozdextvenxki nhìn nhận về quá trình định danh dưới góc độ các thành tố cấu tạo quá trình định danh Theo ông, định danh gồm ba yếu tố “thứ nhất, một dãy âm tố có liên hệ với nhau, tạo thành từ với mặt bên ngoài của nó, tức là vỏ âm thanh, vỏ ngữ âm của từ, hoặc là từ ngữ âm; thứ hai, sự vật được gọi bằng từ đó; thứ ba, ý nghĩa của từ gây ra trong ý thức chúng ta Tất cả ba yếu

tố này gắn với nhau.” [56, tr34]

Theo tác giả Nguyễn Đức Tồn, quá trình định danh bao gồm hai giai đoạn: quy loại khái niệm của đối tượng được định danh và lựa chọn đặc trưng

Ngày đăng: 23/04/2019, 12:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w