Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược AnhViệt.Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược AnhViệt.Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược AnhViệt.Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược AnhViệt.Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược AnhViệt.Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược AnhViệt.Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược AnhViệt.Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược AnhViệt.Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược AnhViệt.Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược AnhViệt.Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược AnhViệt.Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược AnhViệt.Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược AnhViệt.Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược AnhViệt.Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược AnhViệt.Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược AnhViệt.Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược AnhViệt.Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược AnhViệt.
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu
Mã số: 9.22.20.24
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Hiển
Hà Nội, năm 2023
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận án tiến sĩ “Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến
lược Anh-Việt” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả thu được
trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thúy Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận án được nghiên cứu sinh (NCS) thực hiện tại Khoa Văn hóa - Ngôn ngữ học, Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Hiển
NCS xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Phạm Hiển, người đã tận tình hướng dẫn, chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm nghiên cứu Thầy luôn động viên, khích
lệ NCS trong nghiên cứu để NCS có thể hoàn thành luận án đúng thời gian quy định
NCS xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Khoa học Xã hội, quý thầy cô Học viện Khoa học Xã hội, Khoa Văn hóa - Ngôn ngữ học đã tạo điều kiện học tập, và giảng dạy, truyền đạt cho NCS nhiều kiến thức về ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu
NCS xin chân thành cảm ơn các Nhà khoa học trong và ngoài Học viện đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp NCS kịp thời bổ sung, hoàn thiện nội dung luận
án
Cuối cùng lời cảm ơn đặc biệt nhất, NCS xin dành cho gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện, giúp đỡ NCS cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt quá trình học tập và viết luận án
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thúy Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 9
1.1 Dẫn nhập 9
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới về thuật ngữ 9
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về thuật ngữ 17
1.2.3 Tổng quan nghiên cứu về thuật ngữ Quản trị chiến lược 19
1.3 Cơ sở lý luận 21
1.3.1 Cơ sở lý luận về thuật ngữ quản trị chiến lược 21
1.3.2 Cơ sở lý luận về định danh thuật ngữ 39
1.3.3 Cơ sở lý luận về ẩn dụ ý niệm 43
1.3.4 Cơ sở lý luận về ngôn ngữ học đối chiếu 54
1.4 Tiểu kết 58
CHƯƠNG 2 ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC ANH-VIỆT VỀ ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH 60
2.1 Dẫn nhập 60
2.2 Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược Anh - Việt về đặc điểm cấu tạo 60
2.2.1 Đối chiếu phương thức cấu tạo thuật ngữ quản trị chiến lược Anh-Việt 61
2.2.2 Đối chiếu đặc điểm thành tố cấu tạo cụm từ trong thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt 68
2.2.3 Nhận xét về những điểm tương đồng và khác biệt của đặc điểm cấu tạo thuật ngữ QTCL trong tiếng Anh và tiếng Việt 82
2.3 Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược Anh - Việt về đặc điểm định danh 85
2.3.1 Đối chiếu đặc điểm định danh thuật ngữ quản trị chiến lược Anh-Việt xét theo kiểu ngữ nghĩa của thuật ngữ 85
2.3.2 Đối chiếu đặc điểm định danh thuật ngữ quản trị chiến lược Anh-Việt xét theo cách thức biểu thị của thuật ngữ 88
Trang 62.3.3 Phân loại thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt theo phạm trù nội dung 91 2.3.4 Các mô hình định danh thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt 94 2.3.5 Nhận xét về những điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm định danh thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt 110 2.4 Tiểu kết 111 CHƯƠNG 3 ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG THUẬT NGỮ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC ANH-VIỆT 114 3.1 Dẫn nhập 114 3.2 Khái quát về ẩn dụ ý niệm trong các thuật ngữ quản trị chiến lược tiếng Anh
và tiếng Việt 114 3.3 Đối chiếu ẩn dụ ý niệm trong các thuật ngữ quản trị chiến lược tiếng Anh và tiếng Việt 117 3.3.1 Ẩn dụ có miền nguồn QUÂN SỰ trong thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt 117 3.3.2 Ẩn dụ có miền nguồn XÂY DỰNG trong thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt 122 3.3.3 Ẩn dụ có miền nguồn CON NGƯỜI trong thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt 127 3.3.4 Ẩn dụ có miền nguồn HÀNH TRÌNH trong thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt 133 3.3.5 Ẩn dụ có miền nguồn THỂ THAO trong thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt 138 3.3.6 Ẩn dụ có miền nguồn CÂY trong thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt 141 3.3.7 Ẩn dụ có miền nguồn ĐỘNG VẬT trong thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt 143 3.3.8 Ẩn dụ có miền nguồn KHÔNG GIAN trong thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt 148 3.3.9 Ẩn dụ trong thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt được kích hoạt từ
Trang 7các miền nguồn khác 154
3.4 Tiểu kết 159
KẾT LUẬN 162
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 167
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 168
NGUỒN TƯ LIỆU KHẢO SÁT 180 PHỤ LỤC PL1 PHỤ LỤC 1 THỐNG KÊ DỤ DẪN TRONG CÁC THUẬT NGỮ ẨN DỤ
TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT PL3 PHỤ LỤC 2 THỐNG KÊ THUẬT NGỮ ẨN DỤ THUỘC LĨNH VỰC QTCL TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT PL15 PHỤ LỤC 3 NGỮ LIỆU NGHIÊN CỨU PL48
Trang 83 Bảng 2.3 Thuật ngữ QTCL Anh-Việt thuộc các phạm trù ngữ nghĩa 92
4 Bảng 2.4 Thuật ngữ QTCL Anh-Việt thuộc đơn vị định danh phái
6 Bảng 3.2 Thống kê số lượng thuật ngữ ẩn dụ QUẢN TRỊ CHIẾN
LƯỢC LÀ HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ
10 Bảng 3.6 Thống kê số lượng thuật ngữ ẩn dụ TỔ CHỨC LÀ CON
14 Bảng 3.10 Thống kê số lượng thuật ngữ ẩn dụ CẠNH TRANH LÀ
CUỘC THI ĐẤU THỂ THAO
140
Trang 916 Bảng 3.12 Thống kê số lượng thuật ngữ ẩn dụ TỔ CHỨC LÀ CÂY 143
17 Bảng 3.13 Thống kê số lượng thuật ngữ ẩn dụ có miền nguồn ĐỘNG
20 Hình 1.1 Mô hình quản trị chiến lược tổng quát 31
21 Hình 3.1 Tần suất xuất hiện các miền nguồn ẩn dụ trong thuật ngữ
QTCL tiếng Anh và tiếng Việt
116
Trang 10DANH MỤC VIẾT TẮT
1 QTCL quản trị chiến lược
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong bối cảnh môi trường kinh doanh liên tục biến động với những đặc điểm vừa là cơ hội vừa là thách thức, quản trị chiến lược có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển bền vững của các tổ chức Quản trị chiến lược giúp các tổ chức nói chung, các doanh nghiệp nói riêng định hướng rõ tầm nhìn chiến lược, sứ mạng và mục tiêu của mình Bên cạnh đó, quản trị chiến lược giúp doanh nghiệp luôn
có các chiến lược tốt, thích nghi với môi trường Ngoài ra, quản trị chiến lược giúp doanh nghiệp chủ động trong việc ra quyết định nhằm khai thác kịp thời các cơ hội
và ngăn chặn hoặc hạn chế các rủi ro trong môi trường bên ngoài, phát huy các điểm mạnh và giảm các điểm yếu trong nội bộ doanh nghiệp, từ đó nâng cao vị thế cạnh tranh cho mình trên thương trường [5] [70] [36]
Quản trị chiến lược trong lĩnh vực kinh doanh chỉ thực sự bắt đầu được nghiên cứu từ những năm 50 của thế kỷ XX Vấn đề chiến lược kinh doanh được phát triển bởi các nhà nghiên cứu của nhóm tư vấn Boston BCG, nhóm GE từ những năm 1970, tiếp theo đó, các công trình nghiên cứu về chiến lược kinh doanh của Michael Porter
đã thu hút sự chú ý của nhiều doanh nghiệp Từ năm 1990 đến nay, quản trị chiến
lược đã trở nên phổ biến trong lĩnh vực kinh doanh Hiện nay Quản trị chiến lược (Strategic management) là bộ môn không thể thiếu trong chương trình đào tạo Quản trị kinh doanh ở bậc đại học và sau đại học không những ở Việt Nam mà còn ở các
trường kinh tế danh tiếng trên thế giới [15, tr.9] Do đó, việc nghiên cứu các thuật ngữ sử dụng trong lĩnh vực quản trị chiến lược sẽ mang lại nhiều ý nghĩa về lý luận
Trang 12thuật ngữ giữa tiếng Việt với một ngôn ngữ khác như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nhật, v.v dựa trên các tiêu chí như con đường hình thành thuật ngữ, đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hệ thuật ngữ tiếng Việt với hệ thuật ngữ tiếng nước ngoài trong lĩnh vực khoa học cụ thể Ngoài ra, cũng có một số luận án hướng nghiên cứu đến chuẩn hóa thuật ngữ hoặc nghiên cứu tương đương dịch thuật ngữ từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt
Như vậy, có thể thấy rằng, ở Việt Nam vẫn còn thiếu các nghiên cứu về thuật ngữ dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận - hướng nghiên cứu về thuật ngữ mới nổi trên thế giới Bên cạnh đó, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược (QTCL) tiếng Anh và tiếng Việt
Chính vì những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược Anh-Việt” để thực hiện luận án tiến sĩ nhằm tìm hiểu những điểm tương
đồng và khác biệt về đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh và miền nguồn ý niệm trong hình thành thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt Từ đó, luận án sẽ góp phần xây dựng lý thuyết chung về thuật ngữ học, làm cơ sở cho việc biên soạn từ điển thuật ngữ quản trị chiến lược Anh-Việt, phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và thực hành quản trị chiến lược
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là tìm hiểu, đối chiếu nhằm làm sáng tỏ những điểm tương đồng và khác biệt của hệ thuật ngữ quản trị chiến lược trong ngôn ngữ Anh và Việt xét về đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh thuật ngữ và các miền nguồn ý niệm trong hình thành thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
(1) Tổng quan tình hình nghiên cứu và hệ thống hóa các quan điểm lý luận về thuật ngữ khoa học và thuật ngữ QTCL trên thế giới và ở Việt Nam, qua đó xác lập
cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu của luận án;
(2) Đối chiếu đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ QTCL trong tiếng Anh và tiếng Việt;
Trang 13(3) Đối chiếu đặc điểm định danh của thuật ngữ QTCL trong tiếng Anh và tiếng Việt;
(4) Khảo sát, đối chiếu các miền nguồn Ẩn dụ ý niệm trong hình thành thuật ngữ QTCL trong tiếng Anh và tiếng Việt
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt trích rút trong các từ điển và giáo trình, tài liệu tham khảo chuyên ngành quản trị chiến lược viết bằng tiếng Anh và tiếng Việt Chúng tôi quan niệm thuật ngữ QTCL là những từ và cụm từ cố định biểu đạt các khái niệm được sử dụng trong lĩnh vực quản trị chiến lược
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án là đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh, các
mô hình ẩn dụ ý niệm của thuật ngữ QTCL trong tiếng Anh và tiếng Việt xét theo miền nguồn để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thuật ngữ Đặc
điểm thành tố và số lượng thành tố cấu tạo các thuật ngữ QTCL là từ không nằm
trong phạm vi nghiên cứu của luận án
4 Phương pháp nghiên cứu và ngữ liệu nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu và giải quyết được các nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra, Luận án sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được sử dụng để miêu tả đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh, cũng như các miền nguồn ý niệm trong khối ngữ liệu nghiên cứu Thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt được miêu tả song song trong từng tiêu chí đối chiếu
Trong số nhiều thủ pháp của phương pháp miêu tả, luận án lựa chọn sử dụng các thủ pháp sau:
+ Thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp
Thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp là thủ pháp thuộc phương pháp miêu tả
Trang 14bên trong Thủ pháp này được áp dụng để phân tích cấu tạo thuật ngữ theo thành tố trực tiếp nhằm xác định các yếu tố tạo nên thuật ngữ
+ Thủ pháp phân tích nghĩa tố
Thủ pháp này được sử dụng để phân tích cấu trúc ngữ nghĩa để quy loại khái niệm của đối tượng được định danh và chọn đặc trưng định danh, qua đó xác định các phạm trù ngữ nghĩa và các đặc trưng định danh thuật ngữ QTCL; đồng thời làm cơ
sở xây xác định và phân loại các miền nguồn ý niệm của các thuật ngữ ẩn dụ
+ Thủ pháp phân tích ý niệm
Thủ pháp phân tích ý niệm được sử dụng trong phân tích thuộc tính của miền
ý niệm nguồn, miền ý niệm đích, làm rõ bản chất và vai trò của ẩn dụ ý niệm trong thuật ngữ QTCL
+ Thủ pháp thống kê, phân loại
Thủ pháp thống kê, phân loại được sử dụng để tìm hiểu số lượng, tần suất xuất hiện, tỉ lệ phần trăm của phương thức cấu tạo, số lượng thành tố cấu tạo thuật ngữ là
cụm từ, các phương thức định danh, các mô hình định danh và thống kê phân loại các
các ẩn dụ ý niệm theo miền nguồn trong hệ thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt
Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp so sánh, đối chiếu hai chiều sẽ được sử dụng chính và xuyên suốt trong đề tài để so sánh, đối chiếu trên bình diện từ vựng về đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh và các ẩn dụ ý niệm trong hệ thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt; từ đó tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thuật ngữ
Quy trình đối chiếu song song được áp dụng trong Luận án, theo đó, chúng tôi miêu tả thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt song song và tiến hành đối chiếu theo từng tiêu chí nhỏ thuộc đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh, các lược đồ ánh
xạ trong các mô hình ẩn dụ ý niệm theo từng miền nguồn cụ thể
Ngoài ra chúng tôi cũng sử dụng kết hợp thủ pháp diễn dịch và quy nạp để đưa
ra kết quả nghiên cứu trong Chương 2 và Chương 3 Chúng tôi vận dụng các khung
lý thuyết đã được thực hiện trong các nghiên cứu trước làm nền tảng cơ sở xây dựng các mô hình nghiên cứu trong Luận án Bên cạnh đó, dựa trên nguồn ngữ liệu thu
Trang 15thập được, chúng tôi bổ sung các kết quả nghiên cứu mới vào khung lý thuyết nghiên cứu về thuật ngữ
4.2 Ngữ liệu nghiên cứu
Để đảm bảo được tính đa dạng, đầy đủ và tương đương về số lượng các thuật ngữ trong phạm vi nghiên cứu và hiện đang được sử dụng trong lĩnh vực quản trị chiến lược nhằm rút ra được những nhận xét, đánh giá chính xác và khách quan về các đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh và miền nguồn ý niệm trong cấu tạo thuật ngữ cùng các mô hình ẩn dụ của thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt, luận án dựa vào nhiều nguồn ngữ liệu khác nhau như: 03 cuốn từ điển thuật ngữ QTCL tiếng Anh; 03 từ điển kinh tế Anh-Việt (vì hiện nay chưa xuất bản từ điển chuyên ngành
về thuật ngữ QTCL tiếng Việt, hoặc từ điển thuật ngữ QTCL Anh-Việt) Tuy nhiên,
số lượng QTCL tiếng Anh và tiếng Việt trong những cuốn từ điển này còn khiêm tốn, chưa phản ánh được sự phong phú và cập nhật của hệ thuật ngữ hiện nay Vì vậy, luận án thu thập thêm ngữ liệu từ các nguồn khác, bao gồm 19 cuốn giáo trình, tạp
chí, sách chuyên khảo dùng trong dạy-học các học phần Quản trị chiến lược ở trường
Đại học Thương mại, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội)
Từ các nguồn ngữ liệu trên, chúng tôi đã thu thập được 3.515 thuật ngữ tiếng
Anh, 3.515 thuật ngữ tiếng Việt Những thuật ngữ như hành trình, biểu đồ, tốc độ …,
là những thuật ngữ cơ bản, nhưng những từ ngữ này được dùng trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau, và không mang nghĩa riêng biệt trong lĩnh vực quản trị chiến lược
Do đó, những thuật ngữ “biên” này sẽ không được đưa vào trong khối ngữ liệu phân
tích Những thuật ngữ phái sinh từ các thuật ngữ nói trên như hành trình khách hàng, biểu đồ định vị sản phẩm, tốc độ tăng trưởng thị trường là thuật ngữ đặc trưng của
lĩnh vực quản trị chiến lược, và do đó được đưa vào phân tích dữ liệu
Bên cạnh đó, một số từ và cụm từ toàn dân được thuật ngữ hóa qua phương
thức ẩn dụ và sử dụng trong lĩnh vực quản trị chiến lược, ví dụ star (ngôi sao)/ dog (con chó)/ cash cow (bò sữa)… là những từ toàn dân, nhưng đây lại là những thuật
ngữ miêu tả những nhóm danh mục sản phẩm trong ma trận BCG – một ma trận quan
Trang 16trọng giúp các nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá vị thế cạnh tranh và tiềm lực phát
triển của từng loại sản phẩm; strength (điểm mạnh), weakness (điểm yếu), opportunity (cơ hội), threat (thách thức),… là những thuật ngữ chính trong phân tích ma trận SWOT (ma trận viết tắt của 4 chữ cái Strengths, Weaknesses, Opportunities và Threats) giúp các nhà quản trị xác định mục tiêu chiến lược, hướng đi cho doanh
nghiệp Vì những lý do đó, chúng tôi đưa những ngữ liệu này vào trong phân tích
Một số thuật ngữ liên ngành như phân phối, giá … cũng sẽ được đưa vào xử lý dữ
liệu vì những thuật ngữ này được sử dụng phổ biến trong quy trình quản trị chiến lược
Dựa vào các tiêu chí nhận diện thuật ngữ QTCL (sẽ được trình bày ở Mục 1.3.1.6), sau khi loại bỏ từ, cụm từ danh pháp, các thuật ngữ trùng nhau, hoặc những thuật ngữ liên ngành - không nổi trội trong lĩnh vực quản trị chiến lược, chúng tôi thu được 2.699 thuật ngữ QTCL tiếng Anh và 2.579 thuật ngữ QTCL tiếng Việt đưa vào phân tích Sở dĩ số lượng thuật ngữ tiếng Việt ít hơn tiếng Anh vì một số thuật ngữ tiếng Anh không có tương đương trong tiếng Việt, thay vào đó tiếng Việt sử dụng các thuật ngữ vay mượn, hoặc các thuật ngữ được dịch giải nghĩa và có chú thích tiếng Anh đi kèm [22] Bên cạnh đó, một số thuật ngữ tiếng Việt có thuật ngữ tương đương trong tiếng Anh là một từ đơn và nhiều đơn vị từ vựng phái sinh của nó
Các thuật ngữ tiếng Anh được giải thích nghĩa theo nghĩa trong từ điển hoặc các bản dịch tương đương trong tiếng Việt Trong khi đó, các biểu thức ẩn dụ được trích rút trong các giáo trình, tài liệu tham khảo chuyên ngành quản trị chiến lược tiếng Anh và tiếng Việt đã được xuất bản Chúng tôi đặt bản dịch tiếng Việt trong ngoặc đơn sau biểu thức tiếng Anh nhằm làm sáng rõ ý niệm được sử dụng trong các
ẩn dụ ý niệm trong thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt
5 Đóng góp mới của luận án
Luận án này là công trình lý luận đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu đối chiếu một cách tương đối toàn diện hệ thống thuật ngữ QTCL trong tiếng Anh và tiếng Việt
Có thể nói đây cũng là một trong những công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu
về Ẩn dụ ý niệm trong hệ thống thuật ngữ nói chung, thuật ngữ QTCL nói riêng Kết
Trang 17quả của nghiên cứu là cơ sở để biên soạn từ điển thuật ngữ quản trị chiến lược Việt Đồng thời, Luận án có thể sẽ mở ra hướng nghiên cứu mới về thuật ngữ ở Việt Nam - đó là nghiên cứu thuật ngữ dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận
Anh-6 Ý nghĩa của luận án
Luận án này là công trình lý luận đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách tương đối toàn diện về những điểm tương đồng và khác biệt của thuật ngữ QTCL trong tiếng Anh và tiếng Việt Vì vậy, luận án dự kiến sẽ có những đóng góp về mặt
lý luận và thực tiễn như sau:
6.1 Ý nghĩa lý luận
Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong hệ thống thuật ngữ nói chung, thuật ngữ QTCL nói riêng Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung, làm sâu sắc thêm và phát triển lý thuyết và mở ra hướng nghiên cứu mới về thuật ngữ - đó là nghiên cứu thuật ngữ dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận - vốn vẫn còn là khoảng trống trong nghiên cứu về thuật ngữ ở Việt Nam
6.2 Ý nghĩa thực tiến
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ:
Là cơ sở để biên soạn từ điển thuật ngữ quản trị chiến lược Anh-Việt
Phục vụ thiết thực cho việc giảng dạy và biên soạn giáo trình các học phần thuộc chuyên ngành quản trị chiến lược và tiếng Anh Thương mại
Ngoài ra, luận án còn được sử dụng như tài liệu tham khảo hữu ích cho các cá nhân, các nhà quản trị và các nhà nghiên cứu thuật ngữ học
7 Bố cục của luận án
Ngoài các phần chung như Phần mở đầu, Phần kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án có kết cấu 3 chương cụ thể như sau:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chương này
sẽ tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài từ
đó xác định khoảng trống nghiên cứu Các vấn đề về lý luận có liên quan đến thuật ngữ quản trị chiến lược, định danh thuật ngữ, ẩn dụ ý niệm, và ngôn ngữ học đối chiếu cũng sẽ được trình bày nhằm xác lập cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu
Chương 2 Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược Anh - Việt về đặc điểm
Trang 18cấu tạo và đặc điểm định danh Chương 2 tập trung vào đối chiếu thuật ngữ QTCL
tiếng Anh và tiếng Việt về đặc điểm cấu tạo thuật ngữ; các đặc điểm định danh của
thuật ngữ QTCL Anh-Việt theo phạm trù ngữ nghĩa, theo cách thức biểu thị của thuật ngữ, và các mô hình định danh của thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 3 Đối chiếu ẩn dụ ý niệm trong thuật ngữ quản trị chiến lược Anh – Việt Chương này tập trung đối chiếu ẩn dụ ý niệm trong hình thành thuật ngữ
QTCL tiếng Anh và tiếng Việt và sự phổ biến của các miền nguồn trong các thuật ngữ ẩn dụ Việc so sánh, đối chiếu nhằm tìm hiểu những điểm tương đồng và dị biệt giữa hai hệ thuật ngữ về tần suất và về ánh xạ ẩn dụ
Trang 19CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ
SỞ LÝ LUẬN 1.1 Dẫn nhập
Để xác định khoảng trống nghiên cứu và xác lập cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu, đầu tiên chúng tôi tiến hành tổng quan về lịch sử phát triển của nghiên cứu thuật ngữ và thuật ngữ QTCL Chúng tôi tổng hợp và hệ thống hoá các giáo trình, chuyên khảo, luận án, luận văn, bài báo khoa học và các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu Nội dung phần tổng quan được sắp xếp theo trình tự thời gian và các hướng nghiên cứu từ đó có thể làm nổi bật sự thay đổi khuynh hướng nghiên cứu thuật ngữ Chúng tôi phân tích các nghiên cứu này từ khái quát đến cụ thể, bắt đầu từ việc tổng quan các công trình nghiên cứu về thuật ngữ nói chung ở nước ngoài và trong nước, từ đó tìm hiểu các nghiên cứu về thuật ngữ QTCL trong tiếng Anh và tiếng Việt Từ đây, chúng tôi tìm ra các khoảng trống cho vấn đề nghiên cứu Tiếp theo, để tạo nền tảng cho nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt, chúng tôi đã tìm hiểu và trình bày các vấn đề về lý luận có liên quan đến thuật ngữ quản trị chiến lược, định danh thuật ngữ, ẩn dụ ý niệm, và ngôn ngữ học đối chiếu
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới về thuật ngữ
Trên thế giới, các nghiên cứu về thuật ngữ được manh nha từ thế kỉ 18 Nghiên cứu về thuật ngữ ở thời kỳ này chú trọng vào những nội dung như tạo lập thuật ngữ, xác định các nguyên tắc trong việc xây dựng hệ thống thuật ngữ riêng của từng ngành khoa học Thời kỳ này cũng đánh dấu sự nỗ lực xây dựng hệ thuật ngữ của các ngành khoa học khác như hệ thuật ngữ hóa học, thuật ngữ vật lý, thuật ngữ công nghệ, v.v Tuy nhiên, việc nghiên cứu thuật ngữ có định hướng khoa học phải đến đầu thế kỉ 20 mới hình thành và phát triển
Năm 1930 đánh dấu mốc của nhiều thành tựu nổi bật trong nghiên cứu thuật ngữ Cũng từ đây xuất hiện ba trường phái nghiên cứu thuật ngữ tiêu biểu và lớn nhất
Trang 20trên thế giới, đó là trường phái nghiên cứu thuật ngữ Áo (gắn liền với tên tuổi của Wuster); trường phái nghiên cứu thuật ngữ Praha - Tiệp Khắc (đại diện tiêu biểu là Drodz), trường phái nghiên cứu thuật ngữ Nga - Xô Viết (các công trình nghiên cứu
của Lotte, Drezen, Caplygil) Đây được coi là cái nôi cho sự khởi đầu của ngành thuật ngữ học trên thế giới Ba trường phái này có chung quan điểm là nghiên cứu thuật ngữ dựa trên ngôn ngữ học Thuật ngữ được các nhà khoa học xem như là phương tiện để diễn đạt và giao tiếp trong lĩnh vực chuyên môn Từ việc hình thành cơ sở lý thuyết về thuật ngữ cũng như các nguyên lý xây dựng thuật ngữ, cả ba trường phái đều mang tính phương pháp chi phối những ứng dụng của thuật ngữ Những thành tựu nghiên cứu thuật ngữ của các trường phái này là một trong những nền tảng quan trọng cho việc phát triển những hướng mới nghiên cứu thuật ngữ sau này
Với 23 tập sách đã xuất bản trong khoảng thời gian từ năm 1999 đến năm
2022, bộ sách “Thuật ngữ và Từ điển học_ Nghiên cứu và thực tiễn” (Terminology and Lexicography _ Research and Practice) được biên soạn bởi nhiều tác giả như
Faber, L'Homme, Sager, Antia, Kageura, v.v… có thể được xem như bộ cẩm nang quan trọng cho bất cứ ai quan tâm đến nghiên cứu về từ vựng nói chung và thuật ngữ nói riêng Bộ sách bao gồm các chuyên khảo, tài liệu tham khảo, và giáo trình cung cấp những thông tin nền tảng, cũng như trình bày các nghiên cứu chuyên sâu liên quan đến từ vựng, thuật ngữ như lý thuyết về thuật ngữ, mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các thuật ngữ, thuật ngữ và kế hoạch hóa ngôn ngữ, biến thể thuật ngữ, từ vựng học, v.v Các tác giả hướng nghiên cứu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau như ngôn ngữ, triết học, lịch sử, lý thuyết, và tri nhận Một số tập sách tập trung vào nghiên cứu tương đương dịch thuật, biên soạn từ điển, v.v Cuốn sách được xuất bản gần nhất bởi Faber & L'Homme [75] tóm lược các cách tiếp cận trong nghiên cứu lý thuyết về thuật ngữ, bắt đầu từ công trình của Wuster và các công trình nghiên cứu đầu những năm 1990 Một số nội dung được khai thác trong nghiên cứu này như biến thể thuật ngữ, tính đa chiều của thuật ngữ, các mối quan hệ ý niệm và tương đương dịch thuật ngữ
Trang 21Các khuynh hướng nghiên cứu thuật ngữ nổi bật trong những thập kỷ gần đây
Những thập kỷ gần đây đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ trong nghiên cứu thuật ngữ với những khảo cứu đầy đủ về các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp nghiên cứu thuật ngữ theo nhiều hướng nghiên cứu khác nhau
a Khuynh hướng nghiên cứu về quản trị thuật ngữ
Cuốn “Sổ tay quản trị thuật ngữ” (Handbook of Terminology Management)
của Wright & Budin [135] là một tác phẩm độc đáo được thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu thuật ngữ học ứng dụng của các nhà thuật ngữ học, dịch giả, nhà từ điển học, chuyên gia như kỹ sư, chuyên gia y tế, các nhà chuẩn hóa thuật ngữ và những người phải giải quyết các vấn đề về thuật ngữ trong công việc hàng ngày của
họ Với độ dày hơn 900 trang, cuốn sách giới thiệu rất nhiều chủ đề được tích hợp từ quan điểm quốc tế và làm rõ các vấn đề cơ bản như: các phương pháp quản trị thuật ngữ; hướng dẫn sử dụng các công cụ thuật ngữ (như cơ sở dữ liệu thuật ngữ, từ điển trực tuyến, v.v.); và ứng dụng thuật ngữ
Bài báo “Hướng tới một mô hình các bước quản trị thuật ngữ”(Towards a procedure model in terminology management) viết bởi Kremer và cộng sự [96] đã
thực hiện ba nghiên cứu hành động Mẫu nghiên cứu đầu tiên là bảng từ (glossary) dùng ở một công ty bảo hiểm Thụy Sĩ Mẫu nghiên cứu thứ hai là danh mục công ty
(corporate taxonomy) sử dụng tại một công ty dịch vụ chuyên nghiệp quốc tế Mẫu
thứ ba kết hợp bảng từ và danh mục được dùng trong phân loại và truy xuất tài liệu
Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng bảng từ và danh mục có thể giúp
hạn chế lỗi trong sử dụng thuật ngữ Quá trình sử dụng và điều chỉnh đóng vai trò trung tâm trong việc quản lý thuật ngữ và, do đó, cần được xác định rõ ràng Nghiên cứu cũng đã đề xuất một mô hình các bước vận dụng bảng từ và danh mục thuật ngữ doanh nghiệp Tuy nhiên, liệu hiệu quả của công tác quản lý thuật ngữ ở các công ty nhất định trong một số ngành nhất định có tương đương với những công ty khác hay không, vẫn còn là một dấu hỏi lớn mà nghiên cứu chưa chỉ ra được Ngoài ra, có thể
kể đến một số công trình nghiên cứu về quản trị thuật ngữ theo định hướng ứng dụng [134], theo định hướng quá trình [73], hay đánh giá của người sử dụng đối với các
Trang 22công cụ quản trị thuật ngữ [68]
Những nghiên cứu quản trị thuật ngữ đã tìm hiểu và đánh giá tính hiệu quả các công cụ quản trị thuật ngữ trong một số ngành khoa học cụ thể, từ đó đã nêu ra một
số giải pháp về quản trị thuật ngữ bao gồm các quy trình thủ tục cần thiết để lưu trữ, hiệu chỉnh và trình bày các thuật ngữ khoa học
b Nghiên cứu thuật ngữ theo hướng kế hoạch hoá ngôn ngữ
Một nghiên cứu nổi bật về thuật ngữ theo hướng kế hoạch ngôn ngữ được thực hiện bởi Antia [60], “Thuật ngữ và kế hoạch hóa ngôn ngữ: mô hình thực tiễn và diễn
ngôn” (Terminology and language planning: an alternative framework of practice and discourse) Cuốn sách này phác thảo ra một mô hình mới, đó là quản trị thuật
ngữ theo định hướng kế hoạch ngôn ngữ Trọng tâm của mô hình này là diễn ngôn và thực tiễn sử dụng thuật ngữ trong bối cảnh kế hoạch hóa ngôn ngữ Với công cụ nghiên cứu là ngôn ngữ học xã hội ở châu Phi, cuốn sách đã chỉ ra rằng: (1) khoảng cách giữa các mục tiêu kế hoạch thuật ngữ và kết quả đạt được khá lớn; (2) khung lý thuyết áp dụng trong đánh giá các mục tiêu và thách thức của việc kế hoạch hóa thuật ngữ cũng như trong đánh giá kết quả thực hiện là chưa phù hợp; (3) đánh giá chưa đúng mức về:
(a) bản chất của ngôn ngữ chuyên ngành (đặc biệt là từ các quan điểm lý thuyết khoa học, các khía cạnh ngữ đoạn, v.v.),
(b) sứ mệnh của ngôn ngữ chuyên ngành, và
(c) vai trò của thuật ngữ trong chương trình giáo dục
Một số nghiên cứu khác có thể kể đến các như nghiên cứu về kế hoạch hóa ngôn ngữ và chuẩn hóa thuật ngữ trong tiếng Pháp [85], tiếng Tiệp Khắc [71], tiếng Ả Rập [57] đã trình bày nhiều nội dung về kế hoạch hóa ngôn ngữ như kế hoạch hóa bản thể ngôn ngữ, kế hoạch hóa địa vị ngôn ngữ, v.v… Các nghiên cứu thuật ngữ theo hướng
kế hoạch hóa kể trên đã góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý thuyết và ứng dụng trong thực hiện kế hoạch hóa ngôn ngữ và chuẩn hóa thuật ngữ
c Khuynh hướng nghiên cứu dịch thuật thuật ngữ
Bài báo “Thuật ngữ kinh tế trong tiếng Serbia và tiếng Croatia: So sánh đối
Trang 23chiếu cách sử dụng đặc ngữ Anh” (Economic Terminology In Serbian And Croatian
A Comparative Analysis Of Anglicisms) của Silaški [124] đã đối chiếu thực trạng sử
dụng đặc ngữ Anh trong thuật ngữ kinh tế tiếng Serbia và Croatia, tập trung vào những điểm tương đồng và khác biệt trong thích ứng và điều chỉnh các đặc ngữ Anh trong hai ngôn ngữ này Kết quả khảo sát khối ngữ liệu lớn – với gần 7.000 thuật ngữ kinh tế trong mỗi ngôn ngữ - cho thấy, hệ thuật ngữ kinh tế trong tiếng Croatia sử dụng nhiều đặc ngữ Anh hơn hẳn so với hệ thuật ngữ trong tiếng Serbia Bên cạnh
đó, nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, nhiều thuật ngữ quốc tế và thuật ngữ ở Croatia tồn tại song song với nhau
Luận văn “Chiến lược dịch báo kinh tế từ tiếng Thái sang tiếng Anh”
(Strategies Applied in Translation of Business Articles from Thai into English) của
Prayongsap [118], đã áp dụng khung lý thuyết dịch của Baker’s (1992) để phân tích chiến lược dịch 5 bài báo trong tạp chí kinh tế từ tiếng Thái sang tiếng Anh Luận văn
đã xác định được tần suất vận dụng tám chiến lược dịch (theo tỉ lệ phần trăm), đồng thời cũng đã chỉ ra một số vấn đề dịch thuật không tương đương khi chuyển dịch từ ngôn ngữ nguồn (tiếng Thái) sang ngôn ngữ đích (tiếng Anh)
Bài báo “Chuyển dịch thuật ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Ả Rập trong báo cáo
thường niên của doanh nghiệp” (Translating Terminology in Business Annual Reports - English-Arabic) viết bởi Al-Obaidani [55] đã phân tích các biến thể từ vựng,
tức là các thuật ngữ tài chính và kinh tế sử dụng trong các báo cáo thường niên trong tiếng Anh và bản dịch sang tiếng Ả Rập Bài báo này có nhiều đóng góp vào lĩnh vực nghiên cứu dịch thuật bằng cách khảo sát biến thể từ vựng của các thuật ngữ kinh tế trong bối cảnh văn hóa xã hội và ý thức hệ ở Oman… Cuối cùng, bài viết này đề xuất tích hợp phân tích văn bản với các yếu tố xã hội học để có cái nhìn sâu sắc hơn về các phiên bản dịch thuật
Ngoài ra trong những năm gần đây, có nhiều nghiên cứu theo hướng chuyển
dịch thuật ngữ như tương đương dịch thuật các văn bản của Liên minh Châu Âu trong
tiếng Anh và tiếng Slovak [80], dịch thuật ngữ trên các tài liệu kế toán từ tiếng Pháp sang Tây Ban Nha [83] Một số nghiên cứu tìm hiểu các chiến lược dịch thuật ngữ
Trang 24được hình thành từ phương thức ẩn dụ hóa từ thông thường như [108], [126], v.v… Các nghiên cứu về dịch thuật thuật ngữ đã chỉ ra các phương thức dịch thuật thuật ngữ, các kiểu tương đương dịch thuật cũng như các chiến lược nâng cao hiệu quả dịch thuật ngữ từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích Như vậy, hướng nghiên cứu dịch thuật thuật ngữ đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, mang lại nhiều ứng dụng cao cho lĩnh vực dịch thuật
d Khuynh hướng nghiên cứu các mối quan hệ về ý nghĩa của thuật ngữ
Cuốn “Giới thiệu về Ngữ nghĩa từ vựng của thuật ngữ” (Lexical Semantics for Terminology: An introduction) - được biên soạn bởi L’Homme [97]- khám phá các
mối liên hệ ngữ nghĩa của từ vựng và thuật ngữ Cụ thể hơn, tác giả đã chỉ ra các nguyên tắc vay mượn từ các khung từ vựng - ngữ nghĩa và các phương pháp luận rút
từ những khung này có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thuật ngữ Cuốn sách này định hướng nghiên cứu thuật ngữ theo các nguyên tắc, phương pháp và công cụ được phát triển bởi ngữ nghĩa học từ vựng Các chủ đề như nhận diện thuật ngữ, nghĩa thuật ngữ, hiện tượng đa nghĩa, các mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các thuật ngữ và sự tương đương dịch thuật ngữ được giải thích một cách tường minh và minh họa bằng các thuật ngữ trong nhiều ngành khoa học khác nhau Đây có thể xem như người bạn đồng hành không thể thiếu cho những ai quan tâm đến từ vựng nói chung, thuật ngữ chuyên ngành nói riêng Nội dung cuốn sách này có thể lấp một số khoảng trống về mặt ngữ nghĩa từ vựng chưa được đề cập trong một số nghiên cứu nổi tiếng trước đây
về thuật ngữ như [63], [110], [121]
Bài báo “Các hệ hình trong thuật ngữ xây dựng” (Paradigms in construction
terminology) do Sakaeva và cộng sự công bố năm 2020 [122] đã nghiên cứu các mối quan hệ từ vựng và ngữ nghĩa trong hệ thuật ngữ xây dựng, cụ thể là các hiện tượng đồng nghĩa, đa nghĩa và đồng âm, vốn là một trong những vấn đề gây tranh cãi trong thuật ngữ hiện đại và đã trở thành chủ đề nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học Nga Các tác giả tập trung vào khái niệm thuật ngữ như một hệ thống Nghiên cứu đã chỉ ra rằng kiểu quan hệ ngữ nghĩa phổ biến nhất giữa các thuật ngữ xây dựng là quan
hệ đồng nghĩa Phát hiện này cũng tương đương với kết luận trong nghiên cứu về biến
Trang 25thể thuật ngữ của Daille [69] Ngoài ra, một số bài báo đăng ở các tạp chí chuyên ngành hoặc kỷ yếu hội thảo đã đi sâu phân tích các mối quan hệ ý nghĩa cụ thể của thuật ngữ ở nhiều lĩnh vực khác nhau như thuật ngữ quân sự [78], thuật ngữ kinh tế [113], [114], miền từ vựng di cư [102], thuật ngữ nhiệt động lực học [112], thuật ngữ pháp luật [132], thuật ngữ logistics [133], thuật ngữ môi trường [77], thuật ngữ du lịch [58], thuật ngữ vận tải [88]
Các nghiên cứu về mối quan hệ về ý nghĩa của thuật ngữ chủ yếu tập trung tìm hiểu các mối quan hệ trái nghĩa hoặc đồng nghĩa của các thuật ngữ dựa theo quan điểm hình thái học (hình vị học) và ngữ nghĩa học, và đã đạt được nhiều thành tựu trong việc giải thích và phân loại các thuật ngữ đồng nghĩa, các dãy đồng nghĩa về phương diện ngữ nghĩa và ngữ dụng Bên cạnh đó, một số nghiên cứu đã chỉ ra cách nhận diện, miêu tả đặc điểm cấu tạo cũng như đặc điểm ngữ nghĩa và khả năng hoạt động của các thuật ngữ trái nghĩa
e Khuynh hướng nghiên cứu thuật ngữ dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận
Lý thuyết thuật ngữ dường như đang phát triển từ quan điểm mô tả các mô hình cấu tạo sang nghiên cứu các đơn vị ngôn ngữ chuyên ngành theo quan điểm xã hội và tri nhận [111]; [131] Theo đó, nghiên cứu thuật ngữ và ngôn ngữ chuyên ngành đang trải qua sự thay đổi nhận thức, trong đó chú trọng nhiều hơn đến ý nghĩa cũng như cấu trúc ý niệm [72]
Thế kỷ 21 đánh dấu bước ngoặt trong nghiên cứu thuật ngữ học với sự nở rộ của những nghiên cứu về thuật ngữ theo hướng tiếp cận mới – nghiên cứu thuật ngữ
từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận, trong đó nổi bật nhất là cuốn “Quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận về thuật ngữ và ngôn ngữ chuyên ngành” (A cognitive linguistics view of terminology and specialized language) của tác giả Faber [74] Cuốn sách này
gợi ý cách tiếp cận mới, đó là nghiên cứu thuật ngữ và ngôn ngữ chuyên ngành theo
lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận Vận dụng các khía cạnh của Ngữ nghĩa khung, cùng với các tiền đề lý luận của Ngôn ngữ học tri nhận để xác định các lược đồ hình ảnh,
sơ đồ ánh xạ của các biểu thức tri thức phi ngôn ngữ Tác giả đã trình bày các khung
lý thuyết ẩn dụ, hoán dụ, biến thể trong nghiên cứu ngôn ngữ chuyên ngành; dịch
Trang 26thuật thuật ngữ, đặc biệt là cách chuyển dịch các thuật ngữ có chứa ẩn dụ trong ngôn ngữ chuyên ngành với mẫu khảo sát là các sơ đồ ánh xạ của ẩn dụ xuất hiện trong ngành sinh học biển Ngoài ra, tác giả cũng đi sâu nghiên cứu về ngữ pháp tri nhận, các mối quan hệ ý niệm, quan hệ ngữ nghĩa, lược đồ ánh xạ, và khía cạnh ngữ dụng học của thuật ngữ
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu khác áp dụng lý thuyết tri nhận vào nghiên cứu thuật ngữ như nghiên cứu về ẩn dụ trong cấu tạo thuật ngữ của Alekseeva [56] Các tác giả đã nghiên cứu về quá trình hình thành thuật ngữ ẩn dụ, bắt đầu từ việc phân tích mô hình kiến thức đặc biệt Từ đó, các tác giả đề xuất quy trình gồm bốn giai đoạn tích hợp các quan điểm khác nhau trong hình thành ý niệm và cấu tạo thuật ngữ vào một mô hình tích hợp ba cấp độ Makhmaraimova [104] tìm hiểu về các cơ chế tri nhận trong chuyển nghĩa từ từ ngữ thông thường sang thuật ngữ nói chung, chứ không xác định các sơ đồ ánh xạ hay các mô hình ẩn dụ xuất hiện trong một ngành khoa học cụ thể
Về nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong các hệ thuật ngữ khoa học cụ thể, trên thế giới đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu đạt thành tựu đáng kể, đóng góp cho
khoa học thuật ngữ Trong nghiên cứu về ẩn dụ trong thuật ngữ dầu khí,
Khachmafova [89] xem xét các đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của các thuật ngữ ẩn
dụ, sử dụng phương pháp mô hình hóa và phương pháp từ nguyên Nghiên cứu đã đưa ra nhiều mô hình ý niệm của thuật ngữ ẩn dụ được phát triển từ các nguồn như
con người, động vật, không gian, y tế, màu sắc và các lĩnh vực khác Krawiec đã chỉ
ra một số ẩn dụ ý niệm trong định danh thuật ngữ về công nghệ thông tin, như: ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY LÀ CON NGƯỜI, ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY LÀ THỰC PHẨM, ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY LÀ CUỘC THI ĐẤU THỂ THAO, KHÔNG GIAN ẢO
LÀ KHÔNG GIAN VẬT LÝ, KHÔNG GIAN ẢO LÀ VẬT CHỨA, BỘ PHẬN CỦA ĐÁM MÂY LÀ CÁC BỘ PHẬN CỦA CƠ THỂ SỐNG, v.v…[95]
Một số nghiên cứu nổi bật khác về ẩn dụ ý niệm trong định danh thuật ngữ một số lĩnh vực như thuật ngữ mạng máy tính [101], thuật ngữ khoa học xã hội [82],
thuật ngữ y khoa [76] và [123], thuật ngữ giải phẫu [130], thuật ngữ công nghệ thông
Trang 27tin [64], thuật ngữ và ngôn ngữ chuyên ngành [79] Bên cạnh đó, nghiên cứu thuật ngữ trong lĩnh vực kinh tế cũng chứng kiến sự chuyển hướng theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận với kết quả đáng ghi nhận được công bố trên các tạp chí Nổi bật trong số đó là các nghiên cứu về ẩn dụ tiền là chất rắn trong hệ thuật ngữ kinh tế thương mại tiếng Anh [127], các mô hình ánh xạ của thuật ngữ kinh tế thương mại [61], ẩn dụ và hoán dụ trong cấu tạo thuật ngữ kinh tế [91], hay nghiên cứu về vai trò của thuật ngữ khoa học và ẩn dụ trong giảng dạy chuyên ngành quản trị [67], v.v…
Nhìn chung, có thể thấy nghiên cứu thuật ngữ dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận - đặc biệt là ẩn dụ ý niệm - đang nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và đã đạt được những thành tựu đáng kể Do đó, nghiên cứu
ẩn dụ ý niệm trong thuật ngữ QTCL sẽ là một cách tiếp cận khả thi và hứa hẹn mang lại nhiều đóng góp về cả lý luận cũng như thực tiễn cho thuật ngữ học
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về thuật ngữ
Ở Việt Nam, nghiên cứu về thuật ngữ phát triển khá muộn so với các nước phương Tây, và phải đến đầu thế kỷ XX, vấn đề nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ
mới được chú ý Nổi bật nhất là cuốn “Danh từ khoa học” của Hoàng Xuân Hãn [16]
- được xem như nền tảng cho những nghiên cứu về lý thuyết thuật ngữ ở Việt Nam Vấn đề xây dựng thuật ngữ được thực hiện một cách hệ thống và khoa học Tác giả không chỉ tập hợp, mô tả thuật ngữ mới mà còn đưa ra phương pháp, cách thức sáng tạo thuật ngữ tiếng Việt hiện đại Dựa trên những phương sách này, tác giả đã biên soạn cuốn thuật ngữ đối chiếu Pháp – Việt đầu tiên về các môn Toán, Hóa, Lý, Cơ và Thiên văn Tiếp nối công trình của Hoàng Xuân Hãn là một số nghiên cứu về thuật ngữ và ngôn ngữ khoa học có thể kể đến là những công bố về nguyên tắc soạn thảo thuật ngữ chuyên môn của Lê Văn Thới, hay những vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa
học của Lưu Vân Lăng [27] Đây là những công trình đặt nền móng cho hệ thống thuật ngữ Việt Nam Cuốn “Thuật ngữ học - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của
Hà Quang Năng [31], đã tổng kết những thành tựu nghiên cứu lý luận và nghiên cứu ứng dụng về thuật ngữ học ở Liên Xô, Liên bang Nga và Cộng hòa Liên bang Đức
Trang 28chuẩn của thuật ngữ, yếu tố cấu tạo thuật ngữ, định danh thuật ngữ, vấn đề biên soạn
từ điển thuật ngữ, v.v
Bên cạnh đó là nghiên cứu chuyên biệt về thuật ngữ tiếng Việt Đi đầu là những
nghiên cứu như “Về vấn đề thống nhất và chuẩn hóa thuật ngữ khoa học tiếng Việt” của Lê Khả Kế [26], “Về sự hình thành và phát triển của thuật ngữ tiếng Việt” của
Hoàng Văn Hành [17], … Các vấn đề nghiên cứu thuật ngữ chủ yếu xoay quanh các nội dung sau: các phương thức cấu tạo thuật ngữ, đặc điểm thuật ngữ và tiêu chuẩn xác định thuật ngữ, vấn đề thống nhất và chuẩn hóa thuật ngữ, vay mượn thuật ngữ,
và phiên âm thuật ngữ nước ngoài Những vấn đề này được nghiên cứu chủ yếu xuất phát từ những đòi hỏi của thực tiễn, đó là xây dựng các hệ thuật ngữ khoa học Công
trình “Sự phát triển của từ vựng tiếng Việt nửa sau thế kỉ XX” [30] tóm lược những
chặng đường phát triển của tiếng Việt nói chung, thuật ngữ tiếng Việt nói riêng Bên cạnh việc trình bày những con đường hình thành thuật ngữ tiếng Việt, tác giả cũng cũng đưa ra một số giải pháp cụ thể trong việc tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài vào
tiếng Việt Tác phẩm “Thuật ngữ học tiếng Việt hiện đại” do Nguyễn Đức Tồn [46]
làm chủ biên đã trình bày các tiêu chuẩn của thuật ngữ, phân biệt thuật ngữ với các đơn vị từ vựng phi thuật ngữ, trình bày lý thuyết điển mẫu Bên cạnh đó, tác giả đã
đề xuất 6 giải pháp cụ thể trong xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt trong thời kỳ hội nhập quốc tế của đất nước để làm cơ sở xây dựng luật ngôn ngữ
Đặc biệt, bên cạnh những vấn đề lý luận mang tính truyền thống về thuật ngữ, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu chú ý đến các hướng tiếp cận mới về thuật ngữ Trong
công trình “Sự phát triển hệ thuật ngữ tiếng Việt theo định hướng văn hóa 2005)” của Lê Quang Thiêm [44], tác giả đã phân tích sự phát triển hệ thuật ngữ tiếng
(1907-Việt theo định hướng văn hóa; và đặt nghiên cứu thuật ngữ trong mối quan hệ với sự phát triển, phổ biến tri thức khoa học và công nghệ
Tiếp nối những thành công về các nghiên cứu về thuật ngữ cũng như dựa vào những nền tảng lý thuyết về thuật ngữ mà các tác giả nói trên đã xây dựng, những năm gần đây cũng nở rộ nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu hệ thống thuật ngữ của nhiều ngành khoa học và kĩ thuật cụ thể Các công trình nghiên cứu
Trang 29thường tập trung vào một số hướng nghiên cứu như sau:
Thứ nhất là, các nghiên cứu phân tích đặc điểm cấu tạo, con đường hình thành
và đặc điểm định danh của một hệ thuật ngữ khoa học cụ thể trong tiếng Việt như một số nghiên cứu về thuật ngữ báo chí [7], thuật ngữ khoa học hình sự [24]; thuật ngữ quân sự [13], v.v…
Thứ hai là, một số tác giả khác tiến hành đối chiếu thuật ngữ tiếng Việt và
tiếng Anh để tìm hiểu những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thuật ngữ của hai ngôn ngữ về đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh như thuật ngữ marketing [39], thuật ngữ xã hội học [48], thuật ngữ dầu khí [12], v.v…
Thứ ba, tương đương dịch thuật ngữ Anh-Việt cũng là một cách tiếp cận được
các tác giả quan tâm trong những năm gần đây, từ đó các tác giả đưa ra những phương hướng, đề xuất cho việc chuẩn hóa hệ thuật ngữ cụ thể đã được khảo sát như: thuật ngữ khoa học hình sự [49], thuật ngữ kinh tế thương mại [53], thuật ngữ báo chí [4], thuật ngữ công tác xã hội [21], thuật ngữ thủy sản [47], v.v
Có thể thấy, các nghiên cứu về thuật ngữ ở Việt Nam chủ yếu xuất phát từ những đòi hỏi của thực tiễn, đó là xây dựng các hệ thuật ngữ khoa học, kỹ thuật Kết quả là nhiều cuốn từ điển thuật ngữ đối chiếu tiếng Việt với tiếng nước ngoài đã được xuất bản Ngoài ra còn có một số bài báo nghiên cứu các vấn đề cụ thể của thuật ngữ
đã được công bố trên các tạp chí chuyên ngành Như vậy, công tác nghiên cứu thuật ngữ và thuật ngữ học ở nước ta trong thời gian qua đã đạt được những kết quả rõ rệt
Kết quả tổng quan nghiên cứu thuật ngữ trong nước và nước ngoài cho thấy việc nghiên cứu thuật ngữ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận trên thế giới đã đạt thành tựu đáng kể Tuy nhiên, nghiên cứu về ẩn dụ trong hệ thuật ngữ cụ thể trong tiếng Việt vẫn còn là khoảng trống, và do đó cần nhiều đóng góp hơn vào hướng nghiên cứu mới này
1.2.3 Tổng quan nghiên cứu về thuật ngữ Quản trị chiến lược
Nghiên cứu về các thuật ngữ QTCL trong tiếng Anh được đánh dấu bằng sự
ra đời của các cuốn từ điển trong mấy thập kỷ qua Trong số các từ điển về thuật ngữ
Trang 30Với khoảng 4000 mục từ, từ điển thuật ngữ QTCL “Dictionary of strategy_ Strategic management A-Z” của Kelly & Booth [99] là cuốn từ điển đồ sộ miêu tả chi
tiết các thuật ngữ sử dụng trong lĩnh vực quản trị chiến lược Từ điển trình bày các định nghĩa, khái niệm sử dụng trong lĩnh vực chuyên ngành một cách độc đáo, hiện sinh, và giải thích các thuật ngữ quan trọng trong quản trị chiến lược với ví dụ kèm theo Những chủ điểm lớn như tư duy chiến lược ở mọi cấp độ trong tổ chức, phân tích môi trường bên trong và bên ngoài để xây dựng chiến lược đều được giải thích một cách kỹ lưỡng
Ngoài ra, những cuốn từ điển như “A Dictionary of Strategic Management” của Prasad [129]; hoặc từ điển “The Blackwell Encyclopedic Dictionary of Strategic Management 2nd Edition” của Channon [76] cũng là những cuốn từ điển nổi tiếng
với những giải thích chi tiết đối với các thuật ngữ phổ biến trong lĩnh vực quản trị chiến lược như tầm nhìn, sứ mệnh, mục tiêu chiến lược, xây dựng và thực hiện chiến lược, v.v… Ngoài ra, còn một số cuốn từ điển, thư mục từ vựng, chú thích từ ngữ khác về lĩnh vực QTCL trên các trang web chuyên ngành hoặc diễn đàn trao đổi về học thuật Tuy nhiên, điểm hạn chế của các công trình này là chỉ dừng lại ở phạm vi mang tính tập hợp, sắp xếp các thuật ngữ QTCL hiện có theo thứ tự bảng chữ cái chứ chưa có công trình nào chỉ ra được đặc điểm về ngữ nghĩa của thuật ngữ QTCL hay các miền nguồn ánh xạ trong hệ thuật ngữ QTCL
Trong khi đó, ở Việt Nam hiện vẫn chưa có từ điển nào về thuật ngữ QTCL tiếng Việt hoặc từ điển thuật ngữ QTCL Anh-Việt Hiện nay, các nhà nghiên cứu, người học chỉ có thể tra nghĩa của thuật ngữ hoặc đối chiếu nghĩa của một số thuật ngữ QTCL Anh-Việt bằng cách sử dụng một số cuốn từ điển về lĩnh vực liên quan
như: Từ điển thuật ngữ kinh tế - thương mại Anh - Việt [58] hoặc Từ điển kinh tế - thương mại Anh - Việt [31], v.v…
Tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam nói trên giúp chúng tôi hình thành những hiểu biết ban đầu về nghiên cứu thuật ngữ Qua tổng quan tài liệu chúng tôi nhận thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ trong lĩnh vực kinh tế như thuật ngữ kinh tế - thương mại, thuật ngữ ngân hàng, thuật
Trang 31ngữ marketing Tuy nhiên, vẫn chưa có một nghiên cứu đối chiếu toàn diện và đầy
đủ về thuật ngữ quản trị chiến lược Đặc biệt, hướng nghiên cứu thuật ngữ QTCL dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận được kỳ vọng sẽ mang lại nhiều đóng góp
về lý luận cũng như thực tiễn trong công tác nghiên cứu và ứng dụng thuật ngữ Các
“khoảng trống” lý thuyết và thực tiễn này tạo động lực cho chúng tôi thực hiện đề tài
“Đối chiếu thuật ngữ quản trị chiến lược Anh-Việt” nhằm đóng góp thêm tiếng nói
vào lĩnh vực nghiên cứu này
1.3 Cơ sở lý luận
Để có nền tảng cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu ở Chương 2, Chương 3 của luận
án, chúng tôi hệ thống hóa các lý thuyết liên quan đến nội dung nghiên cứu, bao gồm các khung lý thuyết về: thuật ngữ, định danh thuật ngữ, ẩn dụ ý niệm, ngôn ngữ học đối chiếu
1.3.1 Cơ sở lý luận về thuật ngữ quản trị chiến lược
1.3.1.1 Khái niệm thuật ngữ
Cùng với sự phát triển của ngôn ngữ học, thuật ngữ ra đời và phát triển đóng góp một vai trò to lớn trong ngành ngôn ngữ học hiện nay Cho đến nay, các nhà ngôn ngữ học trên thế giới và Việt Nam đưa ra nhiều quan niệm về thuật ngữ Xuất phát từ cách nhìn khác nhau mà các nhà khoa học có những cách hiểu khác nhau về thuật ngữ Từ góc độ ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu đưa ra định nghĩa thuật ngữ gắn với nội dung khái niệm mà nó biểu thị Một số tác giả lại lấy chức năng của thuật ngữ tạo nét khu biệt hình thành khái niệm của nó
Oeser và cộng sự cho rằng thuật ngữ là “một tập hợp các khái niệm, trong mỗi lĩnh vực chuyên ngành đều có các mô hình cấu trúc đại diện cho tập hợp các khái niệm Kiến thức khoa học được sắp xếp thành các cấu trúc khái niệm, các phương tiện biểu đạt ngôn ngữ và ký hiệu tương ứng được sử dụng trong văn phong khoa học
để thông tin với người khác về kết quả khoa học và bình luận các ngôn bản khác” [33, tr.12] Hornby đưa ra định nghĩa “thuật ngữ là một từ hoặc cụm từ được sử dụng
Trang 32đơn vị ngôn ngữ được coi là thuật ngữ khi nghĩa của nó được sử dụng trong lĩnh vực chuyên môn cụ thể Điều này có nghĩa là ngay những từ thông thường có thể trở thành thuật ngữ khi nó sử dụng trong các lĩnh vực chuyên ngành Không những vậy, một đơn vị ngôn ngữ cũng có thể được dùng như một thuật ngữ trong nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau [97, tr.59]
Trong mấy thập kỷ gần đây, các nhà ngôn ngữ học ở Việt Nam cũng hết sức quan tâm đến nghiên cứu về thuật ngữ, những định nghĩa về thuật ngữ mà các học giả này nêu ra càng ngày càng phong phú Hoàng Văn Hành cho rằng “thuật ngữ là những từ ngữ dùng để biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định Toàn bộ hệ thống thuật ngữ của các ngành khoa học hợp thành vốn thuật ngữ của ngôn ngữ” [17, tr.26] Nguyễn Thiện Giáp khẳng định “Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm những
từ và cụm từ cố định, là tên gọi chính xác các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người” [9, tr.270] Hà Quang Năng [31] đưa ra định nghĩa “thuật ngữ là những từ và cụm từ biểu thị chính xác các khái niệm hoặc đối tượng chuyên môn của một ngành khoa học hoặc một lĩnh vực chuyên môn nhất
định” Còn theo định nghĩa của Lê Quang Thiêm thì “thuật ngữ là những từ và ngữ
định danh để chỉ những sự vật, hiện tượng, khái niệm, quá trình, phạm trù, học thuyết, v.v… trong khoa học, kỹ thuật, công nghệ và dịch vụ” [44]
Quan niệm của các nhà khoa học về thuật ngữ giúp chúng ta có cái nhìn đa chiều và toàn diện về thuật ngữ Có nhiều cách tiếp cận trong nghiên cứu thuật ngữ,
trong đó nổi bật là phương pháp tiếp cận dựa trên tri thức (knowledge-driven approach), tiếp cận theo từ vựng (lexicon-based approach), cách tiếp cận văn hóa (cultural approach) … Tuy cách tiếp cận khái niệm thuật ngữ phần nào có khác nhau
nhưng các tác giả đều thống nhất quan điểm thuật ngữ là bộ phận quan trọng của ngôn ngữ Chúng tôi đồng quan điểm với định nghĩa nêu trên của Hà Quang Năng và lấy
đó làm cơ sở cho việc nghiên cứu thuật ngữ QTCL của luận án
Trang 331.3.1.2 Các tiêu chuẩn của thuật ngữ
Việc xác định thuật ngữ không chỉ giới hạn ở việc đưa ra khái niệm, chỉ ra bản chất, chức năng, nội dung ngữ nghĩa mà còn phải chỉ ra các tiêu chuẩn của nó Do đó, khi nghiên cứu về thuật ngữ, các nhà khoa học quan tâm đến các tiêu chuẩn xác định thuật ngữ nhằm phục vụ cho việc xây dựng và chuẩn hoá chúng
Các nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước đưa ra khá nhiều tiêu chuẩn
khác nhau cho thuật ngữ, chẳng hạn như: tính khoa học, tính chính xác, tính ngắn gọn, tính hệ thống, tính quốc tế, tính dân tộc, tính đơn nghĩa, v.v Một số nhà khoa
học như: Lotte [29], Reformatxki [37] đã đưa ra các tiêu chuẩn của thuật ngữ, như: tính khoa học (bao gồm tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế), tính dân tộc và tính đại chúng Lưu Vân Lăng cho rằng, thuật ngữ tiếng Việt cần phải có: tính chính xác, tính hệ thống, tính bản ngữ (ngôn ngữ dân tộc), tính ngắn gọn, tính dễ dùng Trong đó, tiêu chuẩn cơ bản nhất đó là tính chính xác, tính hệ thống và tính bản ngữ [27] Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Thiện Giáp có chung quan điểm đó là thuật ngữ phải
có tính chính xác, tính hệ thống và tính quốc tế [2] Nguyễn Đức Tồn có quan điểm thuật ngữ cần phải có hai đặc điểm mang tính bản thể, đó là, tính khoa học và tính quốc tế, còn những đặc tính khác chỉ là thứ yếu [46]
Trên cơ sở hệ thống và phân tích quan niệm của các tác giả đi trước về tiêu chuẩn của thuật ngữ, chúng tôi nhận thấy thuật ngữ QTCL phải có những tiêu chuẩn
đó là tính khoa học (bao gồm tính chính xác, tính hệ thống, tính ngắn gọn), tính quốc
và mỗi thuật ngữ chỉ có một khái niệm Tính chính xác về mặt ngữ nghĩa của thuật
Trang 34ngữ đòi hỏi hình thức của chúng cũng phải chính xác, tức là phải có sự phù hợp giữa nội dung và hình thức của khái niệm
Các thuật ngữ trong mỗi ngành khoa học, lĩnh vực chuyên môn không tồn tại
đơn lẻ mà trong mối quan hệ với các thuật ngữ khác trong hệ thống Tính hệ thống
của thuật ngữ cho thấy mỗi thuật ngữ là một bộ phận cần thiết, không thể tách rời trong một chỉnh thể của hệ thuật ngữ Tính hệ thống về nội dung của thuật ngữ quy định tính hệ thống về hình thức của thuật ngữ
Thuật ngữ mang tính chất định danh nên phải ngắn gọn Một thuật ngữ ngắn
gọn, cô đọng sẽ có nội hàm thông tin cao Muốn thuật ngữ ngắn gọn khi đặt thuật ngữ phải lựa chọn yếu tố cốt lõi, súc tích nhất đồng thời loại bỏ những yếu tố rườm rà, không cần thiết Reformatxki đưa ra tiêu chuẩn cụ thể về số lượng yếu tố cấu tạo thuật ngữ, “đối với thuật ngữ là từ ghép hay cụm từ chỉ có thể gồm hai, ba hoặc tối đa là bốn yếu tố bởi vì nếu thuật ngữ quá dài sẽ không được chấp nhận trong thực tế” [37, tr.253-271)]
Tính quốc tế
Tính quốc tế là một đặc điểm quan trọng của nội dung thuật ngữ Thuật ngữ là
bộ phận của ngôn ngữ biểu đạt các khái niệm khoa học mà khái niệm khoa học là tri thức chung của nhân loại Chủ thể sử dụng thuật ngữ là các nhà khoa học, các nhà chuyên môn có thể ở các quốc gia khác nhau và họ phải hiểu như nhau về cùng một khái niệm đúng như nó được quy ước và định nghĩa trong khoa học Bởi vậy, có thể nói thuật ngữ biểu hiện những khái niệm khoa học chung cho những người nói các thứ tiếng khác nhau
Trang 35đảm bảo khái niệm mà thuật ngữ phản ánh được hiểu đúng trong các ngôn ngữ khác nhau Về mặt hình thức tính dân tộc được đề cao bởi thuật ngữ phải sử dụng các chất liệu của ngôn ngữ dân tộc như ngữ âm, văn tự cú pháp để cấu tạo nên
1.3.1.3 Đơn vị cấu tạo thuật ngữ
Khi phân tích thành phần cấu tạo của các thuật ngữ cần xét đến yếu tố cơ sở
để cấu tạo thuật ngữ Cho đến nay, có hai quan điểm khác nhau về đơn vị cơ sở cấu tạo nên thuật ngữ
Quan điểm thứ nhất xuất phát từ các tác giả Hoàng Văn Hành [17], Lê Khả Kế
[26], Nguyễn Thiện Giáp [9], … cho rằng đơn vị cấu tạo thuật ngữ là tiếng (chữ)
Theo quan niệm này, mỗi đơn vị cấu tạo thuật ngữ sẽ tương ứng với một chữ hay một
âm tiết Theo quan niệm này, thuật ngữ hành trình khách hàng bao gồm 4 yếu tố cấu tạo thuật ngữ: hành, trình, khách, hàng Tuy nhiên, nếu phân tích thuật ngữ theo số
lượng tiếng cấu tạo nên thuật ngữ, ta không thể nhận biết được đặc điểm nội dung cũng như vai trò của từng yếu tố tạo nên thuật ngữ đó [52]
Quan điểm thứ hai xuất phát từ các nhà ngôn ngữ học Xô Viết (điển hình là
Lotte [29] Lotte đã xác định đơn vị cấu tạo nên thuật ngữ là “yếu tố thuật ngữ”, sau
đó được Kandeljaki và Danilenko hoàn thiện) quan niệm rằng: “Thuật ngữ có thể là
hình vị trong từ đơn, là từ (thậm chí kết hợp từ) khi thuật ngữ là từ ghép hay là từ tổ,
thuật ngữ có thể gồm một hay hơn một yếu tố thuật ngữ Mỗi yếu tố thuật ngữ tương ứng với khái niệm hay tiêu chí của khái niệm trong lĩnh vực chuyên môn nào đó.” [Dẫn theo 31, tr.20] Nguyễn Đức Tồn [46] cũng cho rằng, “mỗi đơn vị cấu tạo nên thuật ngữ chỉ được coi là một yếu tố khi nó có nghĩa từ vựng và tham gia cấu tạo các thuật ngữ khác nhau trong một lĩnh vực khoa học hay chuyên môn” Theo Phạm Hùng Việt thì, mỗi yếu tố thuật ngữ phản ánh một khái niệm hoặc một thuộc tính của khái
niệm trong lĩnh vực chuyên môn [52] Theo đó, thuật ngữ hành trình khách hàng có cấu tạo gồm 2 yếu tố cấu tạo: hành trình + khách hàng
Quan điểm của các nhà thuật ngữ học Xô Viết đã được một số tác giả Việt Nam áp dụng trong nghiên cứu cấu tạo thuật ngữ của nhiều ngành khoa học khác
Trang 36nhau với các tên gọi như ngữ tố [31], thuật tố [46], thuật ngữ tố [52], thành tố [12], [4], yếu tố [24], [47] Mặc dù sử dụng các khái niệm khác nhau về đơn vị cơ sở cấu
tạo thuật ngữ, nhưng về cơ bản các nhà nghiên cứu đều cho rằng, các khái niệm này
là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa làm thành tố cấu tạo trực tiếp của thuật ngữ
Trong luận án, chúng tôi gọi đơn vị cấu tạo thuật ngữ QTCL là thành tố thuật ngữ (sau đây gọi tắt là thành tố) để chỉ đơn vị cơ sở cấu tạo thuật ngữ trong tiếng Anh
và tiếng Việt Về mặt nội dung, mỗi thành tố cấu tạo thuật ngữ phải có nghĩa, biểu
thị một khái niệm, một đối tượng hoàn chỉnh hay một một đặc trưng, thuộc tính nào
đó của thuật ngữ trong lĩnh vực chuyên môn nhất định, mà trong luận án này là lĩnh
vực quản trị chiến lược Về mặt cấu tạo, thành tố cấu tạo thuật ngữ có thể là “một hình vị khi thuật ngữ có cấu tạo là từ, có thể là một từ khi thuật ngữ có cấu tạo là cụm
từ hay ngữ” [105, tr.4] Các hư từ (như the, and, of… trong tiếng Anh; của, và,… trong tiếng Việt) không được coi là thành tố riêng cấu tạo thuật ngữ, vì không mang
nghĩa từ vựng, không biểu hiện khái niệm hoặc đặc trưng, thuộc tính của khái niệm
Theo kết quả khảo sát của chúng tôi, về mặt hình thức cấu tạo các thuật ngữ QTCL trong tiếng Anh và tiếng Việt có thể được chia thành hai loại: thuật ngữ QTCL
có hình thức cấu tạo là “từ” (từ đơn, từ ghép, từ phái sinh) và thuật ngữ QTCL có hình thức cấu tạo là “cụm từ” (cụm từ định danh) Dù ở hình thức cấu tạo nào, đơn
vị cơ sở cấu tạo thuật ngữ QTCL trong tiếng Anh và tiếng Việt đều được gọi chung
là thành tố Ví dụ, thuật ngữ tiếng Anh seller – (người bán), buyer – (người mua), advertising – (quảng cáo) có cấu tạo là từ phái sinh và được tạo thành từ hai hình vị sell/er, buy/er, advertise/ing nhưng vẫn được xem là thuật ngữ có cấu tạo một thành
tố, vì các hình vị “er”, “ing” không thể đứng độc lập một mình và mang ý nghĩa từ vựng hoàn chỉnh Trong thuật ngữ barriers to imitation (rào cản bắt chước), research and development (nghiên cứu và phát triển) thì to, and không tính là đơn vị cơ sở cấu tạo thuật ngữ, do đó những thuật ngữ này được tính gồm 2 thành tố cấu tạo là barriers
và imitation// research và development; Trong các thuật ngữ tiếng Việt như sức ép của khách hàng, sáp nhập và mua lại thì các đơn vị từ vựng “của, và” cũng không
được coi là đơn vị cơ bản cấu tạo thuật ngữ, do đó, các thuật ngữ này được coi như
Trang 37có 2 thành tố cấu tạo là sức ép - khách hàng, sáp nhập - mua lại
Trong Chương 2, chúng tôi sẽ phân tích và đối chiếu các đặc điểm cấu tạo của
thuật ngữ QTCL tiếng Anh và tiếng Việt theo khái niệm thành tố - đơn vị cơ sở cấu
tạo thuật ngữ Do giới hạn về thời gian và dung lượng, luận án chỉ phân tích đặc điểm,
mô hình cấu tạo và số lượng thành tố cấu tạo các thuật ngữ QTCL là cụm từ Nghiên cứu thành tố cấu tạo của thuật ngữ QTCL là từ không nằm trong phạm vi nghiên cứu
của luận án
1.3.1.4 Phân biệt thuật ngữ với một số khái niệm liên quan
a Thuật ngữ và danh pháp
Trước tiên, cần phân biệt thuật ngữ với danh pháp Reformatxki khẳng định
“hệ thuật ngữ trước hết gắn với một hệ thống khái niệm của một khoa học cụ thể, còn danh pháp chỉ dán nhãn cho đối tượng của nó và danh pháp không có quan hệ trực tiếp với khái niệm khoa học” [37, tr.47] Nguyễn Thiện Giáp cho rằng “hệ thuật ngữ trước hết gắn liền với hệ thống các khái niệm của một khoa học nhất định, còn danh pháp là toàn bộ những tên gọi được dùng trong một ngành chuyên môn nào đó, nó không gắn trực tiếp với các khái niệm của khoa học này mà chỉ gọi tên các sự vật trong khoa học đó” [10, tr.270] Theo Hà Quang Năng thì, điểm giống nhau duy nhất giữa thuật ngữ và danh pháp đó là “tính độc lập của danh pháp và của thuật ngữ khỏi ngữ cảnh và tính chất trung hòa về tu từ của chúng, tính mục đích rõ ràng trong sử dụng, tính bền vững và khả năng tái hiện trong lời nói” [31, tr.3] Superanskaja cũng cho rằng, “giữa thuật ngữ và danh pháp không có ranh giới tuyệt đối, hai lớp từ vựng này tác động qua lại lẫn nhau: danh pháp, trong những trường hợp nhất định, có thể chuyển thành thuật ngữ khi nó rơi vào trong hệ thống từ vựng khác” [40, tr.7]
Từ những quan điểm nêu trên có thể thấy hệ thuật ngữ gắn liền với hệ thống các khái niệm của một ngành khoa học cụ thể Còn danh pháp bao gồm tên gọi các
sự vật, hiện tượng cụ thể trong một ngành khoa học hoặc một lĩnh vực mà không quan
hệ trực tiếp với khái niệm khoa học
Với sự phân biệt giữa thuật ngữ và danh pháp như vậy, trong lĩnh vực quản trị
Trang 38chiến lược, chúng tôi nhận thấy các từ, cụm từ như: chiến lược, kiểm soát chiến lược, công ty, thị trường … là những thuật ngữ còn tên riêng của các tổ chức, công ty như General Motors Company (công ty GM), tập đoàn Vingroup … là danh pháp
b Thuật ngữ và từ ngữ thông thường
Hầu hết các nhà ngôn ngữ học đều cho rằng trong mỗi ngôn ngữ, bản chất khái niệm và mặt sử dụng của thuật ngữ và từ ngữ thông thường là khác nhau
Về bản chất khái niệm, thuật ngữ có ngoại diên hẹp hơn nhưng nội hàm sâu
hơn so với từ thông thường và được biểu thị một cách chặt chẽ hơn Mặc dù cả thuật ngữ và từ thông thường đều cùng có chức năng định danh, nhưng định danh ở từ ngữ thông thường là gọi tên sự vật, chức năng định danh của thuật ngữ là gọi tên khái niệm
Về mặt sử dụng, Cabré [63] cho rằng những người sử dụng từ ngữ thông
thường là những người giao tiếp bằng ngôn ngữ đó, còn thuật ngữ được sử dụng bởi các nhà chuyên môn trong một lĩnh vực chuyên ngành cụ thể Như vậy, phạm vi sử dụng của thuật ngữ bị giới hạn trong lĩnh vực chuyên ngành đó trong đó khi từ ngữ thông thường được sử dụng trong các tình huống giao tiếp khác nhau Thuật ngữ thường được sử dụng khi đề cập đến những nội dung chuyên môn cụ thể, còn từ thông thường được sử dụng khi nói về mọi chủ đề trong cuộc sống hàng ngày, v.v …Tuy nhiên, trong một số trường hợp thuật ngữ có thể trở thành từ thông thường và từ thông thường có thể được thuật ngữ hóa Khachmafova [89] khẳng định, cách hiệu quả nhất
để bổ sung vốn từ trong từ điển là ẩn dụ hóa các từ và cụm từ thông thường Các mô hình ánh xạ trong hình thành các thuật ngữ thông qua ẩn dụ phổ biến dựa trên sự giống nhau về hình thức của đối tượng hoặc hiện tượng được đặt tên; sự giống nhau
về chức năng; ý niệm hóa sự thống nhất về những điểm tương đồng về hình thức và chức năng; sự tương đồng của cấu trúc bên trong, v.v…
Trong lĩnh vực quản trị chiến lược, chúng tôi nhận thấy nhiều từ thông thường
đã đi vào hệ thống thuật ngữ QTCL như tool (công cụ), infant (non trẻ), vision (tầm
nhìn)…Ngược lại cũng có những thuật ngữ QTCL đã đi vào ngôn ngữ toàn dân và
ngày càng trở nên quen thuộc với đời sống hàng ngày như: marketing (tiếp thị), brand
Trang 39(thương hiệu), KPI (chỉ số đo lường hiệu quả công việc)…
1.3.1.5 Khái quát về quản trị chiến lược
a Khái niệm quản trị chiến lược
Từ “chiến lược” có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự và là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “strategos", có nghĩa là phương thức để chiến thắng trong một cuộc chiến
tranh Chiến lược dần dần được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác của đời sống kinh
tế - xã hội Ngày nay, các tổ chức cũng vận dụng khái niệm chiến lược tương tự như trong quân sự Tuỳ theo từng mục đích nghiên cứu khác nhau và thời kỳ phát triển khác nhau mà các nhà kinh tế học đưa ra những quan niệm khác nhau về chiến lược
Theo Hoàng Văn Hải, thuật ngữ "chiến lược" là sự kết hợp của từ chiến, có nghĩa là chiến đấu, tranh giành và từ lược, nghĩa là mưu, tính Như vậy, “chiến lược
là những mưu tính nhằm chiến đấu và quan trọng hơn là để giành chiến thắng”[15] Johnson & Scholes [87] cho rằng “chiến lược là việc xác định phương hướng và quy
mô của một tổ chức trong dài hạn; ở đó tổ chức phải giành được lợi thế thông qua việc kết hợp các nguồn lực trong một môi trường mang tính cạnh tranh, nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường cũng như đáp ứng được kỳ vọng của các tác nhân
có liên quan đến tổ chức” Như vậy, theo ông, chiến lược có thể coi là tập hợp những quyết định quản trị và hành động hướng tới việc hoàn thành mục tiêu dài hạn thông qua việc đảm bảo thích nghi với môi trường thường xuyên thay đổi của tổ chức Vì vậy, chiến lược liên quan đến các mục tiêu dài hạn của tổ chức
Chandler [66] định nghĩa chiến lược như là “việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu” Tư tưởng chiến lược của ông thể hiện rõ, chiến lược là một quá trình hoạch định có tính sáng suốt, trong
đó doanh nghiệp lựa chọn những mục tiêu cho mình, xác định chương trình hành động và phân bổ các nguồn lực của doanh nghiệp để hoàn thành tốt nhất các mục tiêu
đó
Về quản trị chiến lược, David đã đưa ra các định nghĩa như sau: “Quản trị
Trang 40chiến lược (strategic management) là nghệ thuật và khoa học hoạch định, thực thi và
đánh giá các quyết định xuyên các chức năng nhằm giúp tổ chức có thể đạt được mục tiêu” [70, tr.5] Từ định nghĩa này có thể thấy: Hoạch định – Thực thi – Đánh giá là
ba hoạt động cơ bản của quá trình quản trị chiến lược Theo định nghĩa này, quản trị chiến lược tập trung vào việc kết nối các tích hợp quản lý, tiếp thị, tài chính/ kế toán, sản xuất/ vận hành, và hệ thống thông tin nhằm đạt hiệu quả cao trong chinh phục mục tiêu của doanh nghiệp
Theo Smith [38] thì Quản trị chiến lược là quá trình mà người ta nghiên cứu môi trường hiện tại và tương lai để hoạch định mục tiêu cho tổ chức; thực hiện và kiểm tra quá trình thực hiện nhằm đạt mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra ở cả môi trường hiện tại lẫn tương lai Quản trị chiến lược được định nghĩa là quá trình mà qua đó các doanh nghiệp xác định giá trị cần và cách làm tăng giá trị đó Đó là cách thức để đảm bảo các doanh nghiệp có thể đáp ứng vô số những nhu cầu bên trong và bên ngoài đặt
ra cho họ [28, tr.26] Ngô Kim Thanh khẳng định quản trị chiến lược doanh nghiệp
là “tổng hợp các hoạt động hoạch định, tổ chức thực hiện và kiểm tra, điều chỉnh chiến lược kinh doanh diễn ra lặp đi lặp lại theo hoặc không theo chu kỳ thời gian nhằm đảm bảo rằng doanh nghiệp luôn tận dụng được mọi cơ hội, thời cơ cũng như giảm thiểu hoặc loại bỏ các đe doạ, thách thức trên con đường thực hiện các mục tiêu của mình” [41, tr.16] Như vậy, quản trị chiến lược là hệ thống nhỏ nằm trong hệ thống lớn - hệ thống quản trị doanh nghiệp - gắn chặt với quản trị rủi ro và quản trị tác nghiệp
Chúng tôi đồng quan điểm với định nghĩa về quản trị chiến lược nêu trên của David và lấy đó làm cơ sở cho việc xác định các phạm trù nội dung ngữ nghĩa của các thuật ngữ QTCL
b Quy trình quản trị chiến lược
Quy trình quản trị chiến lược bao gồm ba giai đoạn: hoạch định chiến lược, thực thi chiến lược và kiểm tra & đánh giá chiến lược như trong Hình 1.1