1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chuyên đề truyện ngắn trước cách mạng 2 cột.DOCX

29 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 49,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Chữ người tử tù: Thấy được vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao và viên quản ngục đồng thời hiểu được quan điểm thẩm mĩ của Nguyễn Tuân qua các nhân vật này; phân tích được ng

Trang 1

- Dạy học theo nhóm, dạy học cá nhân

IV Tiến trình dạy học

1.Ổn định tổ chức lớp

2 Kiểm tra bài cũ: Kết hợp trong giờ

3.Bài mới:

Hoạt động 1: Hoạt động trải nghiệm

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội loài người, vì vậy để người khác hiểu ta phải dùng ngôn ngữ để giao tiếp Tuy nhiên nói sao cho hay, cho đúng để người khác hiểu thì ta cần phải đặt vào ngữ cảnh nhất định Vậy ngữ cảnh là gì? Ta tìm hiểu bài mới.

Hoạt động 2: Hoạt động hình thành

kiến thức mới

B1 GV chuyển giao nhiệm vụ

HS đọc mục I SGK và trả lời câu hỏi.

- Câu nói in đậm trong đoạn trích trên là

của ai nois với ai ?( nhân vật giao tiếp)

- Câu nói đó vào lúc nào ở đâu ? (hoàn

cảnh giao tiếp hẹp)

- Câu nói đó diễn ra trong hoàn cảnh xã

hội nào ? (hoàn cảnh giao tiếp rộng)

- Theo em hiểu một cách đơn giản thì

ngữ cảnh là gì?

B2 HS thực hiện nhiệm vụ

HS suy nghĩ, tìm câu trả lời

B3 HS báo cáo kết quả thực hiện

I Tìm hiểu bài

1 Khái niệm ngữ cảnh

a Tìm hiểu ngữ liệu

- Củ chị Tí- người bán hàng nước với người bạn nghèo của chị : chị em Liên ; bác siêu ; bác xẩm.

- Câu nói đó ở phố huyện lúc tối khi mọi người chờ khách

- Câu nói đó diễn ra trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng Tám.

b Kết luận

- Ngữ cảnh là bối cảnh ngôn ngữ mà ở đosanr phẩm ngôn ngữ(văn bản)được tạo ra trong hoạt động giao tiếp, đồng thời là bối cảnh cần dựa vào để lĩnh hội thấu đáo sản phẩm ngôn ngữ đó.

Trang 2

nhiệm vụ

HS trình bày câu trả lời

B4 GV đánh giá, chuẩn hóa kiến thức

B1 GV chuyển giao nhiệm vụ

HS đọc mục II SGK và trả lời câu hỏi.

- Theo em để thực hiện được giao tiếp

chúng ta cần phải có những yếu tố nào?

- Thế nào là nhân vật giao tiếp ?

- Bối cảnh ngoài ngôn ngữ bao gồm

những yế tố nào ? Thế nào là bối cảnh

giao tiếp hẹp, bối cảnh giao tiếp rộng và

hiện thực được nói đến ? Cho ví dụ

minh họa ?

- Thế nào là văn cảnh ?

- Các yếu tố của ngữ cảnh có mối quan

hệ với nhau như thế nào?

B2 HS thực hiện nhiệm vụ

HS suy nghĩ, tìm câu trả lời

B3 HS báo cáo kết quả thực hiện

nhiệm vụ

HS trình bày câu trả lời

B4 GV đánh giá, chuẩn hóa kiến thức

HS đọc mục III SGK và trả lời câu hỏi.

- Ngữ cảnh có vai trò như thế nào đối

với việc sản sinh và lĩnh hội văn bản?

HS đọc ghi nhớ SGk

Hoạt động 3: Hoạt động thực hành

Luyện tập

Trao đổi, thảo luận nhóm: 5 phút.

Đại diện nhóm trình bày.

a Nhân vật giao tiếp

- Gồm tất cả các nhân vật tham gia giao tiếp: người nói (viết ), người nghe ( đọc).

+ Một người nói - một người nghe: Song thoại + Nhiều người nói luân phiên vai nhau: Hội thoại

+ Người nói và nghe đều có một "vai" nhất định, đều có đặc điểm khác nhau về lứa tuổi, nghề nghiệp, cá tính, địa vị xã hội, -> chi phối việc lĩnh hội lời nói.

b Bối cảnh ngoài ngôn ngữ

- Bối cảnh giao tiếp rộng ( còn gọi là bối cảnh văn hóa): Bối cảnh xã hội, lịch sử, địa lý, phong tục tập quán, chính trị ở bên ngoài ngôn ngữ.

- Bối cảnh giao tiếp hẹp ( còn gọi là bối cảnh tình huống): Đó là thời gian, địa điểm cụ thể, tình huống cụ thể.

- Hiện thực được nói tới( gồm hiện thực bên ngoài và hiện thực bên trong của các nhân vật giao tiếp): Gồm các sự kiện, biến cố, sự việc, hoạt động diễn ra trong thực tế và các trạng thái, tâm trạng, tình cảm của con người.

c Văn cảnh.

- Bao gốm tất cả các yếu tố ngôn ngữ cùng có mặt trong văn bản, đi trước hoặc sau một yếu tố ngôn ngữ nào đó Văn cảnh có ở dạng ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói.

3 Vai trò của ngữ cảnh

- Đối với người nói ( viết ) và quá trình tạo lập văn bản: Ngữ cảnh là cơ sở cho việc lựa chọn nội dung cách thức giao tiếp và phương tiện ngôn ngữ(từ, ngữ, câu )

- Đối với người nghe( đọc ) và quá trình lĩnh hội văn bản: Ngữ cảnh là căn cứ để lĩnh hội, phân tích, đánh giá nội dung, hình thức của văn bản

4 Ghi nhớ Ghi nhớ SGK

II Luyện tập.

- Bài tập 1 Hai câu văn trong " Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc", xuất phát từ bối cảnh: Tin tức về kẻ địch có từ mấy tháng nay nhưng chưa có lệnh quan Trong khi chờ đợi người nông dân thấy chướng tai, gai mắt trước hành vi bạo ngược của

kẻ thù.

Trang 3

Bài tập yêu cầu Bài tập 5 Bối cảnh giao

tiếp: Trên đường đi, hai người không

quen biết nhau Câu hỏi đó người hỏi

muốn biết về thời gian Mục đích: Cần

biết thông tin về thời gian, để tính toán

cho công việc riêng của mình.

- Bài tập 2 Hai câu thơ trong bài "Tự tình" (bài

II) của Hồ Xuân Hương: "Đêm khuya văng vẳng trơ cái hồng nhan " Hiện thực được

nói tới là hiện thực bên trong, tức là tâm trạng ngậm ngùi, bẽ bàng, chua xót của nhân vật trữ tình.

- Bài tập 4 Hoàn cảnh sáng tác chính là ngữ cảnh của các câu thơ trong bài "Vịnh khoa thi Hương"(Tú Xương ): Sự kiện năm Đinh Dậu, thực dân Pháp mở khoa thi chung ở Nam Định Trong kỳ thi đó có toàn quyền Pháp ở Đông Dương và vợ đến dự.

Hoạt động 5: Hoạt động mở rộng, tìm tòi

Chỉ ra tầm quan trọng của văn cảnh trong việc phân tích văn bản văn học

4 Củng cố: Hệ thống kiến thức vừa học, nhấn mạnh trọng tâm bài học.

5 Hướng dẫn về nhà: Tự ôn tập theo hướng dẫn Chuẩn bị bài mới Chữ người tử tù (Nguyễn

Tuân).

Trang 4

1 Qua bài học, giúp HS thấy được những đặc điểm của văn học lãng mạn trước năm 1945 và

phong cách nghệ thuật của Thạch Lam, Nguyễn Tuân

2 Qua hoạt động nghiên cứu các văn bản, giúp học sinh hình thành một số kiến thức và kỹ

năng sau:

* Đọc

+ Hai đứa trẻ : Thấy được bức tranh cuộc sống của phố huyện và tâm trạng của hai đứa trẻ Từ

đó hiểu được tấm lòng thương cảm sâu xa của tác giả đối với những kiếp sống tối tăm mòn mỏi trong xã hội cũ và vẻ đẹp bình dị nên thơ của bức tranh chiều quê; Phân tích nét tinh tế trong nghệ thuật tả cảnh của Thạch Lam.

+ Chữ người tử tù: Thấy được vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao và viên quản ngục

đồng thời hiểu được quan điểm thẩm mĩ của Nguyễn Tuân qua các nhân vật này; phân tích được nghệ thuật của thiên truyện: tình huống truyện độc đáo, tạo không khí cổ xưa, thủ pháp đối lập, ngôn ngữ giàu tính tạo hình, có nhịp điệu.

+ Nhận biết và phân tích được một số đặc trưng của thể loại văn bản

*Viết

- Biết cách nghị luận về một vấn đề đặt ra trong văn bản.

*Nói và Nghe

- Nói

+ Biết trình bày ý kiến một cách trôi chảy, rõ ràng.

+ Biết sử dụng kết hợp ngôn ngữ và các phương tiện phi ngôn ngữ để trình bày ý kiến, quan điểm một cách rõ ràng, hấp dẫn.

- Nghe

+ Nắm bắt được nội dung thuyết trình và quan điểm của người nói

+ Nhận xét và đánh giá được về nội dung và cách thức thuyết trình

+ Biết đặt câu hỏi về những điều cần làm rõ

II PHÂN PHỐI THỜI LƯỢNG CÁC BÀI HỌC

III PHƯƠNG TIỆN VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC

1 Phương tiện dạy học

- Máy tính/điện thoại có kết nối internet, máy chiếu, bộ loa.

- Bài soạn (gồm văn bản dạy học để dưới dạng in hoặc dạng điện tử; các hoạt

động được thiết kế để tổ chức cho học sinh).

- Văn bản dạy học: Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù trong SGK ngữ văn 11

- Tranh, ảnh

- Giấy khổ lớn

- Phiếu học tập

2 Hình thức tổ chức dạy học

Trang 5

YÊU CẦU CẦN ĐẠT

VÀ KẾT QUẢ DỰ KIẾN Khởi động

* Kết quả cần đạt:

Huy động những tri thức cần thiết liên

quan đến văn bản đọc hiểu

* Kết quả dự kiến:

- Hai văn bản thuộc khuynh hướng văn

học lãng mạn hiện đại với những đặc

điểm giống nhau về nghệ thuật

GV Dẫn dắt vào bài:

- Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 chia thành hai bộ phận: bộ phận văn học công khai và bộ phận văn học không công khai Trong bộ phận văn học công khai, có sự phân chia thành hai xu hướng: xu hướng văn học lãng mạn, xu hướng văn học hiện thực

- Xu hướng văn học lãng mạn có sự góp mặt của nhiều cây bút tài năng với bút lực dồi dào như Thạch Lam, Nguyễn Tuân… Sự thành công của hai tác phẩm: Hai đứa trẻ của Thạch Lam và Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân đã làm nên tên tuổi của hai nhà văn lãng mạn trước Cách mạng tháng Tám Nếu Thạch Lam chủ động đi sâu vào khai thác thế giới nội tâm con người thì Nguyễn Tuân lại hướng tới những vẻ đẹp của một thời xa vắng nay chỉ còn vang bóng.

Đọc (Hoạt động hình thành kiến thức mới) Hoạt động 1: Tác giả Thạch Lam và

tác phẩm Hai đứa trẻ, tác giả Nguyễn

1 Tác giả Thạch Lam và tác phẩm Hai đứa trẻ

- Tác giả Thạch Lam (1910 – 1942) + Tên khai sinh: Nguyễn Tường Vinh (sau

Trang 6

Nhóm 2: Trình bày những nét cơ bản về

tác giả Nguyễn Tuân ?

Nhóm 3: Trình bày hiểu biết về tác

phẩm Hai đứa trẻ ?

Nhóm 4: Trình bày hiểu biết về tác

phẩm Chữ người tử tù ?

• Bước 2: Học sinh thực hiện

- Nhóm trưởng phân công công việc

cho từng thành viên

- Đọc phần tiểu dẫn trong sách giáo

khoa và tìm thông tin

- Trình bày sảm phẩm vào bảng phụ,

giấy

• Bước 3: Học sinh báo cáo

- Cử người trong nhóm trình bày kết

quả làm việc của nhóm.

- Sử dụng bảng phụ, giấy

• Bước 4 Giáo viên nhận xét,

đánh giá, chính xác hóa kiến thức

Nhận xét về quá trình thực hiện nhiệm

vụ học tập của học sinh Đánh giá kết

quả thực hiện nhiệm vụ và những ý

kiến thảo luận của học sinh Chính xác

hóa kiến thức:

đổi thành Nguyễn Tường Lân) + Là em ruột hai nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo và cả ba người đều là thành viên của Tự lực văn đoàn.

+ Thuở nhỏ, sống ở quê ngoại – phố huyện Cẩm Giàng, Hải Dương Đây là một phố huyện nghèo, có một cái chợ và một ga xép đêm đêm có một chuyến tàu chạy qua Phố huyện quê ngoại, sau này trở thành không gian nghệ thuật cho nhiều sáng tác của nhà văn

+ Là người đôn hậu, điềm đạm và rất đỗi tinh tế

+ Có biệt tài về truyện ngắn-truyện không

có chuyện, chủ yếu khai thác thế giới nội tâm nhân vật Mỗi truyện như một bài thơ trữ tình đượm buồn.

- Tác phẩm Hai đứa trẻ + Hai đứa trẻ in lần đầu trên báo Ngày nay (số ra ngày 7/8/1938), sau được đưa vào tập truyện ngắn Nắng trong vườn (NXB Đời nay, Hà Nội, 1938)

+ Là một truyện ngắn đặc sắc Tiêu biểu cho phong cách truyện ngắn Thạch Lam.

2 Tác giả Nguyễn Tuân và tác phẩm Chữ người tử tù

- Tác giả Nguyễn Tuân + Nguyễn Tuân (1910-1987) sinh ra trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đã tàn Cha Nguyễn Tuân là cụ Nguyễn An Lan – một nhà nho tài hoa nhưng xuất thân khi Hán học đã tàn nê cụ tú Lan mang tâm lí bất đắc chí, bất lực và bất mãn trước thời cuộc Sinh ra trong một gia đình như thế, Nguyễn Tuân không chỉ chịu ảnh hưởng từ người cha về cá tính mà cũng yêu tài hoa, yêu cái đẹp lại có điều kiện “gắn bó với những lớp người của thời xưa và những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc” (Nguyễn Đăng Mạnh).

+ Quê ở làng Mọc, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội + Năm 1945, Nguyễn Tuân đến với Cách mạng và dùng ngòi bút phục vụ hai cuộc kháng chiến của dân tộc

+ Nguyễn Tuân là một người rất mực tài

Trang 7

hoa, uyên bác Nhà văn am hiểu sâu sắc nhiều lĩnh vực đời sống, đặc biệt là các môn nghệ thuật: hội họa, điêu khắc, điện ảnh, sân khấu…Ông thường quan sát sự vật ở góc độ văn hóa thẩm mĩ và miêu tả con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn, một nghệ

sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp; là cây bút có phong cách nghệ thuật độc đáo, sở trường

về thể loại tùy bút.

- Tác phẩm Chữ người tử tù + Chữ người tử tù, ban đầu có tên là Dòng chữ cuối cùng Đây là một truyện ngắn đặc sắc trong Vang bóng một thời, xuất bản năm 1940

+ Chữ người tử tù in trong Vang bóng một thời Vang bóng một thời, xuất bản năm

1940, gồm 11 truyện ngắn viết về một thời đã qua nay chỉ còn vang bóng Nhân vật trong tác phẩm chủ yếu là những nho sĩ cuối mùa, tuy buông xuôi bất lực nhưng quyết giữ thiên lương và sự trong sạch của tâm hồn bằng cách thực hiện cái đạo sống của người tài tử.

Mỗi truyện dường như đi vào một cái tài, một thú chơi tao nhã, phong lưu của những nhà nho tài hoa lỡ vận: chơi chữ, thưởng thức chén trà buổi sớm, làm một chiếc đèn trung thu…

Qua tập truyện này, nhà văn không chỉ thể hiện sự nuối tiếc vẻ đẹp của một thời quá vãng mà còn bộc lội niềm trân trọng và tự hào về truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc.

Hoạt động 2: Bức tranh thiên nhiên

đẹp, thê lương mang tính biểu tượng

Bước 1: Giáo viên chuyển giao

nhiệm vụ

Nhóm 1: Vẻ đẹp của bức tranh thiên

nhiên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của

Thạch Lam?

Nhóm 2: Bức tranh thiên nhiên trong

Hai đứa trẻ có tính biểu tượng không?

Nếu có hãy nêu ý nghĩa biểu tượng đó?

Nhóm 3: Vẻ thê lương của bức tranh

thiên nhiên trong truyện ngắn Chữ

2 Bức tranh thiên nhiên đẹp, thê lương mang tính biểu tượng

a Bức tranh thiên nhiên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

- Thiên nhiên phố huyện lúc chiều tàn mang vẻ đẹp mộc mạc, yên ả của làng quê + Thiên nhiên lúc chiều tàn được xây dựng bằng những nét vẽ nhiều màu sắc, hình khối xen lẫn với những âm thanh đều đặn.

“Phương tây đỏ rực như lửa cháy” tạo nền cho toàn bộ cảnh chiều quê Cảnh đậm chất thơ, gợi nhớ đến câu thơ của Bà huyện

Trang 8

người tử tù của Nguyễn Tuân?

Nhóm 4: Bức tranh thiên nhiên trong

Chữ người tử tù có tính biểu tượng

không? Nếu có, hãy nêu ý nghĩa biểu

tượng đó?

• Bước 2: Học sinh thực hiện

- Trưởng nhóm phân công công việc

cho từng thành viên

- Đọc văn bản và tìm những chi tiết tạo

nên bức tranh thiên nhiên trong hai tác

phẩm

- Trình bày sản phẩm vào bảng phụ,

giấy

• Bước 3: Học sinh báo cáo

- Cử người trong nhóm trình bày kết

quả làm việc của nhóm.

- Sử dụng bảng phụ, giấy

• Bước 4 Giáo viên nhận xét,

đánh giá, chính xác hóa kiến thức

Nhận xét về quá trình thực hiện nhiệm

vụ học tập của học sinh Đánh giá kết

quả thực hiện nhiệm vụ và những ý

kiến thảo luận của học sinh Chính xác

Tiếng ếch nhái kêu ran ngoài ruộng, tiếng muỗi vo ve gợi sự êm đềm, yên ả của phố huyện nhỏ buổi chiều Những âm thanh đều đặn ấy, tô điểm thêm vẻ đẹp nên thơ của buổi hoàng hôn nhưng cũng mang đến nỗi buồn man mác.

- Thiên nhiên phố huyện khi đêm xuống gợi sự êm đềm, tĩnh lặng của quê hương + Bức tranh thiên nhiên với sự xuất hiện chủ yếu của bóng tối Bóng tối bao trùm khắp không gian: “đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối”, “tối hết cả con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa” Bóng tối luôn gợi lên sự tĩnh lặng và êm ả như nhung.

+ Trong bóng tối bao trùm phố huyện nhỏ

là những ánh sáng chập chờn của “đom đóm bay trên mặt đất” và sánh sáng nhấp nháy của những vì sao Ánh sáng của đom đóm hay ánh sáng của những vì sao đều có thể tìm thấy ở bất cứ miền quê nào.

- Thiên nhiên mang tính biểu tượng + Thiên nhiên lúc chiều tàn với sự di chuyển góc nhìn từ xa “phương tây đỏ rực như lửa cháy”, “những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn” đến gần “dãy tre làng trước mặt đen lại” Đây không chỉ là sự vận động của thời gian, sự vận động của ánh sáng mà còn là sự vận động của những kiếp người nhỏ bé nơi ga xép phố huyện.

Họ giống như thứ ánh sáng đỏ rực phương tây kia, sẽ dần dần tàn lụi.

+ Thiên nhiên lúc đêm xuống với bóng tối bao trùm Bóng tối là biểu tượng cho cuộc sống không có tương lai ngày mai, cho ao đời phẳng lặng Trong cái ao đời đó, số phận những con người trở nên nhỏ nhoi,

Trang 9

yếu ớt như ánh sáng của những con đom đóm, những vì sao.

b Bức tranh thiên nhiên trong Chữ người

tử tù của Nguyễn Tuân

- Thiên nhiên thanh bình nhưng thê lương + Sự thanh bình của thiên nhiên được gợi

ra từ những âm thanh quen thuộc và bình dị thường ngày: tiếng trống “thu không”,

“tiếng kiểng và mõ đều đặn, thưa thớt”,

“tiếng chó suả ma”

+ Tất cả những âm thanh quen thuộc tạo nên một bản hòa âm hỗn tạp, thê lương + Bức tranh thiên nhiên được tô điểm bởi thứ ánh sáng nhỏ bé của những vì tinh tú

“lốm đốm”, và ánh sáng “nhấp nháy” từ vì sao Hôm đang muốn “trụt xuống phía chân trời” Ánh sáng từ những vì sao không tỏa rạng cả bức tranh thiên nhiên bởi chỉ là những ánh sáng nhỏ bé lốm đốm, nhưng nó lại mang đến một nỗi buồn thê thiết chính từ sự nhỏ bé, lốm đốm ấy.

- Thiên nhiên mang tính biểu tượng Bản hòa âm hỗn tạp của những âm thanh nơi tỉnh Sơn biểu tượng cho cuộc sống đầy phức tạp và tầm thường nơi nhà giam mà rộng hơn là toàn xã hội Ánh sáng nhấp nháy từ vì sao Hôm là biểu tượng cho sự thuần khiết, cao đẹp.

Hoạt động 3: Sự bế tắc trước thực tại

của các nhà văn trong xu hướng lãng

mạn của bộ phận văn học công khai

trong văn học Việt Nam trước Cách

mạng tháng Tám năm 1945

Bước 1: Giáo viên chuyển giao

nhiệm vụ

Văn học trước Cách mạng tháng Tám

năm 1945 chia thành hai bộ phận: bộ

phận công khai và bộ phận không công

khai Trong bộ phận không công khai,

văn học chia thành hai xu hướng: xu

hướng văn học lãng mạn và xu hướng

văn học hiện thực Hầu hết các nhà văn

trước Cách mạng đều bế tắc trước thực

tại đương thời Sự bế tắc trước thực tại

khiến nhà văn đào sâu vào thế giới nội

tâm hoặc hoài niệm về thời xa vắng

3 Sự bế tắc trước thực tại của các nhà văn trong xu hướng lãng mạn của bộ phận văn học công khai trong văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

a Tâm trạng của nhân vật Liên

- Tâm trạng của Liên trước cảnh chiều tàn

và những kiếp người tàn tạ + Nỗi buồn trước cảnh ngày tàn:

Âm thanh đều đều trong không gian vắng lặng, buồn bã: tiếng trống thu không, tiếng ếch nhái văng vẳng, tiếng muỗi vo ve Cảnh vật với màu sắc gợi sự tàn lụi

“phương tây đỏ rực như lửa cháy, và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình

rõ rệt trên nền trời”

Liên không chỉ buồn bởi ngày tàn mà còn

Trang 10

Nhóm 1: Trong Hai đứa trẻ, tâm trạng

Liên trước cảnh ngày tàn và những kiếp

người tàn tạ như thế nào ?

Nhóm 2: Trong Hai đứa trẻ , tâm trạng

Liên ra sao khi đêm về?

Nhóm 3: Mỗi truyện trong vang bóng

một thời, dường như đi vào một cái tài,

một thú chơi tao nhã, phong lưu của

những nhà nho lỡ vận Vậy trong Chữ

người tử tù, Nguyễn Tuân viết về vẻ

đẹp nào? Phân tích vẻ đẹp ấy ở nhân

vật Huấn Cao?

Nhóm 4: Mỗi truyện trong Vang bóng

một thời đều viết vể một vẻ đẹp nay chỉ

còn vang bóng Đó không chỉ là vẻ đẹp

của thú chơi, cái tài mà còn là vẻ đẹp

của con người Phân tích vẻ đẹp của khí

phách và thiên lương của Huấn Cao

trong Chữ người tử tù của Nguyễn

Tuân?

• Bước 2: Học sinh thực hiện

- Trưởng nhóm phân công công việc

cho từng thành viên

- Đọc văn bản Hai đứa trẻ và tìm ra

những chi tiết miêu tả tâm trạng Liên.

- Đọc văn bản Chữ người tử tù và tìm

ra nét đẹp mà Nguyễn Tuân ngợi ca.

Tìm thông tin về nét đẹp đó

- Đọc tập truyện Vang bóng một thời,

các tài liệu có liên quan để tìm ra

những vẻ đẹp được Nguyễn Tuân đề

cao.

- Trình bày sản phẩm ra bảng phụ, giấy

• Bước 3: Học sinh báo cáo

- Cử thành viên của nhóm báo cáo kết

quả làm việc

- Sử dụng bảng phụ, giấy

• Bước 4 Giáo viên nhận xét,

đánh giá, chính xác hóa kiến thức

Nhận xét về quá trình thực hiện nhiệm

vụ học tập của học sinh Đánh giá kết

quả thực hiện nhiệm vụ và những ý

kiến thảo luận của học sinh Chính xác

Nỗi buồn thương, đồng cảm với “mấy đứa trẻ con nhà nghèo ven chợ” Liên động lòng thương nhưng lại không có gì để cho chúng.

- Tâm trạng của nhân vật Liên khi đêm về + Lòng trắc ẩn, niềm cảm thương sâu sắc của Liên khi chứng kiến những kiếp người tàn Cuộc sống mòn mỏi, bế tắc bao trùm lên những kiếp người trong bóng tối phố huyện.

Mẹ con chị Tí bán hàng nước chỉ bán được cho một vài người mà lại phụ thuộc vào sự cao hứng của họ.

Gánh phở bác Siêu là món quà xa xỉ ở phố huyện bởi thế đâu mấy ai đủ tiền mua Gia đình bác Xẩm với manh chiếu và cái thau trắng không có khách.

Bà cụ Thi điên với tiếng cười khanh khách khi bước đi lảo đảo giữa màn đêm

+ Nỗi buồn khắc khoải khi đoàn tàu đêm đến rồi đi

Liên chờ tàu trong niềm mong mỏi, thiết tha

Lien đón tàu trong niềm háo hức, say mê, hân hoan, hạnh phúc

Khi đoàn tàu đi qua, Liên bâng khuâng nuối tiếc Cô khắc khoải một điều gì đó xa xôi, một khát vọng nhỏ nhoi.

b Vẻ đẹp của một thời vang bóng trong Chữ người tử tù

- Vẻ đẹp một thời vang bóng được nhắc đến trong chữ người tử tù là thú chơi chữ thư pháp Nghệ thuật thư pháp là nghệ thuật viết chữ đẹp Chữ ở đây thông thường là chũ Hán Đây là kiểu chữ khối vuông, được viết bằng bút lông, nên có nét đậm, nét nhạt, vừa mềm mại, vừa sắc sảo, rắn rỏi, chẳng những có tính chất tạo hình

mà còn ít nhiều mang dấu ấn cá tính, nhân

Trang 11

cách người viết Bốn kiểu chữ Hán: Chân, thảo, triện, lệ đều có yêu cầu thẩm mĩ riêng Từ xưa, ở Trung Quốc và Việt Nam, người ta đã biết thưởng thức chữ đẹp và cái thú chơi chữ Người viết chữ đẹp trở thành nghệ sĩ và viết chữ là một hành vi sáng tạo nghệ thuật Những bức lụa, phiến gỗ tờ giấy… có chữ đẹp là những tác phẩm mĩ thuật Bộ môn nghệ thuật viết chữ đẹp gọi

là thư pháp Đây là thứ nghệ thuật cao cấp dành riêng cho tao nhân mặc khách, có văn hóa và năng khiếu thẩm mĩ, biết thưởng thức cái đẹp và cái sâu của nghĩa.

Nguyễn Tuân xây dựng hình tượng Huấn Cao không chỉ là một người tài khí phách hiên ngang mà còn là người nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật thư pháp Miêu tả về tài viết chữ của Huấn Cao, Nguyễn Tuân không trực tiếp miêu tả mà gián tiếp miêu

tả thông qua lời khen của “người vùng tỉnh Sơn” và thông qua lời khen của quản ngục

“chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm” Cách miêu tả gián tiếp về tài viết chữ của Huấn Cao, tạo được niềm tin nơi người đọc

về những nét chữ đẹp đẽ bởi đó không phải

là lời nhận định chủ quan của tác giả.

Nét chữ đẹp của Huấn Cao là niềm khao khát của quản ngục Cả đời quản ngục chỉ mong mỏi có được chữ Huấn Cao để treo trong nhà bởi có được chữ Huấn Cao là

“có một vật báu trên đời”.

- Vẻ đẹp của khí phách, thiên lương của Huấn Cao

+ Vẻ đẹp khí phách

Ông chọn con đường dấn thân vì nghĩa lớn

và cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình Hoài bão không thành nhưng nó đã biểu hiện dũng khí lớn của một bậc đại anh hùng

Một tử tù chỉ đợi ngày chết chém mà vẫn không hề tỏ ra nao núng, vẫn ung dung đường hoàng Sự hiên ngang, khí phách của Huấn Cao được làm nổi rõ trong quan

hệ với lính áp giải tù và viên Quảng ngục Viên quan coi tù này hoàn toàn có quền dùng những thủ đoạn tàn bạo đối với Huấn

Trang 12

Cao nhưng ông không sợ mà còn tỏ ra kinh bạc đến điều.

+ Vẻ đẹp của thiên lương.

Huấn Cao không phải là người có trái tim bằng thép Tiền bạc và quyền thế không lung lạc được ông “ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ” Với Huấn Cao, cái đẹp được được đặt lên trên tiền bạc và quyền thế.

Khi tưởng rằng quản ngục trong cái trại giam này cũng giống như mọi tên quản ngục khác, nghĩa là kẻ đại diện cho sự thô bạo của quyền lực phi nghĩa thì ông tỏ ra hết sức cứng rắn Nhưng khi hiểu rằng, tấm lòng quản ngục thực sự là “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ” thì Huấn Cao cảm cái tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” của quản ngục, tự trách mình “thiếu chút nữa đã phụ mât một tấm lòng trong thiên hạ” cũng biết yêu cái đẹp.

Hoạt động 4: Nghệ thuật đối lập

trong truyện ngắn Hai đứa trẻ và

trong truyện ngắn Chữ người tử tù

Bước 1: Giáo viên chuyển giao

nhiệm vụ

Nhóm 1, 2: Nghệ thuật đối lập trong

truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

và hiệu quả nghệ thuật của nó?

Nhóm 3, 4: Nghệ thuật đối lập trong

truyện ngắn Chữ người tử tù của

Nguyễn Tuân và hiệu quả nghệ thuật

của nó?

• Bước 2: Học sinh thực hiện

- Trưởng nhóm phân công công việc

cho từng thành viên

- Đọc văn bản Hai đứa trẻ, Chữ người

tử tù tìm những chi tiết thể hiện sự đối

lập

- Trình bày sản phẩm hoạt động vào

bảng phụ, giấy

• Bước 3: Học sinh báo cáo

- Cử người trong nhóm trình bày sản

phẩm hoạt động của nhóm

- Sử dụng bảng phụ

4 Nghệ thuật đối lập trong truyện ngắn Hai đứa trẻ và trong truyện ngắn Chữ người tử tù

* Nghệ thuật đối lập trong Hai đứa trẻ của Thạch Lam

- Cảnh thiên nhiên lúc chiều tàn Sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối “Ánh sáng của phương tây đỏ rực như lửa cháy”, ánh sáng của “những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn” đối lập với dãy tre làng trước mặt đen kịt lại, cắt hình rõ rệt trên nền trời Đó không chỉ là sự đối lập giữa xa và gần, cao và thấp mà còn là đối lập giữa ánh sáng và bóng tối Sự đối lập này gợi ra không gian cuộc sống tù đọng ở phố huyện nghèo Một cuộc sống náo nhiệt hơn, ồn ã hơn có lẽ ở tít phương trời xa xôi

mà người ta chẳng thể vươn tới, còn cuộc sống hiện tại chìm trong tù đọng, tối tăm.

- Cảnh phố huyện lúc đêm về Sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối được

tô đậm Bóng tối mênh mông bao trùm đối lập với những thứ ánh sáng nhỏ bé khác nhau Bóng tối biểu tượng cho cuộc sống

Trang 13

• Bước 4 Giáo viên nhận xét,

đánh giá, chính xác hóa kiến thức

trong ao đời tù đọng đầy bế tắc Đó là ánh sáng của những “khe ánh sáng” hắt ra từ cửa những ngôi nhà, ánh sáng của “hàng ngàn ngôi sao lấp ánh”, những “vệt sáng của những con đom đóm”, ngọn đèn của chị Tí, ngọn đèn của Liên, ngọn lửa của bác Siêu, ánh sáng của đèn ghi Những ánh sáng đó biểu tượng cho những số phận con người sống lay lắt trong phố huyện nghèo.

Sử dụng nghệ thuật đối lập, Thạch Lam làm nổi bật những kiếp sống đáng thương trong ga xép phố huyện Họ sống mà không rõ tương lai Họ sống trong bế tắc.

* Nghệ thuật đối lập trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân

-Cảnh thiên nhiên Thiên nhiên buổi chiều được vẽ bởi những

âm thanh hỗn tạp Đó là âm thanh của tiếng trống thu không, tiếng kiểng và mõ đều đặn thưa thớt, tiếng chó sủa ma Tất của những âm thanh phức tạp đó vang lên trên mặt đất chúng đối lập với ánh sáng của những vì sao lốm đốm trên trời mà nhất là ngôi sao Hôm Đó là sự đối lập giữa mặt đất và bầu trời, giữa âm thanh và ánh sáng.

Sử dụng bút pháp đối lập kết hợp với biểu tượng, Nguyễn Tuân làm nổi bật vẻ đẹp của Huấn Cao Tài viết chữ, khí phách hiên ngang, thiên lương trong sáng khiến Huấn Cao như thoát ra khỏi thế giới đầy những xấu xa, hỗn loạn Hình tượng Huấn Cao dường như mang bóng dáng của Cao Chu Thần năm nào.

- Cảnh cho chữ Cảnh cho chữ là cảnh xưa nay chưa từng

có, được Nguyễn Tuân dụng công miêu tả bằng bút pháp đối lập truyên nhiều bình diện Thông qua nghệ thuật đối lập, Nguyễn Tuân đã dựng lên bức tượng đài Huấn Cao rất mực tài hoa, tràn đầy khí phách anh hùng; bên cạnh đó Nguyễn Tuân cũng ngợi ca cái đẹp Cái đẹp thoát thai từ tăm tối, cái đẹp sinh ra ngay từ sự phàm tục nhưng vẫn ngời sáng, tuyệt mĩ.

+ Người cho chữ và người xin chữ

Về mặt xã hội, họ là kẻ thù của nhau bởi

Trang 14

một người cầm đầu quân chống lại triều đình, một người trông giữ những tủ tù của triều đinh ấy Nhưng giữa hai con người tưởng chừng như khác biệt hoàn toàn đó lại

là tri kỉ của nhau với tấm lòng cùng hướng

về cái đẹp.

Về thẩm mĩ Người xin chữ là một viên quan coi ngục, kẻ không chỉ có nhiệm vụ trông giữ tù nhân mà còn giáo huấn tù nhân hướng về cái đẹp Người cho chữ là người tử tù sở hữu cái đẹp, sáng tạo cái đẹp

và ban phát cái đẹp cho kẻ lẽ ra thuộc về cái đẹp.

Về tâm thế, tư thế: Người cho chữ là tử tù nhưng ung dung đầy khí phách dù “cổ đeo gông, chân vướng xiềng” nhưng vẫn dậm

tô nét chữ trên vuông lụa trắng tinh Người xin chữ là ngục quan có trong tay quyền lực tối cao trong nhà giam của y nhưng đầy khúm núm nhũn nhặn cúi đầu trước những dòng chữ thể hiện hoài bão tung hoành cả đời của tên tử tù.

+ Không gian Sự đối lập giữa bóng tối và ánh sáng Bóng tối của buồng giam và ánh sáng của ngọn đuốc

Sự đối lập giữa căn buồng giam “chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián” và bức lụa trắng tinh cùng thoi mực thơm.

Viết (Hoạt động vận dụng)

B1 GV chuyển giao nhiệm vụ

- Yêu cầu HS trình bày câu trả lời ra

- Giá trị hiện thực + Thạch Lam đã miêu tả đời sống của một phố huyện nghèo bằng nhiều chi tiết chân thực, đầy xúc cảm và thấm đượm chất thơ.

Ý nghĩa tư tưởng của truyện toát lên từ bức tranh của đời sống phố huyện nghèo nàn và đơn điệu đó.

Bức tranh chung về phố huyện: một bãi chợ trống trải “khi chợ đã vãn từ lâu…”,

“trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị,

Ngày đăng: 08/11/2020, 08:32

w