hậu mã quân thúc trực”, nhà “đại đường”, “quyền bổng”, “gác tía” với kiệu son, võng nghi lộng lẫy.Trong không gian rộng lớn ấy, từ những chiếc cột chođến những mâm bát chén cũng đều như
Trang 1MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Trang 2Bạn đọc đang cầm trên tay cuốn Tài liệu ngữ văn 11 Đây là cuốn tài liệu được chúng tôi biên soạn
nhằm mục đích giảng dạy bộ môn Ngữ Văn 11 theochương trình THPT hiện hành Với mục đích đó, cuốntài liệu của chúng tôi hướng đến độc giả chủ yếu là Họcsinh, Giáo viên và các Bạn đọc yêu văn học
Chương trình Ngữ Văn 11 bao gồm các phânmôn: Tiếng Việt, Văn học, Làm Văn Để thuận tiện choviệc biên soạn và đạt hiệu quả cao trong sử dụng chúngtôi tập trung vào phân môn Văn học Bên cạnh đó,chúng tôi biên soạn phần Đề tổng hợp, đề đọc hiểu đểbạn đọc sử dụng kiến thức của phần Tiếng Việt và Làmvăn
Trong quá trình biên soạn cuốn sách, chúng tôi
có tham khảo một số tài liệu có liên quan
Do cuốn sách được biên soạn trong thời gianngắn nên chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Chúngtôi rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của các emHọc sinh, Đồng nghiệp và Bạn đọc gần xa
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giảHƯỚNG DẪN SỬ DỤNG
“Tài liệu Ngữ văn 11” của chúng tôi được cấu trúc thành hai phần:
Trang 3- Phần Văn bản và Đọc hiểu văn bản;
- Phần Đề tổng hợp - Luyện tập.
Trong phần Văn bản và Đọc hiểu văn bản, chúng tôi đưa ra kiến thức về một số văn bản quan trọng chương trình ngữ văn 11 nhằm tạo nguồn tham khảo cho bạn đọc Để giúp bạn đọc dễ ghi nhớ, chúng tôi gạch chân một số ý quan trọng Sau mỗi bài học, chúng tôi tạo không gian để bạn đọc có thể ghi lại những cảm nhận riêng hay những ý nghĩ độc đáo nảy sinh trong quá trình đọc tài liệu
Trong phần Đề tổng hợp - Luyện tập, chúng tôi cung cấp một số dạng đề để bạn đọc luyện tập Phần đáp án, chúng tôi cung cấp ngoài tài liệu Chúng tôi mong muốn bạn đọc không phụ thuộc quá nhiều vào đáp án và thực sự “trải nghiệm” luyện tập trước khi có một cuộc “kiếm tìm” đáp án Bạn đọc có thể quét mã
QR để có được đáp án mong muốn.
Trang 4PHẦN I VĂN BẢN VÀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
Trang 6Tác giả
L
ê Hữu Trác là một nhà
danh y đã để lại cho
đời sau một sự nghiệp
Trang 7Tác phẩm
“T
hượng kinh kí sự” là tập kí viết bằng chữ hán của Hải
Thượng Lãn Ông Tác phẩm ghi chép lại những điềuông mắt thấy tai nghe
trong một chuyến đi từ
Hương Sơn (Hà Tĩnh), nơi
đồng thời cũng cho thấy
tâm hồn, nhân cách của
một vị danh y tài cao, đức trọng Đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh” là môt trong những đoạn văn thể hiện tập
trung những nội dung trên và những đặc sắc nghệ thuậtcủa ngòi bút tác Lãn Ông
Trang 9sự trang nghiêm khiến cho người ta phải rụt rè chânbước khi ở cửa nào cũng có lính gác nghiêm ngặt Theobước chân Hải Thượng Lãn Ông, không gian phủ chúa
dần dần hiện lên trước mắt người đọc với những “điếm
Trang 10hậu mã quân thúc trực”, nhà “đại đường”, “quyền bổng”, “gác tía” với kiệu son, võng nghi lộng lẫy.
Trong không gian rộng lớn ấy, từ những chiếc cột chođến những mâm bát chén cũng đều như được dát vàng.Qua ngòi bút miêu tả, người đọc thấy được cuộc sống
xa hoa trong phủ chúa Chúa Trịnh sống ở một nơi rộnglớn và mĩ lệ khác biệt hoàn toàn với cảnh ảm đạmnghèo khốn chốn nhân gian Người đọc chắc chắn sẽkhông hiểu tại sao sống trong cảnh giàu sang vinh hoa
ấy mà Trịnh Cán lại có thể bị bệnh cơ chứ? Câu trả lời
sẽ được đưa ra khi Lãn Ông thăm bệnh cho thế tử
Sự sang trọng trong phủ chúa Trịnh vừa đượcnhà văn miêu tả vừa được ông trực tiếp đưa ra nhận xét,
chẳng hạn ông đánh gia trong phủ chua có “những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy” Khi đến nội cung của
Thế tử thì phải qua biết mấy lần trướng gấm Trong cănphòng của Thế tử cũng có nhiều thứ rất sang trọng màngười đời chưa mấy ai được biết đến: những tầng gấmquý, những chiếc sập sơn son thiếp vàng Có thể khẳngđịnh, nơi ở của Trịnh Cán là nơi sâu nhất và sang trọngnhất trong phủ chúa Trịnh Độc giả thực sự thấy đau
Trang 11lòng khi biết rằng cuộc sống của nhân dân đang cựckhổ lầm than còn kẻ cai trị lại xa hoa, hưởng lạc Ngòibút miêu tả khách quan của Lê Hữu Trác không trựctiếp thể hiện thái độ phê phán nhưng qua sự miêu tả tỉ
mỉ và những nhận xét mang tính mỉa mai người đọc cóthể nhận ra sự phê phán kín đáo
Không chỉ quang cảnh mà đến cung cách trongcung cũng được nhà văn chú ý miêu tả Nơi đây có rất
nhiều lễ nghi, phép tắc “đầy tớ chạy trước hết đường”, rồi lại đến “người giữ cửa truyền báo rộn ràng”,
“người có việc quan qua lại như mắc cửi” Quả thật đây
đúng là một chốnlao xao màNguyễn BỉnhKhiêm nói trongbài thơ “Nhàn”
(Người khôn người đến chôn lao xao) Lời nói của mọi người khi nhắc đến chúa
Trịnh và Thế tử đều rất cung kính, lễ độ Chỉ riêng điều
đó đã cho thấy quyền uy của chúa Trịnh Sự quyền uy
Trang 12của chúa Trịnh lớn đến mức những người dân bìnhthường như Lãn Ông không dễ gì gặp mặt Khi xembệnh xong cho Trịnh Cán, ông không được trao đổi trựctiếp với chúa mà phải viết giấy khai đưa lên Giống nhưvới chúa Trịnh, Thế tử tuy còn nhỏ tuổi nhưng cũng làbậc tôn quý Xung quanh thế tử luôn có nhiều ngự y túctrực Không những thế nếu muốn khám bệnh cho thế tửthì những ngự y đã già như Lãn Ông cũng phải quỳ lạytheo phép tắc
Theo Lãn Ông, Thế tử Trịnh Cán bị bệnh là docuộc sống trong phủ chúa quá đầy đủ khiến cho conngười không thể khỏe mạnh bình thường được Khi cácngự y không đồng tình với đơn thuốc mà tác giả kê thìông đã nhất quyết bảo vệ đơn thuốc ấy Chính vì thế màcác ngự y khác phải khâm phục trước kiến thức và nhâncách của Lãn Ông
Trang 13
Trang 14
TỰ TÌNH
Tác giả
H
ồ Xuân Hương với tài tài năng sử dụng ngôn từ trong
sáng tác thi ca được mệnh danh là “bà chúa thơ Nôm”
Hồ Xuân Hương thuộc dòng dõi họ Hồ ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, một dòng họ lớn có nhiều người đỗ đạt và làm quan nhưng đến đời Hồ Phi Diễn, thân sinh của bà, thì dòng họ này
đã suy tàn Năm sinh, năm mất, thân thế, cuộc đời, và
Trang 15thơ văn của bà đến nay vẫn còn nhiều nghi vấn Chỉbiết bà sống vào cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn, cùngthời với Nguyễn Du (1765-1820), Phạm Đình Hổ (tứcChiêu Hổ, 1768-1839).
Trang 17hoa, có cá tính mạnh mẽ, ham thích giao lưu bạn bè,song đường tình duyên gặp nhiều éo le, ngang trái: hailần lấy chồng thì cả hai đều phải làm lẽ và chịu cảnhgóa bụa.
Trang 18Tác phẩm nổi bật nhất của bà là tập thơ Nôm
Xuân Hương thi tập (trong đó có đôi bài đáng nghi vấn) Ngoài ra bà còn để lại tập thơ chữ Hán tựa đề Lưu
Hương Ký Thơ bà tuy có ý lẳng lơ, mai mỉa, tinh
nghịch, táo bạo, nhưng chứa chan tình cảm lãng mạn, làtiếng sấm giữa bầu trời chế độ phong kiến đang thời kỳmục ruỗng, là tiếng nói bênh vực mọi tầng lớp phụ nữcùng khổ
Trang 19Cách tả cảnh, tả tình, cách dùng từ trong thơNôm của bà có một không hai, vô cùng sống động vàđặc sắc Sáng tác của bà đóng góp đáng kể vào khotàng văn học dân tộc Đã có hàng chục quyển sách,hàng trăm bài viết phân tích đánh giá về cuộc đời và tác
phẩm của bà Nhà thơ Xuân Diệu gọi bà là “kỳ nữ” và đánh giá thơ bà là “tót vời của nguồn thơ nôm na bình dân”
Phân tích
hi sĩ Xuân Diệu trong bài "Hồ Xuân Hương bà chúa thơ Nôm" đã viết: "Bộ ba bài thơ trữ tình này cùng với bài "Khóc vua Quang Trung" của công chúa Ngọc Hân làm một khóm riêng biệt, làm tiếng lòng chân
T
Trang 20thật của người đàn bà tự nói về tình cảm bản thân của đời mình trong văn học cổ điển Việt Nam "
"Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tĩnh,
Vầng trăng bống xế khuyết chưa tròn.
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con!".
Trang 21Hai trong ba bài thơ Tự tình, nữ sĩ đều nói về đêm khuya, canh khuya "Tự tình I" bà viết "Tiếng gà vãng vẳng gáy trên bom - Oán hận trông ra khắp mọi chòm" Ở bài thơ này cũng vậy, bà tỉnh dậy lúc canh
khuya, hay thao thức suốt đêm khuya, tâm trạng ngổn
ngang phiền muộn Âm thanh "văng vẳng" của tiếng
trống từ một chòi canh xa đưa lại như thúc giục thờigian trôi nhanh, tuổi đời người đàn bà trôi nhanh:
"Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn/ Trơ cái hồng nhan với nước nan" "Hồng nhan" là sắc mặt hồng, chỉ người phụ nữ "Trơ" nghĩa là lì ra, trơ ra, chai đi, mất hết cảm giác "Nước non" chỉ cả thế giới tự nhiên và
Trang 22xã hội Cả câu
thơ: "Trơ cái hồng nhan với nước non" nói
lên tâm trạng:con người đaubuồn nhiều nỗi,nay nét mặt thành ra trơ đi trước cảnh vật, trước cuộcđời, tựa như gỗ đá, mất hết cảm giác; hoặc có thể hiểuthời gian cứ thế trôi đi mà số phận kẻ hồng nhan thìdường như không thay đổi Nỗi đau buồn đã đến cực
độ Từ "cái" gắn liền với chữ "hồng nhan" làm cho
giọng thơ trĩu xuống, làm nổi bật cái thân phận, duyênphận, duyên số hẩm hiu đến tội nghiệp Ta có cảm giáctiếng trống dồn canh khuya, thời gian như cơn gió lướtqua cuộc đời, lướt qua số phận và thân xác nhà thơ.Con người đang than thân trách phận ấy đã có một thời
son trẻ tự hào: "Thân em vừa trắng lại vừa tròn", có phẩm hạnh một "tấm lòng son" trọn vẹn, lại tài năng,
thế mà nay đang trải qua những đêm dài cay đắng.Qua đó, ta thấy xã hội phong kiến buổi ấy chính là tácnhân đã làm xơ xác, khô héo phận hồng nhan
Trang 23Đằng sau hai câu đề là những tiếng thở dài ngaongán Nữ sĩ dường như cố vẫy vùng để thoát ra, vượtkhỏi nghịch cảnh nhưng đâu dễ!
Tiếp theo là hai câu thực:
"Chén rượu hương đưa say lợi tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn".
Nghệ thuật đối được vận dụng rất tài tình: "Chén rượu" với "vầng trăng", trên thì "hương đưa", dưới lại
có "bóng xế", đặc biệt ba chữ "say lại tỉnh" vời
"khuyết chưa tròn" đăng đối, hô ứng nhau làm nổi bật
bi kịch về thân phận người đàn bà dang dở, cô đơn.Muốn mượn chén rượu để khuây khoả lòng mình,nhưng vừa nâng chén rượu lên môi hương nồng nànkhiến nhà thơ như sực tỉnh Tưởng uống rượu cho say
để quên đi bao nỗi buồn, nhưng càng uống càng tỉnh
"Say lại tỉnh" để rồi tỉnh lại say, cái vòng luẩn quẩn ấy
về duyên phận của nhiều phụ nữ đương thời, trong đó
có Hồ Xuân Hương như một oan trái Buồn tủi chothân phận, bao đêm dài thao thức đợi chờ, nhưng tuổi
Trang 24chờ mong gắn liển với
nỗi niềm khao khát
Càng cô đơn càng chờ mong, càng chờ mong càng đaubuồn, đó là bi kịch của những người đàn bà quá lứa lỡthì, tình duyên ngang trái, trong đó có Hồ Xuân
Trang 25Hai câu trong phần luận, tác giả lấy cảnh để ngụtình Đây là hai câu thơ tả cảnh "lạ lùng" được viết ragiữa đêm khuya trong một tâm trạng chán ngán, buồntủi:
"Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn".
Trang 26Ý thơ cấu trúc tương phản để làm nổi bật cái dữ dội,cái quyết liệt của sự phản kháng Từng đám rêu mềm
yếu thế mà cũng "xiên ngang mặt đất" được! Chỉ có rải rác "đá mấy hòn" mà cũng có thể "đâm toạc chân mây" thì thật kì lạ! Hai câu thơ, trước hết cho ta thấy
thiên nhiên tiềm ẩn một sức sống đang bị nén xuống
đã bắt đầu bật lên mạnh mẽ vô cùng Thiên nhiêntrong thơ Hồ Xuân Hương không chỉ mang màu sắc,đường nét, hình khối mà còn có gương mặt, có thái độ,
có hành động, cũng "xiên ngang ", cũng "đâm toạc"
mọi trở ngại, thế lực Xuân Hương vốn tự tin và yêuđời Con người ấy đang trải qua nhiều bi kịch vẫn cốgắng gượng với đời Phản ứng mạnh mẽ, dữ dội nhưngthực tại vẫn chua xót Đêm đã về khuya, giữa cái thiênnhiên dào dạt, bốn bề mịt mùng bao la ấy, người đàn
bà hẩm hiu càng cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết
Chẳng thế mà trong bài "Tự tình I", nữ sĩ đã buồn tủi
viết:
"Mõ thảm không khua mà cũng cốc,
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om ?".
Trang 27Cả nỗi đau trần thế như dồn tụ lại đáy lòng một ngườiđàn bà cô đơn Nhà thơ khao khát được sống tronghạnh phúc, được làm vợ, làm mẹ như mọi người đàn
bà khác Nhưng "hồng nhan bạc mệnh"! Đêm càng về
khuya, người đàn bà không thể nào chợp mắt được,trằn trọc, buồn tủi, thân đơn chiếc, thiếu thốn yêuthương, xuân đi rồi xuân trở về, mà tình yêu chỉ được
"san sẻ tí con con", phải cam chịu cảnh ngộ:
"Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con".
Xuân đi qua, xuân trở lại, nhưng với người phụ nữ thì
"mỗi năm mỗi tuổi như đuổi xuân đi" Chữ "ngán"
nói lên nỗi đau, nỗi buồn tủi của người đàn bà lỡ thìquá lứa, đang trải qua sự mòn mỏi, đợi chờ Tìnhduyên, tình yêu như bị tan vỡ, tan nát thành nhiều
"mảnh", thế mà chua chát thay chỉ được "san sẻ tí con con" Câu thơ là tiếng than thân trách phận Phải chăng
đây là lần thứ hai Hồ Xuân Hương chịu cảnh làm lẽ ?
Tình đã vỡ ra thành "mảnh" lại còn bị "san sẻ", đã "tí" lại "con con" Mỗi chữ như rưng rưng những giọt nước
Trang 28Chém cha cái kiếp lấy chồng chung,
Năm thì mười hoạ hay chăng chớ,
Môt tháng đôi lẩn có cũng không!.".
Tóm lại, "Tự tình II" là lời tự than, tự thương xót,
buồn tủi cho duyên số, duyên phận hẩm hiu của mình.Càng thao thức cô đơn, càng buồn tủi Càng buồn tủi,càng khao khát được sống trong hạnh phúc trọn vẹn,đầy đủ Thực tại nặng nề, cay đắng bủa vây, khiến cái
hồng nhan phơi ra, "trơ" ra với nước non, với cuộc
đời Người đọc vô cùng cảm thông với nỗi lòng khaokhát sống, khao khát hạnh phúc của nữ sĩ và người phụ
Trang 29nữ trong xã hội cũ Giá trị nhân bản là nội dung sâu
sắc nhất của chùm thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương.
Cách dùng từ rất đặc sắc, độc đáo thể hiện
phong cách nghệ thuật Hồ Xuân Hương: "trơ cái hồng nhan", "say lại tỉnh", "khuyết chưa tròn", "xiên ngang", "đâm toạc", "ngán nỗi", "lại lại", "tí con con", Chữ dùng sắc nhọn, cảnh ngụ tình, diễn tả mọi
đau khổ bi kịch về duyên số Qua bài thơ này, ta càngthấy rõ Hồ Xuân Hương đã đưa ngôn ngữ dân gian,tiếng nói đời thường vào lời thơ ca thành công, bình dịhoá và Việt hoá thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật
Trang 30Bà xứng đáng là "Bà chúa thơ Nôm" của nền thi ca
dân tộc
Trang 31
THU ĐIẾU Tác giả
N
Trang 32kỳ thi, được người đời
ái mộ gọi là “Tam
nguyên Yên Đổ”.
Nguyễn Khuyến làm quan dưới triều Nguyễn Ông yêunước nhưng bất lực trước thời cuộc, cáo quan về quê,không cam tâm làm tôi tớ – tay sai cho thực dân Pháp
Tác phẩm:
N
Trang 33guyễn Khuyến để lại trên
800 bài thơ nôm và thơ
chữ Hán, vài chục câu đối
- Nguyễn Khuyến là nhà thơ nôm kiệt xuất của đấtnước ta
Xuất xứ, chủ đề:
“T
Trang 34hu điếu” nằm trong chùm thơ thu ba bài “nức danh
nhất” về thơ nôm của Nguyễn Khuyến Bài thơ nói lênnét thu đẹp tĩnh lặng nơi làng quê xưa, biểu lộ mối tìnhthu đẹp mà cô đơn, nỗi buồn của một nhà nho nặng tình
với quê hương đất nước “Thu điếu” cũng như “Thu ẩm”, “Thu vịnh” chỉ có thể được Nguyễn Khuyến viết
vào thời gian sau khi ông đã từ quan về sống ở quê nhà(1884)
Phân tích:
1 Đề
Hai câu thơ mở ra không gian nghệ thuật củatoàn bài thơ: cảnh sắc mùa thu đồng quê Chiếc ao thu
Trang 35“nước trong veo” có thể nhìn được rong rêu tận đáy, tỏa ra khí thu “lạnh lẽo” như bao trùm không gian.
Không còn cái se lạnh
đầu thu nữa mà là đã
thu phân, thu mạt rồi
nên mới “lạnh lẽo”
như vậy Trên mặt ao
thu đã có “một chiếc
thuyền câu bé tẻo teo”
tự bao giờ “Một chiếc” gợi tả sự cô đơn của thuyền câu, người câu “Bé tẻo teo” nghĩa là rất bé nhỏ
Âm điệu của vần thơ cũng gợi ra sự tun hút củacảnh vật (trong veo – bé tẻo teo) – Đó là một nét thuđẹp và êm đềm Nguyễn Khuyến thể hiện tài năng khi
gieo thành công vần khó “eo”.
2 Thực
Bức tranh thu với màu sắc hòa hợp, có “sóng biếc” với “lá vàng” Gió thổi nhẹ cũng đủ làm cho
Trang 36chiếc lá thu màu vàng “sẽ đưa vèo”, làm cho sóng biếc
lăn tăn từng làn
từng làn “hơi gợn tí” Phép đối tài tình
làm nổi bật nét thu,
tô đậm cái nhìn thấy
và cái nghe thấy.Ngòi bút củaNguyễn Khuyến rấttinh tế trong dùng
từ và cảm nhận, lấy cái lăn tăn của sóng “hơi gợn tí” phối cảnh với độ bay xoay xoay “sẽ đưa vèo” của chiếc
lá thu Chữ “vèo” là một nhãn tự mà sau này thi sĩ Tản
Đà vừa khâm phục, vừa tâm đắc Ông thổ lộ một đời
thơ mới có được một câu vừa ý: “Vèo trông lá rụng đầy sân” (cảm thu, tiễn thu)
3 Luận
Trang 37Bức tranh thu được mở rộng dần ra Bầu trời thu
“xanh ngắt” thăm thẳm, bao la Áng mây, tầng mây
(trắng hay hồng?) lơ lửng nhè nhẹ trôi Không giânthoáng đãng, êm đềm, tĩnh lặng và nhẹ nhàng, khôngmột bóng người lại qua trên con đường làng đi về các
ngõ xóm: “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” “Vắng teo” nghĩa là vô cùng vắng lặng không một tiếng động nhỏ nào, cũng gợi tả sự cô đơn, trống vắng “Ngõ trúc”
trong thơ Tam nguyên Yên Đổ lúc nào cũng gợi tả một
tình quê nhiều bâng khuâng, man mác: “Dặm thế, ngõ đâu từng trúc ấy/ Thuyền ai khách đợi bến dâu đây?”
Trang 38“Thu điếu” nghĩa là mùa thu câu cá 6 câu đầu
mới chỉ có cảnh vật: ao thu, chiếc thuyền câu, sóngbiếc, lá vàng, tầng mây, ngõ trúc… phải đến hai câu kếtmới xuất hiện người câu cá Nhân vật rữ tình câu cá
trong tư thế nhàn: “tựa gối ôm cần” Đó là tư thế của
sự đợi chờ nhưng “lâu chẳng được” Trong sự tĩnh
lặng, thi nhân bàng hoàng chợt tỉnh khi mơ hồ nghe
“Cá đậu đớp động dưới chân bèo” Người câu cá như
đang ru hồn mình trong giấc mộng mùa thu Người đọcnghĩ về một Lã Vọng câu cá chờ thời bên bờ sông Vị
hơn mấy nghìn năm về trước Chỉ có một tiếng cá “đớp động” sau tiếng lá thu “đưa vèo”, đó là tiếng thu của làng quê xưa Âm thanh ấy hòa quyện với “Một tiếng trên không ngỗng nước nào”, như đưa hồn ta về với
mùa thu quê hương Người câu cá đang sống trong tâmtrạng cô đơn và lặng lẽ buồn Cáo quan về quên ở ẩn,nhà thơ sống cuộc đời thanh bạch với tâm hồn thanhcao đáng trọng
XKết luận
uân Diệu đã hết lời ca ngợi cái điệu xanh trong Thuđiếu với nhiều gam màu xanh ao, xanh sóng, xanh trời,
Trang 39xanh tre, xanh bèo… và chỉ có một màu vàng của chiếc
lá thu “đưa vèo” Cảnh đẹp êm đềm, tĩnh lặng mà man
mác buồn Nhà thơ mang tâm thế nhàn, thanh caothưởng ngoạn cảnh mùa thu quê hương, với tình yêutha thiết Mỗi câu thơ là một nét thu, sắc thu, tiếng thucủa hồn thu đồng quê thân thiết
Vần thơ: “veo – teo – vèo – teo – bèo”, phép đốitạo nên sự hài hoà cân xứng, điệu thơ nhẹ nhàng bângkhuâng… cho thấy một bút pháp nghệ thuật vô cùngđiêu luyện