Tài liệu chuyên đề Thượng kinh ký sự (Lê Hữu Trác). Phân tích thượng kinh ký sự theo các đặc trưng của loại hình ký trung đại. Tài liệu chuyên sâu cho các lớp bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh lớp chuyên
Trang 1Lê Hữu Trác (1724 – 1791) Theo Nguyễn Lộc trong Lịch sử văn học Việt Nam nửa
cuối thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX, tập I, thì Lê Hữu Trác sinh ngày 11-12-1720
mất ngày 17-2-1791 Ở đây lấy năm sinh năm mất theo sách giáo khoa hiện hành Hiệu là Hải Thượng Lãn Ông Hải Thượng Lãn Ông nghĩa là Ông già lười ở đất Thượng Hồng Hải Dương Chữ Hải là chữ đầu của tên trấn Hải Dương còn chữ Thượng là chữ đầu của tên phủ Thượng Hồng quê cha và cũng là chữ sau của thôn Bầu Thượng, xã Tình Diễm, huyện Hương Sơn, phủ Sơn Quang, trấn Nghệ An
- Dòng họ có truyền thống khoa bảng Ông nội, bác, chú (Lê Hữu Kiều), anh và em
họ đều đỗ tiến sĩ và làm quan to Thân phụ Lê Hữu Trác, đỗ đệ tam giáp tiến sĩ làm Thị lang Bộ Công triều Lê Dụ Tông, gia phong chức ngự sử, tước bá, khi mất được truy tặng Thượng thư
=> Xuất thân trong gia đình quý tộc lại có truyền thống khoa bảng nên Lãn Ông phần nào chịu ảnh hưởng từ gia đình Trong những năm đầu đời, ông đã xác định cho mình nghiệp đèn sách, khoa bảng và có điều kiện học hành Quãng thời gian này đã đem đến cho Lãn Ông sự giàu có về học vấn bồi đắp nên tài năng y học cũng như văn chương của ông
nhận ra xã hội phong kiến thối nát, chiến tranh phi nghĩa tàn phá mang đến bao đau
thương nên chán nản muốn rời quân đội Nhân việc người anh ở Hương Sơn mất, ông
Trang 2liền viện cớ về nuôi mẹ già, cháu nhỏ thay anh để xin ra khỏi quân đội Từ đó, thực
sự bẻ tên cởi giáp theo và theo đuổi chí hướng mới
* Về y học, ông không chỉ chữa bệnh cứu người mà còn soạn sách và mở trường dạy nghề thuốc để truyền bá y học Phần lớn cuộc đời hoạt động y học và sáng tác của ông gắn liền với quê ngoại ở xã Sơn Quang, huyện Hương sơn, tỉnh Hà Tĩnh Thành
tựu y học của ông được tập hợp trong bộ sách Hải Thượng y tông tâm lĩnh, gồm 66
quyển biên soạn trong gần 40 năm Đây là công trình nghiên cứu y học xuất sắc nhất không chỉ trong thế kỉ XVIII mà trong toàn bộ thời trung đại Việt Nam Bộ sách này ngoài mang giá trị lâu bền về y học, còn có giá trị to lớn đối với văn học
* Về văn học, Lãn Ông là một nhà nho, nhưng không cả đời làm quan (ông chỉ làm quan một thời gian ngắn), cũng không sống cuộc đời ẩn sĩ là ở ẩn trong núi rừng; mà chọn con đường chữa bệnh cứu người và sáng tác văn học Trong nền văn hóa thời phong kiến, văn học và y học vốn khá gần gũi với nhau Các nhà Nho thường vẫn đồng thời vừa biết làm thuốc, lại vừa giỏi làm văn Song đã nức tiếng văn chương gần
xa mà chịu bỏ công phu, thời gian viết một công trình mang ý ngĩa y học to lớn giống
như Nguyễn Đình Chiểu với Ngư tiều y thuật vấn đáp là một một trường hợp hiếm
hoi Còn một trường hợp nữa, đó là đã trở thành danh y mà vẫn kịp lưu lại tác phẩm
văn chương có giá trị để đời thì có lẽ chỉ có một mình Lê Hữu Trác với Thượng kinh
kí sự
e, Quan điểm đối với triều đình phong kiến và quan điểm với cuộc sống, nghệ thuật
* Quan điểm với triều đình phong kiến
Lê Hữu Trác là một nhà Nho, nên ông sẽ lấy đạo trung quân (trung với vua) để đánh giá nhân cách, đạo đức con người Chúa Trịnh lấn át quyền hành của vua Lê, tạo ra một cục diện triều chính vừa có vua lại vừa có chúa đầy phức tạp Vua Lê chỉ là bù nhìn, còn thực quyền nằm trong tay chúa Trịnh Mang tư tưởng trung quân, Lê Hữu Trác đánh giá chúa Trịnh không phải trung thần từ đó dẫn đến thái độ phê phán Thái
độ phê phán này được ngầm thể hiện trong Thượng kinh kí sự nói chung và Vào phủ chúa Trịnh nói riêng
* Quan điểm đối với cuộc sống
Trong xã hội phương Đông truyền thống, thường xuất hiện mẫu người ẩn sĩ Đây là mẫu người có những đặc điểm nhân cách như coi thường danh lợi giàu sang, đề cao đạo đức, có thái độ đối với triều đình phong kiến mà thường là thái độ không hợp tác
do triều đình khủng hoảng tiêu cực Mẫu người này thường chọn cách ở ẩn do cách sống này phù hợp với những đặc điểm nhân cách con người họ Lê Hữu Trác có phần giống với mẫu người ẩn sĩ, nhưng cũng có phần khác biệt Ông giống với các ẩn sĩ ở chỗ coi thường danh lợi tiền tài, luôn đề cao đạo đức, có thái độ không hợp tác với triều đình phong kiến mục nát nhưng chỉ được ngầm thể hiện Ông khác với ẩn sĩ ở việc không chọn cách sống ẩn dật mà chọn con đường chữa bệnh cứu người và sáng tác văn học
Tê hiệu Hải Thượng Lãn Ông với chữ “lãn” nghĩa là lười thể hiện rất rõ thái độ của
Lê Hữu Trác Lười ở đây là muốn nói lười nhác tìm danh lợi, mà như vậy cũng có
Trang 3nghĩa là tấm lòng với danh lợi đã như tro nguội Dĩ nhiên, chữ lười này không có nghĩa là lười biếng trong chữa bệnh cứu người Lãn Ông sợ danh lợi đến mức nghe
nói đến hai chữ đó thì “dựng cả tóc gáy lên” (Thượng kinh kí sự) và luôn băn khoăn, trăn trở “Nhưng sợ mình không ở lâu, nếu mình làm có kết quả ngay thì sẽ bị danh lợi
nó ràng buộc, không làm sao về núi được nữa” (Thượng kinh kí sự)
* Quan điểm đối với nghệ thuật
Lê Hữu Trác không chuyên về văn chương nên quan điểm của ông về nghệ thuật có thể nói là không thực sự rõ ràng
f, Vị trí của tác giả trong nền văn học
- Lê Hữu Trác không sáng tác nhiều văn chương nên đóng góp của ông cho nền văn học không lớn Tuy nhiên, với tác phẩm có giá trị, Lãn Ông vẫn có vị trí nhất định trong nền văn học
- Ông là một trong số những cây bút sáng tác chủ yếu vào thời trước khi Tây Sơn khởi nghĩa
g, Một vài nét phong cách trong sáng tác nghệ thuật
- Qua Thượng kinh kí sự và một số bài thơ rải rác trong Hải thượng y tông tâm lĩnh có
thể thấy sáng tác của ông luôn giàu cảm xúc Đó thường là những cảm xúc hết sức
tinh tế
- Thơ của ông mang sự lãng mạn “Những bài thơ trữ tình viết về thiện nhiên của
ông gần với phong cách lãng mạn của Lí Bạch” (Nguyễn Lộc)
- Văn xuôi của Lê Hữu Trác sử dụng bút pháp hiện thực Trong Thượng kinh kí
sự nói riêng và trong Hải thượng y tông tâm lĩnh với các câu chuyện về chữa bệnh
Lãn Ông luôn ghi lại những điều tai nghe mắt thấy một cách chân thực
- Bút pháp miêu tả tỉ mỉ, chân thực, sinh động Kể từ khi bước chân vào phủ chúa,
Lê Hữu Trác luôn chú ý quan sát và ghi chép lại một cách chân thực, tỉ mỉ những gì ông quan sát được Trong phủ chúa, có rất nhiều cửa Mỗi lần đi qua cửa tác giả đều
để ý quan sát Mỗi lần miêu tả cửa trong phủ chúa thì cửa ấy đều gắn với một đặc điểm nào đó: khi thì là “cửa sau” để vào phủ, khi lại là “mấy lần cửa”, lúc thì “một cái cửa lớn” và có cửa có cả người canh giữ “người giữ cửa”, “vệ sĩ canh giữ cửa cung”
Khắc Phi (đồng chủ biên), NXB Giáo dục, HCM, 2009 tr167)
- Kí sự có đặc điểm chung với bút kí như: viết về người thật, việc thật mà tác giả trực tiếp chứng kiến; cốt truyện không chặt chẽ như trong truyện; sử dụng nhiều biện pháp
và phương tiện nghệ thuật… Song ở kí sự, phần bộc lộ cảm nghĩ của tác giả và những yếu tố liên tưởng, nghị luận thường ít hơn ở bút kí, tùy bút
Trang 4=> Do tác phẩm là một thiên kí sự nên khi phân tích cần chú ý các chi tiết miêu tả chân thực như các chi tiết miêu tả quang cảnh phủ chúa (cảnh bên ngoài, cảnh nội cung), chi tiết về nghi thức, cung cách sinh hoạt của phủ chúa (các loại quan và người phục dịch, các thủ tục, các nghi thức chăm sóc bữa ăn, khám bệnh cho thế tử…) Đặc biệt chú ý các chi tiết “đắt”
=> Khi phân tích cũng cần chú ý bút pháp kí của tác giả mà có thể được coi như một nét phong cách: sự miêu tả tỉ mỉ trung thực và sinh động
- Có thể nói, trong các tiểu loại của kí thì kí sự gần gũi với truyện hơn cả
b, Hoàn cảnh sáng tác
- Bước sang thế kỉ XVIII, chế độ phong kiến lâm vào tình trạng khủng hoảng va suy thoái trầm trọng Đất nước bị chia cắt, sông Gianh trở thành giới tuyến chia cắt hai miền đất nước Đàng Trong, chúa Nguyễn nghênh ngang trị vì, Đàng Ngoài chúa Trịnh quyền hành lấn át vua Lê: bên cạnh cung vua là phủ chúa thâm nghiêm, đường
bệ - “cả trời Nam sang nhất là đây”
- Thượng kinh kí sự được sáng tác trong một lần Hải Thượng Lãn Ông được triệu vào
phủ chúa để bắt mạch kê đơn cho thế tử Trịnh Cán Chuyến đi này rất đặc biệt Lãn Ông vì có lệnh triệu nên không thể không đi dù rất không muốn đến nơi cung vua phủ chúa bởi ông chẳng ưa gì vua quan phong kiến, nhưng cũng rất muốn lên kinh đô một
chuyến bởi mong mỏi in bộ sách Hải thượng y tông tâm lĩnh để lưu truyền cho nhân
thế
- Thượng kinh kí sự được hoàn thành năm 1783
c, Nội dung tác phẩm, đoạn trích
đã có”tiếng gõ cửa rất gấp” gọi vào chầu phủ chúa Y lệnh, Lãn Ông đến phủ và được dẫn đi thăm bênh cho thế tử và dâng đơn thuốc Nhưng lập luận và cách kê đơn của ông khác với rất nhiều các vị danh y trong triều nên đơn thuốc đã không được dùng Tuy vậy, chúa đã ban cho ông bổng lộc như của một chức quan nhỏ Chẳng ngờ đặc ân ấy lại làm cho ông phải nghĩ ngợi, băn khoăn vì nếu nhận thì sẽ không bao giờ thoát khỏi cái “vòng cương tỏa lợi danh” Thời gian ở lại kinh đô chờ thánh chỉ, Lãn Ông đã chữa bệnh, gặp gỡ, bầu bạn, ngâm thơ xướng họa với nhiều người Đặc biệt Lãn Ông gặp lại “người cũ” từng được gia đình mai mối để làm bạn trăm năm, song việc không thành, giờ bà đã là một nhà sư đang đi khất thực Bao nhiêu ngậm ngùi và tấm lòng đành gửi vào một chhieeucs quan tài gỗ tốt dành tặng cho
“cố nhân” lo hậu sự Về thăm quê cha đất tổ sau gần ba mươi năm xa cách, thắp
Trang 5hương ở nhà thờ, gặp gỡ bà con, viếng phần mộ ông cha, ôn lại chuyện cũ khiến lòng tác giả rưng rưng xúc động Thế rồi, ông nhận được thánh chỉ triệu gấp về kinh để hầu bệnh cho chúa Chúa ngự “trà” mà Hải Thượng dâng đơn, cảm thấy dễ chịu nên
đã ban cơm, lại thưởng cho quan tiền cùng áo mát, áo ấm để vào chầu Nhưng mệnh của chúa đã tới Ngày 11 tháng 9 chúa bưng hà, bệnh của thế tử ngày càng nặng Ý định về núi thôi thúc, dù các quan Thụ mệnh có người cho phép, có người không, tác giả cũng tâu trình với quan Chánh đường và trở về Hương Sơn Ngày mùng 2 tháng
11 tới được nhà Được vài ngày thì Hải Thượng nghe tin cả nhà quan Chánh đường
đã bị hại mới thấy “may mà câu thề với núi không quên Thân tuy mắc vào vòng danh lợi nhưng cái tâm không bị mê hoặc bởi lợi danh” “Lại về gặp gỡ núi xưa Gối trên
đá, ngủ dưới hoa, giữa giấc mơ màng nghe như có người nhắc đến câu chuyện cũ, giật mình tỉnh dậy, nghĩ bụng rằng: ta không bị chê cười chỉ là nhờ chỗ không tham lam đó thôi”
* Tóm tắt nội dung đoạn trích
Sáng sớm ngày mùng 1 tháng 2, có tiếng gõ cửa rất gấp gáp, quan Chánh đường cho người mang thánh chỉ đến triệu Lê Hữu Trác vào kinh
d, Vị trí của tác phẩm, vị trí của đoạn trích
* Vị trí của tác phẩm trong tác phẩm lớn, và trong nền văn học
- Trong Hải Thượng y tông tâm lĩnh, Thượng kinh kí sự nằm ở cuối bộ sách Nó có
vai trò như một quyển phụ lục
- Thượng kinh kí sự dù không được đánh giá là đỉnh cao của kí sự trung đại Việt Nam nhưng “nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định: đến Thượng kinh kí sự thể kí văn học ở Việt Nam mới thật sự ra đời” (Phan Huy Dũng, Phân tích bình giảng tác phẩm văn học 11 nâng cao, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009, tr.5)
Trong giai đoạn văn học từ XVIII đến nửa đầu XIX, Thượng kinh kí sự là một trong
những tác phẩm kí đã góp phần làm nên sự phát triển rực rỡ của thể kí trong giai đoạn
này Bên cạnh Thượng kinh kí sự còn có rất nhiều các tác phẩm kí khác như Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ), Công dư tiệp kí (Vũ Phương Đề), Thoái thực kí văn (Trương Quốc Dụng) với nhiều bài kí về sinh hoạt và phong tục, tùy bút Thượng kinh phong vật chí tương truyền của Lê Quý Đôn, viết về con người, thiên nhiên và sản phẩm của kinh đô Thượng kinh kí sự không phải đỉnh cao của thể loại kí giai đoạn này Tuy
nhiên đáng quý ở tác phẩm này là giá trị hiện thực cũng như giá trị nhân đạo
=> Kí sự phát triển rực rỡ là biểu hiện của con người thấy không thể đứng dửng dưng trước những vấn đề, những biến cố xảy ra trong xã hội Sử học phong kiến chỉ ghi chép việc làm của vua chúa với những quốc gia đại sự, không chép chuyện sinh hoạt thường ngày của họ, cách viết lại khô khan nên các nhà văn đã tìm đến kí sự để ghi chép những những việc làm không phải quốc gia đại sự không chỉ của vua chúa và
những chuyện sinh hoạt thường ngày của vua chúa cũng như của người bình dân Lê
Hữu Trác sử dụng thể kí cho thấy tấm lòng không hờ hững của ông đối với xã hội đương thời
* Vị trí của đoạn trích trong tác phẩm
Trang 6Đoạn trích nằm ở phần đầu của Thượng kinh kí sự
e, Đề tài của đoạn trích
Tác phẩm lấy đề tài sinh hoạt thường ngày trong phủ chúa Cả một bức tranh rộng
lớn về những cảnh sống sa hoa, những vua chúa quan lại đã được tái hiện Dưới ngòi bút tinh tế, sắc sảo của Lãn Ông, hình ảnh phủ chúa Trịnh hiện lên rõ nét với những cung điện cầu kì, kiêu sa; hình ảnh những con người từ chúa Trịnh Sâm, ông quan đầu triều Hoàng Đình Bảo đến đám công khanh, quan lại đều có cuộc sống dường như vô nghĩa Chẳng thấy một người nào làm việc mà chỉ thấy họ đi đi lại lại trịnh trọng, nói năng kiểu cách, hiểu biết về thuốc thì qua loa nhưng lại không tin người am tường, thích sướng họa thơ văn nhưng chẳng có bài nào nên hồn
Không chỉ có Thượng kinh kí sự mới lựa chọn mảng đề tài sinh hoạt thường ngày
trong phủ chúa, mà còn nhiều tác phẩm khác như Vũ trung tùy bút của Phạm Đình
Hổ, Tang thương ngẫu lục của Nguyễn Án Trong hai tác phẩm này, tác giả đã phản
ánh một số cảnh sinh hoạt ăn chơi trong phủ chúa Phạm Đình Hổ tả lại những lần ngự chơi cực kì xa hoa của Trịnh Sâm ở cung Thụy Liên trên bờ hồ Tây Nguyễn Án
kể về những khoản chi xa xỉ của Trịnh Sâm trong các dịp tết Trung thu
f, Chủ đề của đoạn trích
Viết về đề tài sinh hoạt thường ngày trong phủ chúa, tác giả Thượng kinh kí sự đã đặt
ra hai vấn đề cuộc sống sa hoa hưởng lạc của chúa Trịnh và các triều thần, sự dốt
nát về trí tiệ và bệnh tật về thể xác của những con người sống trong phủ chúa
Bằng cái tâm trong sáng, trí tuệ sắc sảo dường như Lê Hữu Trác đã nhìn thấu bản chất mục ruỗng của triều đình phong kiến Đó là sự mục ruỗng sâu sắc ngay từ trong nội bộ triều đình
g, Tư tưởng của đoạn trích
- Thượng kinh kí sự mang tư tưởng nhân đạo sâu sắc Lê Hữu Trác đã ngầm chỉ ra
cảnh sống cao sang, hưởng lạc có bản chất là sự bóc lột nhân dân của các thế lực phong kiến Đám vua chúa, quan lại đã trà đạp lên cuộc sống của những người dân
cần cù lam lũ nơi thôn cùng ngõ hẻm Cung điện tráng lệ, mâm vàng chén ngọc… tất
cả đều là những thứ khiến người ta ngỡ ngàng, nhưng cũng là những thứ được tạo nên
từ sự bóc lột mồ hôi, xương tủy của người dân
- Tư tưởng nhân đạo trong Thượng kinh kí sự nằm trong mạch tư tưởng nhân đạo của
cả giai đoạn văn học từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu XIX
h, Cảm hứng của đoạn trích
- Tư tưởng nhân đạo, gắn liền với cảm hứng nhân đạo Cảm hứng nhân đạo trong tác
phẩm là thái độ phê phán, tố cáo các thế lực phong kiến một cách kín đáo thể
hiện ở việc miêu tả cảnh sống của chúng Càng tập trung miêu tả cuộc sống quyền quý, ngập trong lụa là gấm vóc bao nhiêu càng làm nổi bật lên sự đối lập giữa cuộc sống của phong kiến với đời sống của nhân dân nghèo khổ cơ cực Thông qua sự đối lập ấy thể hiện của thái độ phê phán
B PHÂN TÍCH
1 Quang cảnh, sự giàu có và cuộc sống trong phủ chúa Trịnh
Trang 7a, Quang cảnh và sự giàu có trong phủ
Phủ chúa Trịnh là nơi rất to lớn, giàu có Sự to lớn và sự giàu có, có mối quan hệ với nhau Chúa càng giàu có thì phủ chúa sẽ càng to lớn, mà càng to lớn thì càng chứng
tỏ chúa vô cùng giàu có Lãn Ông khi miêu tả sự rộng lớn và giàu có của phủ chúa đã ngầm chỉ ra, chúa chính là kẻ bóc lột nhân dân Bởi nếu không bóc lột nhân dân thì tiền bạc, của cải ở đâu ra để xây dựng nhà nhỏ nhà to, mua đồ dùng quý giá này đồ dùng quý giá khác , nuôi người nọ người kia Nhờ sự bóc lột nhân dân nên phủ chúa
trở thành nơi “Trời nam sang nhất là đây”
- Quang cảnh và của cải trong phủ chúa được miêu tả theo hành trình của Lê Hữu Trác Lê Hữu Trác không có quá nhiều thời gian và cũng không được phép đi lại tự
do ở toàn bộ phủ chúa trịnh nhưng chỉ một chặng đường ngắn ngủi mà ông trải qua từ
khi vào cung đến khi “hầu mạch” và ra về đã giúp thấy được không gian rộng lớn
của phủ chúa Chặng đường của Lãn Ông có thể sơ đồ hóa như sau:
Vào cung bằng cửa sau (thời điểm sáng mồng 1 tháng 2) => nhiều lần cửa => vườn cây => hành lang quanh co mà đi hết “vài trăm bước” => điếm “Hậu mã quân túc trực” nằm bên hồ => cửa lớn => hành lang phía tây => “Đại đường” => “Quyển bồng” => “Gác tía” => “Phòng trà” => trở ra điếm “Hậu mã” => đi theo một viên quan hầu cận (không nói rõ là đi theo bao nhiêu lâu nhưng có thể phỏng đoán là một quãng đường khá dài nên khi thấy viên quan hầu cận “mở một chỗ trong màn gấm rồi bước vào” thì Lãn Ông mới thấy “đột nhiên” => năm, sáu lần trướng gấm => phòng rộng, ở giữa phòng có một cái sập thếp vàng./
Lãn Ông đã đi qua biết bao hành lang với biết bao căn lầu, căn gác, trướng gấm…
mới tới được chỗ “thăm mạch” Dường như nơi đây, đâu đâu cũng là những điếm
“Hậu mã”, những “Đại đường”, “Quyển bồng”… rộng rãi, khang trang Hành trình của tác giả càng dài thì càng chứng tỏ được sự rộng lớn của phủ Chúa
- Mỗi căn nhà, căn gác đều có tên riêng, còn những hành lang và những cái của mà
Lê Hữu Trác đi qua thì không hề có tên mà chỉ có đặc điểm Những đặc điểm của chúng cũng góp phần thể hiện sự rộng lớn của phủ chúa
+ Những đặc điểm của hành lang Đó có thể là đặc điểm số lượng và tính chất
“Những dãy hàng lang quanh co nối nhau liên tiếp” - những hành lang quanh co sẽ dẫn đên biết bao căn phòng, căn gác khác mà nhân gian vô cùng lạ lẫm và “chưa từng nhìn thấy” Nếu chỉ là một hành lang thẳng thì có lẽ không gian cũng cũng
không quá thoáng đạt và cũng chẳng tốn nhiều nguyên vật liệu (đồng nghĩa với tốn ít kinh phí) nhưng lại là những hành lang uấn lượn, quanh co thì phải có một không gian rất rộng rãi và nhiều tiền của mới xây dựng Đó cũng có thể là đặc điểm vị trí
“theo đường bên trái”,“dãy hành lang phía tây” Có đường bên trái nghĩa là sẽ có
đường bên phải thậm chí có cả đường ở giữa, có dãy hành lang phía tây cũng nghĩa là còn dãy hành hành lang phía đông, phía nam, phía bắc Càng nhiều hành lang thì càng chứng tỏ phủ chúa rộng lớn, được xây nên bởi nhiều tiền bạc
+ Những đặc điểm của cửa Giống như những hành lang, những cái cửa cũng không
có tên Nhưng những đặc điểm này, giúp phân biệt cửa nọ với cửa kia: đặc điểm hình
Trang 8dạng “cửa sau”, “cửa lớn”, đặc điểm về tính chất: cửa có “người giữ cửa”, cửa có
“vệ sĩ canh giữ Cửa la nơi mở ra những không gian, những con đường mới Nên số
lượng cửa nhiều cũng có nghĩa là không gian và hành lang, con đường trong phủ chúa cũng rất nhiều Qua đó nói lên sự rộng lớn
- Sự to lớn, giàu có của phủ chúa còn được miêu tả thông qua số lượng những con người trong phủ Lê Hữu Trác đi đến đâu cũng gặp những người là người, như người giữ cửa, vệ sĩ, người có việc quan, tiểu hoàng môn (quan hoạn), các quan trong triều;
lại có những người chỉ nghe nói đến như các phi tần “Thánh thượng đang ngự ở đấy, xung quanh có phi tần chầu chực, nên chưa thể yết kiến” Thế nhưng dù đông người
như vậy, phủ chúa vẫn dư sức chứa và thừa sức chu cấp
- Sự lắm tiền, nhiều của nơi phủ chúa Trịnh còn được biểu hiện ở sự xa hoa trong sinh hoạt thường ngày
+ Sự trang hoàng lộng lẫy nơi ăn chốn ở của phủ chúa Mỗi đồ vật trong phủ chúa bản thân nó toát lên vẻ đẹp, nhưng cũng gắn với những đặc điểm nào đó tôn thêm sự hào nhoáng ấy Đó có thể là đặc điểm hoa văn, màu sắc, sự lấp lánh, hương thơm, âm thanh Lê Hữu Trác đã cảm nhận cảnh vật xung quanh bằng nhiều giác quan trong đó chủ yếu là thị giác, khứu giác và thính giác
Phủ chúa đầy rẫy những lầu gác sang trọng có tạc họa tiết tinh vi mĩ lệ, những lụa là
và ngọc ngà quý báu lấp lánh trong ánh mai, hoa trong cung đua sắc tỏa hương và chim lạ véo von nhảy nhót
“Lầu từng gác vẽ tung mây Rèm châu, hiên ngọc, bóng mai ánh vào Hoa cung thoảng ngạt ngào đưa tới, Vườn ngự nghe vẹt nói đòi phen”
+ Phủ chúa cũng nhan nhản những đồ dùng quý giá, sang trọng gắn với đặc điểm màu
sắc:“Đồ nghi trượng đều sơn son thiếp vàng”, “mâm vàng”, “chén bạc”, “cái sập sơn son thếp vàng”, “cái ghế rồng sơn son thếp vàng trên ghế bày nệm gấm”, “một cây nến to cắm trên một cái giá bằng đồng” Những đồ dùng này đã tạo nên gam màu
chủ đạo cho không gian trong phủ đó là màu đỏ, màu vàng rực rỡ đua nhau lấp lánh Ngoài ra còn phải kể đến màu sắc của quần áo những người trong phủ chúa mà đặc biệt là những cung nhân và màu sắc của ánh sáng nến sáp Những màu sắc này, cùng
gam với màu sắc của những đồ vật “ở trong có mấy người cung nhân đang đứng xúm xít Đèn sáp chiếu sáng, làm nổi màu mặt phấn và màu áo đỏ” Bản thân những đồ
đạc trong phủ chúa đã có giá trị lớn; nhưng màu sắc chủ đạo “đỏ”, “vàng” là hai màu sắc gắn liền với sự quý giá, tôn nghiêm - nên thường được sơn thếp trong đình chùa – lại càng tôn lên sự quý giá những đồ dùng và cả sự uy nghiêm của phủ chúa
+ Những món ăn sơn hào hải vị Chỉ là một bữa cơm sáng tức bữa cơm phụ trong quan điểm của người Việt Nam xưa, lại dành cho một người bình dân từ xa tới mà đã
đầy những “đồ ăn toàn là của ngon vật lạ” biểu hiện “cái phong vị của nhà đại gia”;
Thì một bữa ăn chính sẽ nhiều của ngon vật lạ đến mức nào và nếu là một bữa đại tiệc
Trang 9thì sơn hào hải vị với những bào ngư, tổ yến… sẽ không thể đếm xuể Bữa ăn sáng của Lê Hữu Trác trong phủ chúa đã góp phần gợi tả sự giàu có của phủ chúa
- Để khắc họa một phủ chúa rộng lớn, giàu có Lê Hữu Trác đã sử dụng bút pháp liệt
giàu có của cải của phủ chúa được miêu tả với các cảnh vật, con người: cửa, con đường, vườn cây, người giữ cửa, người có việc quan, vệ sĩ gác cửa, Điếm hậu mã, hồ nước, hành lang, Đại đường, Quyển bồng, Gác tía, trướng gấm, các quan đông đảo, phi tần chầu chực, cung nhân xúm xít Trong phủ chúa dường như không thiếu thứ gì
từ vườn cây cho đến hồ nước Cảnh vật phong phú bao nhiêu, người đông đảo bao nhiêu thì phủ chúa rộng lớn, nhiều tiền bạc bấy nhiêu
+ Thứ hai, Lãn Ông liệt kê số lượng của sự vật để tô đậm sự rộng lớn, giàu có của phủ chúa
Tác giả đã 7 lần nhắc đến “cửa” với những đặc điểm của cửa: có người giữ, có vệ sĩ
canh gác, cửa lớn…Trong đó có 2 lần nhắc đến cửa gắn với số từ “mấy” làm tăng
thêm số lượng cửa trong phủ chúa cũng đồng nghĩa với tăng thêm sự rộng rãi và giàu
có Dường như càng vào sâu trong phủ chúa lại càng có nhiều cửa khác nhau
Lãn Ông cũng liệt kê hàng loạt công trình kiến trúc “Điếm hậu mã”, “Đại đường”,
“Quyển bồng”, “Gác tía”, “phòng trà”… Những công trình kiến trúc này trở thành
phông nền của toàn bộ bức tranh phủ chúa Trịnh Càng nhiều công trình, phủ càng rộng, càng giàu
Hải Thượng còn liệt kê rất nhiều món vật dụng như đồ nghi trượng, sập… nhấn mạnh
sự giàu có, rộng lớn của phủ chúa
+ Bởi kí là một thể văn chú trọng ghi chép nên bút pháp liệt kê sẽ là bút pháp thường xuyên được sử dụng và phát huy hiệu quả nghệ thuật cao nhất
b, Cuộc sống trong phủ chúa
- Phủ chúa là nơi nhiều khuôn khổ, phép tắc được đặt ra bởi quyền uy tối thượng + Trong phủ chúa là nơi quyền uy tối thượng nên một khi mệnh lệnh được truyền ra thì bằng mọi giá phải nhanh chóng thực hiện Đó là phép tắc đầu tiên mà Lê Hữu Trác nhận thấy ngay trước khi vào cửa cung
~ Phải nhanh chóng Hàng loạt miêu tả hành động gấp gáp trong việc triệu Lê Hữu
Trác vào chầu “tiếng gõ cửa rất gấp”, “vừa nói vừa thở hổn hển”, “vâng lệnh chạy đến đây báo tin”, “tên đầy tớ chạy đằng trước hét đường”, “cáng chạy như ngựa lồng” và mệnh lệnh gấp gáp “vào phủ chầu ngay” xuất hiện liên tiếp khiến sự gấp
gáp càng được tô đậm
Trải qua một quãng đường vào cung đầy vất vả “khổ không nói hết”, tác giả không
được nghỉ ngơi hồi sức mà tiếp tục đi với những hành lang ngoằn ngoèo
Trang 10~ Phải bằng mọi giá Ngay cả khi Lê Hữu Trác đã là một ông “cụ già yếu” như chính nhận xét của quan Chánh đường – cũng là người cử lính đi đón Lê Hữu Trác “Quan truyền mệnh hiện đang ở nhà cụ lớn con” (cụ lớn tức quan Chánh Đường) – vẫn
không có ngoại lệ Người linh khiêng cáng đã quáng quàng đưa Lãn Ông vào cung
khiến Lãn Ông “bị xóc một mẻ, khổ không nói hết”
~ Cùng với những miêu tả sự gấp gáp trong hành động, trong mệnh lệnh truyền đi tác
giả đã sử dụng những câu văn có nhịp ngắn góp phần gợi lên sự gấp gáp “Mồng 1 tháng 2 Sáng tinh mơ, tôi nghe tiếng gõ cửa rất gấp Tôi chạy ra mở cửa Thì ra một người đầy tớ quan Chánh đường vừa nói vừa thở hổn hển”
+ Phủ chúa là nơi được canh phòng nghiêm ngặt nên việc đi lại trong phủ cũng có phép tắc quy định
~ Mỗi nơi Lê Hữu Trác đi qua đều có người truyền tin “Người giữ cửa truyền báo rộn ràng”, hoặc người canh giữ xem thẻ ra vào “vệ sĩ canh giữ cửa cung, ai muốn ra vào phải có thẻ”, hoặc thị vệ và quân sĩ đòi xem thánh chỉ Đây là nét đặc trưng của
chốn cấm cung của vua chúa Kể từ khi vào cung bằng cửa sau, Lê Hữu Trác luôn phải có ai đó đi cùng để đưa ông qua những điểm gác Đầu tiên tác giả vào cung cùng quan truyền mệnh, những người tiểu hoàng môn… Phải nhờ họ, Lãn Ông mới được
vào sâu trong cung bởi với cách ăn mặc “có vẻ lạ lùng” thị vệ, quân sĩ đã muốn giữ
lại không cho đi
~ Nơi Đông cung thế tử ở nằm sâu trong phủ chúa Muốn đến nơi đó phải qua nhiều hành lang với nhiều cửa lớn nhỏ mà chắc chắn đều được canh gác cẩn mật Không chỉ
vậy, nơi đó còn nằm sâu trong “năm, sáu lần trướng gấm” tạo ra sự kín đáo hoàn
toàn
+ Phép tắc của lời ăn tiếng nói trong phủ chúa Trong phủ chúa mọi lời lẽ phải tuân theo phép tắc Trong giao tiếp phải tôn kính với người trên, tôn trọng với người ngang hàng; sử dụng lớp từ ngữ đặc trưng cho triều đình
~ Trong giao tiếp với người trên, sử dụng cách xưng hô thể hiện sự tôn kính bằng
cách gọi chức quan của người giao tiếp mà không gọi tên“thánh thượng”, “đông cung thế tử”, “quan chánh đường”… hoặc bằng cách gọi vai trò của người giao tiếp
“cụ lớn” (Quan truyền mệnh đang ở nhà cụ lớn con, con vâng lệnh chạy đến đây báo tin)
~ Trong giao tiếp với người ngang hàng, ngôn ngữ cũng thể hiện sự tôn trọng Lê Hữu Trác mặc dù không có danh phận, địa vị nhưng vẫn được tôn trọng trong phủ
chúa Ông được gọi bằng “cụ” “Cụ này là con ông Liêu Xá ở Đường Hào vào ngụ cư trong Hương Sơn, làm thuốc hay có tiếng, nay vâng thánh chỉ vào kinh” Đây là cách
gọi thân mật, tôn trọng dựa theo đặc điểm tuổi tác Các quan khi nói chuyện với Lãn
Ông, đều chủ động xưng “tôi” – cách xưng của người có vị trí ngang hàng - chứ không xưng “ta” – cách xưng của người có vị trí cao hơn - cho thấy sự tôn trọng
~ Sử dụng ngôn ngữ tránh “húy” Đây không chỉ là “húy” tên của con người mà còn
là “húy” tên của những điều được cho là không may Thuốc luôn gắn với bệnh tật nên
Trang 11người ta cho thuốc là một từ không may và từ đó kiêng nhắc đền từ thuốc Vì thế, nên
phòng thuốc có cách gọi khá lạ lẫm “phòng trà” Có thể vì thế tử đang lâm bệnh nên
mới sinh ra cách gọi khác thường như vậy nhằm tránh nhắc đến điều không may với thế tử đồng nghĩa với thể hiện sự tôn kính với thế tử
~ Sử dụng lớp từ ngữ đặc trưng cho triều đình Đây là những từ ngữ chỉ chúa “thánh thượng”, chỉ quan lại “quan chánh đường”… chỉ các yêu cầu của chúa “thánh chỉ”,
“triệu”… Tác giả có ý thức ghi chép lại tỉ mỉ những từ ngữ sử dụng trong cung khiến
người đọc có thể cảm nhận bức tranh cung đình rất chi tiết và sống động
+ Phép tắc trong “yết kiến” chúa Trịnh và thế tử Chúa Trịnh và thế tử là người tôn
nghiêm, quy quyền nhất trong phủ chúa bởi thế phép tắc trong cuộc yết kiến đối với
họ cũng sẽ nhiều nhất
Đối với Thánh thượng, dù không được miêu tả nhiều bời không trực tiếp gặp gỡ nhưng cũng nhắc đến một điều được coi như là phép tắc: khi xung quanh thánh
thượng đang có “phi tần chầu chực” thì không thể “yết kiến”
Đối với thế tử thì hàng loạt phép tắc cầu kì được ghi chép cụ thể Bắt đầu phải đứng
chờ ở xa “tôi nín thở đứng chờ ở xa”, rồi quỳ lạy bốn lạy theo lệnh của quan Chánh
đường Lại cũng theo lệnh quan, thầy thuốc già yếu được phép ngồi để bắt mạch Đây
là phép tắc lồng trong phép tắc Phép tắc thầy thuốc già được ngồi khám bệnh được
lồng trong phép tắc về khám bệnh Khi khám bệnh, muốn xem thân hình con bệnh cũng phỉa có quan “nội thần” (quan hầu trong cung) trợ giúp xin phép thế tử “Một viên quan nội thần đứng chầu đến bên sập xin phép thế tử” Trước khi ra về, lại phải
lạy tạ bốn lạy Trong toàn bộ quá trình khám bệnh, có thể không được phép thấy mặt chúa Xem bệnh xong, chỉ được phép viết tờ khải để dâng quan Phải đến gần cuối tác phẩm khi có lệnh và khám bệnh cho chúa thì tác giả mới được diện kiến
- Phủ chúa là nơi hưởng thụ cuộc sống cực kì xa hoa, trụy lạc của một kẻ lộng quyền + Sự xa hoa
~ Trong phủ chúa, mọi sinh hoạt đều gắn liền với của cải vật chất Vật dụng hàng
ngày đều là những thứ quý giá “Đồ nghi trượng đều sơn son thếp vàng” (Đồ nghi trượng: đồ dùng của vua chúa theo nghi thức do triều đình đặt ra) đều được sơn son
thếp vàng, sập thếp vàng, võng điều, mâm vàng chén bạc Đồ ăn, thức uống toàn
“của ngon vật lạ” chỉ có ở “nhà đại gia”
~ Sống trong phủ chúa là sống trong sự hầu hạ Lê Hữu Trác chỉ vào phủ trong một
thời gian ngắn nhưng ông đã gặp rất nhiều người trong phủ Mỗi người có một việc khác nhau được ngòi bút kí sự ghi lại rõ ràng như người giữ cửa truyền báo rộn ràng,
vệ sĩ canh cửa, quan có nhiệm vụ truyền chỉ, nội thần đứng hầu thế tử, phi tần và
cung nhân xúm xít… hoặc gợi liên tưởng “người có việc quan qua lại như mắc cửi”
Việc quan mà Lãn Ông nói tới còn là việc gì khác ngoài việc thực hiện những mệnh lệnh của chúa, hầu hạ chúa
+ Trụy lạc
~ Sống trong phủ chúa không chỉ là sống trong sự hầu hạ mà còn là sống trong hưởng
lạc Chi tiết “thánh thượng đang ngự, xung quanh có phi tần chầu chực” đã phơi bày