92 PHỤ LỤC 3: KHUNG LÝ THUYẾT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ QUAN HỆ TÌNH DỤC VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH THPT ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI ..... Do đó hàng loạt các vấn đề liên quan t
Trang 1MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Một số khái niệm 5
1.1.1 Vị thành niên 5
1.1.2 Sức khỏe sinh sản 6
1.1.3 Sức khỏe sinh sản vị thành niên 6
1.1.4 Tình dục 7
1.1.5 Sức khỏe tình dục 9
1.1.6 Tình dục an toàn 9
1.1.7 Bệnh lây truyền qua đường tình dục 10
1.1.8 Có thai và các biện pháp tránh thai 11
1.1.9 Phá thai 12
1.2 Tổng quan nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành của VTN trên thế giới 13
1.2.1 Kiến thức 13
1.2.2 Thái độ 14
1.2.3 Hành vi 15
1.3 Tổng quan nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành của VTN ở Việt Nam 16
1.2.1 Kiến thức 16
1.2.2 Thái độ 18
1.2.3 Thực hành 19
1.4 Yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi của VTN về quan hệ tình dục 21 1.5 Một số văn bản chính sách liên quan đến SKSS của vị thành niên và
Trang 21.6 Một số đặc điểm về trường THPT Đống Đa 23
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
2.3 Thiết kế nghiên cứu 25
2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 25
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 26
2.6 Phân tích số liệu 26
2.7 Các biến số được sử dụng trong nghiên cứu 27
2.8 Một số khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá được sử dụng trong nghiên cứu 32 2.8.1 Một số khái niệm 32
2.8.2 Tiêu chuẩn đánh giá 32
2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 35
2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 36
2.10.1 Hạn chế của nghiên cứu 36
2.10.2 Sai số 36
2.10.3 Biện pháp khắc phục sai số 37
PHẦN III KẾT QUẢ 38
3.1 Thông tin chung 38
3.2 Kiến thức của học sinh về những vấn đề liên quan đến quan hệ tình dục 40
3.2.1 Kiến thức về tình dục an toàn 40
3.2.2 Kiến thức về BLTQĐTD 41
3.2.3 Kiến thức về biện pháp tránh thai 42
3.2.4 Kiến thức về có thai và nạo phá thai 43
3.2.5 Đánh giá chung kiến thức của học sinh về QHTD 44
3.3 Thái độ của học sinh về tình dục, các bệnh lây truyền qua đường tình dục và nạo phá thai 46
3.3.1 Thái độ của học sinh về tình dục tuổi học trò 46
Trang 33.3.3 Thái độ của học sinh về có thai và nạo phá thai 48
3.3.4 Đánh giá chung thái độ học sinh về quan hệ tình dục 48
3.4 Hành vi trong quan hệ tình dục 50
3.5 Tiếp cận và chia sẻ nguồn thông tin về sức khỏe sinh sản 53
3.6 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi về QHTD 57
3.6.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về quan hệ tình dục 57
3.6.2 Một số yếu tố liên quan đến thái độ 59
3.6.3 Một số yếu tố liên quan đến hành vi 63
CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN 66
4.1 Kiến thức, thái độ, hành vi về quan hệ tình dục 66
4.1.1 Kiến thức 66
4.1.2 Thái độ 69
4.1.3 Hành vi 70
4.2 Yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và hành vi về quan hệ tình dục 71
4.3 Một số bàn luận về phương pháp nghiên cứu 72
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN 73
5.1 Kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh về quan hệ tình dục 73
5.1.1 Kiến thức 73
5.1.2 Thái độ 73
5.1.3 Hành vi 73
5.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và hành vi về QHTD 74
5.2.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức 74
5.2.2 Một số yếu tố liên quan đến thái độ 74
5.2.3 Một số yếu tố liên quan đến hành vi 74
CHƯƠNG VI: KHUYẾN NGHỊ 75
6.1 Tài liệu truyền thông cho đối tượng vị thành niên 75
6.2 Đối với gia đình 75
6.3 Đối với nhà trường 76
Trang 46.5 Đối với học sinh 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Tiếng Việt 78
Tiếng Anh 81
PHỤ LỤC 1: MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 83
PHỤ LỤC 2: PHIẾU PHÁT VẤN NGHIÊN CỨU TÌM HIỂU VỀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI VỀ QHTD VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH THPT 92
PHỤ LỤC 3: KHUNG LÝ THUYẾT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ QUAN HỆ TÌNH DỤC VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH THPT ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI 108
Trang 6Bảng 3.1 : Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 38
Bảng 3.2 : Kiến thức của học sinh về tình dục an toàn 40
Bảng 3.3 : Kiến thức của học sinh về các BLTQĐTD 41
Bảng 3.4 : Kiến thức của học sinh về thời điểm có thể có thai 43
Bảng 3.5 : Đánh giá tổng điểm kiến thức của học sinh về QHTD 46
Bảng 3.6 : Đánh giá chung thái độ của học sinh về QHTD 50
Bảng 3.7 : Hành vi của học sinh trong quan hệ tình dục 50
Bảng 3.8 : Tác động của bạn bè lên hành vi QHTD 51
Bảng 3.9 : Hành vi trong lần QHTD đầu tiên 52
Bảng 3.10 : Nguồn thông tin và nhu cầu thông tin về SKSS 53
Bảng 3.11 : Đánh giá về tính phù hợp của chương trình giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản trong trường học 56
Bảng 3.12 : Phân tích đôi biến một số yếu tố liên quan đến kiến thức 57
Bảng 3.13 : Mô hình hồi quy logistic dự đoán những yếu tố liên quan đến kiến thức về QHTD của học sinh 58
Bảng 3.14 : Phân tích đôi biến một số yếu tố liên quan đến thái độ 60
Bảng 3.15 : Mô hình hồi quy logistic dự đoán những yếu tố liên quan đến thái độ về QHTD ở học sinh 61
Bảng 3.16 : Phân tích đôi biến một số yếu tố liên quan đến hành vi 63
Bảng 3.17 : Mô hình hồi quy logistic dự đoán những yếu tố liên quan đến hành vi QHTD ở học sinh 64
Trang 7Biểu đồ 3.1 : Học sinh biết tên các BLTQĐTD và cách phòng tránh 41
Biểu đồ 3.2 : Học sinh biết tên và cách sử dụng BPTT 42
Biểu đồ 3.3 : Học sinh biết về hậu quả của nạo phá thai 44
Biểu đồ 3.4 : Phân bố tổng điểm kiến thức 45
Biểu đồ 3.5 : Thái độ của học sinh với một số quan điểm về tình dục 46
Biểu đồ 3.6 : Thái độ của học sinh với một số quan điểm về các BLTQĐTD 47
Biểu đồ 3.7 : Thái độ của học sinh với một số quan điểm về việc có thai và nạo phá thai ở tuổi học trò 48
Biểu đồ 3.8 : Phân bố điểm thái độ 49
Biểu đồ 3.9 : Người học sinh thường chia sẻ băn khoăn về vấn đề giới tính và SKSS 54
Biểu đồ 3.10 : Sự quan tâm của bố mẹ về những vấn đề giới tính và SKSS với học sinh 54
Biểu đồ 3.11 :Chủ đề bố mẹ nói chuyện với học sinh 55
Biểu đồ 3.12 : Nơi xem phim/đọc truyện/xem hình ảnh khiêu dâm 55
Trang 8Cùng với sự gia tăng dân số chóng mặt của Việt Nam trong những năm gần đây thì
số trẻ vị thành niên (VTN) cũng tăng lên đáng kể Bên cạnh đó, cùng với nền kinh tế mở cửa, nhiều lối sống, nền văn hoá đã gia nhập vào nước ta làm ảnh hưởng không ít tới quan niệm, thái độ của lứa tuổi dễ bị ảnh hưởng và chi phối bởi những cái mới này
Tư tưởng của VTN về vấn đề quan hệ tình dục (QHTD) trước hôn nhân đã bớt khắt khe hơn trước, trong khi kiến thức và sự tiếp cận của các em về sức khoẻ sinh sản (SKSS) còn hạn chế Do đó hàng loạt các vấn đề liên quan tới QHTD ảnh hưởng lớn tới sức khỏe của học sinh đã gia tăng nhanh chóng, điển hình là số ca nạo phá thai (NPT) và các bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD)
Hà Nội là thủ đô của đất nước, là nơi đầu tiên chịu tác động mạnh mẽ của các nền văn hóa và lối sống du nhập Tỷ lệ học sinh THPT có người yêu và có quan hệ tình dục đang là một vấn đề nóng được xã hội quan tâm Nghiên cứu được thực hiện tại trường THPT Đống Đa, là ngôi trường có bề dày giảng dạy 50 năm Qua tìm hiểu thông tin chung tại trường thì tỷ lệ học sinh hiểu biết về tình dục an toàn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục còn thấp Có học sinh nữ năm ngoái phải nghỉ học vì có thai
Vậy một vấn đề được đặt ra là thực trạng hiểu biết của học sinh trường THPT Đống Đa về quan hệ tình dục, thái độ của các em như thế nào về vấn đề này? Và thực trạng QHTD ra sao ở các em?
Nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, hành vi về quan hệ tình dục và một số yếu tố liên quan tại một trường THPT quận Đống Đa, Hà Nội năm 2011” được thực hiện với các mục tiêu:
1 Mô tả kiến thức, thái độ, hành vi về quan hệ tình dục của học sinh tại trường THPT Đống Đa, Hà Nội năm 2011
2 Phân tích một số yếu tố liên quan tới kiến thức, thái độ, hành vi về quan hệ tình dục của học sinh tại trường THPT Đống Đa, Hà Nội năm 2011
Thông tin phục vụ cho nghiên cứu được thu thập bằng phương pháp định lượng thông qua chọn mẫu cụm với học sinh lớp 10, 11, 12 trường THPT Đống Đa,
sử dụng phiếu phát vấn Thời gian nghiên cứu từ tháng 11/2010 đến tháng 8/2011
Trang 9các phần mềm thống kê (Epi data, SPSS) nhằm đưa ra những kết luận phù hợp cho mục tiêu nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra kiến thức của học sinh về SKSS còn nhiều hạn chế 89,2% học sinh hiểu đúng về TDAT, 4/5 học sinh hiểu đúng về các BLQĐTD Đa số học sinh biết tên 1 BPTT tuy nhiên rất ít học sinh biết cách sử dụng 1 BPTT (26,6%) Chỉ có 20,2% học sinh biết đúng thời điểm có thể có thai trong chu kỳ kinh nguyệt Đa số học sinh có thái độ đồng tình với quan điểm tích cực và phản đối với quan điểm tiêu cực Học sinh có thái độ ủng hộ quan điểm truyền thống, đề cao trinh tiết của người phụ nữ (73,9%); 70,7% phản đối với quan điểm có thể QHTD ở tuổi học trò khi cả 2 cùng đồng ý Có thái
độ đúng mực của học sinh (74,9%) đồng ý với việc QHTD có thể ảnh hưởng đến kết quả học tập Đối với quan điểm các BLTQĐTD và có thai, nạo phá thai, gần 1/3 học sinh còn
có thái độ phân vân Tỷ lệ học sinh có QHTD là 4,9% Tuổi trung bình có QHTD lần đầu tiên là 16,08 Đa số học sinh có QHTD lần đầu tiên với người yêu
Học lực và việc bố mẹ chủ động chia sẻ với học sinh về SKSS có mối liên quan với kiến thức của học sinh về QHTD Tuổi, giới tính, từng xem phim/hình ảnh/đọc truyện khiêu dâm có liên quan với thái độ học sinh về QHTD Xem phim/hình ảnh/đọc truyện khiêu dâm có liên quan với hành vi QHTD của học sinh Nghiên cứu đưa ra khuyến nghị: tài liệu truyền thông cho đối tượng thanh thiếu niên cần tập trung vào cơ chế thụ thai, cách sử dụng các biện pháp tránh thai, thời điểm có thể có thai trong chu kỳ kinh nguyệt, chú trọng nâng cao kĩ năng truyền thông cho các phụ huynh, các bậc cha mẹ cần chủ động cung cấp thông tin cho con về tình dục an toàn và giám sát một cách tế nhị việc sử dụng internet của các em Đối với nhà trường cần thay đổi phương pháp giảng dạy, tạo hứng thú cho học sinh Những giáo viên tham gia trực tiếp giảng dạy về SKSS cần nâng cao kiến thức, kỹ năng truyền đạt, trao đổi và chia sẻ với học sinh nội dung một cách linh hoạt, phù hợp với lứa tuổi các em Các nhà hoạch định chính sách cần quan tâm tới các chương trình truyền thông và cung cấp các dịch vụ chăm sóc SKSS phù hợp với lứa tuổi VTN, có các giải pháp quản lý nhằm hạn chế học sinh, VTN tiếp xúc với các văn hóa phẩm khiêu dâm
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo tổ chức y tế thế giới tình hình quan hệ tình dục sớm và nạo phá thai ở tuổi vị thành niên tại nhiều nước đang tăng lên ở mức báo động, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Hoạt động tình dục của vị thành niên đến sớm và nhiều hơn so với trước kia tùy thuộc vào từng quốc gia và nền văn hóa khác nhau Ở các nước phát triển như Newzealand có 49% vị thành niên (15-19 tuổi) đã có quan hệ tình dục trước hôn nhân, ở Mỹ là 46% và ở Thụy Điển là 54,2% nam vị thành niên đã có quan hệ tình dục [43].Tại Indonesia, theo Cơ quan kế hoạch quốc gia đã đưa ra thông báo hơn 1 nửa số thanh thiếu niên ở Jakarta đã tham gia vào quan hệ tình dục trước hôn nhân (51 trong
100 thanh thiếu niên) [50]
Nghiên cứu được tiến hành trong 21 trường phổ thông ở Thái Lan, đã chỉ ra có 1/3 nam học sinh lớp 12 đã từng có quan hệ tình dục và tuổi quan hệ tình dục lần đầu tiên là ở nam 16 tuổi, 18 tuổi ở nữ [39]
Dân số hiện nay của Việt Nam là 86 triệu người (đến 0 giờ ngày 1/4/2009 là 86.024.600 người) và trong đó có khoảng hơn 16 triệu vị thành niên [33]
Cùng với sự đổi mới về kinh tế, văn hoá xã hội đặc biệt là sự gia nhập của lối sống phương Tây ảnh hưởng rất lớn tới thái độ, hành vi của vị thành niên làm họ đang phải đối mặt với rất nhiếu vấn đề sức khoẻ của chính mình Họ dễ gặp phải các vấn đề như có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS
Cũng như nhiều quốc gia khác trên Thế giới và trong khu vực, xu hướng có QHTD trong tuổi vị thành niên ở Việt Nam gia tăng một cách nhanh chóng Do lối sống thay đổi, sự gia nhập của nhiều nguồn thông tin và văn hóa khác nhau nên quan niệm về QHTD trước hôn nhân của đối tượng VTN/TN cũng thay đổi đặc biệt
là VTN/ TN nam Có tới 41% nam và 22% nữ chấp nhận QHTD trước nếu đôi nam
nữ sẽ cưới nhau [7]
Vấn đề quan hệ tình dục ở lứa tuổi học sinh đang là vấn đề nóng bỏng được xã hội quan tâm Điều tra trên 3.169 học sinh phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh
Trang 11cho thấy tỷ lệ học sinh có người yêu với lớp 10 là 19,2%; lớp 11 là 34,66% và tới cuối cấp là 50% Học sinh cấp III trong nghiên cứu này đã có quan hệ tình dục với
tỷ lệ 8,17%, tỷ lệ này ở nam cao gấp 2,6 lần so với nữ [34]
Tuy nhiên, bên cạnh đó thì kiến thức của vị thành niên về QHTD nói riêng và SKSS nói chung còn nhiều hạn chế Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và thanh niên Việt Nam năm 2009 (SAVY 2) thì đối với những câu hỏi đơn giản như "Liệu một bạn gái có thể mang thai sau lần quan hệ tình dục đầu tiên không?" cũng chỉ có 71% (nam 67% và nữ 74%) trả lời là "có" Đối với câu "Nếu không muốn mang thai, người ta nên làm gì?" chỉ với những phương án trả lời đơn giản là (1) sử dụng các biện pháp tránh thai, (2) không quan hệ tình dục, (3) biện pháp khác, và (9) không biết, cũng chỉ có 82% thanh niên (83% nam và 81% nữ) chọn "sử dụng các biện pháp tránh thai" Tỷ lệ phần trăm nam nữ thanh niên trả lời đúng câu hỏi về thời điểm dễ có thai trong chu kỳ kinh của phụ nữ là khá thấp Ở SAVY 2, chỉ có 13% (7% nam và 18% nữ) trả lời đúng câu hỏi này (thời điểm "giữa hai kỳ kinh") [32]
Với nghiên cứu trên vị thành niên và thanh niên tại Chí Linh, Hải Dương năm
2007 của Lê Cự Linh và cộng sự cũng cho thấy chỉ có 41,6% ở nam và 50,4% ở nữ biết cách phòng ngừa BLTQĐTD [23]
Vì thế nên đã dẫn tới nhiều hậu quả đáng tiếc như mang thai, nạo phá thai ở tuổi vị thành niên, vô sinh, ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe và tâm lý của các em ở
độ tuổi này
Theo thống kê của Hội Kế hoạch hóa gia đình thì Việt Nam là một trong ba nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới (1,2-1,6 triệu ca mỗi năm), trong đó 20% thuộc lứa tuổi VTN, thậm chí có em chỉ mới 12 tuổi [20]
Khuất Thu Hồng và cộng sự đã điều tra trên 259 phụ nữ chưa chồng tới nạo hút thai ở 1 số bệnh viện tại Hà Nội thì có 37,5% thuộc độ tuổi từ 15-19 [10]
Trong nghiên cứu này chúng tôi chọn trường THPT Đống Đa vì qua tìm hiểu thông tin chung tại trường thì thấy tỷ lệ hiểu biết của các em về quan hệ tình dục an toàn và các bệnh lây truyền qua đường tình dục còn thấp, có em còn chưa hiểu chưa
Trang 12đúng về các BPTT Đặc biệt hơn, khi nói chuyện với thầy Hiệu phó và cô giáo dạy văn thì được biết năm ngoái cũng có tình trạng có học sinh nữ phải nghỉ học vì có thai, thầy cô cũng biết về giáo dục giới tính và SKSS là cần thiết trong trường học nhưng không được đào tạo chuyên sâu Trong khi đó, lứa tuổi học sinh PTTH là giai đoạn hoàn thiện tính cách và nhân cách, là lứa tuổi dễ bị ảnh hưởng bởi bạn bè, môi trường xung quanh do đó dễ gặp phải các vấn đề liên quan đến QHTD Vậy các
em hiểu biết như thế nào về QHTD? Thái độ, hành vi của các em với vấn đề này ra sao? Và nguyên nhân nào dẫn tới hành vi quan hệ tình dục ở lứa tuổi PTTH?
Nghiên cứu này muốn phần nào trả lời những câu hỏi trên nhằm đưa ra các khuyến nghị để hỗ trợ các tổ chức xã hội, ban ngành, nhà trường, gia đình có kế hoạch cụ thể để tạo ra môi trường học tập lành mạnh cho các em, giảm thiểu các tác động xấu của QHTD tuổi vị thành niên/thanh niên
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kiến thức, thái độ, hành vi về quan hệ tình dục của học sinh trường THPT Đống Đa, Hà Nội năm 2011
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi về quan
hệ tình dục của học sinh trường THPT Đống Đa, Hà Nội năm 2011
Trang 14CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Vị thành niên
Theo tổ chức y tế thế giới, Vị thành niên là những người trong độ tuổi 10-19, đang trong giai đoạn tăng trưởng nhanh về mặt thể chất và hoàn thiện bộ máy sinh sản, trưởng thành về tâm lý xã hội và hình thành nhân cách Cũng theo WHO, thanh niên là những người ở độ tuổi từ 15-24 tuổi và những người trẻ tuổi là những người
ở độ tuổi từ 10-24 tuổi [6], [16]
Căn cứ vào tình hình thực tế của Việt Nam, năm 1996 Vụ Bảo vệ sức khỏe bà
mẹ, trẻ em và Kế hoạch hóa gia đình thuộc Bộ y tế đã đưa ra đề nghị xếp tuổi của VTN thành hai nhóm tuổi: nhóm 1 từ 10 đến 14 tuổi, nhóm 2 từ 15 đến 19 tuổi
Vị thành niên là một giai đoạn phát triển đặc biệt và mạnh mẽ nhất, cả về trí tụê và thể lực, giai đoạn này của kém tốc độ phát triển của bào thai và những tháng đầu của trẻ em mà thôi Tuổi VTN thường có những hành vi, những thử nghiệm biểu hiện sự hào phóng, phù phiếm hoặc có nguy cơ gây hại cho bản thân và xã hội VTN thích thử sức mình, thích tự khẳng định mình và thoát ly sự kiểm soát của bố
mẹ hoặc người lớn tuổi Đôi khi cũng dễ bị tiêm nhiễm những hành vi, cách ứng xử lệch chuẩn hoặc vi phạm pháp luật bởi sự lôi kéo của bạn bè Đây cũng là lứa tuổi đang phát triển và định hình nhân cách, nhiều yếu tố tâm lý chưa được hình thành vững chắc, quan điểm sống chưa rõ ràng mà đặc trưng cơ bản là mâu thuẫn tâm lý giữa một bên là tính chất quá độ không còn trẻ con, nhưng cũng chưa phải là người lớn và một bên là “ý thức bản thân” phát triển mạnh mẽ, có ý nghĩ cho mình đã là người lớn và đòi hỏi được đối xử như người lớn
Giai đoạn hình thành và phát triển VTN chịu tác động rất lớn bởi những yếu tố kinh tế, văn hóa xã hội đặc trưng Cho nên chăm lo tốt về sức khỏe, định hướng tố
Trang 15cả về tư tưởng, tinh thần, giúp đỡ tiếp cận và thực hành những giá trị chuẩn mực, đúng đắn của xã hội cho lứa tuổi này rất cần thiết
1.1.2 Sức khỏe sinh sản
Sức khỏe là tình trạng phát triển hài hòa của mỗi người về thể lực, trí tuệ và khả năng hòa nhập cộng đồng, chứ không phải chỉ là không có bệnh tật, ốm đau hoạc không tàn phế Từ đó, sức khỏe sinh sản theo định nghĩa của WHO-là một trạng thái hoàn hảo về mặt thể chất, tinh thần chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật trong mọi vấn đề liên quan đến hệ thống sinh sản, chức năng sinh sản và quá trình sinh sản [9], [16], [30] Như thế SKSS cũng có thể hiểu là mọi người có thể có cuộc sống tình dục an toàn, hài lòng, họ có khả năng sinh sản, tự do quyết định có sinh con hay không, sinh con khi nào và sinh bao nhiêu con
Chương trình hành động của Hội nghị Cairo cũng đã đề cập đến nội dung cơ bản của chăm sóc SKSS là:
-Tư vấn, giáo dục, truyền thông và dịch vụ KHHGĐ an toàn, hiệu quả và chấp nhận tự do lựa chọn của khách hàng, kể cả nam giới
- Chú trọng sức khỏe VTN ngay từ lúc bước vào tuổi hoạt động tình dục và sinh sản
- Giáo dục sức khỏe và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh, bao gồm cả chăm sóc trong lúc có thai, khi đẻ và sau đẻ
- Phòng ngừa và điều trị bệnh viêm nhiễm đường sinh dục và các bệnh LTQĐTD
- Điều trị vô sinh
- Xử trí các vấn đề sức khỏe phụ nữ như các bệnh phụ khoa, giáo dục tình dục học cho cả nam và nữ, huy động nam giới có trách nhiệm trong mỗi hành vi tình dục và sinh sản…[30]
1.1.3 Sức khỏe sinh sản vị thành niên
Sức khỏe sinh sản vị thành niên là những nội dung về sức khỏe sinh sản liên quan đến lứa tuổi vị thành niên, bao gồm sức khỏe và dinh dưỡng, nhất là đối với vị
Trang 16thành niên gái Những hiểu biết về cách giữ gìn sức khỏe khi có thai, biến đổi của
cơ thể trong giai đoạn phát triển quan trọng này của mỗi con người, phát triển hiểu biết về tình dục học và sức khỏe tình dục là những mặt quan trọng của SKSS trong suốt đời người Ngoài ra, những vấn đề khác của tuổi VTN hiện còn là những bất cập như tình yêu, quan hệ tình dục, phòng tránh thai, nạo hút thai, sinh đẻ ở tuổi VTN, viêm nhiễm đường sinh sản, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bao gồm cả HIV/AIDS [30]
Hội nghị Quốc tế về dân số và phát triển cũng thu hút sự chú ý đến những nhu cầu về sức khỏe sinh sản của vị thành niên đã và đang bị các dịch vụ sức khỏe sinh sản hiện hành ở phần lớn các nước bỏ quên Chương trình hành động của Hội nghị tuyên bố rất rõ ràng rằng cần phải cung cấp rộng rãi các thông tin và dịch vụ cho vị thành niên để giúp họ hiểu được các nhu cầu tình dục của bản thân và bảo vệ họ trước nguy cơ có thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục có thể dẫn đến nguy cơ vô sinh
Làm mẹ khi ở tuổi vị thành niên thì người mẹ có nguy cơ tử vong cao hơn rất nhiều so với mức bình thường và tăng rủi ro đau ốm/bệnh tật và tử vong cho con cái
họ Ở nhiều nước, vị thành niên bị ép buộc hoặc bị thúc bách phải có hoạt động tình dục Phụ nữ trẻ, đặc biệt là thanh thiếu niên nghèo, là nhóm dễ gặp rủi ro nhất Vị thành niên (cả trai và gái) sớm bắt đầu quan hệ tình dục càng dễ gặp nguy cơ lây nhiễm các bệnh lây truyền qua quan hệ tình dục kể cả HIV/AIDS, bởi họ thường không được ai chỉ bảo cách tự bảo vệ mình như thế nào [3]
1.1.4 Tình dục
Tình dục không chỉ là quan hệ xác thịt như những cư dân cổ xưa ở thời kỳ đồ
đá, tình dục ngụ ý tình yêu và ân ái, là nền tảng của hôn nhân và gia đình, nó lan tỏa sang các lĩnh vực nghệ thuật, lịch sử và văn hóa Thuật ngữ “sexuality” trong tiếng Việt có hai nghĩa là tính dục và tình dục
Tính dục là khía cạnh mang tính nhân văn chứ không đơn giản là ám chỉ khả năng của con người trong quan hệ tình dục Như vậy, tính dục biểu hiện tính văn
Trang 17hóa và xã hội rộng hơn tình dục, vì tình dục chỉ là quan hệ thể xác giữa hai cá nhân Tình dục thuộc về phương tiện văn hóa cụ thể, do vậy những định nghĩa và ngôn ngữ có thể khác nhau từ văn hóa này sang văn hóa khác và từ cộng đồng này sang cộng đồng khác Nó quan trọng đối với những người thiết kế chương trình và người cung cấp dịch vụ trong thăm dò và hiểu ý nghĩa của những thuật ngữ này ở ngay trong chính cộng đồng, ngôn ngữ và văn hóa của họ
Tính dục của con người bao gồm sự hiểu biết về tình dục, sự tin tưởng, thái
độ, giá trị và hành vi của từng cá nhân Nó bao gồm cả giải phẫu học, sinh lý học và sinh hóa học của hệ thống phản ứng tình dục, về tính đồng nhất, sự định hướng, vai trò và nhân cách, sự suy nghĩ, tình cảm và mối quan hệ Sự biểu hiện của tính dục được chi phối bởi sự quan tâm đến đạo đức, tâm hồn, văn hóa và lương tâm [6] Định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra cái nhìn toàn diện về tình dục Tình dục trong định nghĩa này là một khía cạnh trung tâm trong đời sống con người, nó bao phủ dục tính, giới tính, nhân dạng và vai trò giới, khuynh hướng tình dục, sự luyến
ái, khoái lạc, quan hệ riêng tư và sự sinh sản Tình dục được trải nghiệm và thể hiện thông qua suy nghĩ, tưởng tượng, ham muốn, quan niệm, thái độ, giá trị, hành vi, thực hành, vai trò và các mối quan hệ Trong khi tình dục có thể bao gồm tất cả các chiều cạnh trên, không phải mọi chiếu cạnh đều được trải nghiệm và thể hiện Tình dục chịu ảnh hưởng của sự tương tác giữa các yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, đạo đức, luật pháp, lịch sử, tín ngưỡng và tinh thần [19]
Tình dục là một mặt của nhân cách, thể hiện tất cả cảm xúc, thái độ và hành vi giới tính của một con người Tình dục có thể là tình cảm hoặc/và các hoạt động sinh
lý Tình dục có tính chất tự nhiên và lành mạnh Đó là thể hiện của cảm xúc (tình yêu) hoặc sự cuốn hút rất mạnh mẽ về sinh lý (tình dục)
Tình dục thường nảy sinh giữa hai người khác giới, nhưng hãn hữu có thể giữa hai người cùng giới Biểu hiện bên ngoài dễ thấy của tình dục là muốn ở bên nhau, vuốt ve, mơn trớn, hôn hít và giao hợp
Trang 18Những người còn ở tuổi vị thành niên đã có quan hệ tình dục có thể vì nhiều lý
do khác nhau: do quá tò mò, do áp lực từ phía người yêu (chủ yếu là nam), do thấy bạn bè cùng lứa đã có quan hệ tình dục Nhiều người có quyết định chờ đến khi kết hôn Điều quan trọng mà lớp trẻ cần biết là họ có thể nói “không” trước đòi hỏi của đối tác về QHTD Còn nếu họ muốn nói “có” thì họ cần hiểu thấu đáo và cân nhắc những hậu quả có thể xảy ra [3]
Xét trên khía cạnh sinh học, tình dục là sự phát triển tất yếu và là nhu cầu sinh
lý tự nhiên của con người khi bước vào tuổi dậy thì và là một phần bản năng duy trì nòi giống Trong tuổi dậy thì, sự phát dục không chỉ kích thích các bạn trẻ quan tâm đến bạn khác giới, mà làm cho các bạn trẻ luôn sống trong sự khát khao, mong đợi muốn biết những điều mới lạ, kì diệu của bạn khác giới [16]
Dậy thì sớm và kết hôn muộn đã kéo dài khoảng thời gian giữa trưởng thành
về thể chất và sinh dục (dậy thì) và tuổi lập gia đình, trung bình thời gian này là khoảng 8-10 năm Đây cũng là một điều kiện thuận lợi khiến hoạt động tình dục sớm có điều kiện xảy ra ở lứa tuổi vị thành niên [24]
1.1.5 Sức khỏe tình dục
Theo tổ chức y tế thế giới định nghĩa, sức khỏe tình dục như là “Sự hòa hợp thành một hệ thống nhất từ nhiều mặt của cơ thể, cảm xúc, tri thức và xã hội của cuộc sống tình dục theo chiều hướng tích cực và làm tốt thêm, nhằm nâng cao nhân cách, giao tiếp và tình yêu Mỗi người có quyền tiếp nhận thông tin về tình dục và quan tâm đến mối quan hệ tình dục khoái cảm cũng như sự sinh sản” [6]
1.1.6 Tình dục an toàn
Ở nữ giới nhu cầu tình dục thoạt đầu ít cấp bách và nảy sinh chậm hơn nam
Nữ thường thích vuốt ve, âu yếm Điều đó làm tăng sự đòi hỏi sinh lý của nữ Tuy nhiên nhu cầu tình dục của nữ bền bỉ hơn nam và không kém phần nồng nhiệt, sâu
xa Nữ thường bị động trong quan hệ tình dục Vì gánh chịu những hậu quả trực tiếp, nặng nề, nữ thường đắn đo, do dự, giữ gìn nhiều hơn Tuy nhiên nữ dễ nhượng
bộ và nhiều khi không tránh khỏi hậu quả ngoài ý muốn [16]
Trang 19Một mối quan hệ tình dục lành mạnh, an toàn là dựa trên sự chia sẻ giá trị và
có năm đặc tính: đó là sự đồng ý, không lợi dụng, chân thật, mang lại niềm khoái lạc cho nhau và được bảo vệ chống lại sự có thai ngoài ý muốn và bệnh lây truyền qua đường tình dục bao gồm cả HIV/AIDS [6]
Theo Tài liệu tập huấn cho giáo viên các trường phổ thông về giáo dục dân số, SKSS vị thành niên thì quan hệ tình dục an toàn là nghệ thuật cùng lúc có 2 yêu cầu: hưởng thụ tình dục mà vẫn tránh được hậu quả xấu Muốn được thế phải tránh cho tinh dịch nam hoặc dịch âm đạo của nữ xâm nhập vào cơ thể mình Có 2 cách
để đạt được yêu cầu trên: một là không giao hợp mà vẫn đạt khoái cảm bằng cách vuốt ve, hôn hít, xoa bóp…hai là sử dụng bao cao su Nhờ 2 biện pháp đó, không những tránh được có thai ngoài ý muốn mà còn phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS [3]
1.1.7 Bệnh lây truyền qua đường tình dục
Bệnh lây truyền qua đường tình dục là những bệnh lây chủ yếu bằng cách tiếp xúc trực tiếp với thân thể, đặc biệt là qua sinh hoạt tình dục Bệnh có thể lây truyền giữa nam với nam, nữ với nữ, nhưng chủ yếu gặp ở những người QHTD khác giới Vì vậy nguyên tắc điều trị là điều trị cho cả hai người vợ và chồng hoặc bạn tình [6]
Các bệnh lây truyền qua đường tình dục gồm các bệnh lây lan qua quan hệ tình dục do các tác nhân gây bệnh khác nhau (vi khuẩn, virus hay loại đơn bào) gây
ra Các BLTQĐTD thường gặp là bệnh lậu, bệnh giang mai, bệnh viêm âm đạo do trùng roi, viêm âm đạo do nấm, nhiễm Chlamydia sinh dục, bệnh hạ cam và viêm gan B, nhiễm HIV/AIDS…
Các tác nhân gây các BLTQĐTD có thể gây tổn thương ở một hoặc nhiều hệ thống các cơ quan của cơ thể Như lậu cầu khuẩn gây viêm niệu đạo nên đôi khi đi tiểu sẽ bị đái buốt, có mủ chảy từ trong niệu đạo…
Một trong những điều cần làm là phải phòng và điều trị tốt những bệnh lây truyền qua đường tình dục vì chúng là cơ hội để lây nhiễm HIV/AIDS [16], [24]
Trang 20Nguyên tắc cơ bản để phòng các BLTQĐTD là tránh tiếp xúc với dịch của cơ thể đã nhiễm khuẩn (tinh dịch, dịch âm đạo, nước bọt, máu) và tránh tiếp xúc với dịch của cơ thể đã nhiễm khuẩn Vi khuẩn gây bệnh thường xâm nhập qua âm đạo, niệu đạo và miệng Để không bị mắc các BLTQĐTD, cần thực hành tình dục an toàn và lành mạnh [4]
1.1.8 Có thai và các biện pháp tránh thai
a Có thai
Khi nam giới đưa dương vật cương cứng vào trong âm đạo của nữ giới, hàng trăm triệu con tinh trùng sẽ trào theo tinh dịch ở dương vật vào đáy âm đạo Tinh trùng được phóng ra sẽ bơi từ âm đạo vào tử cung, lên ống dẫn trứng để tìm trứng Nếu ở ống trứng có một trứng đã chín có thể xảy ra thụ tinh Mặc dù có hàng trăm, hàng triệu tinh trùng được phóng ra nhưng chỉ có một tinh trùng có khả năng thụ tinh cho trứng Trứng được thụ tinh sẽ di chuyển theo ống dẫn trứng vào làm tổ trong lớp niêm mạc tử cung, nơi bào thai sẽ lớn lên Nếu trứng không được thụ tinh thì kinh nguyệt sẽ xảy ra bình thường
Nữ giới đã có trứng chín thì có thể có thai nếu như có quan hệ tình dục với nam giới, kể cả ngay lần đầu tiên [3]
b Các biện pháp phòng tránh thai
Biện pháp tránh thai là các biện pháp can thiệp tác động lên cá nhân nhằm ngăn cản việc thụ thai ở người phụ nữ Các BPTT thường áp dụng là thuốc, hóa chất, thiết bị đưa vào cơ thể, các thủ thuật ngoại khoa cắt đứt đường đi, ngăn cản tinh trùng gặp trứng, hoặc các nỗ lực của các cá nhân nhằm tránh thụ thai BPTT giúp cho cá nhân và các cặp vợ chồng thực hiện kế hoạch hóa gia đình [6]
Hiện có rất nhiều biện pháp tránh thai như dụng cụ tử cung, bao cao su, thuốc viên tránh thai, thuốc cấy tránh thai, triệt sản nam và nữ, thuốc diệt tinh trùng, tính vòng kinh, xuất tinh ngoài âm đạo… Tuy nhiên chỉ có một vài phương pháp tránh thai phù hợp với vị thành niên như thuốc uống tránh thai, bao cao su, viên tránh thai khẩn cấp [16], [24]
Trang 21Thuốc uống tránh thai kết hợp là biện pháp tránh thai tạm thời chứa 2 loại hormone estrogen và progestin làm không phóng noãn, làm đặc niêm dịch cổ tử cung, làm cho tinh trùng không gặp được noãn, ngăn cản không cho trứng đã thụ tinh làm được tổ trong buồn tử cung Nếu dùng đúng cách và liên tục, hiệu quả tránh thai lên tới 97-99%, nhưng không giúp phòng tránh các BLTQĐTD Viên uống tránh thai thường thích hợp với vị thành niên ngay cả khi họ không giao hợp là
vì vị thành niên thường hay đau bụng kinh nhiều hơn phụ nữ thường, dùng thuốc hàng ngày đúng cách thường ít đau bụng và kinh nguyệt đều hơn
Bao cao su cho nam giới hoạt động theo nguyên tắc màng ngăn, ngăn cản không cho tinh trùng di chuyển vào âm đạo, do đó không xảy ra hiện tượng thụ thai Bao cao su là biện pháp tránh thai có hiệu quả, an toàn, rẻ tiền, đồng thời là một biện pháp phòng HIV/AIDS và bệnh lây truyền qua đường tình dục Nhiều trung tâm y tế và dân số phát miễn phí bao cao su hoặc bán với giá rẻ
Viên uống tránh thai khẩn cấp là biện pháp tình thế dùng sau khi giao hợp không dùng biện pháp tránh thai hoặc sử dụng biện pháp tránh thai gặp sự cố Tác dụng của chủ yếu của thuốc là ức chế rụng trứng hoặc ngăn cản việc làm tổ của trứng đã thụ tinh Thuốc có tác dụng tới 98%, hiệu quả của viên tránh thai khẩn cấp
ít nhất là 75%, uống càng sớm kết quả càng cao Tuy nhiên, không bao giờ được dùng thường xuyên như các BPTT thông thường vì hiệu quả thấp hơn và tác dụng phụ, khó chịu lại nhiều hơn
Phương pháp tránh thai bằng tính vòng kinh là phương pháp không khuyên dùng cho vị thành niên vì vị thành niên thường kinh nguyệt chưa đều, bạn tình của họ chưa chắc muốn phối hợp với họ để thực hiện phương pháp này, quan hệ bạn tình khi còn trẻ tuổi chưa đủ ổn định, hoặc chưa đủ trách nhiệm và ý thức để phát triển sự hợp tác và tin cậy cần thiết cho việc sử dụng hiệu quả phương pháp này [16]
1.1.9 Phá thai
Phá thai là biện pháp dùng thuốc và các biện pháp y học để phá bỏ bào thai còn trong bụng mẹ Phá thai để lại hậu quả rất nghiêm trọng đặc biệt là tuổi vị thành
Trang 22niên Nguy cơ tai biến sau phá thai cao hơn do VTN không có kinh nghiệm trong việc nhận định tình hình có thai của mình, thường cố lùi thời điểm phá thai, làm thai
to hơn Tai biến do nạo phá thai có thể là nhiễm trùng, chấn thương trong quá trình nạo phá thai, như thủng tử cung, băng huyết Tai biến lâu dài có thể dẫn đến nguy
cơ có thai ngoài tử cung, nhiễm khuẩn đường sinh dục mãn tính và vô sinh [6]
1.2 Tổng quan nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành của VTN trên thế giới
1.2.1 Kiến thức
Theo báo cáo của UNFPA ở một số nước như Bangladesk, Ấn Độ, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc, SriLanka, Philippin…cho thấy kiến thức của VTN về SKSS và tình dục là rất thấp
Ở Campuchia chỉ 3/5 VTN nghe nói về BLTQĐTD, trong đó những người tuổi từ 16-20 có kiến thức tốt hơn VTN từ 11-16 tuổi (45% và 25%) Nguy cơ lây truyền các BLTQĐTD được VTN/TN kể nhiều nhất là QHTD với người bán dâm, sau đó đến dùng chung bơm kim tiêm (67%), truyền máu (40%)…Có tới 85-100% VTN/TN đã nghe về HIV/AIDS thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng (95,3%), từ bạn bè (39,8%), nhân viên y tế (32,4%), từ giáo viên chỉ có 8,5%
Kiến thức về BPTT sử dụng từ cao (ở Maylaysia) đến rất thấp (Bangladesk, Srilanka, Trung Quốc và Việt Nam) VTN/TN nam giới sử dụng BPTT chủ yếu là bao cao su, xuất tinh ngoài âm đạo, trong khi đó VTN/TN nữ lại là thuốc tránh thai Tuy nhiên, tỷ lệ biết sử dụng các BPTT trong số các VTN/TN cực kì thấp, chỉ từ 1-37% Tỷ
lệ biết sử dụng thấp, đồng thời không biết tìm kiếm các BPTT ở đâu, cách phòng chống như thế nào đã thúc đẩy nhiều trường hợp mang thai ngoài ý muốn [51]
Một cuộc khảo sát trong 1 trường Đại học ở Trung Quốc với 1813 sinh viên từ 17-26 tuổi đã cho kết quả: 18% sinh viên không biết tên 1 BLTQĐTD, 38% không
kể tên được bất kỳ 1 cách phòng tránh BLTQĐTD nào [53]
Tại Iran, trong một nghiên cứu về kiến thức, thái độ, hành vi về SKSS trong
1385 nam giới từ 15-18 tuổi ở Tehran, có 17% nam giới có kiến thức đúng về thời
Trang 23điểm có thể có thai trong chu kỳ kinh nguyệt, 42% VTN biết sử dụng BCS có thể tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục [46]
Theo một báo cáo của Yasmeen Sabeeh Qazi tại hội nghị Mumbai, Ấn Độ năm 2000, trong 1 nghiên cứu ở Parkistan trong 310 VTN/TN có 32% nam và 15%
nữ chưa hề nghe tới 1 BPTT nào Đây là 1 vấn đề rất cần lưu ý vì VNT/TN nữ là đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất của việc mang thai lại có kiến thức không tốt gấp đôi nam giới về BPTT Biết cách sử dụng của BPTT bao gồm cả thuốc và bao cao su ở VTN/TN cực kỳ thấp, chỉ có 5% ở cả nam và nữ [48]
1.2.2 Thái độ
Đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới nói về thái độ của vị thành niên/thanh niên về tình dục và sức khỏe sinh sản Về thái độ quan hệ tình dục trước hôn nhân
bị ảnh hưởng rất lớn bởi các nền văn hóa khác nhau Các nước phương Tây thường
có quan niệm cởi mở về tình dục và họ cho rằng tình dục là cách đề cập mang tính tâm lý, xã hội, gắn tình dục với khoái cảm Còn ở các nước Đông Á và Đông Nam
Á do chịu ảnh hưởng nhiều của đạo phật và nho giáo nên coi tình dục là bản năng thấp kém của con người, không dám bàn luận
Thái độ của VTN/TN về quan hệ tình dục trong 1 nghiên cứu của Mohammadi
và các cộng sự tại Tehran, Iran có 55% nam VTN đồng ý không nên có quan hệ tình dục trước hôn nhân [46]
Trong khi đó tại Trung Quốc, 1 cuộc khảo sát về thái độ của VTN/TN bỏ học chưa kết hôn tại Trung Quốc đã chỉ ra có khoảng 60% VTN/TN có thái độ đồng ý với việc quan hệ tình dục trước hôn nhân, nếu họ yêu nhau hoặc nếu muốn Chỉ có 7-8% VTN/TN không đồng ý QHTD trước hôn nhân vì theo họ ở tuổi của mình nếu
có QHTD trước hôn nhân sẽ bị trừng phạt [52]
Tại Skilankan, một nghiên cứu của Kilinga Tudor Silva và Stephen Schensul
đã tìm ra sự khác biệt giữa thái độ giữa VTN/TN nam và nữ về quan điểm mất trinh trước khi kết hôn là 1 việc vô cùng nguy hiểm, có 76% nữ đồng tình với quan điểm này trong khi ở nam là 67%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,01 Cũng
Trang 24trong nghiên cứu này, cùng với quan điểm có thể chấp nhận QHTD nếu không phá
bỏ trinh tiết của 1 cô gái thì có tới 46% VTN/TN nam đồng ý, trong khi ở VTN/TN
nữ chỉ có 14% [48]
1.2.3 Hành vi
Ngày nay, quan hệ tình dục và tình dục không an toàn ở vị thành niên đang gia tăng ở nhiều quốc gia Theo kết quả điều tra nghiên cứu trường hợp của WHO ở các nước đang phát triển đã chỉ ra những số liệu đáng để quan tâm Như ở Hàn Quốc, có tới 24% nam và 11% nữ trong trường cấp 2 đã có quan hệ tình dục Trong số những VTN có quan hệ tình dục, với đa số VTN nữ người QHTD đầu tiên là bạn trai, người mà họ nghĩ sẽ đi đến hôn nhân, ngược lại với VTN nam, 1 điều rất đáng lo lắng, đa số người QHTD đầu tiên của VTN nam là gái mại dâm, hoặc bạn tình bất chợt Ở Hàn Quốc, Thái Lan và Nepal hơn ½ nam giới đã quan hệ tình dục với gái mại dâm Một số lớn, VTN nam có mối quan hệ bạn tình đa dạng 70% sinh viên nam
ở Hàn Quốc và 30% VTN/TN nam giới ở Thái Lan có nhiều hơn 2 bạn tình [40]
Ở Thái Lan, hoạt động tình dục ở nam giới phổ biến hơn ở nữ Trong 1 nghiên cứu ở 21 trường phổ thông cả trường tư và công lập, có 1/3 nam học sinh lớp 12 đã từng có quan hệ tình dục Một nghiên cứu khác trong trường học, 2/3 nam VTN chưa kết hôn, tuổi từ 15-24 đã từng có QHTD [39] Tuổi trung bình có quan hệ tình dục lần đầu tiên trong các nghiên cứu đều chỉ là 18 tuổi ở nữ và 16 tuổi ở nam Nghiên cứu trường hợp của UNFPA tại Philippin cũng đã chỉ ra rằng quan hệ tình dục ở VTN phần lớn là không an toàn, 90% nam VTN có quan hệ tình dục không an toàn, 78% có QHTD với gái mại dâm không được bảo vệ [45]
Bệnh lây truyền qua đường tình dục ngày càng gia tăng trong cộng đồng nói chung và trong nhóm tuổi VTN nói riêng Từ năm 1991 đến năm 2000, tỷ lệ bệnh nhân mắc các BLTQĐTD từ 12446 lên tới 28541, và từ 394 lên 976 vị thành niên ở Hồng Kông [41]
Quan hệ tình dục trước hôn nhân gia tăng kéo thai đến tỷ lệ nạo phá thai cũng gia tăng nhanh chóng trong độ tuổi VTN Ở một số quốc gia tại Châu Á như
Trang 25SkiLanka, Parkistan và Philippin phá thai là một điều bất hợp pháp Tuy nhiên, nhìn vào một vài số liệu cũng thấy rằng việc nạo phá thai đang gia tăng Một nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu sức khỏe của Indonesia năm 2000, đã chỉ ra rằng trong khoảng 2 triệu ca nạo phá thai hàng năm, có 30% trong số đó thuộc lứa tuổi VTN [49] Tại Urganda, trong số 2695 VTN nữ tham gia nghiên cứu có 15% đã khai báo rằng đã từng phá thai [47]
1.3 Tổng quan nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành của VTN ở Việt Nam
1.3.1 Kiến thức
Có rất nhiều nghiên cứu về sức khỏe sinh sản vị thành niên ở Viện Nam đã chỉ
ra rằng tỷ lệ VTN có QHTD đang gia tăng nhanh chóng, tuy nhiên kiến thức của các em còn có nhiều hạn chế
Kiến thức của VTN trong nghiên cứu của Nguyễn Linh Khiếu cũng chỉ ra rằng còn thiếu hụt rất lớn, ví dụ có 91,5% nam và 62,3% em nữ trả lời không biết về thời điểm dễ có thai của phụ nữ nếu có quan hệ tình dục mà không sử dụng BPTT Số
em học sinh ngoại thành và từ 14 tuổi trở xuống biết về vấn đề này thấp hơn so với những em trong nội thành và có tuổi từ 14 trở lên [22]
Nghiên cứu dọc của Trường Đại học y tế công cộng về thực trạng sức khỏe thanh thiếu niên tại Chí Linh- Hải Dương cho kết quả: một nửa số trường hợp được hỏi (49,6%) đã từng nghe nói về các biện pháp tránh thai Trong đó, biện pháp được biết đến nhiều nhất là bao cao su với hơn 4/5 số VTN/TN trả lời, tiếp theo là thuốc uống tránh thai với tỷ lệ 77,9% và dụng cụ tử cung chiếm tỷ lệ 36% Khi được hỏi
về thời điểm dễ thụ thai nhất, chỉ có 12,8% VTN/TN trả lời đúng [25]
Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên (lần 1 và 2) là cuộc điều tra lớn và toàn diện nhất về thanh thiếu niên Việt Nam Cuộc điều tra lần 1 tiến hành năm 2003 tại 41 tỉnh thành trong cả nước, điều tra lần 2 với 10.044 thanh thiếu niên
từ 14-25 tuổi tại 63 tỉnh/thành phố, từ đô thị tới nông thôn và miền núi Đã mang lại bức tranh toàn diện về giới trẻ Việt Nam Đối với việc hiểu biết các biện pháp tránh thai cụ thể, tuyệt đại đa số người được hỏi ở SAVY 2 biết về thuốc uống tránh thai
Trang 26(92%) và bao cao su (95%) Nữ có hiểu biết tốt hơn nam các phương pháp như vòng tránh thai, thuốc uống tránh thai, thuốc tiêm tránh thai, xuất tinh ngoài âm đạo, tính vòng kinh So với SAVY 1, thanh thiếu niên ở SAVY 2 tỏ ra có hiểu biết ít hơn về vòng tránh thai, nhưng lại cho thấy có tiến bộ rất đáng kể về hiểu biết phương pháp xuất tinh ngoài âm đạo, sử dụng viên tránh thai khẩn cấp, và thuốc uống tránh thai
Khoảng 7% VTN trong SAVY 2 chưa hề nghe tới BPTT từ bất kỳ nguồn nào Tỷ lệ phần trăm VTN trả lời đúng câu hỏi về thời điểm dễ có thai trong chu kỳ kinh của phụ nữ là khá thấp Ở SAVY 2, chỉ có 13% (7% nam và 18% nữ) trả lời đúng câu hỏi này Ở SAVY 1 có 17% (11% nam và 22% nữ) trả lời đúng câu này, trong đó
nữ biết nhiều hơn nam [32]
Nguồn thông tin về SKSS được thanh niên tiếp nhận nhiều nhất là từ thông tin đại chúng (93,4%), thứ 2 là qua cán bộ chuyên môn như cán bộ y tế, giáo viên…(80,2%), thứ 3 là qua bạn bè (75,9%) và cuối cùng mới là gia đình (63,3%) [7] Những người trẻ tuổi có ít hiểu biết về bệnh lây truyền qua đường tình dục, viêm gan B là bệnh được nhiều VTN nhắc tới nhiều nhất (71%), sau đó tới giang mai (64%) và lậu (62%) [11]
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra kết quả tương tự: hiểu biết của VTN về các bệnh lây truyền qua đường tình dục còn thấp Đa số VTN nghe nói nhiều nhất là về HIV/AIDS, sau đó đến lậu, giang mai, viêm gan B [9], [22] Có tới 29,8% VTN trong nghiên cứu tại 5 tỉnh thành Hà Nội, Thái Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Bình Định không biết cách phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục [9]
Trong nhiều năm gần đây, tránh thai và các BPTT thường được nhắc đến nhiều trong các chương trình dân số và KHHGĐ trên các phương tiện truyền thông đại chúng, hầu như gia đình nào cũng nghe nói về KHHGĐ và sử dụng BPTT, đặc biệt là
sử dụng BCS Chính vì thế, đa số trong các nghiên cứu BPTT được các em nhắc đến nhiều nhất là bao cao su [14],[38] ,[29] Nhưng chỉ số ít các em biết cách sử dụng, số ít các em nhìn thấy bao cao su sau khi bóc vỏ, lại càng ít học sinh đọc hướng dẫn sử dụng BCS Hầu hết các học sinh nữ chỉ nghe nói và nhìn thấy BCS chứ chưa từng cầm [14]
Trang 27Kiến thức về BPTT của VTN mới chỉ dừng ở mức kể tên được BPTT, cơ chế tác dụng
và cách sử dụng còn biết rất sơ sài hoặc hiểu chưa đúng
Hiểu biết về hậu quả của nạo phá thai ở VTN khá cao, nghiên cứu của Trần Thị Trung Chiến tại Hải Phòng cho thấy: 94,3% VTN biết nạo phá thai có ảnh hưởng đến sức khỏe phụ nữ; 71,0% biết các tai biến do nạo phá thai, hiểu biết ở nữ cao hơn ở nam Trong đó, 28,7% VTN biết hậu quả của nạo phá thai là vô sinh, 24,2% là nhiễm trùng, ảnh hưởng đến sức khỏe là tai biến là hậu quả được kể đến nhiều nhất (61,9%) [8]
Nguồn thông tin về SKSS và tình dục mà VTN nhận được nhiều nhất chủ yếu qua thông tin đại chúng bao gồm ti vi, đài, sách báo và tạp chí Rất ít VTN nhận thông tin này
từ cha mẹ [9] Nguồn thông tin về vấn đề SKSS từ cha mẹ còn thấp, phần nào thể hiện việc giáo dục giới tính trong gia đình vẫn còn là một vấn đề khó nói
nó là ám ảnh bất tận trong số những người trên 50 tuổi, là niềm tự hào của đàn ông Cũng có 1 số ý kiến cho rằng quan niệm của họ về trinh tiết và tình dục trước hôn nhân hiện nay đã thay đổi Họ không nhìn chúng bằng con mắt phán xét như trước
mà bình tĩnh hơn, chấp nhận một cách hòa bình [19]
Tỷ lệ thanh thiếu niên ở SAVY 2 đồng ý quan điểm: “Có thể quan hệ tình dục trước hôn nhân nếu 2 người…tự nguyện/yêu nhau/sắp cưới/lường trước được hậu quả/biết tránh thai” ở cả 5 tình huống đều cao hơn tỷ lệ thanh thiếu niên ở SAVY 1
có cùng ý kiến Điều này cho thấy xu hướng chấp nhận tình dục trước hôn nhân đang gia tăng trong thanh thiếu niên [32]
Trang 28Trong nghiên cứu ở các sinh viên hộ sinh, 2/3 trong số sinh viên (64%) có ý kiến phá thai là một việc không thể chấp nhận được về mặt đạo đức, tuy nhiên 4/5
số sinh viên ở nhóm 1 (79%) đồng ý với quan điểm quan điểm phá thai ở VTN có thể chấp nhận được nếu mang thai ngoài ý muốn, ở nhóm 2 là 61% Đa số sinh viên (98%) nghĩ rằng số ca nạo phá thai ở những phụ nữ trẻ chưa kết hôn đang gia tăng nhanh ở Việt Nam và tỷ lệ tương tự đồng ý với quan điểm “không QHTD trước hôn nhân là cách tốt nhất giảm bớt nạo phá thai trước hôn nhân ở VTN” [44]
1.3.3 Thực hành
Do đối tượng trong các nghiên cứu về vấn đề tình dục và sức khỏe sinh sản có khác nhau Có nghiên cứu về học sinh phổ thông, trung học cơ sở, có nghiên cứu về những trẻ em đường phố, bỏ học, có nghiên cứu ở thành thị, nông thôn…cho nên tỷ
lệ QHTD ở các nghiên cứu có khác nhau Tính chung cho cả người đã kết hôn lẫn những người còn chưa kết hôn, có 9,5% thanh niên ở SAVY 2 cho biết họ đã từng
có quan hệ tình dục trước hôn nhân (tỷ lệ này ở SAVY 1 là 7,6%) Nam thanh niên
có tỷ lệ đã từng có quan hệ tình dục khi chưa lập gia đình (kể cả những người hiện
đã kết hôn) là 13,6%, cao hơn hai lần tỷ lệ này tính cho nữ là 5,2% (con số tương ứng ở SAVY 1 là 11,1% và 4%) [32] Tỷ lệ từng có QHTD ở thanh thiếu niên chưa kết hôn) trong nghiên cứu của Lê Cự Linh là 5,1% ở nam và 1,0% ở nữ Có 23,4% nam giới và 13,5% nữ giới đã kết hôn thừa nhận từng có QHTD trước hôn nhân (quan hệ với bất kỳ ai, không chỉ người sau này đã kết hôn với họ [23]
Phần lớn nam và nữ đã quan hệ tình dục lần đầu tiên với người yêu hoặc người sẽ lấy làm vợ/chồng Tuổi quan hệ tình dục lần đầu tiên vào khoảng 18-19 tuổi [7], [32] Nghiên cứu của Khương Văn Duy tại các trường THPT Hải Phòng có 19,3% học sinh đã có quan hệ tình dục với gái mại dâm, một hành vi tình dục không an toàn nếu như những học sinh này không được giáo dục giới tính và an toàn tình dục thì
dễ có nguy cơ lây nhiễm các BLTQĐTD [12]
Phần lớn VTN/TN không sử dụng BPTT trong quan hệ tình dục và BCS là lựa chọn phổ biến nhất được sử dụng trong số những VTN sử dụng BPTT Theo nghiên cứu tại Chillab Hải Dương, chỉ có 31,1% nam và 12,6% nữ sử dụng bao cao su Với
Trang 29người đã kết hôn, trong lần QHTD gần đây nhất (không phải với vợ hoặc chồng) chỉ có 21,6% nam và 6,9% nữ có sử dụng bao cao su và các biện pháp khác là không đáng kể [23] Khi được hỏi tại sao không dùng BPTT nào: 72,9% trả lời không chuẩn bị, 18,8% không thích dùng; 6,3% không biết và 2,1% nói rằng không có [29]
Trường Đại học Y Hà Nội tiến hành khảo sát tại huyện Thái Thụy-Thái Bình
và TP Hạ Long về nạo hút thai ở tuổi vị thành niên cho thấy chỉ trong 3 tháng năm
1998 có 47 VTN trên tổng số 2151 lượt người đến thực hiện nạo hút thai [17] Nghiên cứu của Ngô Thị Kim Phụng và cộng sự tiến hành tại bệnh viện Từ Dũ
và Hùng Vương năm 2008 có 862 sản phụ dưới 19 tuổi (4,6%); nghiên cứu trong
3834 sản phụ đồng ý tha gia nghiên cứu, có 6 trường hợp sinh con đầu lòng ở tuổi 14-15, có trường hợp có thai lần 3, cho thấy đây là vấn đề cần xã hội quan tâm, có 5,99% sinh con nhưng chưa lập gia đình [28]
Quan hệ tình dục ở tuổi VTN không sử dụng các BPTT là nguyên nhân dẫn tới việc tỷ lệ có thai và nạo phá thai ở VTN tăng cao Việt nam một trong 3 nước có tỷ
lệ phá thai cao nhất thế giới (1,2-1,6 triệu ca/năm); trong số đó 20% ở lứa tuổi VTN Thậm chí có em mới 12 tuổi [20] Nghiên cứu của Tine Gamel Toft được tiến hành bằng phương pháp phỏng vấn sâu tại BV phụ sản Hà Nội với 100 phụ nữ chưa chồng đến NPT Kết quả 88% nói rằng đây là lần NPT đầu tiên, 12% đã có hơn 1 lần nạo thai trước đó, 57% phụ nữ chọn bệnh viện phụ sản vì nó có tiếng, 32% đến
BV này vì các lý do khác Trong tổng số 100 người có 48 người có thai dưới 3 tháng, 34 người có thai ít nhất 3 tháng (trong đó 21 người nói rằng họ biết dấu hiệu mang thai ít nhất được 2 tháng) Về lý do nạo thai: 89% cho biết quyết định nạo thai
là tự mình hoặc cùng bạn trai, 45% nói rằng họ đã cân nhắc việc sinh nở nhưng cuối cùng chọn NPT; 62% đưa ra vì lý do việc làm và học tập nên phải NPT trong khi đó
21 người cảm thấy mình quá trẻ để có thể cưới hoặc có con [31]
Điều này cũng tương tự như trong nghiên cứu của Hồ Thị Thu Hà tại Chí Linh- Hải Dương trên nữ vị thành niên chưa kết hôn Khi được hỏi tại sao phải nạo phá thai- họ đều đưa ra lý do chung nhất là: không có khả năng chăm sóc một đứa trẻ, còn phải học tập, còn chuẩn bị về kinh tế lẫn vị trí xã hội Các cô gái đều cho
Trang 30rằng trong hoàn cảnh thực tại họ không thể cưới được, nếu sinh con sẽ ảnh hưởng đến cuộc đời họ, mang tiếng với xã hội, gia đình và bạn bè Cho nên quyết định cuối cùng của họ là phá thai 98,18% khi không có điều kiện cưới [13]
1.4 Yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi của VTN về quan hệ tình dục
Những yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và hành vi của vị thành niên về quan hệ tình dục bao gồm các yếu tố về gia đình, cá nhân và xã hội
Yếu tố cá nhân cũng có liên quan đến hành vi QHTD của VTN như tuổi, giới, trình độ học vấn, dậy thì sớm, kỹ năng giao tiếp xã hội, kiến thức, thái độ về các BPTT, BLTQĐTD… Nghiên cứu tại Lima, Peru trên nam học sinh phổ thông để tìm hiểu về kiến thức, thái độ và hành vi về tình dục ở nam VTN đã cho kết quả: những VTN dậy thì sớm, từng bị lưu ban, từng có bạn gái và từng trao đổi cởi mở với người yêu về đề tài tình dục là những người có tỷ lệ QHTD cao hơn [42] Kết quả nghiên cứu tại Chí Linh- Hải Dương cho thấy nam VTN dậy thì sớm và có thái
độ đồng tình với quan điểm quan hệ tình dục trước hôn nhân có nguy cơ QHTD cao hơn [26]
Những yếu tố nguy cơ thuộc về gia đình như gia đình đông con, có sống cùng với cả cha hoặc mẹ không, tình trạng hôn nhân của bố mẹ, điều kiện kinh tế gia đình, bạo lực gia đình…Bên cạnh đó, gia đình cũng là nơi bảo vệ cuộc sống của VTN, các yếu tố bảo vệ thường là sự gắn bó của cha mẹ với con cái, trao đổi, chia
sẻ, dạy dỗ của bố mẹ… Điều tra Quốc gia về Vị thành niên năm 2003 cho kết quả: VTN không sống với cả cha và mẹ; từng sống xa gia đình, tình trạng hôn nhân của
bố mẹ ( trải nghiệm việc li dị ở bố mẹ) nguy cơ có QHTD cao hơn [2]
Nhóm yếu tố xã hội như tệ nạn xã hội, tình trạng vi phạm pháp luật, các nguồn thông tin như ti vi, sách báo, internet…cũng ảnh hưởng nhiều tới kiến thức, thái độ
và hành vi của VTN Bạn bè cũng là yếu tố rất quan trọng tác động đến VTN So sánh 2 nhóm VTN/TN có bạn bè rủ rê/ép buộc và nhóm không có bạn bè rủ rê/ép buộc cho thấy nhóm VTN/TN có bạn bè rủ rê/ép buộc QHTD trước hôn nhân có nguy cơ QHTD trước hôn nhân cao hơn 11,3 lần so với nhóm không có bạn bè rủ
Trang 31rê/lôi kéo Điều này cũng cho thấy ảnh hưởng của bạn bè đối với việc QHTD trước hôn nhân của VTN/TN Việt Nam là rất lớn [2] Nhà trường là một xã hội đặc biệt với VTN đang ngồi trên ghế nhà trường Nhà trường có thể là nơi an toàn cho sức khỏe và lợi ích cho học sinh, nếu nó cung cấp cho chúng những bạn bè, thầy cô, kiến thức và những kinh nghiệm mới Tuy nhiên, nó có thể là nơi không an toàn nếu
họ thấy bị làm bẽ mặt, chán ghét, sợ hãi Nghiên cứu của Trịnh Công Vinh tại Vĩnh Phúc đã cho thấy: có mối liên quan giữa việc nghe giảng ở trên lớp với hiểu biết của VTN về biện pháp tránh thai [38]
1.5 Một số văn bản chính sách liên quan đến SKSS của vị thành niên và thanh niên Việt Nam
Cho đến nay Chính phủ đã có nhiều văn bản chính sách liên quan đến sức khỏe nói chung và sức khỏe VTN/TN nói riêng Chiến lược Sức khỏe sinh sản 2001-
2010 do Bộ y tế xây dựng đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 28/11/2000 (số 136/2000/QĐ-TTg) Trong phần nói về các vấn đề tồn tại, mục II.3 có viết: “ Dân
số Việt Nam mỗi năm tăng thêm 1 triệu người Vì thế, ước tính đến năm 2020 dân số
có thể xấp xỉ 100 triệu người gồm 22 triệu VTN tuổi từ 10-19 Nhóm dân số này là nguồn nhân lực chủ yếu của đất nước tương lai, và đồng thời cũng lại là nhóm có nguy cơ cao về SKSS Tuy nhiên, việc chăm sóc SKSS cho VTN làm đựoc ít” Do vậy trong phần II về Mục đích và mục tiêu, mục tiêu 6 có viết: “ Cải thiện tình hình SKSS, bao gồm cả sức khỏe tình dục, cho vị thành niên qua giáo dục, tư vấn và cung cấp dịch vụ SKSS phù hợp theo lứa tuổi” Về giải pháp cũng có một mục tiêu riêng
về SKSS của VTN Phần này nói rõ việc thành lập các trung tâm tư vấn và dịch vụ SKSS cho VTN Lần đầu tiên trong lịch sử chương trình KHHGĐ của Việt Nam có một văn bản chính quy đề cập đến cung cấp dịch vụ SKSS cho vị thành niên
Chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010 được chính phủ phê duyệt tháng 11 năm 2000 Chiến lược đề ra nhiều giải pháp để đạt được mục tiêu Liên quan đến SKSS vị thành niên các giải pháp này chỉ tập trung vào tư vấn và giảm tỷ
lệ nạo phá thai [21], [27]
Trang 32Tháng 6-2006, Bộ y tế đã ban hành Kế hoạch tổng thể quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của VTN/TN Việt Nam giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020 Trong mục tiêu chung của bản kế hoạch dịch vụ chăm sóc SKSS, SK tình dục đã được nhấn mạnh cụ thể: “Duy trì và cải thiện tình trạng sức khỏe bao gồm cả sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần của nhóm tuổi trẻ, cải thiện và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có chất lượng, đặc biệt là các dịch vụ liên quan đến sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục, phòng chống các BLTQĐTD, HIV/AIDS, phòng chống tai nạn thương tích, lạm dụng chất gây nghiện và sức khỏe tâm thần [5]
1.6 Một số đặc điểm về trường THPT Đống Đa
Trường THPT Đống Đa là một trong 6 trường THPT trong quận Đống Đa, Hà Nội Trường được thành lập từ năm học 1959-1960 Với bề dày hơn 50 năm giảng dạy, trường đã nhận được Huân chương lao động hạng Ba do Nhà nước tặng thưởng năm 2009 [36]
Hội phụ huynh học sinh đã ủng hộ tích cực ý nghĩa các hoạt động tích cực của nhà trường, lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng và quạt mát tại các phòng học, tặng cho nhà trường những máy vi tính, máy photocopy, máy chấm trắc nghiệm…phục
vụ công tác giảng dạy và học tập trong nhà trường Trường cũng rất được địa phương nơi trường đóng (UBND phường, Công an phường Hàng bột, an ninh quận Đống Đa…) hết sức tạo điều kiện giúp đỡ
Tuy nhiên, trường đóng trên địa bàn dân cư đông đúc, trình độ dân trí còn thấp, đầu vào của học sinh chưa cao, luôn đứng ở mức trung bình trong khu vực Trường đứng thứ 73 trong 100 trường THPT chuẩn của Việt Nam, sau rất nhiều trường ở các tỉnh khác [37]
Từ năm 2004-2005 đến nay, số giáo viên đến tuổi nghỉ hưu khá đông và nhà trường nhận thêm nhiều giáo viên mới, có tuổi đời và tuổi nghề còn rất trẻ Nhà trường thực hiện các hoạt động giáo dục trong điều kiện đang sửa chữa xây dựng, trường phải tiến hành dạy và học ở 2 địa điểm
Trang 33Kết quả tổng kết năm học 2009-2010, cho thấy số học sinh xếp loại đạo đức tốt chiếm 85,9%, khá là 13,9% Số học sinh giỏi toàn diện đạt 523 em (26,7%), số học sinh tiên tiến đạt 56,7% [35]
Năm học 2010-2011, trường có 45 lớp với tổng số 1974 học sinh, trong đó có
15 lớp 12 với 648 học sinh, 15 lớp 11 với 666 học sinh và 15 lớp 10 với 660 học sinh Học sinh trong trường học làm 2 ca: ca sáng là khối 12 và 6 lớp 11 Ca chiều toàn bộ khối 10 và 9 lớp 11 Với 116 cán bộ giáo viên, nhân viên trong đó ban giám hiệu gồm 1 hiệu trưởng và 3 hiệu phó, 105 giáo viên và 7 nhân viên
Đối với chương trình giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản trong Nhà trường, ngoài chương trình học theo quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo, nhà trường cũng có các hoạt động ngoại khóa tăng cường hiệu quả giáo dục về vấn đề giáo dục giới tính và SKSS cho học sinh Như tổ chức thi các tiểu phẩm về giới tính, phòng chống các tệ nạn xã hội, sức khỏe sinh sản vị thành niên…được nhiều học sinh hưởng ứng nhiệt tình
Trang 34CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh khối 10,11,12 trường THPT Đống Đa
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 11/2010 đến tháng 8/2011
- Địa điểm: THPT Đống Đa: ngõ Quan Thổ 1- Tôn Đức Thắng- Đống Đa- Hà Nội
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu
Chọn hệ số thiết kế là 2 và dự đoán tỷ lệ từ chối tham gia nghiên cứu là 20%
Số mẫu cần thu thập là: (151x2 )x120%= 362 học sinh
Như vậy số mẫu cần được điều tra là 362 học sinh
Phương pháp chọn mẫu:
Sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm
Bốc thăm ngẫu nhiên chọn ra 3/15 lớp 12; 3/15 lớp 11 và 3/15 lớp 10 tham gia nghiên cứu Tổng số học sinh được chọn tham gia nghiên cứu là 392 học sinh
Trang 35Tuy nhiên, do trong quá trình nghiên cứu, sử dụng bộ phiếu phát vấn, vì vậy đã loại
bỏ một số phiếu do thiếu thông tin hoặc thông tin không đáng tin cậy Cuối cùng chỉ còn 307 phiếu được chấp nhận và đưa vào phân tích số liệu
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
Thông tin được thu thập bằng phiếu phát vấn, khuyết danh Bộ câu hỏi được biên soạn dựa trên bộ câu hỏi của một số nghiên cứu về vấn đề này đã được triển khai trước đây như: Điều tra quốc gia về Vị thành niên và thanh niên Việt Nam, nghiên cứu dọc về SK vị thành niên và thanh niên tại một vùng đô thị hóa Chí Linh-Hải Dương của Lê Cự Linh và cộng sự
Lớp học được chọn bằng cách bốc thăm ngẫu nhiên
Học sinh được thông báo trước để tham gia điều tra vào tiết sinh hoạt ngày thứ 7
Trước khi phát vấn bằng bộ phiếu được thiết kế sẵn, điều tra viên giới thiệu với học sinh về mục đích của nghiên cứu này cũng như chia sẻ với các em những vấn đề các em quan tâm xung quanh nội dung sức khỏe sinh sản vị thành niên Điều tra viên cũng giới thiệu qua nội dung của phiếu phát vấn, giải thích một số cụm từ
mà các em học sinh chưa rõ
Học sinh điền các thông tin vào phiếu dưới sự hướng dẫn của điều tra viên
Sau khi điền xong, học sinh bỏ phiếu vào hòm phiếu đặt ở lối ra vào của lớp học để đảm bảo thông tin hoàn toàn được giữ bí mật
Điều tra viên là một số học viên cao học 13 – Đại học Y tế công cộng
2.6 Phân tích số liệu
Số liệu được làm sạch trước và sau khi nhập vào máy tính bằng phần mềm Epi DATA
Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS Kết quả phân tích được chia thành 2 phần:
- Phần mô tả: thể hiện tần suất của các biến trong nghiên cứu
- Phần phân tích: đưa ra những mối liên quan giữa hành vi quan hệ tình dục
Trang 36với các yếu tố khác bằng kiểm định χ2 Dựa trên kết quả phân tích đơn biến, đưa các biến có mối liên quan với hành vi quan hệ tình dục vào mô hình hồi quy logistic
để kiểm soát các yếu tố nhiễu
2.7 Các biến số được sử dụng trong nghiên cứu
biến số
Phương pháp thu thập Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
2 Giới tính Giới tính của học sinh: nam hoặc
Rời rạc Phát vấn
Nơi mà học sinh đang sống trong thời điểm nghiên cứu (nội thành, ngoại thành của Hà Nội)
Bố mẹ hiện đang sống chung hay
đã ly hôn/ Goá/Thường xuyên xa nhà
Trang 38kinh nguyệt
20 Biết về hậu quả
của nạo hút thai
HS cho biết những hậu quả có thể xảy ra khi nạo hoặc hút thai Định danh Phát vấn
Thái độ về quan hệ tình dục của học sinh
HS đưa ra quan điểm của mình
về có thai và nạo phá thai ở tuổi học trò theo 1 trong 5 mức độ từ rất đồng ý đến rất không đồng ý
Trang 39Định danh Phát vấn
32 Quan hệ tình
dục sau lần đầu
HS trả lời có hoặc không tiếp tục
Định danh Phát vấn
36 Cách xử lý khi
có thai
Giải pháp mà HS lựa chọn khi
Ảnh hưởng của bạn bè, gia đình và nhà trường, xã hội tới kiến thức, thái độ, hành vi
Trang 40Nhị phân Phát vấn
41 Ảnh hưởng từ
nhà trường
Là thực trạng tác động của những hoạt động truyền thông giáo dục SKSS trong nhà trường tới kiến thức và hành vi về QHTD của
43 Nơi xem/đọc Nơi cụ thể mà HS xem phim/đọc
Tiếp cận và nhu cầu thông tin về SKSS
44 Nguồn thông tin
Định danh Phát vấn