1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiến thức, thái độ, hành vi và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ chưa có con đến phá thai dưới 12 tuần tại bệnh viện phụ sản trung ương

59 989 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 861,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

biết về NPT và hậu quả của NPT, không xem chương trình kế hoạch hoá giađình và thông tin BPTT trên truyền hình là yếu tố tăng tỷ lệ NPT [8], [11].Trên thực tế, những nghiên cứu trên ít đ

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nạo phá thai (NPT) là thủ thuật y học để kết thúc thai nghén bằng cáchloại bỏ hay lấy phôi, thai nhi khỏi tử cung trước khi thai nhi có khả năng sốngđộc lập ở môi trường ngoài tử cung [1]

Trên thế giới mỗi năm có khoảng 210 triệu phụ nữ mang thai, khoảng

80 triệu trường hợp mang thai ngoài ý muốn và phần lớn trong số này kết thúcthai nghén bằng việc NPT Số trường hợp NPT không an toàn hàng năm lêntới 21,6 triệu phụ nữ, trong đó khoảng 47.000 người chết vì biến chứng [2]

Việt Nam là 1 trong những quốc gia có tỷ lệ NPT cao nhất thế giới.NPT chiếm tới 40% tổng số trường hợp mang thai hàng năm, với tỷ lệ83/1.000 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ [3] Theo số liệu nghiên cứu, trung bìnhtrong quãng thời gian sinh đẻ của 1 người phụ nữ có tới 2,5 lần NPT [4]

Chiến lược chăm sóc sức khỏe sinh sản(CSSKSS) 2001-2010 tại ViệtNam đã cho thấy có sự gia tăng tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai(BPTT)

từ 72,7%(2000) lên 78%(2006), đáng chú ý là tăng tỷ lệ áp dụng BPTT hiệnđại(67,1%) Tuy nhiên, theo Tổng cục thống kê và Uỷ ban quốc gia dân số,gia đình và trẻ em điều tra biến động dân số 2001-2006, tỷ lệ NPT trên cảnước lại giảm đi không đáng kể và vẫn ở mức cao trên thế giới, từ1,3%(2001) xuống 1,1%(2006) [5] Trong khi đó, tai biến trong và sau khiNPT đã và đang ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ thể chất cũng như tinh thần cuảngười phụ nữ Theo 1 nghiên cứu tại Nam Định trong 2 năm(1999-2001) với

2500 phụ nữ NPT và 2500 phụ nữ nhóm chứng cho thấy 20,3% tổng số phụ

nữ NPT chịu ảnh hưởng của tai biến [6]

Tại Việt Nam, một số nghiên cứu đã cho thấy các yếu tố như tuổi, sốcon, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế thiếu thốn, sử dụng biện pháptránh thai không đúng làm tăng nguy cơ NHT, [7], [8], [9], [10] Sự thiếu hiểu

Trang 2

biết về NPT và hậu quả của NPT, không xem chương trình kế hoạch hoá giađình và thông tin BPTT trên truyền hình là yếu tố tăng tỷ lệ NPT [8], [11].Trên thực tế, những nghiên cứu trên ít đề cập đến kiến thức, thái độ, hành vi

và những yếu tố liên quan đến chính nó của người phụ nữ NPT, đặc biệt lànhững phụ nữ chưa có con Đây là một trong những vấn đề cần được quantâm bởi NPT không những gây biến chứng vô sinh mà tiền căn NPT liên quanmạnh mẽ đến các thai kỳ về sau [12] Nếu như chúng ta xác định được kiếnthức, thái độ, hành vi và 1 số yếu tố liên quan đến NPT ở những phụ nữ chưa

có con và áp dụng vào chiến lược CSSKSS, ngăn ngừa NPT thì tỷ lệ, biếnchứng do NPT sẽ giảm và hạn chế đáng kể ở phụ nữ trong mọi lứa tuổi

Trung tâm tư vấn sức khoẻ sinh sản(SKSS)- Kế hoạch hoá giađình(KHHGĐ)- Bệnh viện Phụ sản Trung ương là cơ sở đào tạo, nghiên cứudịch vụ KHHGĐ lớn của miền Bắc cũng như tại Hà Nội Trong vòng 6tháng(03-08/2001) có 2.344 trường hợp NPT [13] Xuất phát từ thực tế trên,nhằm góp phần giảm tỷ lệ NPT và cải thiện sức khoẻ sinh sản của phụ nữ,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu tại bệnh viện đề tài: “Kiến thức, thái độ,

hành vi và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ chưa có con đến phá thai dưới

12 tuần tại BVPSTW” với 2 mục tiêu:

1 Mô tả kiến thức, thái độ, hành vi ở phụ nữ chưa có con đến phá thai dưới 12 tuần tại BVPSTW.

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi ở phụ nữ chưa có con đến phá thai dưới 12 tuần tại BVPSTW.

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1 Nạo phá thai, các phương pháp, tai biến NPT và các BPTT

1.1 Định nghĩa NPT

Nạo phá thai là thủ thuật y học để kết thúc thai nghén bằng cách loại bỏhay lấy phôi, thai nhi khỏi tử cung trước khi thai nhi có khả năng sống độc lập

ở môi trường ngoài tử cung [1]

1.2 Các phương pháp phá thai dưới 12 tuần [1], [14]

- Phá thai bằng phương pháp hút chân không: là phương pháp chấm

dứt thai nghén bằng cách dùng bơm hút chân không để hút thai từ tuần thứ 6đến tuần thứ 12 kể từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng Tuyến trung ương,tỉnh, huyện áp dụng phá thai từ tuần thứ 6 đến tuần thứ 12 Tuyến xã chỉ pháthai đến hết 6 tuần (phá thai trong giai đoạn từ 36 đến 42 ngày)

- Phá thai bằng thuốc: là phương pháp chấm dứt thai nghén bằng cách

sử dụng thuốc Mifepristone và Misoprostol gây sẩy thai đối với thai đến hết 7tuần (49 ngày) kể từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng Khách hàng uống 1viên Mifepristone 200 mg, sau đó 48 giờ uống tiếp 400µg Misoprostol Tuyếntỉnh, trung ương được áp dụng phương pháp này và người áp dụng phươngpháp này cần ở gần cơ sở y tế (khoảng cách từ nơi ở đến cơ sở y tế thực hiệnkhông quá 30 phút)

- Phá thai bằng phương pháp nong và nạo: là thủ thuật nong cổ tử

cung bằng dụng cụ rồi gắp thai, rau và nạo sạch buồng tử cung Tuyến huyện,tỉnh/thành phố và tuyến trung ương được áp dụng phương pháp này, với tuổithai từ 8 đến 12 tuần Tại Trung tâm tư vấn SKSS- KHHGĐ, phương phápnày không còn được sử dụng, 100% thai nghén từ 5- 12 tuần được đình chỉbằng phương pháp hút chân không Tuy nhiên, phương pháp này vẫn còn ápdụng ở 1 số tuyến tỉnh và tuyến huyện

Trang 4

- Thống kê của điều tra nhân khẩu học và sức khoẻ sinh sản 1997 ướctính có 32% phụ nữ NPT cho biết là sức khoẻ của họ bị ảnh hưởng sau NPT,còn trong điều tra y tế quốc gia năm 2001- 2002 chỉ ra dấu hiệu bất thường 1cách chi tiết : 21,4% là đau bụng kèm dịch hôi, 217 chảy máu kéo dài, 14,5%

bị sốt sau NPT [3]

- Theo tổ chức y tế thế giới, khoảng 13% tử vong mẹ trên toàn thế giớimỗi năm là do tai biến của NPT [2] Nguyên nhân hàng đầu là do xuất huyết,nhiễm trùng, nhiễm độc và ảnh hưởng sức khoẻ lâu dài do NPT không an toàngây ra là đau bụng mạn tính, đau viêm vùng chậu, tắc ống dẫn trứng và vôsinh [15]

1.4 Các BPTT [14]

- Là các biện pháp tác động lên cá nhân nhằm ngăn cản việc thụ thai ởngười phụ nữ Các BPTT thường được áp dụng là thuốc, hoá chất, dụng cụ đưavào cơ thể, các thủ thuật ngoại khoa làm cắt đứt đường đi và ngăn cản sự gặp nhaucủa trứng và tinh trùng hoặc các nỗ lực cá nhân nhằm tránh việc thụ thai CácBPTT được chia thành 2 loại : BPTT truyền thống và BPTT hiện đại

Trang 5

1.4.1 BPTT truyền thống :

Là các BPTT không sử dụng các phương tiện, thuốc men mà hoàn toànphụ thuộc vào nỗ lực, hiểu biết của mỗi cá nhân Ưu điểm của các biện phápnày là không cần phương tiện hay can thiệp/hỗ trợ y tế, tránh được các taibiến và các tác dụng phụ Tuy nhiên nó đòi hỏi các cặp vợ chồng có hiểu biết,chủ động, nỗ lực khi áp dụng Hiệu quả tránh thai thấp và dễ thất bại

* Tính vòng kinh :

Dựa trên cơ sở hiện tượng phóng noãn thường xảy ra vào một thời gian

cố định, cách ngày đầu của chu kỳ kinh nguyệt 14 ngày Do đó dựa vào ngày cókinh, chọn giao hợp vào những ngày xa giai đoạn rụng trứng để tránh thai Tuynhiên biện pháp này chỉ áp dụng với những phụ nữ có chu kỳ kinh nguyệt đều

* Xuất tinh ngoài âm đạo :

Cơ chế: tinh trùng không vào được đường sinh dục của người phụ nữ,không gặp được noãn nên không gây được thụ thai Quá trình giao hợp vẫndiễn ra bình thường nhưng khi chuẩn bị xuất tinh thì người nam giới chủ độngđưa dương vật ra ngoài và xuất tinh ngoài âm đạo

* Cho bú vô kinh :

Biện pháp này đạt hiều quả đến 98% nếu như đáp ứng đủ các điều kiện :+ Chưa có kinh trở lại

+ Trẻ dưới 6 tháng tuổi

+ Người phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn , cho bú thườngxuyên theo nhu cầu của trẻ

* Đánh giá chất nhầy cổ tử cung (CTC) :

Thời kỳ phóng noãn và có thể thụ thai thì mật độ, đặc tính chất nhầyCTC thay đổi, theo dõi sự thay đổi này giúp xác định được ngày phóng noãn

để tránh giao hợp Tuy nhiên tỷ lệ tránh thai của biện pháp này rất thấp

Trang 6

* Theo dõi thân nhiệt cơ thể :

Dựa trên sự thay đổi thân nhiệt vào ngày phóng noãn nên phải theo dõinhiệt độ cơ thể hàng ngày để phát hiện ngày thay đổi nhiệt độ cở thể và tránhgiao hợp vào ngày đó Hiệu quả tránh thai của biện pháp này cũng rất thấp

1.4.2 BPTT hiện đại :

Là những biện pháp có sử dụng các dụng cụ, thuốc hay can thiệp thủ thuậtnhư DCTC, thuốc uống, thuốc tiêm, que cấy tránh thai, BCS/màng ngăn âmđạo, mũ CTC, thuốc diệt tinh trùng, đình sản/triệt sản

* DCTC :

- Là loại phương tiện tránh thai được đặt trong buồng tử cung củangười phụ nữ Các loại DCTC phổ biến hiện nay được làm bằng chấtdẻo, một số loại xung quanh được quấn đồng(Tcu 380A), một số loạicòn chứa thuốc nội tiết tránh thai, nội tiết này được phóng dần trong tửcung để tăng hiệu quả tránh thai

- Cơ chế:

+ Làm thay đổi môi trường niêm mạc buồng tử cung, khôngthuận lợi cho trứng đã thụ tinh

+ Cản trở tinh trùng gặp trứng làm giảm khả năng thụ tinh

* Thuốc viên tránh thai (TVTT) :

Cơ chế của biện pháp này là ức chế phóng noãn, phát triển nội mạc tửcung, làm đặc chấy nhầy CTC để ngăn cản tinh trùng xâm nhập vào buồng tửcung TVTT được chia thành TVTT kết hợp ( Estrogen và Progestin) vàTVTT đơn thuần ( chỉ có Progestin)

* Thuốc tiêm tránh thai DMPA :

Với thành phần DMPA 150mg, cơ chế làm teo nội mạc tử cung, làmquánh đặc chất nhầy CTC và ức chế phóng noãn

Trang 7

* Que cấy tránh thai :

Implanon và Norplant là que cấy thường được sử dụng tránh thai tạiViệt Nam, dựa vào cơ chế làm đặc chất nhầy CTC, niêm mạc tử cung kémphát triển và ức chế phóng noãn do nồng độ Progestin cao liên tục trong máu

* BCS :

Là BPTT an toàn, hiệu quả trong phòng chống HIV/AIDS và các bệnhlây truyền qua đường tình dục Nó có tác dụng ngăn tinh trùng không vào âmđạo, nên không đẫn đễn thụ thai

* Thuốc diệt tinh trùng :

Là những hoá chất đặt vào âm đạo trước khi quan hệ tình dục Nó làmbất hoạt tinh trùng, chặn tinh trùng vào CTC

* Đình sản nữ :

Nguyên tắc là làm gián đoạn 2 vòi trứng dẫn đến noãn không gặp đượctinh trùng và hiện tượng thụ tinh không xảy ra Có nhiều phương pháp ngoạikhoa thực hiện việc đình sản nữ tại Việt Nam 2 vòi trứng có thể được nối lạibăng vi phẫu, nội soi khi muốn có thai trở lại

* Đình sản nam :

Nguyên tắc là cắt và thắt 2 ống dẫn tinh Nam giới vẫn quan hệ tình dụcbình thường, dương vật vẫn cương cứng và xuất tinh nhưng trong tinh dịchkhông có tinh trùng

2 Tình hình NPT trên thế giới

Nạo phá thai là 1 vấn đề thời sự nổi cộm, nó xảy ra trên khắp các khuvực trên thế giới, tại tất cả các nước có luật pháp cho phép hay không chophép NPT Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), hàng năm có 210 triệu phụ nữmang thai, khoảng 80 triệu trường hợp mang thai ngoài ý muốn và phần lớntrong số đó kết thúc thai nghén bằng việc NPT Số trường hợp NPT không antoàn hàng năm chiếm 21,6 triệu phụ nữ, trong đó có 47.000 người chết vì biến

Trang 8

chứng Khoảng 13% tử vong mẹ trên toàn thế giới mỗi năm là do tai biến củaNPT [2] Nguyên nhân hàng đầu là do xuất huyết, nhiễm trùng, nhiễm độc vàảnh hưởng sức khoẻ lâu dài do NPT không an toàn gây ra là đau bụng mạntính, đau viêm vùng chậu, tắc ống dẫn trứng và vô sinh [15].

Tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do NPT không an toàn, năm 2008 [2]

Tỷ lệ NPTkhông an toàn Tỷ lệ tử vong liên quanNPT không an toàn

Số lượng

Tỷ lệ/1000 phụ

nữ 15-49tuổi

Số mẹ tửvong

Tỷ lệ tửvong/

100.000trẻ đẻsống

% Tửvong mẹ

Trang 9

2 0

Châu Á

Mỹ la tinh và Caribbean Châu Âu

Hình 1 Xu hướng nạo phá thai không an toàn 1990-2008

50 60

1

80

20

10 1

Châu Á

Mỹ la tinh và Caribbean Châu Âu

Hình 2 Xu hướng tỷ lệ tử vong NPT không an toàn/100.000 trẻ đẻ sống

Trang 10

220 220

30

470

160

30 30 0

Châu Á

Mỹ la tinh và Caribbean Châu Âu

Hình 3 Xu hướng tỷ lệ tử vong/ 100.000 NPT không an toàn 1990-2008

3 Tình hình NPT tại Việt Nam

Tổ chức y tế thế giới đánh giá Việt Nam là nước có tỷ lệ NPT cao nhấtchâu Á và là 1 trong 3 nước có tỷ lệ NHT cao nhất thế giới NPT chiếm 40%tổng số trường hợp mang thai hàng năm, trong số 1000 phụ nữ tuổi sinh đẻ thì

có tới 83 người NPT [3] Theo báo cáo của Daniel Goodkind năm 1994, tổng

tỷ suất phá thai là 2,5- nghĩa là mỗi phụ nữ Việt Nam đã phải trải qua 2,5 pháthai trong cả cuộc đời sinh đẻ của mình [4] Kết quả điều tra y tế quốc gia2001- 2002 cho thấy gần 12% phụ nữ đang có chồng đã từng NPT trong 5năm qua

Tỷ lệ áp dụng các BPTT ngày càng tăng, từ 72,7% năm 2000 lên 78%năm 2006, đặc biệt là các BPTT hiện đại (67,1%)[5] Trong khi đó theo Tổng

Trang 11

cục thống kê và Uỷ ban quốc gia dân số, gia đình và trẻ em điều tra biến độngdân số 2001-2006, tỷ lệ NPT trên cả nước lại giảm đi không đáng kể và vẫncòn ở mức cao so với các nước trên thế giới, từ 1,3% (2001) xuống 1,1%(2006) [5] Tuy nhiên, tai biến trong và sau khi NPT đang ảnh hưỏng lớn đếnsức khoẻ thể chất cũng như sức khoẻ tinh thần của người phụ nữ Việt Nam.Thống kê của điều tra nhân khẩu học và sức khoẻ sinh sản 1997 ước tính có32% phụ nữ NPT cho biết là sức khoẻ của họ bị ảnh hưởng sau NPT, còntrong điều tra y tế quốc gia năm 2001- 2002 chỉ ra dấu hiệu bất thường 1 cáchchi tiết : 21,4% là đau bụng kèm dịch hôi, 217 chảy máu kéo dài, 14,5% bị sốtsau NPT [3].

Theo điều tra dân số 1997, phụ nữ nông thôn có tỷ lệ NPT cao hơnthành thị nhưng từ những năm 2000 trở lại đây xu hướng tỷ lệ NPT ở thànhthị lại cao hơn ở nông thôn [16] Năm 2001 tỷ lệ NPT ở thành thị là 1,7% vànông thôn là 1,2%, tương ứng đến năm 2008 là 1,1% và 0,9% Như vậy phảichăng là những người ở thành thị có hiểu biết về NPT tốt hơn, những phươngtiện truyềng thông hiện đại về NPT ở thành thị tốt hơn, tiếp cận các dịch vụKHHGĐ sớm và đa dạng hơn

Tỷ lệ (%) NPT của phụ nữ 15-49 tuổi theo thành thị, nông thôn

Nguồn: TCTK Điều tra biến động DS-KHHGĐ 2010.

Ghi nhận từ các số liệu cũng cho thấy những trường hợp NPT ở nhữngngười có trình độ học vấn cao có tỷ lệ NPT cao hơn so với những người có

Trang 12

trình độ học vấn thấp Điều tra nhân khẩu học và sức khoẻ năm 1997, tỷ lệNPT trong nhóm phụ nữ không đi học chiếm 3%, nhóm có trình độ đại học là12,9%, tăng hơn 4 lần [16] Năm 2001-2002, trong cuộc điều tra y tế quốcgia, các chuyên gia đã đưa ra kết luận, tỷ lệ phá thai cao nhất ở nhóm người

có trình độ học vấn cao [3] Số liệu của nghiên cứu cấp bộ năm 2003 chothấy, ở nhóm cao đẳng/đại học tỷ lệ NPT là 32,1% cao gấp hơn 6 lần ở nhómđối tượng có trình độ văn hoá tiểu học [10] Câu hỏi đặt ra liệu đây có phải là

xu hướng NPT ở các nước đang phát triển, những người có trình độ học vấncao thì tỷ lệ NHT cao

Tại Việt Nam, tuổi của phụ nữ NPT đang là vấn đề cần được quan tâmbởi nhóm tuổi vị thành niên- thanh niên có tỷ lệ NPT khá cao NPT ở tuổi vịthanh niên- thanh niên làm tăng nguy cơ vô sinh, và ảnh hưởng mạnh mẽ đếnnhững lần thai kỳ về sau 36,8% là tỷ lệ NPT trong tổng số NPT/hút điều hoàkinh nguyệt, cao hơn hẳn so với 2 nhóm tuổi từ 25- 34 là 29% và nhóm tuổi

từ 35- 49 là 29,1% [3] Theo nghiên cứu của Trần Thị Phương Mai năm 2002,

tỷ lệ NPT trong nhóm tuổi 15- 24 chiếm 41%, trong khi đó ở nhóm tuổi từ

25-30 chỉ có 25,6% [10]

4 Một số công trình nghiên cứu về kiến thức, thái độ, hành vi về NPT

Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt Nam về kiếnthức, thái độ, hành vi NPT được tiến hành Kết quả của mỗi nghiên cứu phụthuộc vào thiết kế nghiên cứu và đặc trưng khác nhau của ĐTNC

4.1 Kiến thức về NPT

Các nghiên cứu đã tìm hiểu các kiến thức về NPT như các ảnh hưởngcủa NPT, tuổi thai có thể NPT an toàn, lý do NPT, phương pháp NPT, địađiểm NPT Một nghiên cứu trên 210 phụ nữ đến NPT tại bệnh viện Colombocho thấy 96% trong số họ không biết các ảnh hưởng của NPT [17] 80%ĐTNC không biết như thế nào là NPT an toàn và cần phải đến cơ sở y tế

Trang 13

trong vòng 12 tuần đầu nếu muốn thực hiện NPT là kết quả nghiên cứu tạiMoZambic trên 103 phụ nữ đến NHT [18] Nghiên cứu kiến thức NPT tại 1vùng nông thôn thuộc Ấn Độ với 150 phụ nữ tuổi từ 15- 45 cho thấy hầu hếtĐTNC có kiến thức khá tốt về NPT Về khái niệm NPT, có 38,33% ở mức rấttốt, 15% ở mức khá, 44,17% ở mức trung bình và 2,5% ở mức kém Đối vớikiến thức về những lý do có thể NPT, có 15% đạt mức tốt, 24,17% đạt mứckhá, 44,17% đạt mức trung bình và 16,66 ở mức kém Kiến thức về các bệnhcần phải NPT, 18,33% ở múc tốt, 20,83% ở mức khá, 41,67% ở mức trungbình và 19,17% ở mức kém Kiến thức về các phương pháp NPT được đánhgiá là 16,67% đạt mức tốt, 25,83 ở mức khá, 47,50% ở mức trung bình và10% ở mức kém [19].

Tại Việt Nam, nghiên cứu bệnh chứng tại thành phố Hồ Chí Minh với

168 ĐTNC cho thấy 20,6% ĐTNC biết rằng NPT không phải là biện phápKHHGĐ, 8% biết NPT có tác hại đối với sức khoẻ [8] Tại Tiền Giang, có16,2% phụ nữ không biết các hậu quả cụ thể của NPT đối với phụ nữ Tỷ lệngười biết các hậu quả cụ thể thì lại không cao: 51,4% phụ nữ biết NPT dễmắc các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, 22,4% ĐTNC biết rằng có thể bị

vô sinh nếu NPT và 15,7% phụ nữ cho rằng NPT có thể gây tử vong [20].Cũng trong nghiên cứu này, có 88,1% Phụ nữ và 64,3% nam giới biết nơiNPT là CSYT nhà nước, 26,7% phụ nữ và 8,1% nam giới biết nơi NPT là cơ

sở y tế tư nhân Số đối tượng không biết nơi nào có thể NPT an toàn cònchiếm khoảng 1/5, trong đó tỷ lệ phụ nữ chiếm 10,5% và tỷ lệ tương ứng ởnam giới là 33,8%

Các nghiên cứu về NPT trên thế giới và ở Việt Nam cũng tìm hiểuhiểu biết của các ĐTNC về các BPTT như là 1 phần kiến thức về phòng tránhNPT Các nghiên cứu cho thấy rằng hiểu biết của các ĐTNC về BPTT là khátốt với hầu hết trong số họ có thể kể tên ít nhất 1 BPTT hiện đại Nghiên cứu

Trang 14

tại bệnh viện Colombo, Sri Lanka cho thấy có tới 785 ĐTNC biết ít nhất 1BPTT [17] Nghiên cứu tại Campuchia năm 2000 với 600 phụ nữ từ 15-45tuổi cho thấy kết quả rất cao trong hiểu biết cấc BPTT hiện đại, với 74,3%ĐTNC biết ít nhất 3 BPTT, thuốc tránh thai uống và tiêm là kiến thức phổbiến nhất về BPTT Đối với thuốc tránh thai uống, 75% có nghe nói tới, trong

số đó có 30,9% biết cần phải uống hàng ngày, 29,85 biết cần phải uống thuốctiếp tục càng sớm càng tốt sau khi uống hết vỉ thuốc trước và 16,3% biết rằngphải làm thế nào nếu bỏ quên thuốc 1 ngày Tìm hiểu kiến thức về BCS chokết quả là 68,2% đã được nghe nói về BCS, trong đó 33,5% biết rằng BCS chỉđược sử dụng 1 lần, 73% không biết thời điểm dùng BCS, 92,2% không biết

sử dụng BCS như thế nào [21]

Nghiên cứu tại Nam Định cho thấy chỉ có 0,6% phụ nữ không biết bất

kỳ 1 BPTT nào, có đến 99,4% ĐTNC có thể kể được ít nhất 1 BPTT Trong

đó, BPTT được nhiều người biết đến nhất là đặt vòng (95,7%), BCS (63,9%),Thuốc tránh thai uống (50,7%) [6] Tại Tiền Giang, hai biện pháp tránh thaihiện đại được đa số đối tượng phỏng vấn biết là BCS(86,7%) và thuốc uốngtránh thai (84,8%) Các BPTT hiện đại còn lại, tỷ lệ người biết không nhiều,thậm chí có loại rất thấp như thuốc tránh thai uống khẩn cấp (0,8%) [20]

4.2 Thái độ về NPT

Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng các ĐTNC bày tỏ thái độ rất khácnhau trước những quan điểm hay tình huống liên quan tới vấn đề NPT Đặc biệtthái độ của ĐTNC phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố văn hoá, xã hội và tôn giáo

Năm 1995, tại miền nam Brazil, 1456 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đãcho ý kiến về NPT: có 30% ĐTNC tán thành việc chấp nhận NPT trong bất

cứ tình huống nào, 53% đồng ý được phép NPT vì lý do tài chính, 17% đồng

ý là việc NPT được chấp nhận có thể giảm thiểu các trường hợp NPT “ chui”,giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong ở ngưòi mẹ Trong những phụ nữ không đồng

Trang 15

tình với việc chấp nhận được phép NPT, 26% cho rằng NPT không phải làbiện pháp để KHHGĐ, 20% coi đó như tội ác [22].

Tại Cộng hoà Séc năm 1998, có 862 nam và 857 nữ trên 15 tuổi trả lờinghiên cứu thái độ đối với NPT cho thấy, 6,1% nữ và 6,8% nam trên 60 tuổi

và 5,4% nữ, 5,2% nam lứa tuổi 15- 17 cho rằng NPT là không được phép Có7% nam và 7,2% nữ tín đồ Thiên chúa giáo không bày tỏ thái độ trong phỏngvấn này, nhưng lại có tới 35,5% nam và 31,4% nữ nghĩ rằng có thể NHT vì lý

do sức khoẻ trong khi có 12,3% nam và 13,6% nữ không theo tôn giáo đồng ývới ý kiến đó [23]

4.3 Hành vi về NPT

Các nghiên cứu về hành vi NPT được thực hiện tương đối đa dạng trênthế giới cũng như tại Việt Nam với nhiều thiết kế khác nhau như nghiên cứucắt ngang, bệnh chứng, theo dõi dọc…các nghiên cứu phần lớn thực hiện vớiđối tượng đến cơ sở y tế để NPT Các nghiên cứu cũng đã đề cập đến các nộidung hành vi như số lần NPT, tuổi thai khi thực hiện NPT, phương pháp sửdụng NPT, lý do NPT, địa điểm và lý do chọn địa điểm NPT

* Các nghiên cứu hành vi số lần NPT

Theo kết quả nghiên cứu tại Nam Định, có 47,5% ĐTNC chưa NPT lầnnào, 28% đã từng NPT 1 lần và 14% đã từng NPT 2 lần trước thời điểmnghiên cứu [6] Nghiên cứu tại Tiền Giang, 23,4% ĐTNC đã từng NPT, 19%NPT lần đầu, 3,3% NPT 2 lần, 2,4% đã từng NHT 3 lần trở lên [2]

Trang 16

* Các nghiên cứu về hành vi tuổi thai khi thực hiện NPT

Nhìn chung các nghiên cứu cho thấy, các ĐTNC đã tới NPT khi tuổithai dưới 12 tuần (tính từ ngày đầu của kỳ kinh cuối cùng) Tại bệnh việnColombo, Sri Lanka, 96% số phụ nữ đến thực hiện NPT có tuổi thai dưới 12tuần [17] Trong nghiên cứu của Trần Thị Trung Chiến năm 2002 tại NamĐịnh, tỷ lệ phụ nữ đến NPT nhiều nhất ở tuổi thai 6 tuần (43,8%), còn ở 7tuần và 8 tuần thì tỷ lệ tương ứng là 31,4% và 13,9% Tỷ lệ phụ nữ NPT dưới

5 tuần tuổi và 9- 12 tuần tuổi chiếm tỷ lệ dưới 10% [6]

* Các nghiên cứu hành vi về địa điểm NPT

Nghiên cứu tại Mozambic chỉ ra rằng 49% trường hợp NPT ngoài cơ sở

y tế là tự phá thai, 38% được thực hiện bởi những người có chuyên môn y tế[18] Trong nghiên cứu của Trần Thị Phương Mai, có 91,5% ĐTNC đã chọncác cơ sở y tế nhà nước để NPT, còn lại 8,5% đã NPT ở các cơ sở tư nhân[10] Tại Tiền Giang, có 78,4% ĐTNC đã NPT tại cơ sở y tế nhà nước và21,6% NPT tại cơ sở y tế tư nhân [20]

* Các nghiên cứu hành vi về lý do NPT

Trong các nghiên cứu trước đây, lý do được kể đến đều liên quan đếnviệc mang thai không nằm trong kế hoạch sinh đẻ của ĐTNC Các lý do cóhướng đến sức khoẻ thể chất và tinh thần còn ít được đề cập đến

Một nghiên cứu tại 27 quốc gia đã đưa ra kết quả về những lý do dẫnđến NPT là chưa muốn có con vào thời điểm đó 25,5%, không muốn có conthêm 7,9%, ảnh hưởng đến học tập và công tác chiếm 1,8%, chồng khôngmuốn có thêm con là 14,1%, nguy hiểm đến sức khoẻ mẹ 2,8%, sức khoẻ con3,3% [24] Nghiên cứu tại Nam Định cho kết quả là 62,2% ĐTNC đến NPTvới lý do không muốn đẻ nhiều, đẻ dày, 15% không muốn vi phạm chính sách

2 con, 4,5% chưa muốn có con vào thời điểm đó, lý do kinh tế khó khănchiếm 2,7% và do sức khoẻ yếu chiếm 1,3% [6]

Trang 17

4.4 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi NPT

Nhiều nghiên cứu cho thấy kiến thức của ĐTNC có liên quan tới cácđặc trưng nhân khẩu học như tuổi, trình độ học vấn, nơi sống, nghề nghiệp…ngoài ra còn tìm thấy liên quan rất chặt chẽ giữa việc trao đổi thông tin mangnội dung về NPT với kiến thức NPT

Nghiên cứu tại Ấn Độ cho thấy mức độ kiến thức của ĐTNC về NPT

có liên quan chặt chẽ, có ý nghĩa thống kê với tuổi (p<0,01), trình độ học vấn(p=0,05), nghề nghiệp (p=0,01) [19]

Các nghiên cứu về tình hình NPT trước đây cũng cho thấy có một sốyếu tố liên quan đến hành vi NPT là kiến thức về NPT, biện pháp tránh thaiđang sử dụng, tuổi, số con, trình độ học vấn và nghề nghiệp Nghiên cứu tạiCampuchia cho kết quả là kiến thức về BPTT, sử dụng BPTT và NPT liênquan có ý nghĩa thống kê với 5 yếu tố : giới, tuổi, trình độ học vấn, số con,nơi cư trú [21]

Kiến thức của phụ nữ về NPT chính là yếu tố ảnh hưởng quan trọng tớithực hành NPT, một số nghiên cứu chỉ ra rằng thiếu hiểu biết về NPT chính lànguyên nhân dẫn đến mang thai ngoài ý muốn và phải kết thúc bằng việcNPT Nghiên cứu trên 87 phụ nữ NPT và 81 phụ nữ chứng tại thành phố HồChí Minh cho thấy không biết gì về các tai biến, tác hại của NPT là yếu tốnguy cơ dẫn đến NPT (OR= 10,26) [8]

Tỷ lệ NPT thường đi đôi với tỷ lệ áp dụng các BPTT và tỷ lệ thất bạicủa các BPTT Mặt khác, hiệu quả áp dụng các BPTT còn phụ thuộc vào kiếnthức, thái độ, hành vi của những cặp vợ chồng và cá nhân trong độ tuổi sinh

đẻ về BPTT Mức độ hiểu biết càng cao thì việc áp dụng BPTT càng tốt và tỷ

lệ có thai ngoài ý muốn càng giảm Tại Thổ Nhĩ Kỳ, nghiên cứu chỉ ra rằng,

có 39,3% phụ nữ đang sử dụng 1 biện pháp tránh thai bất kỳ đã có thai, trong

đó có hơn một nửa (57,8%) sử dụng biện pháp xuất tinh ngoài âm đạo [25]

Trang 18

Nghiên cứu tại Bắc Ninh cho thấy có 1 tỷ lệ đến NPT là do thất bại của BPTTđang sử dụng, trong đó nhiều nhất là 45,8% sử dụng xuất tinh ngoài âm đạo,

tỷ lệ sử dụng biện pháp tính vòng kinh là 14,7%, thuốc tránh thai là 16,5%,BCS là 11,8% và DCTC là 11,2% Trong khi không sử dụng BPTT có 83%không muốn sử dụng vì lý do ảnh hưởng đến sức khoẻ [9] Đối với nghiêncứu 4 tỉnh năm 2012 của Trần Thị Phương Mai, kết quả sử dụng BPTT củaĐTNC: 32,8% dùng BCS, 26,9% dùng thuốc tránh thai uống, 13% xuất tinhngoài âm đạo, 7,4% DCTC và 0,4% dùng thuốc tránh thai tiêm Trong tổng số

138 ĐTNC không sử dụng BPTT có 36,2% muốn có con thêm, 30,4% chủquan do ít quan hệ tình dục, 16,7 % sợ các tác dụng của BPTT, 6,5% khôngbiết nơi cung cấp các BPTT, 3,6% do sức khoẻ không tốt nên không dùngBPTT, 2,2% do đang cho con bú, 2,2% do chồng hoặc bạn tình phản đối [10]

Tỷ lệ NPT theo độ tuổi có sự khác nhau giữa các quốc gia, phần lớnphụ thuộc vào tỷ lệ phụ nữ mang thai ngoài ý muốn, sự tiếp cận dễ dàng cácdịch vụ NPT, pháp luật và nền văn hoá của các quốc gia đó Tại bệnh việnColombo, Srilanka trên 80% phụ nữ dến NPT trong độ tuổi 20- 40 [17] TạiViệt Nam, 1 nghiên cứu năm 2002 cũng cho thấy tỷ lệ phụ nữ đến NPT chiếmtới 88,6% trong độ tuổi từ 21-40, trong đó cao nhất ở nhóm tuổi 21-25(34,1%) [10]

Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng tỷ lệ NPT ở những người có trình

độ học vấn từ THCS trở xuống cao hơn những người có trình độ học vấn từTHPT trở lên Nhưng lại có sự khác biệt đối với những nghiên cứu ở vùng đôthị, trình độ càng cao thì tỷ lệ NPT càng cao Theo kết quả điều tra nhân khẩuhọc năm 1994, nhóm đối tượng NPT có 84,7% mù chữ và học vấn dưới cấp 2;15,3% là tỷ lệ NPT của nhóm có học vấn từ cấp 3 trở lên Cũng theo Trần ThịPhương Mai và cộng sự năm 2002, nhóm đối tượng có trình độ học vấn từ cấp

Trang 19

3 trở lên NPT chiếm 72% cao hơn rất nhiều so với nhóm có trình độ học vấndưới cấp 2 [10].

Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, chương trình dân số và KHHGĐ

đã có nhiều hoạt động truyền thông với nhiều hình thức đa dạng khác nhau.Các môn học sức khoẻ sinh sản đã được đưa vào trường học các cấp, các câulạc bộ phụ nữ tuyên truyền giáo dục sức khoẻ sinh sản đã ngày càng phát huyhiệu quả NPT và các BPTT là nội dung truyền thông được phổ biến trên rấtnhiều kênh khác nhau bao gồm cả thông tin đại chúng và truyền thông trựctiếp Nghiên cứu tại Kenya về thông tin, giáo dục, truyền thông cho kết quả75% nhận được thông tin CSSK từ các phương tiện thông tin đại chúng, có27% nam và 33% nữ không hề thảo luận với bạn đời/bạn tình về SKSS trongvòng 1 năm qua [25] Còn tại Thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu củaHuỳnh Nguyễn Khánh Trang năm 2004 cho thấy, 54% trong số những ngườiNPT chưa bao giờ thảo luận với người khác về KHHGĐ, chỉ có 21,4% cóthảo luận với chồng/bạn tình Nghiên cứu cũng cho kết quả rằng không xemchương trình liên quan đến KHHGĐ trên TV là yếu tố nguy cơ của NPT [8]

Trang 20

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Phụ nữ chưa có con đến phá thai dưới 12 tuần tại Trung tâm tư vấnSKSS- KHHGĐ, BVPSTW từ 01/04/2013 đến 31/08/2013

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu

- Phụ nữ chưa có con đến phá thai tại Trung tâm tư vấn KHHGĐ, BVPSTW từ 01/04/2013 đến 31/08/2013

SKSS Thai được đình chỉ của ĐTNC phải là thai sống, tuổi thai từ 5SKSS 12 tuần(dựa theo ngày đầu kỳ kinh cuối cùng hoặc theo siêu âm)

- ĐTNC có tiền sử bệnh khoẻ mạnh, không mắc bệnh lý mạn tính kèm theo

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- ĐTNC tinh thần không minh mẫn

- Tuổi thai của ĐTNC trên 12 tuần (dựa vào ngày đầu kinh cuối cùnghoặc theo siêu âm)

- ĐTNC đình chỉ thai nghén vì mẹ bệnh lý, thai chết lưu

- ĐTNC không chấp thuận tham gia nghiên cứu

2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Kết thúc: 31/08/2013

- Địa điểm: Trung tâm tư vấn SKSS- KHHGĐ, BVPSTW

Trang 21

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu địnhlượng và nghiên cứu định tính

* Nghiên cứu định lượng: Điều tra kiến thức, thái độ, hành vi về hút

thai của phụ nữ chưa có con theo bộ câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc Kết quảnày chủ yếu trả lời cho mục tiêu: Mô tả kiến thức, thái độ, hành vi về phá thaidưới 12 tuần và phân tích một số yếu tố liên quan nội tại của ĐTNC

* Nghiên cứu định tính:

- Khai thác thông tin nhạy cảm liên quan đến phá thai dưới 12 tuần củaĐTNC và bổ sung cho việc phân tích một số yếu tố liên quan mà cấu trúc bộcâu hỏi phỏng vấn không thể khai thác hết được

- Phỏng vấn sâu đối với ĐTNC đã từng NPT từ 1 lần trở lên, để tìmhiểu sâu hơn về quyết định NPT, khả năng tiếp cận dịch vụ tránh thai, kiếnthức về lựa chọn BPTT thích hợp, lý do thất bại khi sử dụng BPTT

2.2.2 Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu

1

d

p p Z

n: Là cỡ mẫu cần điều tra

Z: Hệ số tin cậy Với độ tin cậy 95% thì giá trị của Z= 1,96

p: Là tỷ lệ ĐTNC có kiến thức đúng về NHT, do chưa tham khảo được tỷ lệphù hợp trong nghiên cứu tương tự nên chọ p= 0,5

d = 0,05

Theo công thức ta có n= 384

Trang 22

- Chọn mẫu định lượng: Chọn tất cả các ĐTNC có đủ tiêu chuẩn tại

Trung tâm tư vấn SKSS- KHHGĐ, Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ ngày01/04/2013 đến khi đủ cỡ mẫu là 384 người thì dừng lại

* Mẫu định tính:

- Cỡ mẫu 10 ĐTNC vào phỏng vấn sâu.

- Chọn mẫu chủ đích: 5 ĐTNC từng phá thai 1lần, 5 ĐTNC từng phá

thai 2 lần Các đối tượng này tự nguyện tham gia phỏng vấn sâu

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu

* Kỹ thuật thu thập thông tin

- Nghiên cứu định lượng: Phỏng vấn trực tiếp ĐTNC, ghi chép câu trảlời vào phiếu phỏng vấn

- Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn sâu ĐTNC, ghi chép bằng biên bản

để giải thích và bổ sung cho kết quả nghiên cứu định lượng

* Công cụ thu thập thông tin

- Phiếu phỏng vấn có cấu trúc thiết kế sẵn Các câu hỏi được tham khảo

từ bộ câu hỏi về tình hình NPT của WHO [2], từ các nghiên cứu trước để có

cơ sở so sánh và bàn luận Bộ câu hỏi đã được chỉnh sửa đẻ phù hợp với mụctiêu nghiên cứu

- Phiếu phỏng vấn sâu các ĐTNC

* Tổ chức thực hiện thu thập số liệu

- Nghiên cứu định lượng: ngoài nghiên cứu viên chính của đề tài, còn

có sự hỗ trợ của các cộng tác viên Trung tâm tư vấn SKSS- KHHGĐ, Bệnhviện Phụ sản Trung ương, dưới sự giám sát của giáo viên hướng dẫn đề tài

- Nghiên cứu định tính: nghiên cứu viên chính của đề tài trực tiếp

phỏng vấn sâu và ghi chép số liệu vào biên bản thảo luận

Trang 23

2.2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm phân tích SPSS 16.0 để thống kê mô tả, tìm mốiliên quan bằng các test thống kê

2.2.5 Các biến số và một số khái niệm/qui ước dùng trong nghiên cứu

- Kiến thức về PT: khái niệm PT, tuổi thai PT, Phương pháp PT, tai

biến PT, các trường hợp bắt buộc PT, phòng tránh PT

- Thái độ về PT: Quan niệm về PT, xu hướng gia tăng PT trong cộng

đồng, pháp luật về PT

- Hành vi về PT: số lần PT, tuổi thai đối với lần PT gần nhất, lý do PT,

người có ảnh hưởng đến quyết định PT, địa điểm PT, phương pháp sử dụng

PT, ảnh hưởng thể chất và tinh thần sau PT

Kể được 2 trong 3 ý

2 điểm

1 điểm

Trang 24

Thang điểm với tổng số tối đa 8 điểm cho 6 câu trả lời đúng Đạt yêu cầu trả lời đúng khoảng 60% số điểm của các câu hỏi.

+ Tổng số điểm <5 ==> Hành không đạt+ Tổng số điểm ≥ 5 ==> Hành vi không đạt

- Một số yếu tố liên quan: Kiến thức và hành vi về PT biến đổi theo

đặc điểm nhân khẩu học và điều kiện kinh tế xã hội

- Chi tiết biến số nghiên cứu (Phụ lục 1)

2.2.6 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

- Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải thích cụ thể

về mục đích, nội dung của nghiên cứu để đối tượng tự nguyện, cung cấpthông tin 1 cách chính xác nhất

- Chỉ tiến hành nghiên cứu khi các ĐTNC ký vào phiếu đồng ý thamgia nghiên cứu Tất cả các phiếu điều tra không cần ghi tên, địa chỉ

- Tất cả các thông tin thu được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứucủa đề tài, không nhằm mục điách gì khác

- Đề tài chỉ được tiến hành khi Hội đồng khoa học và Hội đồng đạo đứccủa Bệnh viện Phụ sản Trung ưong và Trường Đại học Y Hà nội chấp nhậnthông qua

Trang 25

CHƯƠNG 3

DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Tuổi

≤ 1819≤ 2425- 3435- 44

≥45

TĐHV

THCS trở xuốngTHPT

CĐ, ĐHSĐHNghề

nghiệp

Nông dânCNVC

Tự do- Nội trợHSSV

Nơi sống Thành thị

Nông thônTình

Trang 26

Bệnh đái tháo

đường

Biểu 3.1 Kiến thức về bệnh của người mẹ phải PT của ĐTNC

Trang 27

Có Không Không biết

Biểu 3.2 Kiến thức về việc PT được coi như biện pháp KHHGĐ

Trang 28

Sử dụng BPTT Không quan hệ tình duc Biện pháp khác

Biểu 3.3 Kiến thức về phòng tránh PT của ĐTNC

Thuốc uống tránh thai

Thuốc tiêm tránh thai

Que cấy tránh thai

Đình sản/triệt sản

Nhận xét:

Trang 29

Là biện pháp bất đắc dĩ chỉ thực hiện trong tình thế bắt buộc

Hút thai lứa tuổi VT N- T N ngày càng

nhiều

Không đồng ý Không biết

Biểu 3.4 Thái độ về PT của ĐTNC 3.4 Hành vi về PT của ĐTNC

0 20 40 60 80 100

Sử dụng các

BPT T Quyết định HT

Biểu 3.5 Hành vi PT qua trao đổi thông tin của ĐTNC

Ngày đăng: 02/09/2014, 05:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu - Kiến thức, thái độ, hành vi và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ chưa có con đến phá thai dưới 12 tuần tại bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (Trang 25)
Bảng 3.4. Kiến thức về tác hại PT của ĐTNC - Kiến thức, thái độ, hành vi và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ chưa có con đến phá thai dưới 12 tuần tại bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.4. Kiến thức về tác hại PT của ĐTNC (Trang 27)
Bảng 3.5. Kiến thức về BPTT phòng tránh PT - Kiến thức, thái độ, hành vi và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ chưa có con đến phá thai dưới 12 tuần tại bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.5. Kiến thức về BPTT phòng tránh PT (Trang 28)
Bảng 3.6. Hành vi  về PT qua nguồn thông tin của ĐTNC - Kiến thức, thái độ, hành vi và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ chưa có con đến phá thai dưới 12 tuần tại bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.6. Hành vi về PT qua nguồn thông tin của ĐTNC (Trang 30)
Bảng 3.8. Hành vi của ĐTNC về tuổi thai lần PT gần nhất - Kiến thức, thái độ, hành vi và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ chưa có con đến phá thai dưới 12 tuần tại bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.8. Hành vi của ĐTNC về tuổi thai lần PT gần nhất (Trang 30)
Bảng 3.7. Hành vi của ĐTNC về PT và số lần PT của ĐTNC - Kiến thức, thái độ, hành vi và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ chưa có con đến phá thai dưới 12 tuần tại bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.7. Hành vi của ĐTNC về PT và số lần PT của ĐTNC (Trang 30)
Bảng 3.10. Hành vi của ĐTNC về lý do PT lần gần nhất - Kiến thức, thái độ, hành vi và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ chưa có con đến phá thai dưới 12 tuần tại bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.10. Hành vi của ĐTNC về lý do PT lần gần nhất (Trang 31)
Bảng 3.11. Hành vi của ĐTNC về phương pháp PT lần gần nhất - Kiến thức, thái độ, hành vi và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ chưa có con đến phá thai dưới 12 tuần tại bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.11. Hành vi của ĐTNC về phương pháp PT lần gần nhất (Trang 32)
Bảng 3.13. Hành vi của ĐTNC về lý do không sử dụng BPTT - Kiến thức, thái độ, hành vi và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ chưa có con đến phá thai dưới 12 tuần tại bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.13. Hành vi của ĐTNC về lý do không sử dụng BPTT (Trang 33)
Bảng 3.15. Mối liên quan giữa tiền sử PT với kiến thức PT - Kiến thức, thái độ, hành vi và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ chưa có con đến phá thai dưới 12 tuần tại bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.15. Mối liên quan giữa tiền sử PT với kiến thức PT (Trang 34)
Bảng 3.16. Mối liên quan giữa sử dụng BPTT với kiến thức PT - Kiến thức, thái độ, hành vi và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ chưa có con đến phá thai dưới 12 tuần tại bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.16. Mối liên quan giữa sử dụng BPTT với kiến thức PT (Trang 34)
Bảng 3.17. Mối liên quan giữa đối tượng trao đổi thông tin với ĐTNC và - Kiến thức, thái độ, hành vi và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ chưa có con đến phá thai dưới 12 tuần tại bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.17. Mối liên quan giữa đối tượng trao đổi thông tin với ĐTNC và (Trang 35)
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa đặc điểm của ĐTNC với hành vi PT - Kiến thức, thái độ, hành vi và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ chưa có con đến phá thai dưới 12 tuần tại bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa đặc điểm của ĐTNC với hành vi PT (Trang 36)
Bảng 3.19. Mối liên quan giữa kiến thức và hành vi PT - Kiến thức, thái độ, hành vi và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ chưa có con đến phá thai dưới 12 tuần tại bệnh viện phụ sản trung ương
Bảng 3.19. Mối liên quan giữa kiến thức và hành vi PT (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w