1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề cương triết 2

85 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 407,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giá trị của hàng hóa là mức lao động hao phí khi sản xuất ra hàng hóa đó haylao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa, do thuộc tính xã hội quyđịnh nên đây là phạm trù l

Trang 1

Đề cương ôn thi hết môn (Tham khảo)

Môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin 2 – Khóa VI

Họ và tên: Dương Thị Phương Thảo – K6ICâu 1 Sản xuất hàng hóa và điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa.

1.1 Khái niệm.

Sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức sản xuất mà trong đó sản phẩm làm ra khôngphải để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người sản xuất ra mà là để đáp ứng nhucầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi mua bán

1.2 Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa.

– Phân công lao động xã hội:

+ Là sự phân chia lao động xã hội ra các ngành nghề, lĩnh vực sản xuất khác nhau tạonên sự chuyên môn hoá lao động và theo đó là chuyên môn hoá sản xuất thành nhữngngành nghề khác nhau

+ Do sự phân công lao động mà mỗi người tạo ra những hàng hoá khác nhau trong khinhu cầu xã hội cần nhiều thứ nên tất yếu dẫn đến trao đổi, mua bán hàng hoá để thoãmãn nhu cầu

– Sự tách biệt tương đối về mặc kinh tế của những người sản xuất.

Do sự tách biệt, do quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sản phẩmlao động dẫn đến sự tách biệt về kinh tế và lợi ích, làm cho lao động của người sảnxuất mang tính chất là lao dộng tư nhân Do đó người này muốn tiêu dùng sản phẩmcủa người khác phải thông qua trao đổi sản phẩm dưới hình thái hàng hoá nhằm đảmbảo sự ngang bằng về lợi ích cho mỗi bên

Câu 2 Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa.

2.1 Đặc trưng.

– Thứ nhất, sản xuất hàng hóa nhằm mục đích trao đổi mua bán

Trang 2

– Thứ hai, lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính chất tư nhân,vừa mang tính chất xã hội Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là cơ

sở, là mầm mống của khủng hoảng kinh tế trong kinh tế hàng hóa

– Thứ ba, mục đích của sản xuất hàng hóa là giá trị, là lợi nhuận chứ không phải

là giá trị sử dụng

2.2 Ưu thế của sản xuất hàng hóa.

– Sản xuất tự cung tự cấp là sản xuất khép kín nhằm thoã mãn nhu cầu của bảnthân người sản xuất Do vậy nhu cầu chỉ dừng lại ở mức độ hạn hẹp Trái lại sản xuấtthoã mãn nhu cầu tiêu dùng của thị trường, nhu cầu thị trường là động lực kích thíchsản xuất

– Sản xuất tự cung tự cấp cản trở sự phát triển của phân công lao động xã hội,sản xuất hàng hoá thì ngược lại nó thúc đẩy sự phân công lao động, chuyên môn hoásản xuất tạo điều kiện để phát huy lợi thế so sánh của mỗi vùng (Xuất hiện nhiềungành nghề mới như vệ sĩ, dịch vụ nhà ở…)

– Sản xuất tự cung, tự cấp không chỉ có cạnh tranh, chủ yếu dựa vào nguồn lực

tự nhiên còn sản xuất hàng hoá đặt trong môi trường cạnh tranh là động lực to lớn đểthúc đẩy cải tiến kỹ thuật, sử dụng các nguồn lực sản xuất, tiết kiệm và có hiệu quả

– Sản xuất tự cung tự cấp khả năng thoã mãn nhu cầu về vật chất, tinh thầnthấp kém, còn đối với sản xuất hàng hoá với quan hệ hàng hoá tiền tiện, quan hệ traođổi người sản xuất tiêu dùng làm cho giao lưu kinh tế giữa các địa phương trong nước

và quốc tế ngày càng phát triển

Câu 3 Hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa.

3.1 Khái niệm hàng hóa.

Là một sản phẩm của lao động, nó có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó cua conngười thông qua trao đổi, mua bán

3.2 Hai thuộc tính của hàng hóa.

Giá trị sử dụng: Hay còn được gọi là công dụng của hàng hóa là thuộc tính

của nó mà thỏa mãn, phục vụ được nhu cầu nào đó của con người, do thuộc tính tựnhiên quy định nên đây là một phạm trù vĩnh viễn.

Trang 3

Giá trị của hàng hóa là mức lao động hao phí khi sản xuất ra hàng hóa đó hay

lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa, do thuộc tính xã hội quyđịnh nên đây là phạm trù lịch sử; giá trị của hàng hóa gắn liền với giá trị trao đổi.

Câu 4 Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa.

Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị Hai thuộc tính đó dotính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa quyết định Chính tính hai mặt củalao động sản xuất hàng hoá quyết định tính hai mặt của bản thân hàng hoá

C Mác là người đầu tiên đã phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sảnxuất hàng hoá Đó là lao động cụ thể và lao động trừu tượng Đây không phải là haithứ lao động khác nhau mà chỉ là lao động của người sản xuất hàng hoá, nhưng laođộng đó mang tính hai mặt: Vừa là lao động cụ thể, vừa là lao động trừu tượng

4.1 Lao động cụ thể.

- Khái niệm: Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những

nghề nghiệp chuyên môn nhất định Mỗi lao động cụ thể có mục đích riêng, đối tượngriêng, phương tiện riêng, phương pháp riêng, và kết quả riêng

Ví dụ: Lao động cụ thể của người thợ mộc, mục đích là sản xuất cái bàn, cái

ghế, đối tượng lao động là gỗ, phương pháp của anh ta là các thao tác về cưa, về bào,khoan, đục; phương tiện được sử dụng là cái cưa, cái đục, cái bào, cái khoan; kết quảlao động là tạo ra cái bàn, cái ghế

- Đặc trưng của lao động cụ thể:

+ Mỗi lao động cụ thể tạo ra một loại giá trị sử dụng nhất định Lao động cụ thể càng nhiều loại thì càng tạo ra nhiều loại giá trị sử dụng khác nhau

+ Các lao động cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao động xã hội Cùng với

sự phát triển của khoa học – kỹ thuật, các hình thức lao động cụ thể ngày càng đadạng, phong phú, nó phản ánh trình độ phát triển của phân công lao động xã hội

+ Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa Giá trị sử dụng là phạmtrù vĩnh viễn, vì vậy lao động cụ thể cũng là phạm trù vĩnh viễn tồn tại gắn liền vối vậtphẩm, nó là một điều kiện không thể thiếu trong bất kỳ hình thái kinh tế – xã hội nào

Trang 4

+ Các hình thức phong phú và đa dạng của lao động cụ thể phụ thuộc vào trình

độ phát triển và sự áp dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất, đồng thời cũng là tấmgương phản chiếu trình độ phát triển kinh tế và khoa học – công nghệ ở mỗi thời đại

+ Lao động cụ thể không phải là nguồn gốc duy nhất của giá trị sử dụng do nósản giờ cũng do hai nhân tố hợp thành: Vật chất và lao động Lao động cụ thể của conngười chỉ thay đổi hình thức tồn tại của các vật chất, làm cho nó thích hợp với nhu cầucủa con người

4.2 Lao động trừu tượng.

- Khái niệm: Lao động của người sản xuất hàng hoá, nếu coi đó là sự hao phí óc, sức

thần kinh của sức cơ bắp nói chung của con người, chứ không kể đến hình thức cụ thểcủa nó như thế nào, thì gọi là lao động trừu tượng

Ví dụ: Lao động của người thợ mộc và lao động của người thợ may, nếu xét về

mặt lao động cụ thể thì hoàn toàn khác nhau, nhưng nếu gạt bỏ tất cả những sự khácnhau ấy sang một bên thì chúng chỉ còn có một cái chung, đều phải hao phí sức óc, sứcbắp thịt và sức thần kinh của con người

- Đặc trưng của lao động trừu tượng:

+ Lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hóa, làm cơ sở cho sự ngang bằngtrao đổi

+ Giá trị của hàng hóa là một phạm trù lịch sử, do đó lao động trừu tượng tạo

ra giá trị hàng hóa cũng là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong nền sản xuất hànghóa

Chú ý: Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa có quan hệ với tính

chất tư nhân và tính chất xã hội của lao động sản xuất hàng hóa Tính chất tư nhân vàtính chất xã hội của lao động sản xuất hàng hóa có mâu thuẫn với nhau, đó là mâuthuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa giản đơn biểu hiện ở chỗ sản phẩm của người sảnxuất hàng hóa riêng biệt có thể không ăn khớp hoặc không phù hợp với nhu cầu của xãhội hoặc hao phí lao động cá biệt của ngưòi sản xuất hàng hoá có thể cao hơn hay thấphơn hao phí lao động mà xã hội có thể chấp nhận Chính vì những mâu thuẫn đó màsản xuất hàng hoá vừa vận động phát triển, lại vừa tiềm ẩn khả năng khủng hoảng

―sản xuất thừa‖.

Trang 5

Câu 5 Lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa Ý nghĩa của việc nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa? Đối với nước ta hiện nay cần làm gì để giảm giá trị cá biệt của hàng hóa.

5.1 Khái niệm.

Giá trị hàng hóa được xét về 2 mặt là chất và lượng Chất giá trị hàng hóa là dolao động trừu tượng kết tinh trong hàng hóa Vậy, lượng giá trị hàng hóa do lượng laođộng hao phí đế sản xuất ra hàng hóa đó quyết định và được đo bằng thời gian laođộng xã hội cần thiết (là thời gian cần thiết để sản xuất ra hàng hóa trong điều kiệnbình thường của xã hội, tức là với 1 trình độ kỹ thuật, trình độ khéo léo, cường độ laođộng trung bình và hoàn cảnh xã hội nhất định)

5.2 Các nhân tố ảnh hưởng.

Thứ nhất, năng suất lao động:

- Là năng lực sản xuất của lao động, được tính bằng số sản phẩm sản xuất trong 1 đơn vị thời gian hoặc thời gian cần thiết để sản xuất ra một sản phẩm.

- Có 2 loại năng suất lao động là năng suất lao động cá biệt và năng suất lao động xã hội (ảnh hưởng đến giá trị xã hội của hàng hóa).

- Lượng giá trị của 1 đơn vị hàng hóa tỉ lệ thuận với số lao động kết tinh và tỉ

lệ nghịch với năng suất lao động xã hội (Năng suất lao động xã hội càng tăng => thờigian lao động xã hội cần thiết càng giảm => lượng giá trị cũng giảm).

- Năng suất lao động tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: Trình độ khéo léo của taynghề, sựphát triển của khoa học – kỹ thuật và trình độ ứng dụng những thành tựukhoa học – kỹ thuật vào sản xuất, hiểu quả của tư liệu sản xuất,…).

- Lao động giản đơn là sự hao phí lao động 1 cách đơn giản mà bất kỳ ai có khả năng lao động cũng có thể thực hiện được.

- Lao động phức tạp là loại lao động cần phải thông qua quá trình đào tạo, huấnluyện thành lao động lành nghề.

Chính vì vậy, cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau thì lao động phức tạp sẽ tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn.

5.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa.

Trang 6

Việc nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa là rất cần thiết Trước hết, nghiên cứulượng giá trị hàng hóa đã xác định được giá cả của hàng hóa đã làm ra Bởi vì khi

nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa cho biết: ―Thời gian lao động xã hội cần thiết giản đơn trung bình để sản xuất ra một hàng hóa là thước đo lượng giá trị hàng hóa và từ

đó xác định được giả cả của hàng hóa nào cao hơn của hàng hóa nào‖.

Thứ hai, nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa tìm ra được các nhân tố tác động

đến nó, từ đó tìm ra cách để làm giảm giá cả sản xuất như: Tăng năng suất lao động,đầu tư vào khoa học kỹ thuật hiện đại, đầu tư đào tạo giáo dục chất xám… mà vẫn giữnguyên hoặc làm tăng thêm giá trị để tiến tới cạnh tranh trên thị trường, đây chính làđiều mà các nhà làm kinh tế luôn hướng tới nhằm đạt được lợi nhuận siêu ngạch

Thứ ba, bởi vì lao động phức tạp tạo ra được nhiều giá trị hơn so với lao động

giản đơn trong cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau Vì thế các nhà làm kinh

tế cần phải chú trọng đầu tư vào những ngành lao động phức tạp đòi hỏi nhiều chấtxám Muốn làm được điều này thì phải nâng cao trình độ công nhân, nâng cao tay nghề

và áp dụng những biện pháp tiên tiến

5.4 Giảm giá trị cá biệt của hàng hóa.

Đối với Việt Nam, đi lên từ một nước nông nghiệp, với những tập quán canhtác nhỏ lẻ lạc hậu, lại chịu nhiều thiệt hại cảu chiến tranh nên gặp rất nhiều khó khăntrong quá trình xây dựng và phát triển Từ năm 1986, Đảng và nhà nước đã quyết địnhchính sách đổi mới đất nước và đạt được nhiều thành tựu Bên cạnh đó vẫn còn nhềukhó khăn trong quá trình phát triển đặc biệt là lao động lành nghề, sản xuất với côngnghệ đơn giản nên lượng giá trị hàng hóa cao mà giá trị sử dụng lại thấp, không đápứng được nhu cầu trong nước cũng như ngoài nước Ví dụ như: Gạo ở Việt Nam sảnxuất với thời gian lao động xã hội cần thiết lớn, nhiều nhân lực, nhưng chất lượng gạolại không cao, bán với giá thấp trên thị trường thế giới Từ đó đặt ra một yêu cầu làmthế nào để làm giảm lượng giá trị mà vẫn giữ nguyên hoặc tăng thêm giá trị của hànghóa

Để giảm lượng giá trị hàng hóa thì nước ta cần phải chú trọng đầu tư phát triểnnhững ngành lao động tri thức, nâng cao năng suất lao động bằng cách áp dụng nhiều

Trang 7

công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại; đầu tư đào tạo đội ngũ lao động có trình độ taynghề cao, tiến tới xây dựng một nền kinh tế tri thức.

Đồng thời với việc xây dựng và phát triển kinh tế nhà nước cần kiên quyết đẩylùi những tệ nạn tham ô tham nhũng; cải cách hành chính thật hiệu quả minh bạch; hạnchế những thủ tục rườm rà trong quản lý kinh tế; đồng thời đưa ra các biện pháp kíchthích kinh tế, khuyến khích đầu tư các ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ cao

Câu 6 Lịch sử ra đời và phát triển của các hình thái giá trị.

Sự phát triển các hình thái giá trị trong nền kinh tế hàng hoá được biểu hiệnthông qua 4 hình thái cụ thể:

6.1 Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên.

Đây là hình thái phôi thai của giá trị, nó xuất hiện trong giai đoạn đầu của traođổi hàng hoá, khi trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên, người ta trao đổi trực tiếp vậtnày lấy vật khác

Ví dụ: 1m vải= 10kg thóc

- Tuy là hình thái đơn giản nhưng bản thân nó lại không đơn giản, lại bao gồm hai hìnhthái: Hình thái tương đối và hình thái ngang giá Hai hình thái này là hai mặt liên quanvới nhau, không thể tách rời nhau đồng thời là hai cực đối lập của một phương trìnhgiá trị Trong hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên thì tỉ lệ trao đổi chưa cố định

- Hình thái giản đơn, giá trị của một hàng hóa chỉ được phát hiện ở một hàng hoá nhất định khác với nó, chứ không biểu hiện ở một hàng hoá khác

6.2 Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng.

- Khi lực lượng sản xuất phát triển hơn, sau phân công lao động xã hội lần thứ nhất,chăn nuôi tách khỏi trồng trọt trao đổi trở lên thường xuyên hơn, một hàng hoá này cóthể quan hệ với nhiều hàng hoá khác

Ví dụ: 1m vải =10kg thóc hoặc 2 con gà, hoặc 0,1 chỉ vàng

Đây là sự mở rộng hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên Tuy nhiên đây vẫn là trao đổi trực tiếp tỉ lệ trao đổi chưa cố định

6.3 Hình thái chung của giá trị.

Với sự phát triển cao hơn nữa lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, hàng hoá được đưa ra trao đổi thường xuyên đa dạng và nhiều hơn Nhu cầu trao

Trang 8

đổi do đó trở nên phức tạp hơn, vì thế việc trao đổi trực tiếp không còn thích hợp vàgây trở ngại cho trao đổi Trong tình hình đó người ta phải đi con đường vòng, manghàng hoá của mình đổi lấy thứ hàng hoá được nhiều người ưu huộng, rồi đem hàng hoáđổi lấy thứ hàng hoá mà mình cần khi vật trung gian trong đó trao đổi được cố định lạithì ở thứ hàng hoá được nhiều người ưu chuộng thì hình thái chung của giá trị xuấthiện.

Ví dụ: 10 kg thóc hoặc 1 con gà, hoặc 0,1 chỉ vàng = 1 m vải

6.4 Hình thái tiền tệ.

Khi lực lượng và phân công lao đông xã hội phát triển hơn nữa, sản xuất hànghoá và thị trường ngày càng mở rộng thì tình trạng có nhiểu vật ngang giá chung làmcho: Trao đổi giữa các địa phương vấp phải khó khăn, do đó dẫn đến đòi hỏi kháchquan phải hình thành vật ngang giá chung thống nhất Khi vật ngang giá chung được

cố định lại ở một vật độc tôn và phổ biến thì xuất hiện hình thái tiền tệ của giá trị

Ví dụ: 10 kg thóc hoặc 1m vải hoặc 2 con gà = 1 chỉ vàng

Tiền tệ xuất hiện là kết quả phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hoá,khi tiền tệ ra đời thì thế giới hàng hoá được phân thành hai cực: Một bên là các hànghoá thông thường, một bên là hàng hoá đóng vai trò tiền tệ Đến đây giá trị các hànghoá đã có một phương tiện biểu hiện thống nhất, tỷ lệ trao đổ được cố định lại

Câu 7 Định nghĩa tiền tệ Phân tích bản chất của tiền Tại sao nói tiền là hàng hóa đặc biệt.

7.1 Định nghĩa tiền tệ.

Tiền là vật ngang giá chung có tính thanh toán cao nhất dùng để trao đổi lấyhàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn bản thân và mang tính dễ thu nhận (nghĩa là mọingười đều sẵn sàng chấp nhận sử dụng) và thường được Nhà nước phát hành bảo đảmgiá trị bởi các tài sản khác như vàng, kim loại quý, trái phiếu, ngoại tệ

7.2 Bản chất của tiền tệ.

Tiền tệ là một hình thái giá trị của hàng hoá, là sản phẩm của quá trình pháttriển sản xuất và trao đổi hàng hóa vậy tiền tệ là hàng hóa đặc biệt, được tách ra làmvật ngang giá chung thống nhất cho các hàng hóa khác, nó thể hiện lao động xã hội vàbiểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa

Trang 9

7.3 Tiền tệ là một hàng hóa đặc biệt vì.

+ Tiền tệ cũng có hai thuộc tính: Giá trị và giá trị sử dụng Giá trị của tiền tệ cũng dothời gian lao động xã hội cần thiết sản xuất ra vàng (bạc) quyết định Giá trị sử dụngcủa tiền tệ làm môi giới trong mua bán và làm chức năng tư bản

+ Là hàng hóa, tiền tệ cũng có người mua, người bán, cũng có giá cả (lợi tức) Giá cả của hàng hóa tiên tệ cũng lên xuống xoay quanh quan hệ cung cầu

+ Đóng vai trò làm vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hóa

Câu 8 Phân tích năm chức năng cơ bản của tiền tệ.

1 Thước đó giá trị.

Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá Muốn đo lườnggiá trị của hàng hoá, bản thân tiền tệ cũng phải có giá trị Vì vậy tiền tệ làm chức năngthước đo giá trị phải là tiền vàng Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền gọi là giá

cả hàng hoá Hay giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá

2 Phương tiện lưu thông.

Với chức năng làm phương tiện lưu thông tiền làm môi giới trong quá trìnhtrao đổi hàng hoá Để làm chức năng lưu thông hàng hoá đòi hỏi phải có tiền mặt Traođổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá

3 Phương tiện cất trữ.

Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ Sở

dĩ tiền làm được chức năng này là vì: Tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình tháigiá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của của cải Để làm chức năng phươngtiện cất trữ tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền, vàng, bạc

4 Phương tiện thanh toán.

Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, nộp thuể, trả tiền muachịu hàng Đáp ứng kịp thời nhu cầu của người sản xuất hoặc tiêu dùng ngay cả khi họchưa có tiền hoặc không đủ tiền Nhưng nó cũng làm cho khả năng khủng hoảng tănglên Trong quá trình thực hiện chức năng thanh toán, loại tiền mới – tín dụng xuất hiện,

có nghĩa là hình thức tiền tệ đã phát triển hơn

5 Tiền tệ thế giới.

Trang 10

Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm chức năng tiền

tệ thế giới Khi thực hiện chức năng này, tiền thực hiện các chức năng: Thước đo giátrị, phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, tín dụng, di chuyển của cải từ nướcnày sang nước khác Thực hiện chức năng này phải là tiền vàng hoặc tiền tín dụngđược công nhận là phương tiện thanh toán quốc tế (Ví dụ: USD, ) Việc trao đổi tiềncủa nước này sang tiền của nước khác tuân theo tỉ giá hổi đoái, tức là giá cả của mộtđồng tiền nước này được tính bằng đồng tiền của nước khác

Vì vậy, năm chức năng của tiền tệ trong nền kinh tế hàng hoá quan hệ mật thiếtvới nhau Sự phát triển các chức năng của tiền tệ phản ánh phát triển của sản xuất vàlưu thông hàng hoá

Câu 9 Phân tích nội dung và tác động của quy luật giá trị Vận dụng ở Việt Nam hiện nay.

9.1 Nội dung quy luật giá trị.

Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa, ởđâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó tồn tại và phát huy tác dụng của quyluật giá trị.

Việc trao đổi và sản xuất hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hộicần thiết Trong kinh tế hàng hóa, thì mỗi người tự quyết định hao phí lao động cábiệt của mình, nhưng giá trị hàng hóa lại được quyết định bởi hao phí xã hội cần thiết

vì vậy để bù đắp được vốn và có lãi người sản xuất phải điều chỉnh sao cho hao phílao động cá biệt của mình phù hợp với chi phí mà xã hội chấp nhận được Trao đổi thìphải dựa theo nguyên tắc ngang giá chung

Ngoài giá trị, thì giá cả hàng hóa còn phụ thuộc vào các yếu tố như cạnh tranh,cung cầu, sức mua của đồng tiền  Tác động làm giá cả tách rời với trục giá trị và lên

xuống xoay quanh trục giá trị của nó

9.2 Tác động của quy luật giá trị.

– Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa.

+ Điều tiết sản xuất.

Điều tiết sản xuất có nghĩa là điều hòa, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế Sự điều tiết sản xuất của quy luật giá trị thông

Trang 11

qua sự biến động của giá cả thị trường do tác động trực tiếp của cung cầu Điều này thể hiện qua hai trường hợp sau:

+ Thứ nhất, nếu hàng hóa nào đó có cung nhỏ hơn cầu dẫn đến giá cả lớn hơngiá trị, hàng hóa đó có khả năng bán chạy và thu lãi cao, những người sản xuất sẽ đầu

tư thêm tư liệu sản xuất và sức lao động để mở rộng quy mô sản xuất Không nhữngthế, những người sản xuất đang hoạt động ở lĩnh vực khác cũng có thể chuyển quasản xuất mặt hàng này Do đó, quy mô ngành này càng được mở rộng

+ Thứ hai, đối với những mặt hàng hóa có cung lớn hơn cầu kéo theo giá cảthấp hơn giá trị, hàng hóa đó sẽ không bán được và người sản xuất sẽ phải thu hẹpquy mô, thậm chí đóng cửa xí nghiệp sản xuất mặt hàng này Một số người sẽ khôngsản xuất loại hàng hóa đó nữa mà chuyển sang sản xuất loại hàng hóa có lãi nhiều.Kết quả là các yếu tố của sản xuất của ngành giảm đi do đã bị chuyển sang ngành sảnxuất khác

+ Thứ ba, đối với hàng hóa mag cung bằng cầu thì giá cả bằng giá trị Tuy nhiên trường hợp này ít xảy ra

► Vậy, quy luật giá trị đã tự động điều tiết tỷ lệ phân chia tư liệu sản xuất và sức laođộng vào các ngành sản xuất khác nhau, đáp ứng đầy đủ hơn, phù hợp hơn nhu cầucủa xã hội

+ Điều tiết lưu thông.

Tác động điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua sự vận độnggiá cả trên thị trường Sự biến động giá cả trên thị trường có tác dụng thu hút luồnghàng hóa từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, nơi có thể thu nhiều lãi Qua đó, quyluật giá trị có tác động điều tiết, phân phối các nguồn hàng hóa một cách hợp lý hơngiữa các vùng, giữa cung và cầu đối với các loại hàng hóa trong xã hội Trong kinh tếthị trường hiện nay, ngoài vai trò điều tiết của thị trường, nhà nước cũng có tác độngmạnh mẽ đến điều tiết sản xuất, lưu thông thông qua các công cụ của kế hoạch

- Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất nhằm tăng năng suất lao động,

hạ giá thành sản phẩm.

Trang 12

+ Trong nền kinh tế hàng hóa, mỗi người sản xuất là một chủ thể độc lập, tựquyết định hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình Và mỗi người có điều kiện sảnxuất khác nhau nên mức hao phí lao động cá biệt của họ khác nhau, sản xuất mặthàng này Tuy nhiên, trên thị trường, các hàng hóa đều phải được trao đổi theo mứchao phí lao động xã hội cần thiết Vậy, người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phílao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội sẽ thu được lãi và ngược lại.

Để dành được lợi thế trong cạnh tranh và tránh khỏi nguy cơ vỡ nợ, phá sản, các chủthể kinh tế phải luôn luôn phấn đấu hạ thấp giá trị cá biệt sao cho bằng hoặc thấp hơngiá trị xã hội Muốn vậy, người sản xuất phải:

+ Tìm cách cải tiến kỹ thuật, nâng cao trình độ tay nghề, sử dụng các thành tựumới của khoa học, kỹ thuật vào sản xuất

+ Cải tiến hiệu quả tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh, cải tiến các biện pháplưu thông, bán hàng để tiết kiệm chi phí lưu thông và tiêu thụ sản phẩm nhanh chóng

+ Thực hiện tiết kiệm chặt chẽ các yếu tố đầu vào nhằm nâng cao năng suất laođộng

+ Cải tiến chất lượng, mẫu mã cho phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của người tiêudùng

Kết quả là năng suất lao động xã hội không ngừng tăng lên, lực lượng sản xuất không ngừng phát triển, chi phí sản xuất không ngừng giảm xuống

- Phân hóa giàu nghèo giữa những người sản xuất hàng hóa.

Quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất yếu sẽ dẫn đến kết quả là:

Những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ tay nghề cao, có kiếnthức, trang bị kỹ thuật tốt, có vốn nên hạ thấp được mức hao phí lao động cá biệt sovới hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ thu được nhiều lãi, giàu lên, có thể mua sắmthêm tư liệu sản xuất, thuê thêm lao động, mở rộng sản xuất kinh doanh và trở thànhông chủ

Ngược lại, những người không có điều kiện sản xuất thuận lợi, làm ăn kém cỏihoặc gặp rủi ro trong kinh doanh sẽ có mức hao phí lao động cá biệt cao, khi bánhàng sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ, thậm chí phá sản và trở thành người làm thuê

Trang 13

Tác động phân hóa giàu nghèo của quy luật giá trị cũng chính là một trongnhững nguyên nhân, cơ chế làm xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, cơ sở rađời của chủ nghĩa tư bản Bởi vì nó đã tạo điều kiện tập trung một khối lượng tiền lớnvào tay một số người và đồng thời cũng tạo ra lực lượng lao động làm thuê bán sứclao động kiếm sống.

► Qua đây, ta có thể thấy quy luật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác độngtiêu cực Một mặt, quy luật giá trị buộc các chủ thể kinh tế phải sàng lọc, lưu giữ cácyếu tố có tác dụng tích cực đến hiệu quả sản xuất, gạt bỏ những yếu tố lạc hậu Mặtkhác, nó phân hóa xã hội thành giàu nghèo, gây ra sự bất bình đẳng trong xã hội

Vì lý do đó, đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, Nhànước cần có những biện pháp để phát huy mặt tích cực của quy luật giá trị Cụ thể,nhà nước có thể vận dụng quy luật giá trị trong điều tiết vĩ mô để thúc đẩy hoặckhông khuyến khích một số ngành sản xuất phát triển, bên cạnh đó là các chính sáchđiều tiết, chính sách xã hội để hạn chế sự phân hóa trên Đặc biệt, đối với Việt Nam,trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xãhội chủ nghĩa hiện nay, điều đó càng được thực hiện đúng mức

9.3 Vận dụng quy luật giá trị ở Việt Nam.

Nhận thức và vận dụng quy luạt giá trị thể hiện chủ yếu trong việc hình thànhgiá cả Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị, giá cả phải lấy giá trị làm cơ sở thìmới có căn cứ kinh tế, mới có tác dụng kích thích tăng năng suất lao động, cải tiến kỹthuật, hạ tầng thành sản phẩm Nhà nước phải chủ động lợi dụng cơ chế hoạt hoạtđộng của quy luật giá trị nghĩa là khả năng giá cả tách rời giá trị, và xu hướng đưa giá

cả trở về giá trị Thông qua chính sách giá cả, Nhà nước vận dụng quy luật giá trịnhằm:

Thứ nhất là kích thích sản xuất phát triển Đối với xí nghiệp quốc doanh, chủ

yếu là xây dựng một hệ thống giá bán buôn để đưa chế độ hạch toán kinh tế đi vàonền nếp và có căn cứ vững chắc

Thứ hai là điều hoà lưu thông hàng tiêu dùng Trong chế độ kinh tế thị trường,

tổng khối lượng và cơ cấu hàng tiêu dùng do kế hoạch lưu chuyển hàng hoá quyếtđịnh căn cứ vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mức tăng thu nhập quốc

Trang 14

dân, và thu nhập bằng tiền của nhân dân, nhu cầu về hàng tiêu dùng trong điều kiệnsức mua khong đổi, nếu giá cả một loại hàng nào đó giảm xuống thì lượng hàng tiêuthụ sẽ tăng lên và ngược lại Nhà nước có thể quy định giá cả cao hay thấp để ảnhhưởng đến khối lượng tiêu thụ một số loại hàng nào đó nhằm làm cho nhu cầu vàmức tăng của sản xuất về một số hàng tiêu dùng ăn khớp với kế hoạch lưu chuyểnhàng hoá của Nhà nước.

Thứ ba là phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân thông qua chính sách

giá cả, việc quy định hợp lý các tỷ giá, Nhà nước phân phối và phân phối lại thu nhậpquốc dân giữa các ngành nhằm phục vụ cho yêu cầu năng cao đời sống của nhân dânlao động

Cuối cùng, nhận thức và vận dụng quy luật giá trị nói rộng ra là biết sử dụng

các đòn bẩy của kinh tế hàng hoá như tiền lương, giá cả, lợi nhuận… dựa trên cơ sởhao phí lao động xã hội cần thiết để tổ chức và thực hiện chế độ hạch toán kinh tế

Tóm lại, những điều trình bày trên đây nói lên trong kinh tế thị trường có sựcần thiết khách quan phải kết hợp kế hoạch với thị trường, lấy cái sau bổ sung cho cáitrước Quá trình kết hợp đó cũng là một quá trình phát huy tác dụng tích cực của quyluật giá trị, là một quá trình tự giác vận dụng quy luật giá trị và quan hệ thị trườngnhư là một công cụ để xây dựng các mặt kinh tế, kích thích cải tiến kỹ thuật, tăngnăng suất lao động, làm cho giá trị hàng hoá ngày càng hạ, đảm bảo tốt hơn cho nhucầu đời sống, đồng thời tăng thêm khối lượng tích luỹ

Đi đôi với việc phát huy tác dụng tích cực của quy luật giá trị phải đồng thờingăn chặn những ảnh hưởng những tiêu cực của nó đối với việc quản lý kinh tế

Câu 10 Chứng minh T – H – T’ là công thức chung của tư bản.

Mọi tư bản mới đầu đều biểu hiện dưới một số tiền nhất định nhưng tiền tệ chỉbiến thành tư bản trong những điều kiện nhất định Nếu là tiền thông thường thì hoạtđộng theo phương thức hàng - tiền - hàng (H-T-H) Công thức này gọi là công thứclưu thông hàng hoá giản đơn, còn nếu tiền là tư bản thì vận động theo công thức tiền -hàng - tiền (T-H-T) Công thức này gọi là công thức lưu thông của tư bản Mục đíchcủa lưu thông hàng hoá giản đơn là giá trị sử dụng Vì vậy sự vận động sẽ kết thúckhi những người trao đổi có được giá trị sử dụng mà anh ta cần đến Trái lại, mục

Trang 15

đích sự vận động của tư bản không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị Hơn nữa làgiá trị tăng thêm vì vậy nếu số tiền thu về bằng số tiền ứng ra thì sự vận động trở nên

vô nghĩa Vì vậy số tiền thu về phải lớn hơn số tiền ứng ra Do đó công thức vận độngđầy đủ của tư bản là T-H-T’ trong đó T’= T + t Số dôi ra đó (t) Mác gọi là giá trịthặng dư và số tiền ban đầu chuyển hoá thành tư bản Vậy tư bản là giá trị mang lạigiá trị thặng dư Sự lớn lên của giá trị là không có giới hạn Vì vậy sự vận động của

tư bản cũng không có giới hạn Mác gọi công thức T-H-T’ là công thức chung của tưbản vì mọi tư bản đều biểu hiện trong lưu thông dưới dạng tổng quát đo dù là tư bảnthương nghiệp, tư bản công nghiệp hay tư bản cho vay

Câu 11 Tại sao nói “Tư bản không thể xuất hiện trong lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông

và đồng thời không phải trong lưu thông”.

Công thức chung của tư bản: T - H - T' (T’ = T + ∆T) Vậy ∆T xuất hiện từ đâu?

- Trong lưu thông:

Trong lưu thông, dù trao đổi ngang giá hay không ngang giá thì cũng khôngtạo ra ∆T

+ Trường hợp trao đổi ngang giá: Chỉ là sự thay đổi của hình thái giá trị từ T-H

và từ H-T nhưng tổng giá trị và phần giá trị của mỗi bên tham gia trao đổi trước vàsau đều không thay đổi Tuy nhiên, về giá trị sử dụng thì đôi bên đều có lợi

+ Trường hợp trao đổi không ngang giá, có thể có ba trường hợp xảy ra:

Thứ nhất, Trong trường hợp nhà tư bản bán hàng hóa cao hơn giá trị, nhưng

đến lượt anh ta lại là người đi mua (vì không có ai chỉ bán mà không mua) thì phảimua hàng hóa cao hơn giá trị ấy Hành vi bán hàng hóa cao hơn giá trị không mạnglại bất cứ chút thặng dư (∆T) nào

Thứ hai, Trường hợp nhà tư bản cố mua hàng hóa thấp hơn giá trị cũng không

mang lại chút thặng dư (∆T) nào Vì đến khi anh ta bán cũng buộc phải bán hàng hóathấp hơn giá trị

Thứ ba, nếu xã hội có một số kẻ lừa gạt chuyên mua rẻ, bán đắt thì cái ∆T hắn

có là do chiếm đoạt của người khác mà có Cái hắn được là cái người khác mất đi,nhưng trong toàn xã hội thì tổng giá trị của hàng hóa là không thay đổi

Trang 16

Như vậy, trong lưu thông dù trao đổi ngang giá hay không ngang giá đều không tạo ra giá trị thặng dư cho các nhà tư bản.

- Ngoài lưu thông:

Nếu người trao đổi vẫn đứng 1 mình với hàng hóa của anh ta, thì giá trị củahàng hóa ấy không hề tăng lên

Nếu người sản xuất muốn sáng tạo thêm thặng dư thì phải bằng lao động củachính mình Chẳng hạn da thuộc phải trở thành giày da, ở đó giày da có giá trị lớnhơn da thuộc vì nó đã thu hút nhiều lao động vào trong giày da Còn giá trị của dathuộc vẫn không đổi

Vậy là "Tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông, đồng thời không phải trong lưu thông".

Đó chính là mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản Để giải quyết mâu

thuẫn đó, C.Mác đã chỉ rõ: "Phải lấy những quy luật nội tại của lưu thông hàng hoá làm cơ sở".

Câu 12 Hàng hóa sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa Ý nghĩa của việc nghiên cứu hàng hóa sức lao động.

12.1 Khái niệm hàng hóa sức lao động.

Là toàn bộ thể lực, trí lực, nhân cách của con người trong hoạt động sản xuất

để tạo ra những vật có ích

12.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa.

Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng đều là điều kiện cần thiết để sảnxuất Nhưng không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hoá Sức lao động chỉbiến thành hàng hoá trong những điều kiện lịch sử nhất định Đó là:

Thứ nhất, người có sức lao động được tự do về thân thể, làm chủ về sức lao

động của mình Việc biến sức lao động thành hàng hoá đòi hỏi phải thủ tiêu chế độchiếm hữu nô lệ

Thứ hai, mgười có sức lao động bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất, để duy trì

cuộc sống phải đi làm thuê để sống Nếu người lao động được tự do thân thể và có tư

Trang 17

liệu sản xuất thì người lao động sẽ bán sản phẩm do mình làm ra chứ không phải sứclao động.

Sự tồn tại đồng thời 2 điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động thành hànghoá Sức lao động biến thành hàng hoá báo hiệu một giai đoạn mới trong sự phát triển

xã hội - giai đoạn sản xuất hàng hoá trở thành phổ biến, đó là sản xuất hàng hoá tưbản chủ nghĩa Hàng hoá sức lao động là nhân tố tách chủ nghĩa tư bản ra khỏi sảnxuất hàng hoá giản đơn Như vậy, sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiệnquyết định để chuyển hoá tiền tệ thành tư bản Tuy nhiên để tiền tệ biến thành tư bảnthì lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ phải đạt tới mức độ nhất định

12.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu hàng hóa sức lao động.

Việc nghiên cứu hàng hóa sức lao động có ý nghĩa quan trọng trong việc xâydựng thị trường lao động ở Việt Nam Đảng và Nhà nước ta đã thừa nhận sức laođộng là hàng hóa (khi có đủ các điều kiện trở thành hàng hóa) cho nên việc xây dựngthịi trường sức lao động là tất yếu Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa là vấn đề cốt lõi, trọng tâm Nên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa ở nước ta đòi hỏi phải có sự phát triển đồng bộ các loại thị trường và Nghịquyết Đại hội IX cũng đã nhấn mạnh pahỉ tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thịtrường, thị trường lao động từ chỗ không tồn tại đã bắt đầu hình thành và phát triển

Thị trường sức lao động là thị trường mà trong đó các dịch vụ lao động đượcmua bán thông qua một quá trình để xác định số lượng lao động được sử dụng cũngnhư mức tiền công và tiền lương Thị trường lao động là một trong những loại thịtrường cơ bản và có một vị trí đặc biệt trong hệ thống các thị trường của nền kinh tế.Qúa trình hình thành và phát triển cũng như sự vận động của thị trường lao động cónhững đặc điểm hết sức riêng biệt Thị trường lao động cũng như các loại thị trườngkhác tuân thủ theo những quy luật của thị trường như quy luật cung cầu, quy luật giátrị và quy luật cạnh tranh Điểm khác biệt lớn nhất ở đây là do tính chất đặc biệt củahàng hóa ở sức lao động

Hàng hóa sức lao động xuất hiện đánh dấu 1 bước ngoặt cách mạng trongphương thức kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất, hình thành quan hệ sản xuất tư

Trang 18

bản chủ nghĩa, sản xuất hàng hoá lớn tư bản chủ nghĩa trở thành phổ biến dẫn đếnthời đại kinh tế mới xuất hiện năng lực sản xuất ngày càng cao.

Phạm trù hàng hóa sức lao động chính là điều kiện chuyển hóa tiền dẫn đến tưbản và làm dáng tỏ mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản; đồng thời là cơ sởkết hợp để C.Mác và Ăngghen xây dựng thành công học thuyết giá trị thặng dư trongChủ nghĩa tư bản

Câu 13 Tại sao sức lao động là hàng hóa đặc biệt.

Sức lao động là hàng hoá đặc biệt: Sức lao động phải là hàng hoá và giốnghàng hoá thông thường khác nhưng tính đặc biệt được thể hiện:

- Trong quan hệ mua bán:

+ Chỉ bán quyền sử dụng chứ không bán quyền sở hữu và có thời gian nhấtđịnh

+ Mua bán chịu: Giá trị sử dụng thực hiện trước, giá trị thực hiện sau

+ Chỉ có phía người bán là công nhân làm thuê, người mua là nhà tư bản

+ Giá cả (tiền lương) luôn thấp hơn so với giá trị Vì sức lao động phải bán trong mọi điều kiện, mua bán trong mọi điều kiện để sinh sống

- Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động:

Giá trị hàng hoá sức lao động cũng giống như hàng hoá thông thường, lượnggiá trị sức lao động cũng được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất

và tái sản xuất sức lao động Nhưng khác hàng hoá thông thường vì sức lao động lànăng lực (khả năng) tồn tại trong cơ thể sống của con người, để tái sản xuất ra nănglực đó người công nhân phải tiêu dùng một khối lượng sinh hoạt nhất định để thựchiện nhu cầu tái tạo sức lao động Như vậy lượng giá trị sức lao động được đo lườnggián tiếp bằng lượng giá trị sinh hoạt

- Yếu tố cấu thành giá trị sức lao động:

+ Giá trị tư liệu sinh hoạt cho bản thân người công nhân

+ Giá trị tư liệu sinh hoạt cho gia đình anh ta

+ Chi phí đào tạo: Sự vận động của lượng giá trị sức lao động (tăng và giảm):Nhân tố làm tăng là do chí phí đào tạo tăng, do đòi hỏi của cách mạng khoa học kỹ

Trang 19

thuật Nhân tố làm giảm lượng giá trị sức lao động do giá trị tư liệu sinh hoạt giảm vànăng suất lao động của ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt tăng.

Giá trị sức lao động đặc biệt khác hàng hoá thông thường vì nó mang yếu tốtinh thần và lịch sử Con người sống trong những điều kiện kinh tế cụ thể ngoài nhucầu vật chất còn có nhu cầu tinh thần

Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động cũng giống như hàng hoá khác giátrí sử dụng cũng được thể hiện khi tiêu dùng Nhưng nó khác ở chỗ nhà tư bản tiêudùng sức lao động của công nhân và bắt công nhân lao động kết hợp với tư liệu sảnxuất để tạo ra hàng hoá Trong quá trình lao động đó người công nhân đã tạo ra mộtgiá trị mới (v + m ) trong đó có một bộ phận ngang bằng với giá trị sức lao động củangười công nhân nhà tư bản dùng để trả lương cho người công nhân đó (đó là v), cònmột bộ phận dôi ra ngoài bộ phận sức lao động (m) nhà tư bản chiếm không Như vậy

có thể nói rằng giá trị sức lao động khi nhà tư bản tiêu dùng nó tạo ra một giá trị mớilớn hơn giá trị bản thân nó Hay nói cách khác: Giá trị sử dụng đặc biệt của hàng hoásức lao động là nguồn gốc của giá trị và giá trị thặng dư

Câu 14 Phân tích ví dụ về quá trình sản xuất giá trị thặng dư của nhà tư bản.

Giả định để sản xuất 10 kg sợi, cần 10 kg bông và giá 10 kg bông là 10$ Đểbiến số bông đó thành sợi, một công nhân phải lao động trong 6 giờ và hao mòn máymóc là 2$; giá trị sức lao động trong một ngày là 3$ và ngày lao động là 12 giờ; trongmột giờ lao động, người công nhân tạo ra một lượng giá trị là 0,5$; cuối cùng giảđịnh trong quá trình sản xuất, sợi đã hao phí theo thời gian lao động xã hội cần thiết

Với giả định như vậy, nếu nhà tư bản chỉ bắt công nhân lao động trong 6 giờ,thì nhà tư bản phải ứng ra là 15$ và giá trị của sản phẩm mới (10 kg sợi) mà nhà tưbản thu được cũng là 15$ Như vậy, nếu quá trình lao động chỉ kéo dài đến cái điểm

đủ bù đắp lại giá trị sức lao động (6 giờ), tức là bằng thời gian lao động tất yếu, thìchưa sản xuất ra giá trị thặng dư, do đó tiền chưa biến thành tư bản

Trong thực tế quá trình lao động không dừng lại ở điểm đó Giá trị sức laođộng mà nhà tư bản phải trả khi mua và giá trị mà sức lao động đó có thể tạo ra chonhà tư bản là hai đại lượng khác nhau, mà nhà tư bản đã tính đến trước khi mua sức

Trang 20

lao động Nhà tư bản đã trả tiền mua sức lao động trong một ngày (12 giờ) Việc sử dụng sức lao động trong ngày đó là thuộc quyền của nhà tư bản.

Nếu nhà tư bản bắt công nhân lao động 12 giờ trong ngày như đã thoả thuậnthì:

- Chi phí sản xuất Giá trị sản phẩm mới (20 kg

sợi) + Tiền mua bông (20 kg): 20$

+ Tiền hao mòn máy móc: 4$

+ Tiền mua sức lao động trong một ngày: 3$

Tổng cộng: 27$

- Giá trị của bông được chuyển vào sợi: 20$

- Giá trị của máy móc được chuyển vào sợi: 4$

- Giá trị mới do lao động của công nhân tạo ra trong 12 giờ lao động:

6$ Tổng cộng: 30$

Như vậy, toàn bộ chi phí sản xuất mà nhà tư bản bỏ ra là 27$, còn giá trị củasản phẩm mới (20 kg sợi) do công nhân sản xuất ra trong 12 giờ lao động là 30$ Vậy27$ ứng trước đã chuyển hoá thành 30$, đã đem lại một giá trị thặng dư là 3$ Do đótiền tệ ứng ra ban đầu đã chuyển hoá thành tư bản

Câu 15 Giá trị thặng dư là gì? Tại sao nói sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản.

15.1 Khái niệm giá trị thặng dư.

Là bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làmthuê tạo ra và bị tư bản chiếm không

15.2 Sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản.

Mỗi phương thức sản xuất đều có 1 quy luật kinh tế tuyệt đối, quy luật kinh tếphản ánh mối quan hệ bản chất nhất của phương thức sản xuất đó Theo C.Mác, chếtạo ra giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của phương thức sản xuất tư bảnchủ nghĩa

Giá trị thặng dư là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sực lao động do côngnhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không, phản ánh mối quan hệ kinh tế bản

Trang 21

chất nhất của chủ nghĩa tư bản – quan hệ tư bản bóc lột lao động làm thuê Giá trịthặng dư chính là nguồn gốc làm giàu cho các nhà tư bản.

Mục đích sản xuất của chủ nghĩa tư bản không phải là giá trị sử dụng mà là giátrị thặng dư và sự tăng lên của nó Theo đuổi giá trị thặng dư tối đa là mục đích vàđộng cơ thúc đẩy sự hoạt động của mỗi nhà tư bản Nhà tư bản muốn sản xuất rahàng hóa có chất lượng tốt đến đâu cũng chỉ bởi vì họ muốn thu được nhiều hơn nữagiá trị thặng dư

Câu 16 Tư bản là gì? Bản chất của tư bản? Tư bản bất biến, tư bản khả biến Căn cứ và ý nghĩa của việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến, tư bản khả biến.

16.1 Khái niệm tư bản.

Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động không công của người công nhân

16.3 Tư bản bất biến và tư bản khả biến.

- Tư bản bất biến: Bộ phận tư bản dùng để mua tư liệu sản xuất (tồn tại dưới hình

thái tư liệu sản xuất) mà giá trị được bảo tồn và chuyển vào sản phẩm, tức là giá trịkhông thay đổi về lượng trong quá trình sản xuất

Trang 22

+ Đặc điểm:

Giá trị của chúng được bảo tồn và chuyển dịch nguyên vẹn vào giá trị sảnphẩm

Giá trị tư liệu sản xuất được bảo tồn dưới hình thức giá trị sử dụng mới

– Tư bản khả biến: Bộ phận tư bản ứng trước dùng để mua hàng hoá sức lao động.

Bộ phận này không biểu hiện ra, nhưng thông qua lao động trừu tượng, người côngnhân làm thuê đã sáng tạo ra một giá trị mới, lớn hơn giá trị của sức lao động, tức là

có sự biển đổi về số lượng

+ Ký hiệu: v

+ Hình thức biểu hiện: Tiền lương

+ Quá trình vận động: Diễn ra trên hai mặt

Một mặt, giá trị của nó biến thành các tư liệu sinh hoạt và biến đi trong quátrình tiêu dùng của công nhân

Mặt khác, bằng lao động trừu tượng, người công nhân tạo ra giá trị mới khôngnhững đủ để bù đắp sức lao động của mình, mà còn có giá trị thặng dư cho nhà tưbản

Do đó, bộ phận tư bản này đã có sự biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất

16.4 Căn cứ và ý nghĩa của việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến, tư bản khả biến.

Vai trò của tư bản bất biến và tư bản khả biến:

Tư bản bất biến (c) là bộ phận tư bản chuyển hóa thành tư liệu sản xuất mà giá trịđược bảo toàn chuyển hóa vào sản phẩm, tức là không thay đổi giá trị về lượng của nó

=> là điều kiện cần thiết không thể thiếu được để sản xuất ra giá trị thặng dư.

Tư bản khả biến (v) là bộ phận tư bản biến thành sức lao động không tái hiện

ra, nhưng thông qua lao động trừu tượng của công nhân làm thuê mà tăng lên

tức là biến đổi về lượng => đóng vai trò quyết định trong quá trình sản xuất giá trịthặng dư vì nó chính là bộ phận tư bản đã lớn lên

Câu 17 Tuần hoàn và chu chuyển của tư bản.

17.1 Tuần hoàn của tư bản.

Trang 23

Tư bản công nghiệp (với nghĩa các ngành sản xuất vật chất), trong quá trình tuần hoàn đều vận động theo công thức:

Sự vận động này trải qua ba giai đoạn: Hai giai đoạn lưu thông và một giai đoạn sản xuất

- Giai đoạn thứ nhất - giai đoạn lưu thông:

Nhà tư bản xuất hiện trên thị trường các yếu tố sản xuất để mua tư liệu sản xuất

và sức lao động

Quá trình lưu thông đó được biểu thị như sau:

Giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản tiền tệ, chức năng giai đoạnnày là mua các yếu tố cho quá trình sản xuất, tức là biến tư bản tiền tệ thành tư bảnsản xuất

- Giai đoạn thứ hai - giai đoạn sản xuất:

Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản sản xuất, có chức năngthực hiện sự kết hợp hai yếu tố tư liệu sản xuất và sức lao động để sản xuất ra hànghóa là trong giá trị của nó có giá trị thặng dư Trong các giai đoạn tuần hoàn của tưbản thì giai đoạn sản xuất có ý nghĩa quyết định nhất, vì nó gắn trực tiếp với mụcđích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

Kết thúc của giai đoạn thứ hai là tư bản sản xuất chuyển hóa thành tư bản hànghóa

- Giai đoạn thứ ba - giai đoạn lưu thông:

H' - T'

Trang 24

Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản hàng hóa, chức năng làthực hiện giá trị của khối lượng hàng hóa đã sản xuất ra trong đó đã bao hàm mộtlượng giá trị thặng dư Trong giai đoạn này, nhà tư bản trở lại thị trường với tư cách

là người bán hàng Hàng hóa của nhà tư bản được chuyển hóa thành tiền

Kết thúc giai đoạn thứ ba, tư bản hàng hóa chuyển hóa thành tư bản tiền tệ.Đến đây, mục đích của nhà tư bản đã được thực hiện, tư bản quay trở lại hình thái banđầu trong tay chủ của nó nhưng với số lượng lớn hơn trước

Sự vận động của tư bản qua ba giai đoạn nói trên là sự vận động có tính tuầnhoàn: Tư bản ứng ra dưới hình thái tiền và rồi đến khi quay trở về cũng dưới hình tháitiền có kèm theo giá trị thặng dư Quá trình đó tiếp tục được lặp đi, lặp lại khôngngừng gọi là sự vận động tuần hoàn của tư bản

Vậy, tuần hoàn của tư bản là sự vận động liên tục của tư bản trải qua ba giaiđoạn, lần lượt mang ba hình thái khác nhau, thực hiện ba chức năng khác nhau để rồilại quay trở về hình thái ban đầu có kèm theo giá trị thặng dư

Tuần hoàn của tư bản chỉ có thể tiến hành bình thường trong điều kiện các giaiđoạn khác nhau của nó không ngừng được chuyển tiếp Mặc khác, tư bản phải nằmlại ở mỗi giai đoạn tuần hoàn trong một thời gian nhất định Hay nói cách khác, tuầnhoàn của tư bản chỉ tiến hành một cách bình thường khi hai điều kiện sau đây đượcthỏa mãn: Một là, các giai đoạn của chúng diễn ra liên tục; hai là, các hình thái tư bảncùng tồn tại và được chuyển hóa một cách đều đặn Vì vậy, tư bản là một sự vận độngtuần hoàn của tư bản, là sư vận động liên tục không ngừng

Phù hợp với ba giai đoạn tuần hoàn của tư bản có ba hình thái của tư bản côngnghiệp: Tư bản tiền tệ, tư bản sản xuất và tư bản hàng hóa

Để tái sản xuất diễn ra một cách bình thường thì tư bản xã hội cũng như từng

tư bản cá biệt đều tồn tại cùng một lúc dưới cả ba hình thái Ba hình thái của tư bảnkhông phải là ba loại tư bản khác nhau, mà là ba hình thái của một tư bản côngnghiệp biểu hiện trong quá trình vận động của nó Song cũng trong quá trình vậnđộng ấy đã chứa đựng khả năng tách rời của ba hình thái tư bản Trong quá trình pháttriển của chủ nghĩa tư bản, khả năng tách rời đó đã làm xuất hiện tư bản thương

Trang 25

nghiệp và tư bản cho vay, hình thành các tập đoàn khác trong giai cấp tư bản: Chủcông nghiệp, nhà buôn, chủ ngân hàng, v.v chia nhau giá trị thặng dư.

Nghiên cứu tuần hoàn của tư bản là nghiên cứu mặt chất trong sự vận động của tưbản, còn mặt lượng của sự vận động được nghiên cứu ở chu chuyển của tư bản

17.2 Chu chuyển của tư bản.

Sự tuần hòan của tư bản, nếu xét nó với tư cách là một quá trình định kỳ đổimới và thường xuyên lặp đi lặp lại thì gọi là chu chuyển của tư bản Những tư bảnkhác nhau chu chuyển với vận tốc khác nhau tùy theo thời gian sản xuất và lưu thôngcủa hàng hóa Thời gian chu chuyển của tư bản bao gồm thời gian sản xuất và thờigian lưu thông

- Thời gian sản xuất là thời gian tư bản nằm ở trong lĩnh vực sản xuất

Thời gian sản xuất bao gồm: Thời gian lao động, thời gian gián đoạn lao động

và thời gian dự trữ sản xuất Thời gian sản xuất của tư bản dài hay ngắn là do tácđộng của nhiều nhân tố như: tính chất của ngành sản xuất; quy mô hoặc chất lượngcác sản phẩm: sự tác động của quá trình tự nhiên đối với sản xuất; năng suất lao động

và tình trạng dự trữ các yếu tố sản xuất

- Thời gian lưu thông là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông Trong thờigian lưu thông, tư bản không làm chức năng sản xuất, do đó không sản xuất ra hànghóa, cũng không sản xuất ra giá trị thặng dư Thời gian lưu thông gồm có thời gianmua và thời gian bán hàng hóa Thời gian lưu thông dài hay ngắn phụ thuộc các nhân

tố sau đây: Thị trường xa hay gần, tình hình thị trường xấu hay tốt, trình độ phát triểncủa vận tải và giao thông

Thời gian chu chuyển của tư bản càng rút ngắn thì càng tạo điều kiện cho giá trị thặng dư được sản xuất ra nhiều hơn, tư bản càng lớn nhanh hơn

Các loại tư bản khác nhau hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau thì sốvòng chu chuyển không giống nhau Để so sánh tốc độ vận động của các tư bản khácnhau, người ta tính số vòng chu chuyển của các loại tư bản đó trong một thời giannhất định

Tốc độ chu chuyển của tư bản là số vòng (lần) chu chuyển của tư bản trong một năm Ta có công thức số vòng chu chuyển của tư bản như sau:

Trang 26

n = CH/chTrong đó: (n) là số vòng (hay lần) chu chuyển của tư bản;

(CH) là thời gian trong năm;

(ch) là thời gian cho 1 vòng chu chuyển của tư bản

Ví dụ: Một tư bản có thời gian 1 vòng chu chuyển là 6 tháng thì tốc độ chuchuyển trong năm là: n = 12 tháng / 6 tháng = 2 vòng

Như vậy, tốc độ chu chuyển của tư bản tỷ lệ nghịch với thời gian 1 vòng chuchuyển của tư bản Muốn tăng tốc độ chu chuyển của tư bản phải giảm thời gian sảnxuất và thời gian lưu thông của nó

Câu 18 Tư bản cố định và tư bản lưu động Căn cứ và ý nghĩa của việc phân chia tư bản thành tư bản cố định và tư bản lưu động.

18.1 Tư bản cố định và tư bản lưu động.

Tư bản sản xuất gồm nhiều bộ phận và có thời gian chu chuyển khác nhau vềmặt giá trị, do đó, ảnh hưởng đến thời gian chu chuyển của toàn bộ tư bản Căn cứvào sự khác nhau trong phương thức (đặc điểm) chu chuyển về mặt giá trị nhanh hay

chậm của các bộ phận tư bản để phân chia tư bản sản xuất thành tư bản cố định và tư bản lưu động.

* Tư bản cố định.

- Khái niệm tư bản cố định: Tư bản cố định là bộ phận tư bản biểu hiện dưới hình

thái giá trị của những máy móc, thiết bị, nhà xưởng, tham gia toàn bộ vào quá trìnhsản xuất, nhưng giá trị của nó không chuyển hết một lần, mà chuyển từng phần vàosản phẩm trong quá trình sản xuất

- Như vậy, tư bản cố định gồm hai mặt:

+ Mặt vật chất: Là tư liệu lao động, bộ phận chủ yếu của tư bản sản xuất (máy móc,

thiết bị, nhà xưởng…) tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất giữ nguyên giá trị sửdụng từ đầu cho đến khi bị thay thế (cố định về mặt vật chất)

+ Mặt giá trị: Là giá trị của tư liệu lao động, giá trị của nó không chuyển hết một lần

vào sản phẩm mà chuyển dần từng phần qua nhiều chu kỳ, trở về tay nhà tư bản dướihình thái khấu hao, giá trị hết khi bị thay thế (thời gian chuyển hết giá trị vào sảnphẩm bao giờ cũng dài hơn một vòng tuần hoàn)

Trang 27

- Tư bản cố định được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất và nó bị hao mòn

dần trong quá trình sản xuất Có hai loại hao mòn là hao mòn hữu hình và hao mòn

vô hình:

+ Hao mòn hữu hình là hao mòn về vật chất, hao mòn về giá trị sử dụng Hao

mòn hữu hình do quá trình sử dụng và sự tác động của tự nhiên làm cho các bộ phậncủa tư bản cố định dần dần hao mòn đi tới chỗ hỏng và phải thay thế

+ Hao mòn vô hình là sự hao mòn thuần tuý về mặt giá trị Hao mòn vô hình

xảy ra ngay cả khi máy móc còn tốt nhưng bị mất giá trị vì xuất hiện các máy móchiện đại hơn, rẻ hơn hoặc có giá trị tương đương, nhưng công suất cao hơn Để tránhhao mòn vô hình, các nhà tư bản tìm cách kéo dài ngày lao động, tăng cường độ laođộng, tăng ca, kíp làm việc… nhằm tận dụng máy móc trong thời gian càng ngắncàng tốt

Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản cố định là một biện pháp quan trọng đểtăng quỹ khấu hao tài sản cố định, làm cho lượng tư bản sử dụng tăng lên tránh đượcthiệt hại hao mòn hữu hình do tự nhiên phá huỷ và hao mòn vô hình gây ra Nhờ đó

mà có điều kiện đổi mới thiết bị nhanh

* Tư bản lưu động.

- Khái niệm tư bản lưu động: Tư bản lưu động là một bộ phận tư bản sản xuất tồn tại

dưới dạng nguyên, nhiên vật liệu và sức lao động, giá trị của nó lưu thông toàn bộcùng với sản phẩm ngay trong một quá trình sản xuất

- Tư bản lưu động gồm hai mặt:

+ Mặt vật chất: Là đối tượng lao động và sức lao động, là một bộ phận của tư

bản sản xuất (nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ, sức lao động…) được tiêu dùnghoàn toàn trong một chu kỳ sản xuất và không ngừng đổi mới qua các chu kỳ

+ Mặt giá trị: Là giá trị của đối tượng lao động và giá trị sức lao động Giá trị

của nó được chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm trong quá trình sản xuất

Tư bản lưu động chu chuyển nhanh hơn tư bản cố định Việc tăng tốc độ chu

chuyển của tư bản lưu động có ý nghĩa quan trọng Một mặt, tốc độ chu chuyển của

tư bản lưu động tăng lên sẽ làm tăng lượng tư bản lưu động được sử dụng trong năm,

Trang 28

do đó tiết kiệm được tư bản ứng trước; mặt khác, do tăng tốc độ chu chuyển của tư

bản lưu động khả biến làm cho tỷ suất giá trị thặng dư trong năm tăng lên

18.2 Ý nghĩa.

+ Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản cố định là một biện pháp quan trọng đểtăng quỹ khấu hao tài sản cố định, làm cho lượng tư bản sử dụng tăng lên tránh đượcthiệt hại hao mòn hữu hình do tự nhiên phá hủy và hao mòn vô hình gây ra Nhờ đó,

mà có điều kiện đổi mới thiết bị nhanh, nâng cao hiệu quả sử dụng tư bản

+ Tư bản lưu động chu chuyển nhanh hơn tư bản cố định Việc tăng tốc độ chuchuyển của tư bản lưu động có ý nghĩa quan trọng Một mặt, tốc độ chu chuyển của

tư bản lưu động tăng lên sẽ làm tăng lượng tư bản lưu động được sử dụng trong năm,

do đó tiết kiệm được tư bản ứng trước; mặt khác, do tăng tốc độ chu chuyển của tưbản lưu động khả biến làm cho tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dưhàng năm tăng lên

Câu 19 Tỉ suất và khổi lượng giá trị thặng dư.

19.1 Tỷ suất giá trị thặng dư.

Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và tưbản khả biến tương ứng để sản xuất ra giá trị thặng dư đó

Nếu ký hiệu m' là tỷ suất giá trị thặng dư, thì m’ được xác định bằng côngthức:

Tỷ suất giá trị thặng dư chỉ rõ trong tổng số giá trị mới do sức lao động tạo ra,thì công nhân được hưởng bao nhiêu, nhà tư bản chiếm đoạt bao nhiêu Tỷ suất giá trịthặng dư còn chỉ rõ trong một ngày lao động, phần thời gian lao động thặng dư màngười công nhân làm cho nhà tư bản chiếm bao nhiêu phần trăm so với thời gian laođộng tất yếu làm cho mình Do đó, có thể biểu thị tỷ suất giá trị thặng dư theo mộtcông thức khác:

Trang 29

Tỷ suất giá trị thặng dư nói lên trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với côngnhân làm thuê, nó chưa nói rõ quy mô bóc lột Để phản ánh quy mô bóc lột, C.Mác

sử dụng phạm trù khối lượng giá trị thặng dư

19.2 Khối lượng giá trị thặng dư.

Khối lượng giá trị thặng dư là tích số giữa tỷ suất giá trị thặng dư và tổng tưbản khả biến đã được sử dụng

Nếu ký hiệu M là khối lượng giá trị thặng dư thì M được xác định bằng côngthức:

Trong đó:

v: tư bản khả biến đại biểu cho giá trị 1 sức lao động

V: Tổng tư bản khả biến đại biểu cho giá trị của tổng số sức lao động Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì khối lượng giá trị thặng dư càng tăng, vìtrình độ bóc lột sức lao động càng tăng

Câu 20 Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư.

20.1 Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.

Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài tuyệt đối ngàylao động trong điều kiện thời gian lao động cần thiết không đổi Phương pháp nàyđược áp dụng phổ biến trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản khi còn dựa trên laođộng thủ công

Ví dụ: Ngày lao động 8 giờ chia thành:

– Thời gian lao động cần thiết là 4 giờ

– Thời gian lao động thặng dư là 4 giờ

———————————-+——————————

Thời gian lao động cần thiết

Trang 30

Tỷ suất giá trị thặng dư là: m = 44 100% = 100%.

Sản xuất m tuyệt đối bằng cách kéo dài thời gian lao động thành 10 giờ trong khi thờigian lao động cần thiết là 6 giờ

Thời gian lao động cần thiết Thời gian lao động thặng dư

Tỷ suất giá trị thặng dư là: m = 64 100% = 150%

Với sự thèm khát giá trị thặng dư, nhà tư bản phải tìm mọi cách để kéo dàingày lao động Nhưng ngày lao động có những giới hạn nhất định Giới hạn trên củangày lao động do thể chất và tinh thần của người lao động quyết định, còn giới hạndưới của ngày lao động là thời gian lao động cần thiết

Như vậy về mặt kinh tế, ngày lao động phải dài hơn thời gian lao động cầnthiết nhưng không thể vượt quá giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động

Độ dài cụ thể của ngày lao động do cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và tư sản trên

cơ sở tương quan lực lượng quyết định Do cuộc đấu tranh của giai cấp công nhânnên chế độ ngày làm 8 giờ đã được thực hiện ở các nước tư bản chủ nghĩa

20.2 Sản xuất giá trị thặng dư tương đối.

Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian laođộng cần thiết, kéo dài tương ứng thời gian lao động thặng dư trong điều kiện độ dàingày lao động không đổi

Ví dụ: Ngày lao động 8 giờ chia thành:

– Thời gian lao động cần thiết là 4 giờ

– Thời gian lao động thặng dư là 4 giờ

Tỷ suất giá trị thặng dư là m= 44 = 100%

Sản xuất giá trị thặng dư bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết còn 2 giờ Thời gian lao động thặng dư là 6 giờ

m = 62 100% = 300%

Trang 31

Bằng cách nào để rút ngắn thời gian lao động cần thiết, biết rằng thời gian laođộng cần thiết bằng giá trị tạo ra sức lao động, bằng giá trị tư liệu sinh hoạt Muốn rútngắn giá trị lao động cần thiết hạ thấp giá trị sức lao động, hạ thấp giá trị tư liệu sinhhoạt bằng cách tăng năng suất lao động trong ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt.

– Khi đã có nền sản xuất công nghiệp thì có sự kết hợp cả hai phương pháp trên

Câu 21 Tại sao giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thái biến tướng của giá trị thặng dư tương đối.

Cả hai đều là giá trị thặng dư, đều là kết quả bóc lột lao động không công củacông nhân làm thuê, đặc biệt chúng đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động (Ởđây khái niệm tăng năng suất lao động nghĩa là trong cùng một thời gian lao độngnhư trước nhưng tổng sản phẩm tăng lên, nhưng tổng chi phí không tăng (hoặc tăngít) sao cho giá trị một đơn vị sản phẩm giảm xuống Nếu tổng sản phảm tăng, nhưnggiá trị một đơn vị sản phẩm không giảm đi mà vẫn giữ nguyên như trước, thì khôngphải tăng năng suất lao động)

Hai loại giá trị thặng dư này chỉ khác nhau ở chỗ: Giá trị thặng dư siêu ngạchđược tạo ra do tăng năng suất lao động cá biệt (trong một doanh nghiệp), còn giá trịthặng dư tương đối được tạo ra do tăng năng suất lao động xã hội

Cụ thể là giá trị thặng dư tương đối được sản xuất ra bằng cách rút ngắn thờigian lao động tất yếu lại, để kéo dài một cách tương ứng thời gian lao động thặng dưtrên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội, trong điều kiện độ dài ngày lao động khôngđổi

Giá trị thặng dư siêu ngạch là giá trị thặng dư thu được do tăng năng suất laođộng cá biệt (trong một xí nghiệp), làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giátrị thị trường của nó

Ví dụ: Giá trị thị trường của 1 hàng hoá = 8c + 2v + 2m =12

Giá trị cá biệt do tăng năng suất = 7c + 2v + 2m = 11

Giá trị thặng dư siêu ngạch = 12 – 11 = 1

Ở đây cần lưu ý, kết quả của tăng năng suất lao động cá biệt tức là làm cho giátrị một hàng hoá giảm xuống bằng cách tiết kiệm chi phí (theo ví dụ thì từ 8c tiếtkiệm còn 7c)

Trang 32

Câu 22 Phân tích nội dung và vai trò của quy luật sản xuất giá trị thặng dư.

Giá trị thặng dư – phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do côngnhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không, phản ánh mối quan hệ kinh tế bảnchất nhất của chủ nghĩa tư bản - quan hệ tư bản bóc lột lao động làm thuê Giá trịthặng dư do lao động không công của công nhân tạo ra là nguồn gốc làm giàu của cácnhà tư bản

Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải lá giá trị sử dụng mà là sảnxuất ra giá trị thặng dư, là nhân giá trị lên Theo đuổi giá trị thặng dư tối đa là mụcđích và động cơ thúc đẩy sự hoạt động của mỗi nhà tư bản cũng như của toàn bộ xãhội tư bản Nhà tư bản cố gắng sản xuất ra hàng hóa với chất lượng tốt cũng chỉ vì họmuốn thu được nhiều giá trị thặng dư

Sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa không chỉ phản ánh mục đích của nền sảnxuất tư bản chủ nghĩa, mà còn vạch rõ phương tiện, thủ đoạn mà các nhà tư bản sửdụng để đạt được mục đích như tăng cường bóc lột công nhân làm thuê bằng cáchtăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động tăng năng suất lao động và mở rộngsản xuất

Như vậy, sản xuất ra giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa

tư bản, là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản Nội dung của nó làsản xuất ra giá trị thặng dư tối đa bằng cách tăng cường bóc lột công nhân làm thuê.Quy luật giá trị thặng dư ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của chủ nghĩa

tư bản Nó quyết định các mặt chủ yếu, các quá trình kinh tế chủ yếu của chủ nghĩa tưbản Nó là động lực vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản, đồng thời nó cũng làmcho mọi mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa

Trang 33

tư bản ngày càng sâu sắc, đưa đến sự thay thế tất yếu chủ nghĩa tư bản bằng một xãhội cao hơn.

Chủ nghĩa tư bản ngày nay tuy có những điều chỉnh nhất định về hình thức sởhữu, quản lý và phân phối để thích nghi ở mức độ nào đó với điều kiện mới, nhưng

sự thống trị của chủ nghĩa tư bản tư nhân vẫn tồn tại nguyên vẹn, bản chất bóc lột củachủ nghĩa tư bản vẫn không thay đổi Nhà nước tư sản hiện nay tuy có tăng cườngcan thiệp vào đời sống kinh tế và xã hội, nhưng về cơ bản nó vẫn là bộ máy thống trịcủa giai cấp tư sản

Tuy nhiên, do trình độ đã đạt được của văn minh nhân loại và do cuộc đấutranh của giai cấp công nhân mà một bộ phận không nhỏ công nhân ở các nước tưbản phát triển có mức sống tương đối sung túc, nhưng về cơ bản, họ vẫn phải bán sứclao động và vẫn bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư Nhưng trong điều kiện hiệnnay, sản xuất giá trị thặng dư có những đặc điểm mới sau đây:

Một là, do kỹ thuật và công nghệ hiện đại được áp dụng rộng rãi nên khối

lượng giá trị thặng dư được tạo ra chủ yếu nhờ tăng năng suất lao động Việc tăngnăng suất lao động do áp dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đại có đặc điểm là chi phílao động sống trong một đơn vị sản phẩm giảm nhanh, vì máy móc hiện đại thay thếđược nhiều lao động sống hơn

Hai là, cơ cấu lao động xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay có sự biến

đổi lớn Do áp dụng rộng rãi kỹ thuật và công nghệ hiện đại nên lao động phức tạp,lao động trí tuệ tăng lên và thay thế lao động giản đơn, lao động cơ bắp Do đó, laođộng trí tuệ, lao động có trình độ kỹ thuật cao ngày càng; có vai trò quyết định trongviệc sản xuất ra giá trị thặng dư Chính nhờ sử dụng lực lượng lao động ngày nay mà

tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư đã tăng lên rất nhiều

Ba là, sự bóc lột của các nước tư bản phát triển trên phạm vi quốc tế ngày càng

được mở rộng dưới nhiều hình thức: xuất khẩu tư bản và hàng hóa, trao đổi khôngngang giá lợi nhuận siêu ngạch mà các nước tư bản phát triển bòn rút từ các nướckém phát triển trong mấy chục năm qua đã tăng lên gấp nhiều lần Sự cách biệt giữanhững nước giàu và những nước nghèo ngày càng tăng và đang trở thành mâu thuẫnnổi bật trong thời đại ngày nay Các nước tư bản phát triển đã bòn rút chất xám, hủy

Trang 34

hoại môi sinh cũng như cội rễ đời sống văn hóa của các nước lạc hậu, chậm phát triển.

Câu 23 Thế nào là tích lũy tư bản? Phân tích những nhân tố quyết định đến quy mô tích lũy tư bản.

23.1 Khái niệm tích lũy tư bản.

Là là sự chuyển hóa 1 phần giá trị thặng dư thành tư bản hay tư bản hóa giá trịthặng dư

23.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản.

Trường hợp 1: Khối lượng giá trị thặng dư không đổi thì quy mô tích lũy tư

bản phụ thuộc vào tỷ lệ phân chia khối lượng giá trị thặng dư đó thành 2 quỹ: Qũytích lũy và quỹ tiêu dùng của nhà tư bản Nếu tỷ lệ quỹ này tăng lên thì quỹ khác sẽgiảm xuống.

Trường hợp 2: Nếu tỉ lệ phân chia khối lượng giá trị thặng dư đã được xác

định thì lại phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư mà khối lượng giá trị thặng dưlại phụ thuộc vào những yếu tố sau:

Trình độ bóc lột sức lao động bằng các biện pháp: Tăng cường độ lao động,kéo dài thời gian lao động, cắt giảm tiền lương công nhân Thời gian công nhân tạo ragiá trị thặng dư được kéo dài nhưng chí phí lại bị cắt giảm => Khối lượng giá trịthặng dư càng lớn và quy mô tích lũy tư bản cũng càng lớn.

Trình độ năng suất lao động xã hội: Tăng lên cùng những yếu tố vật chất đểbiến thành giá trị thặng dư thành tư bản mới nên làm tăng quy mô tích lũy tư bản

Sự chênh lệch giữa tư bản đã được sử dụng và tư bản tiêu dùng

Quy mô của tư bản ứng trước Nếu trình độ bóc lột không thay đổi thì khốilượng giá trị thặng dư do tư bản khả biến quyết định Do đó quy mô của tư bản ứngtrước nhất là quy mô của tư bản khả biến càng lớn thì khối lượng giá trị thặng dư bóclột được càng lớn tạo điều kiện tăng thêm quy mô tích lũy tư bản

Câu 24 Tích tụ tư bản và tập trung tư bản.

Tích tụ tư bản là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách tư bản hóagiá trị thặng dư trong một xí nghiệp nào đó, nó là kết quả trực tiếp của tích lũy tư bản.Tích lũy tư bản xét về mặt làm tăng thêm quy mô của tư bản cả biệt là tích tụ tư bản

Trang 35

Tích tụ tư bản, một mặt là yêu cầu của tái sản xuất mở rộng, của sự ứng dụngtiến bộ kỹ thuật; mặt khác sự tăng lên của khối lượng giá trị thặng dư trong quá trìnhphát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo khả năng hiện thực cho tích tụ tư bản.

Tập trung tư bản là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách hợp nhấtnhững tư bản cá biệt có sẵn trong xã hội thành một tư bản cá biệt khác lớn hơn Cạnhtranh và tín dụng là những đòn bẩy mạnh nhất thúc đẩy tập trung tư bản Do cạnhtranh mà dẫn tới sự liên kết tự nguyện hay sáp nhập các tư bản cá biệt Tín dụng tưbản chủ nghĩa là phương tiện để tập trung các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội vàotay các nhà tư bản

Tích tụ và tập trung tư bản có điểm giống nhau là chúng đều làm tăng quy môcủa tư bản cá biệt Nhưng giữa chúng lại có những điểm khác nhau:

Một là, nguồn để tích tụ tư bản là giá trị thặng dư, do đó tích tụ tư bản làm tăng

quy mô của tư bản cá biệt, đồng thời kìm tăng quy mô của tư bản xã hội Còn nguồn

để tập trung tư bản là những tư bản cá biệt có sẵn trong xã hội, do đó tập trung tư bảnchỉ làm tăng quy mô của tư bản cá biệt, mà không làm tăng quy mô của tư bản xã hội

Hai là, nguồn để tích tụ tư bản là giá trị thặng dư xét về mặt đó, nó phản ánh

trực tiếp mối quan hệ giữa tư bản và lao động: nhà tư bản tăng cường bóc lột laođộng làm thuê để tăng quy mô của tích tụ tư bản Còn nguồn để tập trung tư bản lànhững tư bản cá biệt có sẵn trong xã hội do cạnh tranh mà dẫn đến sự liên kết hay sápnhập, xét về mặt đó, nó phản ánh trực tiếp quan hệ cạnh tranh trong nội bộ giai cấpcác nhà tư bản; đồng thời nó cũng tác động đến mối quan hệ giữa tư bản và lao động

Tích tụ và tập trung tư bản quan hệ mật thiết với nhau Tích tụ tư bản làm tăngthêm quy mô và sức mạnh của tư bản cá biệt, do đó cạnh tranh sẽ gay gắt hơn, dẫnđến tập trung nhanh hơn Ngược lại, tập trung tư bản tạo điều kiện thuận lợi để tăngcường bóc lột giá trị thặng dư, nên đẩy nhanh tích tụ tư bản Ảnh hưởng qua lại nóitrên của tích tụ và tập trung tư bản làm cho tích lũy tư bản ngày càng mạnh Tậptrung tư bản có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của sản xuất tu bản chủ nghĩa Nhờtập trung tư bản mà xây dựng được những xí nghiệp lớn, sử dụng được kỹ thuật vàcông nghệ hiện đại

Trang 36

Như vậy, quá trình tích lũy tư bản gẳn với quá trình tích tụ và tập trung tư bảnngày càng tăng, do đó nền sản xuất tư bản chủ nghĩa trở thành nền sản xuất xã hộihóa cao độ, làm cho mâu thuẫn kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản càng sâu sắcthêm.

Câu 25 Cấu tạo hữu cơ của tư bản.

Trong quá trình tích lũy tư bản, tư bản chẳng những tăng lên về quy mô, màcòn không ngừng biến đổi trong cấu tạo của nó C Mác phân biệt cấu tạo kỹ thuật,cấu tạo giá trị và cấu tạo hữu cơ của tư bản

– Về mặt hình thái hiện vật, mỗi tư bản đều bao gồm tư liệu sản xuất và sức lao động

để sử dụng những tư liệu sản xuất đó Tỷ lệ giữa số lượng tư liệu sản xuất và sốlượng sức lao động sử dụng những tư liệu sản xuất đó trong quá trình sản xuất gọi làcấu tạo kỹ thuật của tư bản

Ví dụ: Để biểu thị cấu tạo kỹ thuật của tư bản, người thường dùng các chỉ tiêu

như số năng lượng hoặc số lượng máy móc do một công nhân sử dụng trong sản xuất,

ví dụ 100 kW điện/1 công nhân, 10 máy dệt/1 công nhân

– Về mặt giá trị, mỗi tư bản đều chia thành hai phần tư bản bất biến (c) và tư bản khảbiến (v) Tỷ lệ giữa số lượng giá trị của tư bản bất biến và số lượng giá trị của tư bảnkhả biến cần thiết để tiến hành sản xuất gọi là cấu tạo giá trị của tư bản

Ví dụ: Một tư bản mà đại lượng của nó là 12.000$, trong đó giá trị tư liệu sản

xuất là 10.000$, còn giá trị sức lao động là 2.000$, thì cấu tạo giá trị của tư bản đó là10.000$ : 2.000$ = 5 : 1

– Cấu tạo kỹ thuật và cấu tạo giá trị của tư bản có quan hệ chặt chẽ với nhau, những

sự thay đổi trong cấu tạo kỹ thuật của tư bản sẽ dẫn đến những sự thay đổi trong cấutạo giá trị của tư bản Để biểu hiện mối quan hệ đó, C Mác dùng phạm trù cấu tạohữu cơ của tư bản

Cấu tạo hữu cơ của tư bản là cấu tạo giá trị của tư bản do cấu tạo kỹ thuật của

tư bản quyết định và phản ánh những sự biến đổi của cấu tạo kỹ thuật của tư bản.+ Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, do tác động thường xuyên của tiến bộkhoa học – công nghệ, cấu tạo kỹ thuật của tư bản ngày càng tăng, kéo theo sự tănglên của cấu tạo giá trị của tư bản, nên cấu tạo hữu cơ của tư bản cũng ngày càng tăng

Trang 37

lên Sự tăng lên của cấu tạo hữu cơ của tư bản biểu hiện ở chỗ tư bản bất biến tăngtuyệt đối và tương đối, còn tư bản khả biến có thể tăng tuyệt đối, nhưng lại giảmxuống một cách tương đối.

Sự giảm xuống một cách tương đối của tư bản khả biến cũng sẽ làm cho cầu vềsức lao dộng giảm một cách tương đối Vì vậy, một số công nhân lâm vào tình trạngthất nghiệp

+ Sự tăng lên của cấu tạo hữu cơ của tư bản làm cho khối lượng tư liệu sản xuất tănglên, trong đó sự tăng lên của máy móc, thiết bị là điều kiện để tăng năng suất laodộng, còn nguyên liệu tăng theo năng suất lao động

Như vậy, cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng lên trong quá trình tích lũy chính lànguyên nhân trực tiếp gây ra nạn thất nghiệp trong chủ nghĩa tư bản Còn nguyênnhân sâu xa của nạn thất nghiệp lại chính là ở quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa

Câu 26 Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa Phân biệt chi phí thực tế với chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là chi phí về tư bản bất biến và tư bản khảbiến mà nhà tư bản bỏ ra để sản xuất hàng hóa

Kí hiệu: k

k = c + v

C Mác chỉ rõ phạm trù chi phí sản xuất không có quan hệ gì với sự hình thànhgiá trị hàng hóa, cũng như không có quan hệ gì với quá trình làm cho tư bản tăngthêm giá trị Việc hình thành chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa che đậy thực chất bóclột của chủ nghĩa tư bản Theo như công thức W= k + m thì sự phân biệt giữa (c) và(v) đã biến mất, người ta thấy dường như (k) sinh ra m Chính ở đây chi phí lao động

bị che lấp bởi chi phí tư bản (k) Lao động là thực tế, là nguồn gốc của giá trị thì bịbiến mất, và có vẻ như toàn bộ chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa sinh ra giá trị thặngdư

– Để tạo ra giá trị hàng hoá phải bao gồm cả lao động quá khứ và lao động hiện tại.Lao động quá khứ (lao động vật hoá), tức là giá trị của tư liệu sản xuất (c); lao độnghiện tại (lao động sống) tức là lao động tạo ra giá trị mới (v + m)

Trang 38

Đứng trên quan điểm xã hội mà xét, chi phí lao động đó là chi phí thực tế của

xã hội, chi phí này tạo ra giá trị hàng hoá Ký hiệu giá trị hàng hoá là W, W = c + v +

m Về mặt lượng: Chi phí thực tế = giá trị hàng hóa

– Đối với nhà tư bản, họ không phải bỏ ra chi phí lao động để sản xuất hàng hoá, chonên họ không quan tâm đến điều đó Trên thực tế, họ chỉ quan tâm đến việc ứng tưbản để mua tư liệu sản xuất (c) và mua sức lao động (v)

Do đó, nhà tư bản chỉ xem hao phí hết bao nhiêu tư bản, chứ không tính đếnhao phí hết bao nhiêu lao động xã hội C Mác gọi chi phí đó là chi phí sản xuất tưbản chu nghĩa, ký hiệu: (k), k = c + v

Vậy, chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là chi phí về tư bản mà nhà tư bản bỏ ra

Về mặt lượng: Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn luôn nhỏ hơn chi phí

thực tế hay giá trị hàng hoá:

(c + v) < (c + v + m)

Về mặt chất: Chi phí thực tế là chi phí lao động, phản ánh đúng, đầy đủ hao phí

lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tạo ra giá trị hàng hoá, còn chi phí sản xuất tưbản chủ nghĩa (k) chỉ phản ánh hao phí tư bản của nhà tư bản mà thôi, nó không tạo

ra giá trị hàng hoá

Vì vậy, C Mác chỉ rõ phạm trù chi phí sản xuất không có quan hệ gì với sựhình thành giá trị hàng hoá, cũng như không có quan hệ gì với quá trình làm cho tưbản tăng thêm giá trị

Việc hình thành chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa (k) che đậy bản chất bóc lộtcủa chủ nghĩa tư bản Giá trị hàng hoá: W = k + m, trong đó k = c + v Nhìn vào côngthức trên thì sự phân biệt giữa (c) và (v) đã biến mất, người thấy dường như (k) sinh

ra (m) Chính ở đây chi phí lao động bị che lấp bởi chi phí tư bản (k), lao động là

Trang 39

thực thể, nguồn gốc của giá trị thì bị biến mất và khi đó không ít người lầm tưởng hình như toàn bộ chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa sinh ra giá trị thặng dư.

Câu 27 Lợi nhuận là gì? So sánh lợi nhuận và giá trị thặng dư.

27.1 Khái niệm lợi nhuận.

Là số chênh lệch sau khi bán hàng hóa giữa giá trị hàng hóa và chi phí sản xuất

tư bản chủ nghĩa đã bù đắp số tư bản ứng ra

Kí hiệu: p

p = w – k

27.2 So sánh lợi nhuận và giá trị thặng dư.

– Giữa giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn luôn có sự chênhlệch, cho nên sau khi bán hàng hoá (Giả định: Giá cả = giá trị), nhà tư bản khôngnhững bù đắp đủ số tư bản đã ứng ra, mà còn thu về được một số tiền lời ngang bằngvới m Số tiền này được gọi là lợi nhuận, ký hiệu: p

Giá trị thặng dư được so với toàn bộ tư bản ứng trước, được quan niệm là con

đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước sẽ mang hình thức biến tướng là lợi nhuận Hay lợinhuận là số tiền lời mà nhà tư bản thu được sau khi bán hàng hoá đó có sự chênh lệchgiữa giá trị hàng hoá và chi phí tư bản

W = c + v + m = k + mbây giờ sẽ chuyển thành: W = k + p

– So sánh giữa giá trị thặng dư và lợi nhuận:

+ Giống nhau, cả lợi nhuận (p) và giá trị thặng dư (m) đều có chung một nguồn gốc

là kết quả lao động không công của công nhân

+ Khác nhau: Phạm trù giá trị thặng dư phản ánh đúng nguồn gốc và bản chát của nó

là kết quả của sự chiếm đoạt lao động không công của công nhân, còn phạm trù lợinhuận chẳng qua chỉ là một hình thái thần bí hóa của giá trị thặng dư

– Phạm trù lợi nhuận phản ánh sai lệch bản chất quan hệ sản xuất giữa nhà tư bản vàlao động làm thuê, vì nó làm cho người ta hiểu lầm rằng giá trị thặng dư không phảichỉ do lao dộng làm thuê tạo ra Nguyên nhân của hiện tượng đó là:

Trang 40

Thứ nhất, sự hình thành chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xóa nhoà sự khác

nhau giữa (c) và (v)

Thứ hai, do chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn nhỏ hơn chi phí sản xuất

thực tế, cho nên nhà tư bản chỉ cần bán hàng hoá cao hơn chi phi sản xuất tư bản chủnghĩa và có thế thấp hơn giá trị hàng hoá là đã có lợi nhuận rồi

Nhìn vào hình thức, lý luận giai cấp tư sản cho rằng, lợi nhuận là do lưu thôngsinh ra Vì nếu:

Câu 28 Tỷ suất lợi nhuận và các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận.

28.1 Tỷ suất lợi nhuận.

Tỷ suất lợi nhuận là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và toàn bộ

tư bản ứng trước

Công thức: Nếu ký hiệu tỷ suất lợi nhuận là p’ ta có:

+ So sánh tỷ suất lợi nhuận với tỷ suất giá trị thặng dư:

Lợi nhuận là hình thức chuyển hoá của giá trị thặng dư, nên tỷ suất lợi nhuậncũng là sự chuyển hoá của tỷ suất giá trị thặng dư, vì vậy chúng có mối quan hệ chặtchẽ với nhau Nhưng giữa (m’) và (p’) lại có sự khác nhau cả về chất và lượng

Về mặt chất: (m’) phản ánh trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân

làm thuê, còn (p’) không thể phản ánh được điều đó, mà chỉ nói lên mức doanh lợicủa việc đầu tư tư bản

Tỷ suất lợi nhuận chỉ cho nhà tư bản biết tư bản của họ đầu tư vào đâu thì cólợi hơn Do đó, việc thu lợi nhuận và theo đuổi tỷ suất lợi nhuận là động lực thúc đẩycác nhà tư bản, là mục tiêu cạnh tranh của các nhà tư bản

Ngày đăng: 02/10/2020, 09:40

w