Gia đình là phạm trù xuất hiện rất sớm trong lịch sử loài người; Gia đinh la môt thiêt chê xa hôi đăc thu, môt hinh anh “xa hôi thu nho”, cơ ban nhât cua xa hôi. liên quan đến hoạt động của toàn xã hội và mỗi cá nhân. Theo quan điểm hệ thống, mỗi thiết chế ấy biến đổi sẽ dẫn đến cả hệ thống biến đổi và ngược lại, những thiết chế xung quanh gia đình trong hệ thống xã hội nói chung (như kinh tế, pháp luật, văn hóa…) biến đổi cũng khiến cho gia đình biến đổi theo. Gia đình Việt Nam không nằm ngoài quy luật này.
Trang 11 Khái niệm gia đình và mối quan hệ giữa gia đình và xã hội
1.1 Khái niệm
Gia đinh la môt hinh thưc tô chưc đơi sông công đông cua con ngươi, môt thiêt chê văn hoa –
xa hôi đăc thu, đươc hinh thanh, tôn tai va phat triên trên cơ sơ cua quan hê hôn nhân, quan hê
huyêt thông, quan hê nuôi dương va giao duc … giưa cac thanh viên
Gia đình là phạm trù xuất hiện rất sớm trong lịch sử loài người; Gia đinh la môt thiêt chê
Nam không nằm ngoài quy luật này
1.2 Mối quan hệ giữa gia đình và xã hội
a Gia đinh la tê bao cua xa hôi:
1
Tiểu luận: Hôn nhân gia đình và sự biến đổi từ truyền thống
đến hiện đại
Trang 2Gia đinh co vai tro rât quan trong đôi vơi sư phat triên cua xa hôi, la nhân tố tôn tai va phattriên cua xa hôi, la nhân tô cho sư tôn tai va phat triên cua xa hôi Gia đinh như môt tê bao
quan hê gia đinh, quan hê xa hôi đa han chê rât lơn đên sư tac đông cua gia đinh đôi với xa hôi
b Gia đinh la câu nôi giưa ca nhân va xa hôi
Môi ca nhân chi co thê sinh ra trong gia đinh Không thê co con ngươi sinh ra tư bên ngoai gia đinh Gia đinh la môi trương đâu tiên co anh hương rât quan trong đên sư hinh thanh và phat
triên tinh cach cua môi ca nhân Va cung chinh trong gia đinh, môi ca nhân se hoc đươc cach
cư xử
vơi ngươi xung quanh va xa hôi
c Gia đinh la tô âm mang lai cac gia tri hanh phuc
Gia đinh la tô âm, mang lai cac gia tri hanh phuc, sư hai hoa trong đơi sông cua môi thanh viên, môi công dân cua xa hôi Chi trong gia đinh, mơi thê hiên môi quan hê tinh cam thiêng liêng giưa vơ va chông, cha me va con cai
2
Trang 3Gia đinh la nơi nuôi dương, chăm soc nhưng công dân tôt cho xa hôi Sư hanh phuc gia đinh
la tiên đê đê hinh thanh nên nhân cach tôt cho nhưng công dân cua xa hôi Vi vây muôn xây
dunwjg xa hôi thi phai chu trong xây dưng gia đinh Hô chu tich noi: “Gia đinh tôt thi xã hôi tôt, nhiêu gia đinh tôt công lai thi lam cho xa hôi tôt hơn”
Xây dưng gia đinh la môt trach nhiêm, môt bô phân câu thanh trong chinh thê cac muc tiêu
phân đâu cua xa hôi, vi sư ôn đinh va phat triên cua xa hôi
Thê nhưng, cac ca nhân không chi sông trong quan hê gia đinh ma con co nhưng quan hê xa hôi Môi ca nhân không chi la thanh viên cua gia đinh ma con la thanh viên cua xa hôi Không thê
co con ngươi bên ngoai xa hôi Gia đinh đong vai tro quan trong đê đap ưng nhu câu vê quan
hê xa
hôi cua mô ca nhân
Ngươc lai, bât cư xa hôi nao cung thông qua gia đinh đê tac đông đên môi ca nhân Măt khac, nhiêu hiên tương cua xa hôi cung thông qua gia đinh ma co anh hương tich cưc hoăc tiêu cực đên
sư phat triên cua môi ca nhân vê tư tương, đao đưc, lôi sông
Măc du, gia đinh va xa hôi co môi quan hê biên chưng vơi nhau, nhưng gia đinh vân
co tinh
đôc lâp tương đôi cua no Bơi vi gia đinh va quan hê gia đinh con bi chi phôi bơi cac yêu tô khac
3
Trang 4như tôn giao, truyên thông, phap luât … vi vây, măc du xa hôi co nhưng thay đôi nhưng môt sô gdvân lưu giư nhưng truyên thông cua gia đinh
Trong tiên trinh lich sư nhân loai, cac phương thưc san xuât lân lươt thay thê nhau, dẫn đên
sư biên đôi vê hinh thưc tô chưc, quy mô va kêt câu gia đinh Tư gia đinh tâp thê – với hinh thức
quân hôn, huyêt thông; gia đinh căp đôi vơi hinh thưc hôn nhân đôi ngâu; đên gia đinh ca thê vơi
hinh thưc hôn nhân môt vơ môt chông Tư gd môt vơ môt chông bât binh đăng sang gia đinh môt
vơ môt chông, vơ chông binh đăng Tât ca nhưng bươc tiên trong gia đinh đêu phu thuôc vao
nhưng bươc tiên trong san xuât, trong trinh đô phat triên kinh tê, chinh tri, văn hoa, xã hôi cua môi
thơi đai lich sư
Đăc điêm, đao đưc, lôi sông trong gia đinh cung bi chi phôi bơi nhưng quan hê xã hôi Vi vây, trong môi chê đô xa hôi khac nhau, co quan điêm khac nhau vê tiêu chuân đao đưc, lôi sông
…
1.3 Chức năng của gia đình
Từ cách tiếp cận xã hội học, xét về bản chất, gia đình có 4 chức năng cơ bản:
Trang 5tránh nạn quần hôn, góp phần tạo nên tôn ty gia đình, trật tự xã hội, đảm bảo các điều kiện cơ bảncho nòi giống phát triển.
Ngày nay, khoa học sinh sản phát triển cao nhưng sinh sản tự nhiên trong gia đình vẫn là ưu thế bởi đó là điều kiện cơ bản để bảo vệ nòi giống người, là cơ sở, nền tảng cho mỗi người tham
gia vào đời sống xã hội vì sự phát triển
Trang 61.3.3 Chức năng kinh tế
Đây là chức năng nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mỗi gia đình, góp phần vào sự phát triển toàn xã hội Lao động của mỗi thành viên gia đình hoặc hoạt động kinh tế của gia đình
nhằm tạo ra nguồn lợi đáp ứng các nhu cầu đời sống vật chất ( ăn, ở, đi lại ) lẫn nhu cầu tinh thần (
học hành tiếp cận thông tin, vui chơi giải trí ) Gia đình còn là đơn vị tiêu dùng, việc tiêu dùng sản
phẩm hàng hóa dịch vụ trong xã hội đã tác động vào sản xuất, tiền tệ, thúc đẩy kinh tế đất nước
phát triển
Gia đình là một thực thể xã hội, sự tồn tại của nó được xã hội thừa nhận Như vậy bản thân gia đình đã mang một giá trị xã hội Chính các chức năng của gia đình mới đem lại cho nó một giá
trị đích thực Cho đến nay các chức năng cơ bản của gia đình vẫn còn giữ nguyên giá trị Sự thừa
nhận các chức năng của gia đình tức là đã thừa nhận gia đình là một giá trị trong xã hội
Trang 7Không phải ngẫu nhiên người ta gọi gia đình với cách gọi yêu thương, trìu mến, ấm áp Tronggia đình người già được chăm sóc khỏe mạnh, vui vẻ lạc quan, truyền lại cho con cháu vốn sống, cách ứng xử đẹp Nơi đó, con cái biết yêu kính, vâng lời cha mẹ, vợ chồng quan tâm chia sẻ vui buồn cực nhọc với nhau Ở đó, mỗi người cảm nhận được sự gần gũi, thân thương từ khoảng sân, mái nhà, chiếc giường đến những quan hệ họ hàng thân thiết.
Khi một thành viên gặp biến cố, gia đình, dòng họ sẽ có sự quan tâm, chia sẻ và có sự giúp
đỡ
để niềm vui được nhân đôi, nỗi buồn được vơi đi một nửa Điều đó sẻ tạo nên sợi dây vô hình nhưng bền chặt kết nối nghĩa tình những người trong gia đình, dòng họ, thân tộc lại với nhau Mối
quan hệ đồng bào cũng từ đó mà hình thành trong làng xóm, trong xã hội, trở thành nền tảng của
tình yêu quê hương, đất nước, con người
Cả 4 chức năng này đã và đang xuất hiện những yếu tố mới, Một số nhà nghiên cứu cho rằng: Nếu có gì gọi là mới trong gia đình Việt Nam hiện đại thì có lẽ là sự tăng cường yếu tố dân chủ
trong cái tổ chức này Xã hội mới tạo điều kiện cho mỗi người có giá trị tự thân Thêm một nhân tố
nữa để bảo đảm sự bình đẳng trong các tương quan và chức năng của mỗi thành viên trong gia
đình Không có áp bức, thống trị ở đây (được xét về mặt khái
quát)
7
Trang 8Và về chức năng giáo dục, một số nhà nghiên cứu cho rằng giáo dục gia đình đang có xuhướng thay đổi trong xã hội hiện đại bởi những vấn đề mà giới trẻ hiện nay đang gặp phải như các
tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng, sự tôn kính đối với ông bà cha mẹ có xu hướng giảm sút… hay
sự chuyển giao, phó mặc chức năng này của gia đình cho các thiết chế xã hội khác như trường học, dịch vụ xã hội (dịch vụ chăm sóc trẻ, giúp việc tại nhà)… Sự biến đổi về quy mô, kiểu loại gia
đình, những biến đổi trong đời sống hôn nhân, tâm lý – tình cảm và sự lựa chọn trong kết hôn cũng được quan tâm đáng kể trong những nghiên cứu về gia đình trong thời gian qua
Rất nhiều khía cạnh khác nhau của gia đình đều đang có những biến đổi trong điều kiện
xã
hội biến đổi, điều đó đã tạo nên sự biến đổi khuôn mẫu gia đình nói chung Vì thế, việc xác định rõ
ràng, chuẩn xác đặc trưng của gia đình Việt Nam hiện nay là một vấn đề không dễ dàng
1.4 Sự biến đổi về cơ cấu gia đình
Cơ cấu gia đình là những thành tố tạo nên một gia đình và quan hệ qua lại giữa chúng với nhau Nói một cách khác cơ cấu gia đình là số lượng, thành phần và mối quan hệ giữa các thành
viên và các thế hệ trong gia đình
Cơ cấu gia đình chỉ quy mô gia đinh, kiểu loại gia đình, mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia
đ
ình
8
Trang 9Cơ cấu gia đình còn chỉ toàn bộ mối quan hệ qua lại giữa các thành viên trong gia đình: quan
hệ ruột thịt, quan hệ tinh thần-đạo đức, quan hệ uy quyền
Trong tác phẩm “Tam giác gia đình” của tác giả Hồ Ngọc Đại, ông đề cập đến: “Gia đình là một khái niệm mới được hình thành từ ba thành phần, gồm những “đại lượng khác tên” là
Trang 10phần nào những giá trị truyền thống, đặc biệt trong gia đình Việt Nam dù ở nông thôn hay thànhthị Có thể tùy từng dân tộc, từng vùng, từng dòng họ, từng gia đình mà thay đổi nhiều hay ít Qua gia đình, chân dung của xã hội hiện ra một cách sinh động và toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn
hóa, khoa học, tư tưởng, tôn giáo, lối sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng
1.4.1 Một số xu hướng biến đổi gia đình từ gia đình truyền thống đến gia đình hiện đại:
Thứ nhất, quy mô, kích cỡ gia đình Việt Nam đang dần dần “thu hẹp lại”, gia đình hạt nhân
đang trở nên phổ biến, dần thay thế gia đình mở rộng nhiều thế hệ sống trong một mái nhà
Xu
hướng này biểu hiện rõ nét hơn khi tốc độ đô thị hoá ngày càng gia tăng
Thứ hai, chức năng giáo dục thế hệ trẻ và truyền thụ văn hoá đang ít nhiều bị xem nhẹ Gia
đình đang có xu hướng “giao phó” chức năng này cho thiết chế trường học và hệ thống các dịch vụ
xã hội khác
Thứ ba, chức năng kinh tế gia đình đang có xu hướng chuyển phần “sản xuất” sang
“tiêu
dùng” Vẫn tồn tại với tư cách là một
đuổi các mục đích khác nhau, theo đó
“tài khoản” riêng mà không cùng sản
đơn vị kinh tế, song các thành viên trong gia đình lại theo
là các hoạt động kinh tế khác nhau, mỗi thành viên có một xuất và chung một “nguồn ngân sách” như trong gia đìnhtruyền thống
10
Trang 11Thứ tư, các mối quan hệ trong gia đình trở nên lỏng lẻo, sợi dây liên kết các thành viên đang
bị “nới rộng ra” theo hướng tự chủ, phát triển độc lập và cá nhân hoá Khuynh hướng này có thể
làm suy yếu tính cộng đồng, cộng cảm trong phạm vi gia đình
Thứ năm, vai trò điều hoà đời sống tâm lý – tình cảm trong gia đình hiện nay cũng đang
chăm sóc sức khoẻ và các dịch vụ xã hội khác
Thứ sáu, cấu trúc gia đình dễ biến động, thiếu tính bền vững hơn do sự thay đổi trong quan
niệm về hôn nhân, hạnh phúc, trách nhiệm với gia đình của các thành viên cũng như trong các
chuẩn mực giá trị, quy phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình
Gia đình Việt Nam đã và đang biến đổi dưới sự tác động của những biến đổi về kinh tế, xã hội
và giao lưu văn hoá toàn cầu Sự biến đổi đó không tách rời hoàn toàn với những đặc trưng của gia
đình truyền thống mà là sự điều chỉnh, thích nghi với những hoàn cảnh và điều kiện xã hội mới
Thực tế, gia đình Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức và phải lựa chọn cho mình
một khuôn mẫu phù hợp, trong đó có sự cân bằng giữa việc bảo lưu những yếu tố truyền
thống bền
vững với những thay đổi không ngừng của xã hội hiện đại Với khả năng thích ứng cao trên nền
11
Trang 12tảng văn hoá truyền thống, gia đình Việt Nam vẫn hoàn toàn có khả năng gìn giữ được những nétbản sắc đặc trưng của nó ngay trong điều kiện phát triển của thế giới hiện đại.
1.4.2 Sự khác biệt cơ bản giữa gia đình truyền thống và gia đình hiện đại
Quy mô gia đình: Trước đây, trong một gia đình thường có sự xuất hiện của ông bà, bố mẹ,
con cái "Tứ đại đồng đường" là chuyện rất bình thường ở mỗi ngôi nhà Việt Điều kiện khó khăn,
việc "thoát ly" ra khỏi tổ ấm dường như rất ít, con cái lớn lên, cưới vợ gả chồng rồi sinh con vẫn cố
gắng để ở bên, phụng dưỡng cha mẹ Ngược lại, việc sống cùng người già giúp các cặp vợ chồng
trẻ giữ được nề nếp, thói quen, gia phong của gia đình, đồng thời biết kính trên, nhường dưới
Xã hội ngày nay, những cặp vợ chồng trẻ tuổi thích sự tự do, muốn thể hiện được cái tôi và
khả năng độc lập cao, có điều kiện kinh tế Những lý do đó khiến nhiều người quyết
định
riêng, gây dựng một gia đình nhỏ chỉ có hai thế hệ Không những thế, người phụ nữ
ngày bình đẳng, không chấp nhận hy sinh nên khó lòng sống hài hòa với nhà chồng Lựa
chọn riêng vì thế ngày càng nhiều
sốngcàng sống
Bữa cơm gia đình: Với các gia đình xưa, bữa cơm luôn được chú trọng Trong giai đoạn đói
kém, nhiều nhà chỉ ăn một bữa cơm, nhưng tất cả các thành viên đều có mặt đông đủ, để chia sẻ vàgặp mặt nhau sau một ngày làm việc Nhiều người lớn tuổi chưa quên được cảnh một gia đình
thôn12
Trang 13quê khoảng nhá nhem tối, trải chiếu ra ngoài hiên, quây quần bên mâm cơm, trò chuyện và tận
hưởng không gian thoáng đãng cuối ngày
Cuộc sống của một gia đình hiện đại ngày nay là sáng đưa con đến lớp, bố mẹ đi làm, chiều
về đón con rồi đi chợ nấu cơm Tuy nhiên, bữa cơm tối duy nhất của cả nhà đôi khi không có mặt
đông đủ các thành viên Khi thì bố hoặc mẹ bận làm thêm giờ, lúc thì con phải đi học thêm Bữa
cơm thường được ăn nhanh chóng để mỗi người một việc, chuẩn bị sẵn sàng cho ngày hôm sau,
khoảng thời gian tận hưởng và chia sẻ cùng nhau dường như rất ít
Nề nếp sinh hoạt: Khi sống trong gia đình tứ đại đồng đường, mọi nề nếp, gia phong đều
được người già giữ gìn và duy trì Các cụ luôn dùng những câu răn dạy của người xưa để giúp con
cháu giữ được nề nếp như "ăn trông nồi, ngồi trông hướng", "kính trên, nhường dưới" Chính nhờ
có các cụ mà con cháu biết nhìn nhau mà sống Hơn nữa, cuộc sống xưa đơn giản, chưa có sự can
thiệp của các công nghệ hiện đại, con người ít có sự lựa chọn
Nhịp sống công nghiệp ngày nay, các cặp vợ chồng trẻ có nhiều sự tự do hơn khi sống riêng
Khi không thích nấu nướng, họ có thể chọn ăn ngoài hàng hoặc gọi đồ ăn về nhà Với
những gia đình chưa có con, chỉ có hai người thì sự thoải mái càng lớn hơn Đôi khi, căn bếp cả tuần không
"đỏ lửa" và các cặp vợ chồng cũng không lấy đó làm lo lắng
13
Trang 14Sự khác biệt giữa hai thế hệ: Giữa một phía quyết giữ bằng được mọi giá trị truyền thống và
một bên ra sức phá bỏ, luôn luôn xảy ra những mâu thuẫn Người già luôn đem những câu chuyện ngày xa xưa ra làm chuẩn mực để dạy dỗ thế hệ trẻ, còn người trẻ thì cho đó là lạc hậu, cổ lỗ sĩ, không biết tiếp nhận cái mới Tiếng nói chung giữa hai thế hệ ngày càng ít đi
Gia đình, dù ở thế hệ nào, cũng đều hướng tới giá trị hạnh phúc của mỗi con người sống trong
đó Dù hiện đại hay truyền thống, thì bố mẹ cũng luôn hy sinh và làm mọi thứ để con cái được
Trang 15- Ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, phổ biến một khái niệm cổ điển mang quan
niệm truyền thống về hôn nhân của Cơ đốc giáo đưa ra: Hôn nhân là sự liên kết tự nguyện suốt
đời
giữa một người đàn ông và một người đàn bà, mà không vì mục đích nào khác” Ngoài khái niệm
trên, hiện nay ở Châu âu và Mỹ còn có quan niệm: “Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một
người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng”, hoặc: “Hôn nhân là hành vi hoặc tình trạng chung sống giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng”.
- Ở Việt Nam, cũng có một số khái niệm cụ thể về hôn nhân, mà phần nhiều mới đưa ra khái
niệm “giá thú”: “giá thú (hay hôn thú) là sự phối hợp của một người đàn ông và một người
Trang 16Trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành (luật năm 2014 có hiệu lực từ ngày
01/01/2015), khái niệm hôn nhân đã qui định: “hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã
kết hôn” Còn theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của trường Đại học Luật Hà Nội
hôn
nhân được hiểu là: “sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình
đẳng, theo điều kiện và trình tự nhất định, nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hoà thuận”.
Sự liên kết giữa nam và nữ để thành vợ chồng, thành gia đình là một nhu cầu xã hội, tiếp đến mới là nhu cầu sinh học Hay nói cách khác, hôn nhân không phải do trời cho mà nó xuất hiện và
hình thành trong quá trình phát triển của loài người và nó cũng biến đổi theo sự văn minh của con
người Và dù ở bất cứ xã hội nào thì hôn nhân cũng là một mối quan hệ được xã hội thừa nhận
giữa hai người khác giới
Do sự biến đổi của hôn nhân gắn liền với sự biến đổi văn minh xã hội nên hôn nhân của loài người đã trải qua những hình thức khác nhau Buổi đầu sơ khai là chế độ quần hôn, sau đó là hôn
nhân mẫu hệ - một người phụ nữ có thể kết hôn với nhiều người đàn ông Và tiếp đó là hôn nhân
phụ hệ, đa thê Một người đàn ông có thể làm chồng của nhiều người phụ nữ Đó là hôn nhân bất
16
Trang 17bình đẳng, mua bán, cưỡng ép…cuối cùng ngày nay là gia đình bình quyền, tự nguyên, một vợ mộtchồng.
2.2 Các loại hình hôn nhân
2.2.1 Hôn nhân truyền thống: sự kết hợp của nam và nữ (hôn nhân là quan hệ giữa vợ và
chồng sau khi đã kết hôn – theo Luật hôn nhân và gia đình), nó mang một số đặc điểm sau:
Thứ nhất: Hôn nhân là một thiết chế xã hội: “Việc một người đàn ông và một người đàn bà
cam kết sống chung với nhau với những quyền và nghĩa vụ đối với nhau cũng như đối với con cái”.
Thứ hai, Tính tự nguyện trong hôn nhân.
Hôn nhân là quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, do đó việc thể hiện ý chí ưng thuận giữa các bên trong hôn nhân là một trong các điều kiện căn bản để hôn nhân có hiệu lực Hiện nay, pháp
luật có quy định không có sự tự nguyện thì không có hôn nhân khi không
Tuy nhiên, tính tự nguyện trong hôn nhân được xem xét với nhiều quan điểm khác nhau ở một số nước phương Tây, tự nguyện ở đây thường gắn với tự nguyện trong hợp đồng Ví dụ:
Trang 18Điều 2 Chương 2 phần II Luật hôn nhân Thụy điển năm 1987; Luật hôn nhân Australia năm
1961…) Tự nguyện trong pháp luật phương tây còn đồng nghĩa với tự do thoả thuận, thông qua việc thừa nhận chế độ tài sản ước định trong quan hệ vợ chồng, khi các bên không thoả thuận được
pháp luật mới áp dụng chế độ tài sản pháp định
Ở Việt Nam coi yếu tố tự nguyện trong hôn nhân là một trong các nguyên tắc cơ bản của chế
độ hôn nhân và gia đình (Luật Hôn nhân và gia đình của Việt Nam) Tuy nhiên, họ lại xác định tự
nguyện trong hôn nhân là tự nguyện xuất phát từ tình cảm giữa nam và nữ, vậy nên họ không thừa
nhận chế độ đại diện trong kết hôn, mà việc kết hôn phải do chính các bên nam, nữ quyết định
Mặt khác, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình, chứ không vì mục đích tạo lập, thay đổi,
chấm dứt nghĩa vụ dân sự, đồng thời để tránh những trường hợp hôn nhân dựa trên sự tính toán
kinh tế, không thừa nhận chế độ tài sản theo thoả thuận giữa vợ và chồng, mà chỉ thừa nhận chế độ
tài sản pháp định dựa trên nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng
Thứ ba: Tính bền vững (tính chất suốt đời) của hôn nhân.
Tính bền vững của hôn nhân được các nhà làm luật đưa ra xuất phát từ những căn nguyên khác nhau: có thể do yếu tố tôn giáo (Đạo cơ đốc coi hôn nhân là một thiết chế bất biến gắn liền
với suốt cuộc đời con người, tính bất biến hôn nhân theo quan niệm tôn giáo có thể hiểu theo
hai18