1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận hôn nhân gia đình và sự biến đổi từ truyền thống đến hiện đại

24 1,6K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 152 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gia đình là một hình thức tổ chức đời sống cộng đồng của con người, một thiết chề văn hóa – xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục … giữa các thành viên.

Trang 1

1.2 Mối quan hệ giữa gia đình và xã hội

a Gia đình là tế bào của xã hội:

Gia đình có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội, là nhân tố tồntại và phát triển của xã hội, là nhân tố cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Gia đìnhnhư một tế bào tự nhiên, là đơn vị nhỏ nhất để tạo nên xã hội Không có gia đình để táitạo ra con người thì xã hội không tồn tại và phát triển được Chính vì vật, muốn xã hộitốt thì phải xây dựng gia đình tốt

Trang 2

Tuy nhiên mức độ tác động của gia đình đối với xã hội còn phụ thuộc vào bảnchất của từng chế độ xã hội Trong các chế xã hội dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sx,sự bất bình đẳng trong quan hệ gia đình, quan hệ xã hội đã hạn chế rất lớn đến sự tácđộng của gia đình đối với xã hội.

b Gia đình là cầu nối giữa cá nhân và xã hội

Mỗi cá nhân chỉ có thể sinh ra trong gia đình Không thể có con người sinh ra từbên ngoài gia đình Gia đình là môi trường đầu tiên có ảnh hưởng rất quan trọng đến sựhình thành và phát triển tính cách của mỗi cá nhân Và cũng chính trong gia đình, mỗi

cá nhân sẽ học được cách cư xử với người xung quanh và xã hội

c Gia đình là tổ ấm mang lại các giá trị hạnh phúc

Gia đình là tổ ấm, mang lại các giá trị hạnh phúc, sự hài hòa trong đời sống củamỗi thành viên, mỗi công dân của xã hội Chỉ trong gia đình, mới thể hiện mối quan hệtình cảm thiêng liêng giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái

Gia đình là nơi nuôi dưỡng, chăm sóc những công dân tốt cho xã hội Sự hạnhphúc gia đình là tiền đề để hình thành nên nhân cách tốt cho những công dân của xã hội

Vì vậy muốn xây dunwjg xã hội thì phải chú trọng xây dựng gia đình Hồ chủ tịch nói:

“Gia đình tốt thì xã hội tốt, nhiều gia đình tốt cộng lại thì làm cho xã hội tốt hơn”

Xây dựng gia đình là một trách nhiệm, một bộ phận cấu thành trong chỉnh thể cácmục tiêu phấn đấu của xã hội, vì sự ổn định và phát triển của xã hội

Thế nhưng, các cá nhân không chỉ sống trong quan hệ gia đình mà còn có nhữngquan hệ xã hội Mỗi cá nhân không chỉ là thành viên của gia đình mà còn là thành viêncủa xã hội Không thể có con người bên ngoài xã hội Gia đình đóng vai trò quan trọngđể đáp ứng nhu cầu về quan hệ xã hội của mỗ cá nhân

Ngược lại, bất cứ xã hội nào cũng thông qua gia đình để tác động đến mỗi cánhân Mặt khác, nhiều hiện tượng của xã hội cũng thông qua gia đình mà có ảnh hưởngtích cực hoặc tiêu cực đến sự phát triển của mỗi cá nhân về tư tưởng, đạo đức, lối sống

Mặc dù, gia đình và xã hội có mối quan hệ biện chứng với nhau, nhưng gia đìnhvẫn có tính độc lập tương đối của nó Bởi vì gia đình và quan hệ gia đình còn bị chi

Trang 3

phối bởi các yếu tố khác như tôn giáo, truyền thống, pháp luật … vì vậy, mặc dù xã hộicó nhưng thay đổi nhưng một số gd vẫn lưu giữ những truyền thống của gia đình

Trong tiến trình lịch sử nhân loại, các phương thức sản xuất lần lượt thay thếnhau, dẫn đến sự biến đổi về hình thức tổ chức, quy mô và kết cấu gia đình Từ giađình tập thể – với hình thức quần hôn, huyết thông; gia đình cặp đôi với hình thức hônnhân đối ngẫu; đến gia đình cá thể với hình thức hôn nhân một vợ một chồng Từ gdmột vợ một chồng bất bình đẳng sang gia đình một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.Tất cả những bước tiến trong gia đình đều phụ thuộc vào những bước tiến trong sảnxuất, trong trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của mỗi thời đại lịch sử

Đặc điểm, đạo đức, lối sống trong gia đình cũng bị chi phối bởi những quan hệ xãhội Vì vây, trong mỗi chế độ xã hội khác nhau, có quan điểm khác nhau về tiêu chuẩnđạo đức, lối sống …

1.3 Chức năng của gia đình

Từ cách tiếp cận xã hội học, xét về bản chất, gia đình có 4 chức năng cơ bản:

1.3.1 Chức năng sinh sản

Gia đình là nơi tái sản sinh con người, cung cấp thành viên, nguồn nhân lực chogia đình và xã hội Mặt khác, sự sinh sản trong gia đình giúp cho việc xác định nguồncội của con người, từ đó tránh nạn quần hôn, góp phần tạo nên tôn ty gia đình, trật tự xãhội, đảm bảo các điều kiện cơ bản cho nòi giống phát triển

Ngày nay, khoa học sinh sản phát triển cao nhưng sinh sản tự nhiên trong giađình vẫn là ưu thế bởi đó là điều kiện cơ bản để bảo vệ nòi giống người, là cơ sở, nềntảng cho mỗi người tham gia vào đời sống xã hội vì sự phát triển

1.3.2 Chức năng giáo dục

Gia đình là nơi dưỡng dục về thể chất, tinh thần, hình thành nhân cách cho mỗicon người trong xã hội Từ trường học đầu tiên này, mỗi cá nhân được những ngườithầy thân yêu là cha mẹ, ông bà giáo dục kiến thức, kỷ năng sống để có thể thích ứng,hòa nhập vào đời sống cộng đồng Nêu gương là cách giáo dục tốt nhất trong gia đình( Cha mẹ thương yêu chân thành, tôn trọng, giúp đỡ nhau; cha mẹ, ông bà vừa yêu quý

Trang 4

vừa nghiêm khắc và bao dung với con cháu ), giữa gia đình với họ hàng, với láng giềng,với cộng đồng ( trọng nhân nghĩa, làm điều thiện, sống chan hòa, ghét thói gian tham,điều giả dối ), qua đó giúp con cháu tiếp thu một cách tự nhiên, nhẹ nhàng những bàihọc cuộc đời nhưng lại tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và phát triển nhâncách

1.3.3 Chức năng kinh tế

Đây là chức năng nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mỗi gia đình, gópphần vào sự phát triển toàn xã hội Lao động của mỗi thành viên gia đình hoặc hoạtđộng kinh tế của gia đình nhằm tạo ra nguồn lợi đáp ứng các nhu cầu đời sống vật chất (

ăn, ở, đi lại ) lẫn nhu cầu tinh thần ( học hành tiếp cận thông tin, vui chơi giải trí ) Giađình còn là đơn vị tiêu dùng, việc tiêu dùng sản phẩm hàng hóa dịch vụ trong xã hội đãtác động vào sản xuất, tiền tệ, thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển

Gia đình là một thực thể xã hội, sự tồn tại của nó được xã hội thừa nhận Như vậybản thân gia đình đã mang một giá trị xã hội Chính các chức năng của gia đình mớiđem lại cho nó một giá trị đích thực Cho đến nay các chức năng cơ bản của gia đìnhvẫn còn giữ nguyên giá trị Sự thừa nhận các chức năng của gia đình tức là đã thừa nhậngia đình là một giá trị trong xã hội

1.3.4 Chức năng tâm lý – tình cảm

Nhờ vào quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống nên thành viên gia đình cótình yêu thương và ý thức, trách nhiệm với nhau Chính vì vậy, gia đình là nơi để mỗiđược chăm sóc cả về vật chất lẫn tinh thần, được thỏa mãn nhu cầu tình cảm, cân bằngtâm lý, giải tỏa ức chế từ các quan hệ xã hội

Không phải ngẫu nhiên người ta gọi gia đình với cách gọi yêu thương, trìu mến,

ấm áp Trong gia đình người già được chăm sóc khỏe mạnh, vui vẻ lạc quan, truyền lạicho con cháu vốn sống, cách ứng xử đẹp Nơi đó, con cái biết yêu kính, vâng lời chamẹ, vợ chồng quan tâm chia sẻ vui buồn cực nhọc với nhau Ở đó, mỗi người cảmnhận được sự gần gũi, thân thương từ khoảng sân, mái nhà, chiếc giường đến nhữngquan hệ họ hàng thân thiết

Trang 5

Khi một thành viên gặp biến cố, gia đình, dòng họ sẽ có sự quan tâm, chia sẻ vàcó sự giúp đỡ để niềm vui được nhân đôi, nỗi buồn được vơi đi một nửa Điều đó sẻ tạonên sợi dây vô hình nhưng bền chặt kết nối nghĩa tình những người trong gia đình, dònghọ, thân tộc lại với nhau Mối quan hệ đồng bào cũng từ đó mà hình thành trong làngxóm, trong xã hội, trở thành nền tảng của tình yêu quê hương, đất nước, con người

Cả 4 chức năng này đã và đang xuất hiện những yếu tố mới, Một số nhà nghiêncứu cho rằng: Nếu có gì gọi là mới trong gia đình Việt Nam hiện đại thì có lẽ là sự tăngcường yếu tố dân chủ trong cái tổ chức này Xã hội mới tạo điều kiện cho mỗi người cógiá trị tự thân Thêm một nhân tố nữa để bảo đảm sự bình đẳng trong các tương quan vàchức năng của mỗi thành viên trong gia đình Không có áp bức, thống trị ở đây (đượcxét về mặt khái quát)

Và về chức năng giáo dục, một số nhà nghiên cứu cho rằng giáo dục gia đìnhđang có xu hướng thay đổi trong xã hội hiện đại bởi những vấn đề mà giới trẻ hiện nayđang gặp phải như các tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng, sự tôn kính đối với ông bàcha mẹ có xu hướng giảm sút… hay sự chuyển giao, phó mặc chức năng này của giađình cho các thiết chế xã hội khác như trường học, dịch vụ xã hội (dịch vụ chăm sóc trẻ,giúp việc tại nhà)… Sự biến đổi về quy mô, kiểu loại gia đình, những biến đổi trong đờisống hôn nhân, tâm lý – tình cảm và sự lựa chọn trong kết hôn cũng được quan tâmđáng kể trong những nghiên cứu về gia đình trong thời gian qua

Rất nhiều khía cạnh khác nhau của gia đình đều đang có những biến đổi trongđiều kiện xã hội biến đổi, điều đó đã tạo nên sự biến đổi khuôn mẫu gia đình nói chung

Vì thế, việc xác định rõ ràng, chuẩn xác đặc trưng của gia đình Việt Nam hiện nay làmột vấn đề không dễ dàng

1.4 Sự biến đổi về cơ cấu gia đình

Cơ cấu gia đình là những thành tố tạo nên một gia đình và quan hệ qua lại giữachúng với nhau Nói một cách khác cơ cấu gia đình là số lượng, thành phần và mốiquan hệ giữa các thành viên và các thế hệ trong gia đình

Trang 6

Cơ cấu gia đình chỉ quy mô gia đinh, kiểu loại gia đình, mối quan hệ giữa các thế

hệ trong gia đình

Cơ cấu gia đình còn chỉ toàn bộ mối quan hệ qua lại giữa các thành viên trong giađình: quan hệ ruột thịt, quan hệ tinh thần-đạo đức, quan hệ uy quyền

Trong tác phẩm “Tam giác gia đình” của tác giả Hồ Ngọc Đại, ông đề cập đến:

“Gia đình là một khái niệm mới được hình thành từ ba thành phần, gồm những “đạilượng khác tên” là bố, mẹ và con cái hình thành nên một tam giác gia đình” đặt trongbối cảnh gắn với tam giác đời sống xã hội mà ba đỉnh là cá nhân – gia đình – xã hội thìđây là một mối liên hệ khó có thể bóc tách được Điều này cho thấy sự biến đổi của giađình luôn gắn với sự biến đổi của các cá nhân và xã hội Hiển nhiên, gia đình là hệ quảcủa mối tương tác giữa các cá nhân và xã hội đang sống Gia đình với chức năng của nó

sẽ cố gắng điều hoà các mối quan hệ này phù hợp với hoàn cảnh xã hội

Mọi xã hội cũng giống như tự nhiên, không ngừng biến đổi Sự ổn định của xãhội chỉ là sự ổn định bề ngoài Thực tế, nó không ngừng thay đổi ngay ở bên trong bảnthân nó Sự biến đổi xã hội sẽ dẫn theo các yếu tố bên trong nó và những yếu tố khác(Kinh tế- văn hóa- chính trị- quân sự ) thay đổi Và gia đình là một thành tố tồn tại bêntrong xã hội, có thể coi gia đình là một nhóm xã hội sơ cấp, là “tế bào” của xã hội, hayhiểu rộng hơn gia đình là một thiết chế xã hội Vào những năm đầu đổi mới, “ mở cửa”,với sự tác động mạnh mẽ của cơ chế thi trường, kéo theo nó là sự du nhập ồ ạt của lốisống, phương thức sinh hoạt của xã hội phương Tây vào nước ta đã làm thay đổi phầnnào những giá trị truyền thống, đặc biệt trong gia đình Việt Nam dù ở nông thôn haythành thị Có thể tùy từng dân tộc, từng vùng, từng dòng họ, từng gia đình mà thay đổinhiều hay ít Qua gia đình, chân dung của xã hội hiện ra một cách sinh động và toàndiện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, tư tưởng, tôn giáo, lối sống, phong tục,tập quán, tín ngưỡng

Trang 7

1.4.1 Một số xu hướng biến đổi gia đình từ gia đình truyền thống đến gia đình hiện đại:

Thứ nhất, quy mô, kích cỡ gia đình Việt Nam đang dần dần “thu hẹp lại”, gia

đình hạt nhân đang trở nên phổ biến, dần thay thế gia đình mở rộng nhiều thế hệ sốngtrong một mái nhà Xu hướng này biểu hiện rõ nét hơn khi tốc độ đô thị hoá ngày cànggia tăng

Thứ hai, chức năng giáo dục thế hệ trẻ và truyền thụ văn hoá đang ít nhiều bị xem

nhẹ Gia đình đang có xu hướng “giao phó” chức năng này cho thiết chế trường học và

hệ thống các dịch vụ xã hội khác

Thứ ba, chức năng kinh tế gia đình đang có xu hướng chuyển phần “sản xuất”

sang “tiêu dùng” Vẫn tồn tại với tư cách là một đơn vị kinh tế, song các thành viêntrong gia đình lại theo đuổi các mục đích khác nhau, theo đó là các hoạt động kinh tếkhác nhau, mỗi thành viên có một “tài khoản” riêng mà không cùng sản xuất và chungmột “nguồn ngân sách” như trong gia đình truyền thống

Thứ tư, các mối quan hệ trong gia đình trở nên lỏng lẻo, sợi dây liên kết các

thành viên đang bị “nới rộng ra” theo hướng tự chủ, phát triển độc lập và cá nhân hoá.Khuynh hướng này có thể làm suy yếu tính cộng đồng, cộng cảm trong phạm vi giađình

Thứ năm, vai trò điều hoà đời sống tâm lý – tình cảm trong gia đình hiện nay

cũng đang bị “xói mòn” Người già và trẻ em đang phải đối mặt với sự cô đơn, sự thiếuquan tâm và chăm sóc từ các thành viên khác trong gia đình Họ đang dần bị “đẩy” racác nhà dưỡng lão, nhà trẻ, trung tâm chăm sóc sức khoẻ và các dịch vụ xã hội khác

Thứ sáu, cấu trúc gia đình dễ biến động, thiếu tính bền vững hơn do sự thay đổi

trong quan niệm về hôn nhân, hạnh phúc, trách nhiệm với gia đình của các thành viêncũng như trong các chuẩn mực giá trị, quy phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình

Gia đình Việt Nam đã và đang biến đổi dưới sự tác động của những biến đổi vềkinh tế, xã hội và giao lưu văn hoá toàn cầu Sự biến đổi đó không tách rời hoàn toànvới những đặc trưng của gia đình truyền thống mà là sự điều chỉnh, thích nghi với

Trang 8

những hoàn cảnh và điều kiện xã hội mới Thực tế, gia đình Việt Nam đang phải đốimặt với rất nhiều thách thức và phải lựa chọn cho mình một khuôn mẫu phù hợp, trongđó có sự cân bằng giữa việc bảo lưu những yếu tố truyền thống bền vững với nhữngthay đổi không ngừng của xã hội hiện đại Với khả năng thích ứng cao trên nền tảngvăn hoá truyền thống, gia đình Việt Nam vẫn hoàn toàn có khả năng gìn giữ đượcnhững nét bản sắc đặc trưng của nó ngay trong điều kiện phát triển của thế giới hiện đại.

1.4.2 Sự khác biệt cơ bản giữa gia đình truyền thống và gia đình hiện đại

Quy mô gia đình: Trước đây, trong một gia đình thường có sự xuất hiện của ông

bà, bố mẹ, con cái "Tứ đại đồng đường" là chuyện rất bình thường ở mỗi ngôi nhàViệt Điều kiện khó khăn, việc "thoát ly" ra khỏi tổ ấm dường như rất ít, con cái lớn lên,cưới vợ gả chồng rồi sinh con vẫn cố gắng để ở bên, phụng dưỡng cha mẹ Ngược lại,việc sống cùng người già giúp các cặp vợ chồng trẻ giữ được nề nếp, thói quen, giaphong của gia đình, đồng thời biết kính trên, nhường dưới

Xã hội ngày nay, những cặp vợ chồng trẻ tuổi thích sự tự do, muốn thể hiện đượccái tôi và khả năng độc lập cao, có điều kiện kinh tế Những lý do đó khiến nhiều ngườiquyết định sống riêng, gây dựng một gia đình nhỏ chỉ có hai thế hệ Không những thế,người phụ nữ ngày càng bình đẳng, không chấp nhận hy sinh nên khó lòng sống hài hòavới nhà chồng Lựa chọn sống riêng vì thế ngày càng nhiều

Bữa cơm gia đình: Với các gia đình xưa, bữa cơm luôn được chú trọng Trong

giai đoạn đói kém, nhiều nhà chỉ ăn một bữa cơm, nhưng tất cả các thành viên đều cómặt đông đủ, để chia sẻ và gặp mặt nhau sau một ngày làm việc Nhiều người lớn tuổichưa quên được cảnh một gia đình thôn quê khoảng nhá nhem tối, trải chiếu ra ngoàihiên, quây quần bên mâm cơm, trò chuyện và tận hưởng không gian thoáng đãng cuốingày

Cuộc sống của một gia đình hiện đại ngày nay là sáng đưa con đến lớp, bố mẹ đilàm, chiều về đón con rồi đi chợ nấu cơm Tuy nhiên, bữa cơm tối duy nhất của cả nhàđôi khi không có mặt đông đủ các thành viên Khi thì bố hoặc mẹ bận làm thêm giờ, lúcthì con phải đi học thêm Bữa cơm thường được ăn nhanh chóng để mỗi người một

Trang 9

việc, chuẩn bị sẵn sàng cho ngày hôm sau, khoảng thời gian tận hưởng và chia sẻ cùngnhau dường như rất ít.

Nề nếp sinh hoạt: Khi sống trong gia đình tứ đại đồng đường, mọi nề nếp, gia

phong đều được người già giữ gìn và duy trì Các cụ luôn dùng những câu răn dạy củangười xưa để giúp con cháu giữ được nề nếp như "ăn trông nồi, ngồi trông hướng",

"kính trên, nhường dưới" Chính nhờ có các cụ mà con cháu biết nhìn nhau mà sống.Hơn nữa, cuộc sống xưa đơn giản, chưa có sự can thiệp của các công nghệ hiện đại, conngười ít có sự lựa chọn

Nhịp sống công nghiệp ngày nay, các cặp vợ chồng trẻ có nhiều sự tự do hơn khisống riêng Khi không thích nấu nướng, họ có thể chọn ăn ngoài hàng hoặc gọi đồ ăn vềnhà Với những gia đình chưa có con, chỉ có hai người thì sự thoải mái càng lớn hơn.Đôi khi, căn bếp cả tuần không "đỏ lửa" và các cặp vợ chồng cũng không lấy đó làm lolắng

Sự khác biệt giữa hai thế hệ: Giữa một phía quyết giữ bằng được mọi giá trị

truyền thống và một bên ra sức phá bỏ, luôn luôn xảy ra những mâu thuẫn Người giàluôn đem những câu chuyện ngày xa xưa ra làm chuẩn mực để dạy dỗ thế hệ trẻ, cònngười trẻ thì cho đó là lạc hậu, cổ lỗ sĩ, không biết tiếp nhận cái mới Tiếng nói chunggiữa hai thế hệ ngày càng ít đi

Gia đình, dù ở thế hệ nào, cũng đều hướng tới giá trị hạnh phúc của mỗi conngười sống trong đó Dù hiện đại hay truyền thống, thì bố mẹ cũng luôn hy sinh và làmmọi thứ để con cái được hạnh phúc

2 Hôn nhân gia đình và sự biến đổi từ truyền thống đến hiện đại

2.1 Quan niệm về hôn nhân

Trong khoa học pháp lý, khoa học xã hội nói chung và khoa học Luật hôn nhân

và gia đình nói riêng, việc đưa ra một khái niệm đầy đủ về hôn nhân có ý nghĩa quantrọng Nó phản ánh quan điểm chung nhất của Nhà nước về hôn nhân; tạo cơ sở lý luậncho việc xác định bản chất pháp lý của hôn nhân; xác định nội dung, phạm vi điều chỉnhcủa các qui phạm pháp luật hôn nhân và gia đình

Trang 10

Trong thực tiễn ở Việt Nam và nước ngoài, nhiều khái niệm hôn nhân đã đượccác nhà làm luật, các nhà nghiên cứu đưa ra, chẳng hạn:

- Ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, phổ biến một khái niệm cổ điển

mang quan niệm truyền thống về hôn nhân của Cơ đốc giáo đưa ra: Hôn nhân là sự liên kết tự nguyện suốt đời giữa một người đàn ông và một người đàn bà, mà không vì mục đích nào khác” Ngoài khái niệm trên, hiện nay ở Châu âu và Mỹ còn có quan niệm:

“Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng”, hoặc: “Hôn nhân là hành vi hoặc tình trạng chung sống giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng”.

- Ở Việt Nam, cũng có một số khái niệm cụ thể về hôn nhân, mà phần nhiều mới

đưa ra khái niệm “giá thú”: “giá thú (hay hôn thú) là sự phối hợp của một người đàn ông và một người đàn bà theo thể thức luật định” hoặc “giá thú” cũng được hiểu: “sự trai gái lấy nhau trước mặt viên hộ lại và phát sinh ra những nghĩa vụ tương hỗ cho hai bên về phương diện đồng cư, trung thành và tương trợ” Ta có thể hiểu khái niệm “giá thú” bao gồm có hai nghĩa: theo nghĩa thứ nhất gia thú là hành vi phối hợp vợ chồng

(kết hôn) Theo nghĩa thứ hai là tình trạng của hai người đã chính thức lấy nhau làm vợchồng và thời gian hai người ăn ở với nhau Điều 3 Sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964, Điều

99 Bộ dân luật 1972 ngày 20/12/1972 của Chính quyền Sài gòn cũ qui định: “Không ai được phép tái hôn nếu giá thú trước chưa đoạn tiêu”

Trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành (luật năm 2014 có hiệu lực

từ ngày 01/01/2015), khái niệm hôn nhân đã qui định: “hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” Còn theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của trường Đại học Luật Hà Nội hôn nhân được hiểu là: “sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, theo điều kiện và trình tự nhất định, nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hoà thuận”.

Sự liên kết giữa nam và nữ để thành vợ chồng, thành gia đình là một nhu cầu xãhội, tiếp đến mới là nhu cầu sinh học Hay nói cách khác, hôn nhân không phải do trờicho mà nó xuất hiện và hình thành trong quá trình phát triển của loài người và nó cũng

Trang 11

biến đổi theo sự văn minh của con người Và dù ở bất cứ xã hội nào thì hôn nhân cũng

là một mối quan hệ được xã hội thừa nhận giữa hai người khác giới

Do sự biến đổi của hôn nhân gắn liền với sự biến đổi văn minh xã hội nên hônnhân của loài người đã trải qua những hình thức khác nhau Buổi đầu sơ khai là chế độquần hôn, sau đó là hôn nhân mẫu hệ - một người phụ nữ có thể kết hôn với nhiềungười đàn ông Và tiếp đó là hôn nhân phụ hệ, đa thê Một người đàn ông có thể làmchồng của nhiều người phụ nữ Đó là hôn nhân bất bình đẳng, mua bán, cưỡng ép…cuối cùng ngày nay là gia đình bình quyền, tự nguyên, một vợ một chồng

2.2 Các loại hình hôn nhân

2.2.1 Hôn nhân truyền thống: sự kết hợp của nam và nữ (hôn nhân là quan hệ

giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn – theo Luật hôn nhân và gia đình), nó mang một số đặc điểm sau:

Thứ nhất: Hôn nhân là một thiết chế xã hội: “Việc một người đàn ông và một người đàn bà cam kết sống chung với nhau với những quyền và nghĩa vụ đối với nhau cũng như đối với con cái”.

Thứ hai, Tính tự nguyện trong hôn nhân.

Hôn nhân là quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, do đó việc thể hiện ý chí ưngthuận giữa các bên trong hôn nhân là một trong các điều kiện căn bản để hôn nhân cóhiệu lực Hiện nay, pháp luật có quy định không có sự tự nguyện thì không có hôn nhânkhi không

Tuy nhiên, tính tự nguyện trong hôn nhân được xem xét với nhiều quan điểmkhác nhau ở một số nước phương Tây, tự nguyện ở đây thường gắn với tự nguyệntrong hợp đồng Ví dụ: áp dụng chế độ đại diện trong kết hôn, nếu các bên nam, nữ kếthôn ở độ tuổi theo luật định bắt buộc phải có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ(thường ở độ tuổi chưa thành niên), thì việc kết hôn chỉ hợp pháp khi có sự đồng ý củanhững người này (Điều 148, 149 Bộ luật dân sự của Pháp; Điều 2 Chương 2 phần IILuật hôn nhân Thụy điển năm 1987; Luật hôn nhân Australia năm 1961…) Tự nguyệntrong pháp luật phương tây còn đồng nghĩa với tự do thoả thuận, thông qua việc thừa

Trang 12

nhận chế độ tài sản ước định trong quan hệ vợ chồng, khi các bên không thoả thuậnđược pháp luật mới áp dụng chế độ tài sản pháp định.

Ở Việt Nam coi yếu tố tự nguyện trong hôn nhân là một trong các nguyên tắc cơbản của chế độ hôn nhân và gia đình (Luật Hôn nhân và gia đình của Việt Nam) Tuynhiên, họ lại xác định tự nguyện trong hôn nhân là tự nguyện xuất phát từ tình cảm giữanam và nữ, vậy nên họ không thừa nhận chế độ đại diện trong kết hôn, mà việc kết hônphải do chính các bên nam, nữ quyết định Mặt khác, mục đích của hôn nhân là xâydựng gia đình, chứ không vì mục đích tạo lập, thay đổi, chấm dứt nghĩa vụ dân sự, đồngthời để tránh những trường hợp hôn nhân dựa trên sự tính toán kinh tế, không thừa nhậnchế độ tài sản theo thoả thuận giữa vợ và chồng, mà chỉ thừa nhận chế độ tài sản phápđịnh dựa trên nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng

Thứ ba: Tính bền vững (tính chất suốt đời) của hôn nhân.

Tính bền vững của hôn nhân được các nhà làm luật đưa ra xuất phát từ những cănnguyên khác nhau: có thể do yếu tố tôn giáo (Đạo cơ đốc coi hôn nhân là một thiết chếbất biến gắn liền với suốt cuộc đời con người, tính bất biến hôn nhân theo quan niệmtôn giáo có thể hiểu theo hai nghĩa: hôn nhân không thể chấm dứt bằng ly hôn, do đócấm ly hôn (quan điểm này hiện nay rất ít nước áp dụng) và hôn nhân có tính bền vữngnhưng vẫn có thể chấm dứt bằng ly hôn (đây là quan điểm phổ biến hiện nay)

Tính bền vững của hôn nhân cũng có thể xuất phát từ đạo đức truyền thống vàvăn hoá của người phương đông coi trọng tình nghĩa vợ chồng và yếu tố bền vững tronghôn nhân và gia đình

Tính bền vững của hôn nhân cũng được đặt ra xuất phát từ các vấn đề của nềnkinh tế – xã hội tư bản (nền kinh tế thị trường, sự đề cao chế độ tư hữu và tự do cánhân…) đã và đang đẩy hôn nhân trong xã hội tư sản rơi vào tình trạng khủng hoảng

(hôn nhân bền vững được thay thế bằng “hôn nhân thử”, tình trạng ly hôn tràn lan…).

Tình hình đó, đã yêu cầu các nhà làm luật (đặc biệt, ở các nước phương tây) phải quantâm và đề cao hơn nữa tính bền vững của hôn nhân

Ngày đăng: 26/08/2018, 14:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w