Trích từ bài phát biểu chung của Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môitrường, viết tắt là ISEE và Hiệp hội đồng tính Quốc tế ILGA tai phiênhọp thứ 26 của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Qu
Trang 1Phần 1 Những vấn đề chung.
1. Lý do chọn đề tài.
Trích từ bài phát biểu chung của Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môitrường, viết tắt là ISEE và Hiệp hội đồng tính Quốc tế (ILGA) tai phiênhọp thứ 26 của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc thông qua báo cáoUPR của Việt Nam vào ngày 20/6/2014: “Chúng tôi hoan nghênh phản hồicủa Chính phủ Việt Nam về việc chấp thuận khuyến nghị của Chi-Lê yêucầu “ban hành một đạo luật chống lại sự phân biệt đối xử , để đảm bảoquyền bình đẳng của mọi công dân, không phân biệt xu hướng tình dục haybản dạng giới của họ”… Luật hôn nhân và gia đình vừa được thông quavào hôm qua, không có bất cứ sự thừa nhận pháp lý nào về quan hệ cùnggiới , chúng tôi đề nghị Chính phủ Việt Nam bảo vệ quyền của các cặp đôicùng giới bằng các nghị định hướng dẫn thi hành và các luật liên quan, vàcho phép công dân Việt Nam được cấp giấy chứng nhận độc thân khi họmuốn kết hôn cùng giới với người mước ngoài tại nước ngoài”
Dưới góc độ tâm lý học, nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quanvào tong ý thức của con người, nhận thức bao gồm nhận thức cảm tính vànhận thức lý tính, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau Cơ sở, mụcđích và tiêu chuẩn của nhận thức là thực tiễn xã hội Quyền bình đẳngtrước pháp luật là một quyền con người, quyền công dân Đó là quyền đượcxác lập tư cách công dân trước pháp luật, không bị pháp luật phân biệt đối
xử và quyền có vị thế ngang nhau trước pháp luật, được pháp luật bảo vệnhư nhau Nhận thức về quyền bình đẳng của hôn nhân đồng giới ở họcsinh trung học phổ thông là sự hiểu biết, sự phản ánh nhiều mặt của vấn đềnày vào trong ý thức của họ
Trên thực tế, hiểu biết của xã hội Việt Nam bao gồm học sinh trung họcphổ thông về đồng tính và hôn nhân đồng tính còn rất hạn chế Gần 80% sốngười đang hiểu sai ít hoặc nhiều về người đồng tính và kỳ thị họ Điều nàycũng chính xác đối với học sinh trường THPT Trần Cao Vân Đa số nhữngngười được hỏi đều cho ý kiến sẽ ủng hộ quyền của người đồng tính, đặcbiệt là quyền được chung sống và nhận con nuôi Tuy nhiên, lại hiếm có aiđồng ý để người đồng tính kết hôn vì họ cho rằng người đồng tính kết hôn
là chỉ để giải quyết nhu cầu về thể xác, tình cảm sẽ không lâu bền
Trang 2Nghiên cứu về nhận thức của học sinh trung học phổ thông trường TrầnCao Vân về vấn đề quyền bình đẳng hôn nhân của người đồng tính sẽ giúptìm ra được phần nào lý do cản trở việc chấp nhận cho người đồng tính kếthôn của học sinh trung học phổ thông đồng thời giải quyết, hướng các em
có cái nhìn thoáng hơn về vấn đề này
Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng gặp phải rất nhiều thách thức, Sự cản trở vềmặt tâm lý, cơ chế tự vệ của con người khi được hỏi về những vấn đề nhạycảm, rào cản của pháp luật về việc thừa nhận hôn nhan đồng tính gây sức
ép, phần lớn các em vẫn còn đang trong tuổi vị thành niên, các tài liệu liênquan đến vấn đề nghiên cứu còn rất ít,…
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài nghiên cứu “Nhận thức về quyền bìnhđẳng hôn nhân đồng tính của học sinh trung học phổ thông Trần Cao Vân”được xác lập
2. Mục đích nghiên cứu.
Đề tài khảo sát thực trạng nhận thức quyền bình đẳng hôn nhân đồng tínhcủa học sinh trung học phổ thông Trần Cao Vân Trên cơ sở đó, đề xuất vàthử nghiệm một số biện pháp nhằm hướng các em có cái nhìn thoáng hơn
về vấn đề này
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Khái quát hóa những vấn đề lý luận có liên quan đến vấn đề nhận thứcquyền bình đẳng hôn nhân đống tính của học sinh trung học phổ thôngTrần cao Vân: Nhận thức, hôn nhân, đồng tính, hôn nhân đồng tính, quyềnbình đẳng, quyền bình đẳng hôn nhân đồng tính, nhận thức quyền bìnhđẳng hôn nhân dồng tính, đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi trung học phổthông, nhận thức quyền bình đẳng hôn nhân của học sinh trung học phổthông
Xác định thực trạng nhận thức quyền bình đẳng hôn nhân đồng tính củahọc sinh trung học phổ thông Trần Cao Vân
Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp nhằm tìm hiểu các yếu tố tác độngđến thực trạng nhận thức về quyền bình đẳng trong hôn nhân đồng tính củacác em đồng thời hướng các em có cái nhìn thoáng hơn về vấn đề này
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu.
Trang 3Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức về quyền bình đẳng hôn nhân đồng tínhcủa học sinh trung học phổ thông Trần Cao Vân.
Khách thể nghiên cứu: học sinh trung học phổ thông Trần Cao Vân thànhphố Quy Nhơn
Khi tiến hành nghiên cứu, tôi đã chọn mẫu và tiến hành khảo sát ngẫunhiên trên 120 học sinh trường trung học phổ thông Trần Cao Vân, thànhphố Quy Nhơn
5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu.
Vì một số lý do và điều kiện hạn chế nên tôi xin phép được giới hạn phạm
vi để thu hẹp vấn đề nghiên cứu:
Giới hạn về khách thể nghiên cứu: Để thuận lợi cho người nghiêncứu, khách thể được thu hẹp là học sinh trung học phổ thông Trần CaoVân, hai khối 10 và khối 12
Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Nhận thức về quyền bình đẳng hônnhân đồng tính của học sinh trung học phổ thông Trần Cao Vân được thểhiện qua nhiều mặt như nhận thức thể hiện qua hành vi, nhận thức thể hiệnqua thái độ, qua lời nói, đồng thời còn có thể nghiên cứu đến nguyên nhândẫn đến sự nhận thức vấn đề như vậy,… Vì điều kiện có hạn nên tôi xinphép chỉ nghiên cứu về nhận thức quyền bình đẳng hôn nhân đồng tính củahọc sinh trung học phổ thông Trần Cao Vân thê hiện qua cử chỉ hành vi, lờinói và thái độ
Thời gian nghiên cứu: từ ngày 23 tháng 10 năm 2016 đến ngày 13 tháng 12năm 2016
Địa bàn nghiên cứu: Trường trung học phô thông Trần Cao Vân thành phốQuy Nhơn
6. Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài sử dụng chủ yếu những phương pháp sau:
a. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
b. Phương pháp quan sát
c. Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn
7. Giả thuyết nghiên cứu.
Trang 4Nhận thức về quyền bình đẳng hôn nhân đồng tính của học sinh trung họcphổ thông Trần Cao Vân vẫn còn nhiều hạn chế
Có sự không đồng đều giữa 3 khối 10, 11, 12, giữa nam và nữ, học lực,hạnh kiểm,…
Trang 5Phần 2: Nội dung nghiên cứu.
Chương 1: Lý luận về nhận thức quyền bình đẳng hôn nhân đồng tính của học sinh trung học phổ thông Trần Cao Vân
thành phố Quy Nhơn.
1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1 Những nghiên cứu nước ngoài về đồng tính:
Nhóm tác giả A.Cloete, L.C.Simbayi, S.C.Kalichman (2008), đã tiến hànhnghiên cứu đề tài: “Kỳ thị và phân biệt đối xử với những người đồng tínhnam bị nhiễm HIV” Nghiên cứu được thực hiện tại thị trấn Cape của ChâuPhi Trong nghiên cứu này, các tác giả chỉ tập trung nghiên cứu đến nhữngngười đồng tính nam và chú ý đến hành vi tình dục của đồng tính nam cóAIDS Đề tài đã khảo sát 92 đồng tính nam có HIV và 330 người bìnhthường có HIV Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, những đồng tính nam bịnhiễm HIV cảm thấy cô đơn, bị phân biệt đối xử Họ bị mất việc làm, nơi
ở Tuy chỉ ra được những tác động và hệ quả của quan hệ tình dục không
an toàn nhưng đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu về đồng tính nam vàchưa phân tích sâu về vấn đề kỳ thị và phân biệt đối xử với người đồngtính
Các tài liệu nghiên cứu trên thế giới cho thấy tình yêu giũa hai người cùnggiới đã xuất hiện từ rất lâu
Trong văn hóa Hy Lạp, Achilles là một trong những chiến binh anh dũng
và vĩ đại nhất Nhờ có sự góp sức của chàng, công cuộc chinh phục thànhTroy (khoảng năm 1184 TCN) dài đằng đẵng 10 năm trời của quân Hy Lạpmới giành được thắng lợi Vì chiến thắng ấy, Achilles đã mất đi cả mạngsống của bản thân, cũng như mất đi người tình đồng tính của mình -Patroclus Nói về hai nhân vật này, nhiều người cho rằng, mối quan hệ giữa
họ vẫn còn là một bí ẩn không rõ ràng Bản thân Patroclus và Achilles vốn
là 2 người bạn thân trong quân ngũ - Achilles đối xử với Patroclus kháchẳn với người khác Ông chiến đấu vì bạn, chăm sóc tận tình mỗi khi bạn
bị thương Chính những biểu hiện ấy làm dấy lên nghi ngờ về tình yêuđồng tính có tồn tại giữa hai chiến binh?
Trang 6Alexander Đại đế (356 TCN - 323 TCN) là một trong các vị tướng vĩ đạinhất trong lịch sử thế giới Nhưng không chỉ nổi danh là đánh đâu thắng
đó, hoàng đế Macedonia còn được biết tới với mối tình đồng tính cùngngười bạn thân Hephaestion Trong xã hội thời ấy, tình cảm đồng giới, nhất
là nam - nam hoàn toàn được cho phép, đó cũng là lý do vì sao mối quan hệgiữa Alexander Đại đế và Hephaestion là chuyện rất bình thường Haingười là bạn thân từ thuở thiếu thời, cùng học dưới sự dạy dỗ của Aristotle.Lịch sử chép lại, Alexander dành thời gian ở bên Hephaestion nhiều hơnbất cứ ai, kể cả vợ mình Từ bé cho tới lớn, hai người luôn dính chặt vớinhau, cùng bàn luận chuyện chính trị, quân sự, tương lai…
Bà Hoàng hậu nổi tiếng với mối tình đồng tính nữ đầu tiên trong hậu cungTrung Quốc không ai khác chính là Trần Hoàng hậu, vợ của vị vua nổitiếng triều Hán, Hán Vũ Đế Người đời sau thường gọi Trần Hoàng hậu làTrần A Kiều hoặc Trần Kiều Theo sử sách kể lại, vị hoàng hậu này ghen tịvới phi tử được sủng ái của phu quân mình nên đã thông đồng vwois một
nữ phù thủy tên gọi Sở Phục Vốn bị chồng ghẻ lạnh, chỉ có Sở Phục kềcận, lâu dần giauwx hai người nảy sinh tình cảm, mối tình vụng trộm bắtđầu từ đó cho đến ngày hoàng đề biết dược và cho người xử tử Sở Phục
Không những lịch sử nhắc đến, ngay cả tôn giáo cũng có nghiên cứu đếnvấn đề tình yêu giữa những người đồng giới, cụ thể là giáo phái Shingon,Nhật Bản Giáo phái Shingon của Phật giáo Nhật Bản, do Kuukai (774 –835) sáng lập, đã xây dựng nên một dạng Tantra riêng của mình gọi làTachikawa Ryu Giáo phái này dạy rằng sự quên đi bản thân trong khi làmtình có thể dẫn đến giác ngộ Quá trình phát triển này nói lên một khácnhau cơ bản giữa quan niệm về tình dục của Phật giáo và của Thiên chúagiáo LaFleur nhận xét: “Ở châu Âu có lẽ không có một điều gì tương tựnhư việc Phật giáo Nhật Bản sử dụng tình dục như một hình tượng tôngiáo, thậm chí coi chính nó như một hành vi tôn giáo” Điều nổi bật là cómột số xu hướng trong Phật giáo Nhật Bản coi tình dục như một chuyệntính cực, tách khỏi nhiệm vụ sinh sản của nó Việc tách tình dục ra khỏinhiệm vụ duy trì nòi giống đã cho phép tình dục trở thành một biểu tượngtôn giáo và được nâng lên khỏi phạm trù gia đình
Ở Nhật Bản, ảnh hưởng của những hình tượng tình dục Tantric mô tả sựgiao hợp giữa nam và nữ thực ra là không đáng kể Quan trọng hơn là ảnhhưởng của những hình tượng cảm dục đồng giới và thậm chí tình dục đồnggiới trong những tổ chức Phật giáo nam, nơi mà những chú tiểu đẹp được
Trang 7coi như hiện thân của nguyên tắc nữ giới Việc Đạo Phật cho phép thậm chí
tu sĩ cũng có những sinh hoạt tình dục đồng tính được thể hiện rõ quahuyền thoại nổi tiếng về người sáng lập trường phái Shingon, KoobooDaishi (Kuukai), người đã nhập môn tình dục đồng giới vào Nhật sau khi
đi tu học ở Trung Quốc về vào đầu thế kỷ thứ chín Huyền thoại này nổitiếng tới mức thậm chí Gaspar Vilela, một nhà du hành Bồ Đào Nha cũngnghe đến Ghi chép vào năm 1571, ông phàn nàn về thói nghiện “kê gian”(sodomy) của những tu sĩ tại núi Hiei Những ghi chép của những ngườitruyền đạo Jesuit chứa đầy những ca thán về sự hiện diện khắp nơi của ham
mê tình dục đồng tính trong chùa chiền Nhật Bản Điều làm những nhàtruyền đạo bực dọc là xem ra những thói quen này được chấp nhận rất rộngrãi Cha cố Francis Cabral ghi lại trong một bức thư viết năm 1596 rằng
“sự ghê tởm của da thịt” và những “thói quen ma quỷ” được “coi là danhgiá tại Nhật Bản
Trước năm 1994 trên thế giới người ta vẫn quan niệm rằng, đồng tính làmột căn bệnh thuộc nhóm bệnh lệch lạc giới tính và có liên quan đến cácbiểu hiện suy đồi đạo đức Thậm chí một số quốc gia còn liệt đồng tính làmột bệnh thuộc bệnh tâm thần và cần theo dõi sát sao Từ sau năm 1994,các nhà khoa học đã nhận ra sai lầm của mình nên từ đó đồng tính luyến áikhông bị coi là một căn bệnh nữa Họ cho rằng đây là một hiện tượng, mộtthiên hướng tình dục bình thường
Năm 1993, nhà nghiên cứu Hammer (Mỹ) đã tìm ra một đoạn nằm trênnhiễm sắc thể X có liên quan đến xu hướng tình dục đồng giới Ông vàcộng sự đưa ra giả thuyết: xu hướng tình dục đồng giới được di truyền từngười mẹ
1.2 Những nghiên cứu trong nước về đồng tính:
Do chịu ảnh hưởng của các tư tưởng phong kiến và sức ép cua pháp luậtnên các nghiên cứu về người đồng tính của nước ta vẫn còn khá hạn chế
Tháng 2 năm 2016, cuốn sách “Có phải bởi vì tôi là LGBT?” của hai tácgiả Lương Thế Huy và Phạm Quỳnh Hương dưới sự giúp đỡ của Việnnghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường, được tài trợ bởi của Chươngtrình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam và Cơ quan Pháttriển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) đã được nhà xuất bản Hồng Đức phát hành.Cuốn sách này là báo cáo này trình bày những phát hiện từ khảo sát toàndiện đầu tiên về trải nghiệm phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục và
Trang 8bản dạng giới tại Việt Nam Đây là kết quả tham gia của 2363 người trả lờihoàn thiện bảng hỏi trực tuyến đang sinh sống ở 63 tỉnh thành của ViệtNam, 10 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân, hai cuộc thảo luận nhóm với tổngcộng tám người tại thành phố Hồ Chí Minh (“TP.HCM”) và Hà Nội vềnhững trải nghiệm phân biệt đối xử, quấy rối và bạo lực bởi vì xu hướngtính dục và bản dạng giới của họ
Năm 2014, ISEE cho ra mắt cuốn sách trực tuyến họ mang tên “Diễn giới và tính dục trong cuộc sống muôn màu” có nhắc về sự đa dạng giớitính và quyền bình đẳng của những người đồng giới
ngôn-Cũng trong năm 2014, Lương Thế Huy cho ra mắt “Quyền của tôi” nói vềquyền của những người thuộc cộng đồng LGBT trong đó có đề cập đếnquyền hôn nhân đồng thời đề cập các kiến thức cơ bản về giới tính, khẳngđịnh quyền của người đồng tính nói riêng và của cộng đồng người LGBTnói chung đều là quyền con người, không thể vi phạm, không thể bác bỏ
Tháng 9 năm 2013, ISEE tổ chức một cuộc khảo sát trưng cầu ý kiến ngườidân về hôn nhân đồng giới trên địa bàn 68 xã/phường thuộc 8 tỉnh thànhphố với sự tham gia của PGS TS Đặng Nguyên Anh, TS Nguyễn ĐứcVinh, TS Nguyễn Thị Thu Nam, ThS Lê Quang Bình, TS Bùi Thị Thanh
Hà, ThS Nghiêm Thị Thủy, ThS Trần Thị Ngọc Bích, TS Vũ HồngPhong, ThS Phạm Thanh Trà Kết quả khảo sát cho thấy người dân kháquan tâm đến vấn đề hôn nhân đồng tinh mặc dù nhiều người không biếtviệc Nhà nước đang xem xét sửa Luật Hôn nhân và Gia đình trong đó cóvấn đề hôn nhân đồng tính Từ cuộc khảo sát này, nhóm nghiên cứu đưa ramột số kết luận chính như sau: Thứ nhất, cộng đồng người đồng tính tồn tạitrên thực tế và khá gắn bó với cộng đồng xã hội khi có tới 30,4% ngườiđược hỏi có quen biết người đồng tính Bên cạnh đó, 27,4% người dân biết
về hiện tượng “hai người cùng giới sống chung như vợ chồng” trực tiếp từchính người đồng tính, chứng tỏ đây là một hiện tượng xã hội cần đượcquan tâm và giải quyết về mặt pháp lý Thứ hai, ngày càng có nhiều ngườidân biết về đồng tính, hiện tượng hai người cùng giới sống chung như vợchồng, và đặc biệt là có một lượng khá lớn người dân đã biết ai đó là ngườiđồng tính (họ hàng, bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm…) Đặc biệt, tỉ lệngười dân biết về hiện tượng này trong những năm gần đây tăng lên đáng
kể nhờ truyền thông, thảo luận xã hội cũng như sự công khai sống thật củangười đồng tính
Trang 92. Cơ sở lý luận nhận thức về hôn nhân đồng tính của học sinh trung học phổthông.
Theo quan điểm của các nhà duy tâm khách quan: tri thức có bản chất siêu
tự nhiên, con người có được nhờ sự hồi tưởng, sự hòa nhập, sự đốn ngộ, sựmặc khải, niềm tin v.v
Ở triết học Hy Lạp cổ đại, nhà triết học Heraclitus cho rằng, cảm giác làđiểm xuất phát của nhận thức “mắt và tai là người thầy tốt nhất, nhưng mắt
là nhân chứng chính xác hơn tai” {5;77} Tuy vậy, theo ông nhận thức cảmtính chỉ cho ta biết cái bề ngoài vì, “giới tự nhiên thích giấu mình”; do đó
tư duy phải tiến lên nhận thức được cái Logos của vũ trụ Democritus đạibiểu xuất sắc của trường phái nguyên tử luận cũng thừa nhận, nhận thức bắtnguồn từ cảm tính, nhưng nhận thức cảm tính là “sự nhận thức mờ tối”{5;176}, chỉ có nhận thức lý tính mới cho ta biết được nguyên tử và bảnchất đích thực của sự vật Đối với Tuân Tử, nhà triết học của Trung Hoa cổđại, ông coi cảm giác là nguồn gốc của tri thức, nhưng có thể sai lầm, do đócon người phải dựa vào một “khí quan đặc biệt” là “tâm” (khái niệm “tâm”được các nhà triết học hiểu là tư duy) Chỉ có qua sự suy lý của cái “tâm”sáng suốt mới đạt được tri thức đúng đắn “nhưng sự hiểu biết lý tính “trưngtri” phải đợi có cảm giác ghi nhớ lấy (“đương bạ”) các loại đã rồi sau mớibiết được thiên (“chính danh”)”, {5;62} Với Phật giáo Ấn Độ cổ đại lạiphủ nhận vai trò của nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính; cho rằng, cảhai loại nhận thức này chỉ cho ta những mê kiến Để nhận thức được chân
lý, người tu hành phải dứt bỏ mọi ham muốn, dục vọng đời thường, để chotâm hồn thật sự thanh tịnh, yên tĩnh, đạt đến cõi Niết bàn (Nirvana trongtiếng Phạn có nghĩa đen là sự dập tắt) là một trạng thái bên trong của tưduy khi ngọn lửa tham, sân, si đã hoàn toàn bị dập tắt Khi đó con ngườimới thật sự thoát ra khỏi trạng thái “vô minh” 1 (sự ngu dốt, sự che lấp bởi
Trang 10những mê kiến) và đạt đến sự bừng sáng của tư duy (sự giác ngộ), tức là sựnhận thức trực tiếp bản chất của sự vật (sự đốn ngộ).
Dưới góc độ Tâm lý học, nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quantrong ý thức con người, nhận thức bao gồm nhận thức cảm tính và nhậnthức lý tính, chúng có mối quan hệ biện chúng với nhau và cơ sở, mụcđích, tiêu chuẩn của nhận thức là thực tiễn xã hội
2.1.2 Các mức độ nhận thức:
Giai đoạn 1: Nhận thức cảm tính
Giai đoạn nhận thức cảm tính là giai đoạn nhận thức đầu tiên, là mức độnhận thức thấp nhất của con người Nhận thức cảm tính mới chỉ phản ánhđược những thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trựctiếp tác động đến chúng ta Trong nhận thức cảm tính có hai mức độ: cảmgiác và tri giác
Cảm giác là một quá trình tâm lý phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ, bềngoài củ sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan hoặc trạng thái bêntrong của cơ thể khi chúng đang trực tiếp tác động vào các cơ quan cảmgiác tương ứng của con người
Cảm giác bên ngoài là những cảm giác do nguồn kích thích từ bên ngoài cơthể gây ra.Để tiếp nhận nguồn kích thích từ bên ngoài cơ thể, con ngườiphải nhờ vào hoạt động của các cơ quan cảm giác Con người có năm cơquan cảm giác và ứng với chúng là năm loại cảm giác bên ngoài
Các cảm giác bên ngoài bao gồm: thị giác cho ta biết những thuộc tính về hình dạng, màu sắc kích thước, vị trí, độ sáng của đối tượng; thính giáclà
loại cảm giác cho ta biết những thuộc tính về âm thanh, âm sắc của đối
tượng; khứu giác cho ta biết những thuộc tính về mùi của đối tượng; vị giác cho ta biết những thuộc tính về vị của đối tượng (ngọt, chua, mặn, đắng ); xúc giáclà loại cảm giác cho ta biết những thuộc tính về
nhiệt độ (nóng, lạnh), độ rắn (cứng, mềm),
Cảm giác bên trong là những cảm giác do nguồn kích thích từ bên trong cơthể gây ra:cảm giác thăng bằng, cảm giác vận động
Trên đây là hai nhóm cảm giác bao gồm một số loại cảm giác thông thường
ở con người Các cảm giác này không phải độc lập với nhau mà luôn tác
Trang 11động, ảnh hưởng lẫn nhau tạo ra sự phong phú, đa dạng về sự cảm nhậncủa con người.
Cảm giác của con người diễn ra theo những quy luật riêng Hiểu và vậndụng được những quy luật này trong hoạt động thực tiễn của cuộc sống là
điều cần thiết với mỗi chúng ta Các quy luật của cảm giác gồm: quy luật
về ngưỡng cảm giác, quy luật về sự thích ứng của cảm giác, quy luật về sự tác động qua lại giữa các cảm giác, quy luật “bù trừ”, quy luật “sức ỳ” và
“quán tính”
Tri giác là một quá trình tâm nhận thức phản ánh một cách trọn vẹn cácthuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan khichúng đang trực tiếp tác động vào các cơ quan cảm giác tương ứng của
chúng ta Dựa theo cơ quan phân tích có vai trò chủ yếu nhất khi tri giác,
người ta chia thành các loại tri giác: tri giác nhìn, tri giác nghe, tri giácngửi…
Tri giác bao gồm các quy luật cơ bản: quy luật về tính đối tượng của trigiác; quy luật về tính lựa chọn của tri giác, tổng giác, ảo ảnh tri giác, Giai đoạn 2: Nhận thức lý tính
Nhận thức lý tính là mức độ nhận thức cao hơn, bao gồm tư duy và tưởngtượng, trong đó con người phản ánh được các thuộc tính bản chất bêntrong, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của các sự vật và hiệntượng trong hiện thực khách quan
Tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bên trongthuộc về bản chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của các sựvật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết
Tư duy là một mức độ nhận thức mới về chất so với nhận thức cảm tính
Nó không phản ánh những cái bên ngoài mà phản ánh những thuộc tínhbên trong, thuộc tính bản chất, những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luậtcủa các sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan Quá trình này mangtính gián tiếp và khái quát, nảy sinh trên cơ sở hoạt động thực tiễn, từ nhậnthức cảm tính nhưng vượt xa giới hạn của nhận thức cảm tính Như vậy tưduy là quá trình tìm kiếm và phát hiện cái mới về chất Nhờ đó chúng tamới có khả năng giải quyết những nhiệm vụ phức tạp hơn
Trang 12Tư duy chỉ nảy sinh khi gặp những hoàn cảnh, những tình huống mà bằngvốn hiểu biết cũ, những phương pháp hành động cũ đã có, con người không
đủ để giải quyết, để nhận thức, con người phải vượt ra khỏi những phạm vihiểu biết cũ để đi tìm cái mới Những tình huống như vậy được gọi là “tìnhhuống có vấn đề” (hay “hoàn cảnh có vấn đề”) Vấn đề có thể tồn tại dướidạng các câu hỏi, một bài tập, một nhiệm vụ được đặt ra trong hoạt động…
Trong hoạt động tư duy, con người cần phải thực hiện các thao tác: phântích và tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa và khái quát hóa, cụ thể hóa 2.1.3 Vai trò của nhận thức
Con người hơn con vật là trước khi làm việc đã có nhận thức, đã xácđịnhđược mục đích hoạt động
Như vậy, Nhận thức có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống và hoạtđộn
g của con người, Nhận thức là thành phần không thể thiếu trong sự pháttriểncủa con người Nhận thức là cơ sở để con người nhận biết thế giới vàhiểu biết thế giới đó,từ đó con người có thể tác động vào thế giới đó mộtcách phù hợp nhất, để đem lại hiệu quả cao nhất cho con người
Xem xét quá trình phát triển một cá thể của con người, thì một đứa trẻkhiđược sinh ra, nếu nó không nhận biết được thế giới khách quan, thì đứatrẻ đó sẽkhông có hiểu biết và không có nhận thức Nhận biết đi từ đơngiản, nhận biết đi từ từng thuộc tính đơn lẻ bề ngoài của sự vật hiện tượngđến những cái phức tạp, những thuộc tính bản chất bên trong
2.2 Hôn nhân:
2.2.1 Khái niệm hôn nhân
Hôn nhân là một cách chung nhất có thể được xác định như một sự xếp đặtcủa mỗi một xã hội để điều chỉnh mối quan hệ sinh lý giữa hia cá nhân Nó
là một hình thức xã hội luôn luôn thay đổi trong suốt quá trình phát triểncủa mối quan hệ giữa họ, nhờ đó xã hội xếp đặt và cho phép họ sống chungvới nhau, quy định quyền lợi và nghĩa vụ của họ
Hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, xã hội, vàhoặc tôn giáo một cách hợp pháp Hôn nhân có thể là kết quả của tình yêu
Trang 13Hôn nhân là một mối quan hệ cơ bản trong gia đình ở hầu hết xã hội Vềmặt xã hội, lễ cưới thường là sự kiện đánh dấu sự chính thức của hôn nhân.
Về mặt luật pháp, đó là việc đăng ký kết hôn
2.2.2 Các kiểu hôn nhân:
Một vợ một chồng:
Một vợ một chồng là một hình thức hôn nhân mà trong đó mỗi cá nhân chỉ
có một người hôn phối trong suốt cuộc đời của họ hoặc bất kỳ thời điểmnào đang xét đến
Nhiều vợ nhiều chồng:
Nhiều vợ nhiều chồng là một hình thức hôn nhân mà một cuộc hôn nhân cóhơn 2 hôn phối Khi người đàn ông cùng một lúc có hơn một vợ, thì mốiquan hệ này được gọi là đa thê, và khi không có ràng buộc hôn nhân giữacác người vợ; và khi một người phụ nữ cùng một lúc có hơn một chồng, thìđược gọi là đa phu, và không có ràng buộc hôn nhân giữa các người chồng.Nếu cuộc hôn nhân bao gồm nhiều vợ và chồng thì được gọi là hôn nhânnhóm
2.3 Đồng tính:
2.3.1 Khái niệm đồng tính
Người đồng tính là người có tình cảm và chỉ nảy sinh ham muốn tình dụcvới người cùng giới, người đồng tính khác với người chuyển giới, họ hàilòng với vẻ ngoài của bản thân và không có ý muốn nhờ sự can thiệp của ykhoa về mặt giới tính
2.3.2 Các kiểu người đồng tính
Người đồng tính được chia ra làm hai loại:
Người đồng tính nam (gaysexual): người đồng tính nam dựa theo vaitrò của họ trong các mối quan hệ tình dục với bạn tình mà được chia thànhngười đồng tính nam trong vai nam (hay còn gọi là Top) và người đồngtính nam trong vai nữ (hay còn gọi là Bot)
Người đồng tính nữ (lesbian): người đồng tính nữ cũng như ngườiđồng tính nam, dựa theo vai trò tong mối quan hệ tình dục với bạn tình mà
Trang 14được chia thành người đồng tính nữ trong vai nam và người đồng tính nữtrong vai nữ.
2.4 Hôn nhân đồng tính
Hôn nhân đồng giới là hôn nhân giữa hai người có cùng giới tính sinh học.Hôn nhân đồng giới có khi còn được gọi là "hôn nhân bình đẳng" hay "bìnhđẳng hôn nhân", thuật ngữ này sử dụng phổ biết nhất từ những người ủng
hộ Việc hợp pháp hoá hôn nhân đồng giới còn được mô tả bằng thuật ngữ
"định nghĩa lại hôn nhân" từ các trường phái có quan điểm đối lập
2.5 Quyền bình đẳng
Quyền bình đẳng trước pháp luật là một quyền con người, quyền công dân,
Đó là quyền được xác lập tư cách công dân trước pháp luật, không bị phápluật phân biệt đối xử và quyền có vị thế ngang nhau trước pháp luật vàđược pháp luật bảo vệ như nhau
2.6 Quyền bình đẳng cho hôn nhân đồng tính:
Hôn nhân đồng giới là vấn đề còn tồn tại tranh cãi gay gất giữa nhữngngười ủng hộ và không ủng hộ Những người ủng hộ hôn nhân đồng giớicho rằng việc hợp pháp hoá hôn nhân đồng giới là để đảm bảo nhânquyền (quyền con người), đảm bảo sự bình đẳng và quyền lợi giữa nhữngngười thuộc các thiên hướng tình dục khác nhau trong xã hội; các cặp đôiđồng tính thiết lập mối quan hệ bền vững tương đương các cặp đôi khácgiới trên tất cả các góc độ tâm lý; sự phân công vai trò giữa các thành viên
ở những gia đình đồng tính công bằng hơn; thể chất và tâm lý của conngười được tăng cường tốt bởi hôn nhân hợp pháp đồng thời xã hội sẽ đượchưởng nhiều lợi ích từ việc công nhận hôn nhân đồng giới, loại bỏ được kỳthị và phân biệt đối xử Mặt khác, sự đồng thuận cao của các hiệp hộinghiên cứu khoa học hàng đầu về tâm lý, xã hội, nhân chủng, nhi khoa họcrằng trẻ em được nuôi dưỡng và phát triển tốt bởi các cặp cha mẹ đồngtính, sự phát triển tâm sinh lý, giới tính và hạnh phúc của trẻ em không phụthuộc vào xu hướng tình dục của cha mẹ; con cái của các cặp vợ chồngđồng tính được hưởng lợi khi được nuôi dưỡng bởi cha mẹ có tình trạnghôn nhân hợp pháp và nhận được sự hỗ trợ của các tổ chức, đoàn thể xãhội Theo các hiệp hội này, hôn nhân đồng tính không gây ra bất kỳ nguy
cơ nào mà chỉ tốt hơn cho xã hội, do đó các Chính phủ cần ban hành đầy
đủ các quyền dân sự bình đẳng cho người đồng tính trong Luật pháp Thế
kỷ 21 được xem là thế kỷ của bình đẳng hôn nhân, sau khi đã có quyềnbình đẳng của người da màu, quyền bình đẳng của phụ nữ và quyền bình