1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

bài nhóm hôn nhân gia đình

11 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 37,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chị Lê N Sương và anh Kha Tấn Tài quen biết nhau từ năm 1997, đến năm 2002 thì chung sống với nhau như vợ chồng, và có một con chung là cháu Kha Lê Trọng Tín, sinh ngày 2312003 do chị Sương nuôi dưỡng. Anh Kha Tấn Tài đã có vợ là chị Tống Thị Bé và 2 con với chị Bé. Chị Lê Thị Sương trước đó đã có chồng và 2 con, chồng chị Sương đã chết, 2 con hiện do gia đình bên chồng nuôi dưỡng, chăm sóc (do chị Sương không có nhà phải đi thuê không ổn định) . Sau khi chị Sương sinh cháu Tín, do chị Bé vợ anh Tài phát hiện, nảy sinh mâu thuẫn nên hai người không chung sống với nhau nữa, nhưng anh Tài vẫn đi lại thăm nuôi cháu Tín. Ngày 1732006 anh Tài đưa cháu Tín đi khám bệnh rồi đưa đi nuôi dưỡng ở nơi khác, không đưa cháu Tín về cho chị Sương. Ngày 1042006 chị Lê N Sương có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thị xã Sa đéc, yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Kha Lê Trọng Tín và yêu cầu Tòa án buộc anh Kha Tấn Tài phả giao cháu Tín cho chị nuôi dưỡng. Anh Kha Tấn Tài không đồng ý với yêu cầu của chị Sương với lý do cháu Tín là con chung của anh và chị Sương, do chị Sương hiện tại không có nhà ở, phải đi thuê nhà ở nên không có điều kiện chăm sóc con. Mặt khác do anh là con trai trưởng, có vợ nhưng chỉ snh con gái, theo phong tục người Hoa nên anh cần có con trai, chính vì vậy nên chị Sương gây nhiều áp lực với anh, mặc dù anh đã cung cấp chu đáo để chị Sương nuôi cháu Tín, chị Sương đe dọa trả thù anh và trút giận lên cháu Tín. Hiện tại chị Sương không có điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Tín nên anh đề nghị được nuôi cháu Tín. Đồng thời, hai người con riêng của chị Sương cũng có những mong muốn được về chung sống với chị. Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 192006HNĐGST ngày 31082016, Tòa án nhân dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp đã áp dụng khoản 1, khoản 2 điều 92; điều 94 luật hôn nhân và gia đình, quyết định: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê N Sương về việc nuôi con; bác yêu cầu của anh Kha Tấn Tài về việc yêu cầu nuôi con; chị Lê N Sương nuôi con Lê Kha Trọng Tín sinh ngày 23012003 cho đến khi trưởng thành; chị Sương không yêu cầu anh tài cấp dưỡng; anh Tài cấp dưỡng; anh Tài được quyền chăm nom, chăm sóc con, không ai được ngăn cản; anh Tài có trách nhiệm giao cháu Tín cho chị Sương nuôi dưỡng; tạm giao cháu Tín cho anh Tài quản lý đến khi bản án có hiệu lực. Ngoài ra Tòa án sơ thấm còn ra quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự có theo quy định của pháp luật. Ngày 11092006 anh Kha Tấn Tài có đăn kháng cáo bản án sơ thẩm. Tại bản án hôn nhân và gia đình phúc thẩm số 042007HNGĐPT ngày 22012007, tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp không chấp nhận kháng cáo của anh Kha Tấn Tài, giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm như sau: Giao cho chị Lê N Sương được nuôi con là Kha Lê Trọng Tín, sinh ngày 23012003 cho đến khi trưởng thành. Chị Sương không yêu cầu anh Tài cấp dưỡng nuôi con. Anh Kha Tấn Tài được quyền thăm nom, chăm sóc, không ai được ngăn cản. Anh Kha Tấn Tài có trách nhiệm giao cháu Kha Lê Trọng Tín, sinh ngày 23012003 cho chị Sương nuôi dưỡng.

Trang 1

Mục lục

Tình huống 2

Lời mở đầu 4

I Cơ sở lý luận 4

1 Khái niệm hôn nhân 4

2 Khái quát chung về nam nữ chung sống như vợ chồng 4

3 Cấp dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha,mẹ con 7

4 Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ với con sau khi ly hôn 8

II Giải quyết tình huống 9

1 Nhận xét bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm 9

2 Quan điểm giải quyết theo luật hôn nhân gia đình năm 2014 10

3 Một số kiến nghị, giải pháp 11

Kết luận 11

Tài liệu tham khảo 13

Tình huống

Chị Lê N Sương và anh Kha Tấn Tài quen biết nhau từ năm 1997, đến năm

2002 thì chung sống với nhau như vợ chồng, và có một con chung là cháu Kha

Lê Trọng Tín, sinh ngày 23/1/2003 do chị Sương nuôi dưỡng Anh Kha Tấn Tài

đã có vợ là chị Tống Thị Bé và 2 con với chị Bé Chị Lê Thị Sương trước đó đã

có chồng và 2 con, chồng chị Sương đã chết, 2 con hiện do gia đình bên chồng nuôi dưỡng, chăm sóc (do chị Sương không có nhà phải đi thuê không ổn định) Sau khi chị Sương sinh cháu Tín, do chị Bé vợ anh Tài phát hiện, nảy sinh mâu thuẫn nên hai người không chung sống với nhau nữa, nhưng anh Tài vẫn đi lại thăm nuôi cháu Tín Ngày 17/3/2006 anh Tài đưa cháu Tín đi khám bệnh rồi đưa

đi nuôi dưỡng ở nơi khác, không đưa cháu Tín về cho chị Sương

Ngày 10/4/2006 chị Lê N Sương có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thị

xã Sa đéc, yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Kha Lê Trọng Tín và yêu cầu Tòa án buộc anh Kha Tấn Tài phả giao cháu Tín cho chị nuôi dưỡng

Anh Kha Tấn Tài không đồng ý với yêu cầu của chị Sương với lý do cháu Tín là con chung của anh và chị Sương, do chị Sương hiện tại không có nhà ở,

Trang 2

phải đi thuê nhà ở nên không có điều kiện chăm sóc con Mặt khác do anh là con trai trưởng, có vợ nhưng chỉ snh con gái, theo phong tục người Hoa nên anh cần

có con trai, chính vì vậy nên chị Sương gây nhiều áp lực với anh, mặc dù anh đã cung cấp chu đáo để chị Sương nuôi cháu Tín, chị Sương đe dọa trả thù anh và trút giận lên cháu Tín Hiện tại chị Sương không có điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Tín nên anh đề nghị được nuôi cháu Tín Đồng thời, hai người con riêng của chị Sương cũng có những mong muốn được về chung sống với chị

Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 19/2006/HNĐG-ST ngày

31/08/2016, Tòa án nhân dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp đã áp dụng khoản

1, khoản 2 điều 92; điều 94 luật hôn nhân và gia đình, quyết định:

Chấp nhận yêu cầu của chị Lê N Sương về việc nuôi con; bác yêu cầu của anh Kha Tấn Tài về việc yêu cầu nuôi con; chị Lê N Sương nuôi con Lê Kha Trọng Tín sinh ngày 23/01/2003 cho đến khi trưởng thành; chị Sương không yêu cầu anh tài cấp dưỡng; anh Tài cấp dưỡng; anh Tài được quyền chăm nom, chăm sóc con, không ai được ngăn cản; anh Tài có trách nhiệm giao cháu Tín cho chị Sương nuôi dưỡng; tạm giao cháu Tín cho anh Tài quản lý đến khi bản án có hiệu lực

Ngoài ra Tòa án sơ thấm còn ra quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự có theo quy định của pháp luật

Ngày 11/09/2006 anh Kha Tấn Tài có đăn kháng cáo bản án sơ thẩm Tại bản án hôn nhân và gia đình phúc thẩm số 04/2007/HNGĐ-PT ngày 22/01/2007, tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp không chấp nhận kháng cáo của anh Kha Tấn Tài, giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm như sau:

Giao cho chị Lê N Sương được nuôi con là Kha Lê Trọng Tín, sinh ngày 23/01/2003 cho đến khi trưởng thành Chị Sương không yêu cầu anh Tài cấp dưỡng nuôi con

Anh Kha Tấn Tài được quyền thăm nom, chăm sóc, không ai được ngăn cản

Anh Kha Tấn Tài có trách nhiệm giao cháu Kha Lê Trọng Tín, sinh ngày 23/01/2003 cho chị Sương nuôi dưỡng

Lời mở đầu

Trang 3

Tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng kí kết hôn là một hiện tượng đã và đang tồn tại trong xã hội ta như một hiện thực khách quan Hiện tượng này phát sinh và tồn tại trước hết chịu sự tác động bởi các ảnh

hưởng của nền kinh tế thị trường, của lối sống phương tây, của quan niệm tự do các nhân trong thế hệ trẻ, của trình độ dân trí và ý thức pháp luật trong một bộ phận nhân dân Trên thực tế, việc nam nữ sống chung như vợ chồng sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp như sau một thời gian chung sống, các bên đã có con chung, tài sản chung thì giữa họ phát sinh mâu thuẫn và yêu cầu ly hôn Vậy trong trường hợp này thì vấn đề nhân thân, tài sản của họ sẽ được giửi quyết như thế nào từ khi luật hôn nhân và gia đình 2014 có hiệu lực? Trong khuôn khổ bài tiểu luận này, nhóm chúng tôi sẽ nghiên cứu về việc chung sống như vợ chồng

để giải quyết tình huống trên

I Cơ sở lý luận.

1 Khái niệm hôn nhân.

Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi thực hiện các quy định của pháp luật về kết hôn tại cơ quan đăng kí kết hôn nhắm chung sống với nhau và xây dựng ấm no, tiến bộ, hạnh phúc

Theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, hôn nhân có những đặc điểm sau:

 Hôn nhân một vợ một chồng

 Hôn nhân là sự liên kết trên cơ sở tự nguyện của hai bên nam, nữ

 Các bên trong quan hệ hôn nhân hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật

 Các bên xác lập quan hệ hôn nhân nhằm cùng nhau chung sống và xây dựng ấm no, tiến bộ, hạnh phúc

 Các bên tham gia quan hệ hôn nhân phải tuân thủ các quy định của pháp luật

2 Khái quát chung về nam nữ chung sống như vợ chồng.

I.1 Khái niệm về nam nữ chung sống như vợ chồng

Hiện nay, tồn tại nhiều cách hiểu về “nam nữ chung sống như vợ

chồng”.Theo quy định tại điểm d mục 2 Thông tư liên tịch của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm 0sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp số

01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03 tháng 1 năm 2001 thì “ được coi là nam nữ chung sống như vợ chồng khi thuộc một trong các trường hợp sau:

 Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau

 Việc nam nữ về chung sống với nhau được gia đình ( một trong hai bên) chấp nhận

Trang 4

 Việc nam nữ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến

 Họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình”

Dưới góc độ pháp lí thì: “ Nam nữ chung sống như vợ chồng” là trường hợp nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng không đăng kí kết hôn Về nguyên tắc pháp luật không công nhận trường hợp này là vợ chồng

Bên cạnh các trường hợp nam nữ có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn mà chung sống như vợ chồng thì còn có trường hợp nam nữ không đủ điều kiện kết hôn mà cung sống như vợ chồng

I.2 Quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản của các bên nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn khi họ mong muốn chấm dứt việc sống chung

 Trường hợp nam nữ sống chung được công nhận quan hệ vợ chồng

Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội và Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ quy định các trường hợp nan nữ sống chung như vợ chồng sau đây vẫn được công nhân quan hệ hôn nhân:

 Nam, nữ chung sống như vợ chồng xác lập trước ngày 3/1/1987 (ngày Luật HNGĐ năm 1986 có hiệu lực ) nếu không vi phạm các điều kiện kết hôn thì được công nhận có quan hệ hôn nhân

 Nam, nữ chung sống như vợ chồng xác lập từ ngày 3/1/1987 đến ngày 1/1/2001 (ngày Luật HNGĐ năm 2000 có hiệu lực) nếu không vi phạm điều kiện kết hôn thì phải thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền đến thời điểm ngày 1/1/2003 Trường hợp các bên chưa thực hiện việc đăng ký kết hôn và phát sinh tranh chấp trước ngày 1/1/2003 thì Tòa án vẫn công nhận hôn nhân của các bên

Trường hợp này nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định

về ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

 Về quan hệ nhân thân: các bên chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật Giữa vợ chồng chấm dứt các quyền và nghĩa vụ về nhân thân theo Luật hôn nhân và gia đình 2014 Mỗi bên vợ chồng có quyền kết hôn với người khác

Trang 5

 Về tài sản: Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60,

61, 62, 63 và 64 của Luật này Trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62,

63 và 64 của Luật này để giải quyết

 Đối với vấn đề cấp dưỡng: Trong trường hợp vợ chồng yêu cầu ly hôn thì vấn đề cấp dưỡng được đặt ra khi thỏa mãn các điều kiện của cấp dưỡng Nếu một bên túng thiếu yêu cầu cấp dưỡng thì bên kia phải cấp dưỡng theo khả năng của mình Như vậy, cấp dưỡng là nghĩa vụ gắn liền với nhân thân vợ chồng, không thể chuyển giao cho người khác

 Quyền và nghĩa vụ đối với con chung: nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con sau khi ly hôn được quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84

 Trường hợp nam nữ sống chung không được công nhận quan hệ vợ

chồng

 Về mặt nhân thân: Tòa án sẽ tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng kể

từ thời điểm đó họ phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng

 Về tài sản: Nếu các bên yêu cầu giải quyết vấn đề tài sản, tòa áp dụng khoản 1 Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết như sau:

Tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc về người đó, đương nhiên người có tài sẵn có nghĩa vụ chứng minh tài sản đó thuộc sở hữu riêng của mình Trên cơ sở

đó tòa án sẽ giải quyết việc bảo vệ quyền lợi cho người có tài sản riêng

Đối với tài sản chung, tài sản chung được chia theo sự thỏa thuận của các bên Trong trường hợp này, Tòa án sẽ công nhận sự thỏa thuận của các đương

sự Khi các bên không thỏa thuận được và yêu cầu tòa án giải quyết, Tòa án sẽ chia tài sản chung cho hai bên có tính đến “ công sức đóng góp của mỗi bên”

Rõ ràng, tài sản chung của hai bên nam nữ ở trong trường hợp này không phải là

“ chia đôi một cách bình đẳng” mà “ dấu hiệu” về mặt công sức đóng góp của hai bên vào khối tài sản chung là căn cứ quan trọng để chúng ta giải quyết việc chia Tuy nhiên không chỉ căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên mà phải xem xét đến nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ và con: Theo quy định của Điều 17 khoản 3 thì quyền lợi của phụ nữ và con được “ưu tiên” bảo vệ

Trang 6

 Đối với con chung

Trong trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng, khi tòa án tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng, nếu các bên có con chung thì quyền và nghĩa

vụ giữa các bên đối với con chung giải quyết như khi ly hôn Theo đó, khi hai bên nam nữ bị Tòa án tuyên không công nhận là vợ chồng thì họ vẫn phải có nghĩa vụ đối với con chung Hai bên có thể thỏa thuận về việc nuôi dưỡng con, đóng phí tổn nuôi con Nếu hai bên không thỏa thuận được tòa án sẽ quyết định giao đứa trẻ cho một trong hai người trực tiếp nuôi, người kia phải đóng phí tổn nuôi con theo quy định của pháp luật Trường hợp con dưới 3 tuổi giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp mẹ không có đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng

3 Cấp dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha,mẹ con.

3.1 Khái niệm cấp dưỡng

Cấp dưỡng là nghĩa vụ phát sinh giữa những người không sống cùng với nhau nhưng đang có hoặc đã có quan hệ gia đình trong việc đảm bảo cuộc sống cho những người chưa thành niên, người đã thành niên nhưng trong tình trạng mất hoặc bị giảm sút khả năng lao động, không có thu nhập và không có tài sản hoặc tuy có nhưng không đảm bảo cuộc sống của mình Cấp dưỡng còn là biện pháp chế tài đối vời người có hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng 3.2 Cấp dưỡng giữa cha, mẹ và con

3.2.1 Cấp dưỡng của cha mẹ đối với con

Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con phát sinh trên cơ sở cha mẹ có

“nghĩa vụ cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con” (Điều 110) Khi cha mẹ vì những lí do nhất định mà không trực tiếp nuôi dưỡng con thì có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con

Trong thực tế, việc cha mẹ cấp dưỡng cho con có thể xảy ra trong hai

trường hợp là khi hôn nhân đang tồn tại và khi cha, mẹ li hôn

3.2.2 Cấp dưỡng của con đối với cha, mẹ

Việc cấp dưỡng của con đối vơi cha, mẹ chỉ đặt ra khi đủ hai điều kiện sau theo điều 111 :

+Thứ nhất, con đã thành niên và không sống chung với cha mẹ Việc cấp dưỡng không đặt ra đối với mọi người con mà chỉ những người con đã thành niên Nếu người con chưa thành niên thì dù có tài sản riêng, có thu nhập cao

Trang 7

(chẳng hạn đứa con này là một lập trình viên hoặc một diễn viên nổi tiếng…) thì người con này cũng không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật Hơn nữa nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ đặt ra đối với người con không sống chung với cha mẹ Nếu như người con đã là thành niên và đang sống chung với cha mẹ thì vấn đề thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng không được đặt ra

+ Thứ hai, cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống bản thân Không có khả năng lao động được hiểu là cha mẹ do những nguyên nhân như già yếu, ốm đau, bệnh tật…nên không đủ sức khỏe để làm việc

có thu nhập nuôi sống bản thân

Không có tài sản để tự nuôi sống bản thân được hiểu là cha mẹ hoàn toàn không có một chút tài sản nào hoặc có nhưng đó là những vật dụng thiết yếu không thể bán đi để lấy tiền sinh sống được như đồ thờ cúng, quần áo thiết yếu…

4 Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ với con sau khi ly hôn.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 Điều này đã có sự thay đổi

so với luật cũ Cụ thể: Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa

vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ bảy tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con (trong khi luật cũ quy định nếu con từ đủ chín tuổi trở lên)

Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho người mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con (Điều 81) Quy định này tương tự luật cũ nhưng lại chặt chẽ hơn ở điểm không phải bất cứ trường hợp nào con dưới ba tuổi đều ở với mẹ Bởi vì dù con dưới ba tuổi, nhưng bản thân người mẹ không đủ điều kiện nuôi con, chẳng hạn: do đau yếu, bệnh tật triền miên; đi công tác xa liên tục dài ngày; không nghề nghiệp, việc làm, không có tài sản, thu nhập ổn định để nuôi con; người mẹ rơi vào tệ nạn xã hội: cờ bạc, rượu chè, mê tín dị đoan, nghiện ngập, phạm pháp…, thì tòa

án vẫn có thể giao con cho người cha được trực tiếp nuôi giữ và chăm sóc Quy định này phần nào bảo đảm hơn về quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ và cũng

“khắc chế” được phần nào sự ỷ lại của một số bậc làm mẹ, vì cứ cho rằng con dưới ba tuổi thì đương nhiên thuộc về người mẹ nuôi, nên họ không tập trung chăm lo, nuôi dạy con tốt…

Trang 8

Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được quy định tại Điều 82 và điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở Điều 94 luật năm 2000 Theo đó người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con trong trường hợp này không phụ thuộc vào yêu cầu cũng như khả năng kinh tế của người trực tiếp nuôi con Dù người trực tiếp nuôi con không yêu cầu bên kia cấp dưỡng và có khả năng kinh tế để nuôi dạy con thì người không trực tiếp nuôi con vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng Người không trực tiếp nuôi con có quyền được thăm nom con, nhưng không lạm dụng đến quyền thăm nom để cản trở ảnh hưởng xấu đến người trực tiếp nuôi con Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiép nuôi con

Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được quy định tại Điều 83 luật này Theo đó phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Đồng thời, người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình Vì quyền lợi của con, bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và không được từ chối nhận các khoản cấp dưỡng cho con

II Giải quyết tình huống.

1 Nhận xét bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm.

Vì chị Sương khởi kiện ra Tòa án ngày 10/4/2006 nên việc xét xử sẽ theo quy định của Luật hôn nhân 2000

Về bản án sơ thẩm của tòa án số 19/2006/HNGD-ST ngày 31/8/2016, tòa

án nhân dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp đã áp dụng khoản 1, khoản 2 điều 92; điều 94 luật hôn nhân gia đình năm 2014, quyết định:

Bác yêu cầu của anh Kha Tấn Tài về việc yêu cầu nuôi con, giao cho chị Sương được nuôi con là Lê Kha Trọng Tín sinh ngày 23/1/2003 cho đến khi trưởng thành Chị Sương không yêu cầu anh Tài cấp dưỡng nuôi con

Anh Tài được quyền thăm nom, chăm sóc cháu Tín không ai được ngăn cản

Anh Tài có trách nhiệm giao cháu Kha Lê Trọng Tín, sinh ngày 23/01/2003 cho chị Sương nuôi dưỡng

Về bản án sơ thẩm trên còn có những điểm chưa hợp lý

Trang 9

Thứ nhất: Căn cứ khoản 2 điều 92 luật hôn nhân gia đình năm 2000, theo

đó để quyết định giao con cho bên nào nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con tức là đảm bảo cho con việc học tập, đảm bảo điều kiện cho sự phát triển thể chất và tinh thần cho con Tuy nhiên, theo tình huống trên chị Sương hiện tại không có nhà ở phải đi thuê nhà, hai con riêng của chị lại mong muốn được về sống chung với chị Mặt khác chị Sương còn gây nhiều áp lực với anh Tài, đe dọa trả thù anh và trút giận lên cháu Tín vì thế nên chị Sương không

có điều kiện chăm sóc con Và kể từ ngày xét xử sơ thẩm cháu Tín đã trên 3 tuổi nên không thể áp dụng nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi Vậy, phán quyết của tòa sơ thẩm chưa thỏa đáng

Thứ hai: Về việc cấp dưỡng cho cháu Tín, Căn cứ khoản 1 điều 92 luật hôn nhân gia đình năm 2000, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Nghĩa là, dù người trực tiếp nuôi con không yêu cầu bên kia cấp

dưỡng và có khả năng kinh tế để nuôi dạy con thì người không trực tiếp nuôi con vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng Vậy giả sử chị sương được quyền nuôi con dù chị Sương không yêu cầu anh Tài cấp dưỡng nuôi con thì anh Tài vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng Tuy nhiên trong bản án sơ thẩm chỉ nêu "Chị Sương không yêu cầu anh Tài cấp dưỡng nuôi con" mà không nêu nghĩa vụ của anh tài trong việc cấp dưỡng, đây cũng là điểm chưa thỏa đáng của bản án sơ thẩm

Đó là những điểm chưa thỏa đáng về quyết định của tòa án cấp sơ thẩm, còn về quyết định của tòa án phúc thẩm do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên cũng tồn tại những điểm chưa thỏa đáng như trên

2 Quan điểm giải quyết theo luật hôn nhân gia đình năm 2000.

Khoản 2 Điều 92 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác.” Như vậy việc giao con cho một bên chăm sóc phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là đảm bảo việc học tập, điều kiện cho sự phát triển về thể chất và tinh thần Điều 93 quy định: “Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con và phải tính đến nguyện

Trang 10

vọng của con, nếu con từ đủ chín tuổi trở lên”.Trong trường hợp này, cháu Tín chưa đến 9 tuổi nên không phải xem xét nguyện vọng của cháu

Có thể dễ dàng để thấy rằng anh Kha Tấn Tài hoàn toàn có điều kiện để đảm bảo việc nuôi cháu Tín Trong khi chị Sương hiện tại không có nhà ở, phải

đi thuê nhà ở, đồng thời hai người con riêng của chị Sương cũng đang mong muốn về sống cùng chị Hơn nữa, việc chị Sương gây áp lực lên anh Tài, đe dọa trả thù và trút giận lên cháu Tín cho thấy rằng nhân phẩm của chị Sương không tốt Chính vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của cháu Tín thì quyền nuôi dưỡng cháu phải thuộc về anh Kha Tấn tài

Chị Sương có quyền thăm nom, chăm sóc, anh Tài không được ngăn cản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 tại Điều 94 Ngoài ra, chị Sương có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Tín cho dù anh Kha Tấn Tài có yêu cầu hay không

3 Quan điểm giải quyết theo luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Khoản 2 Điều 81 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn

cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.” Trong trường hợp này, cháu Tín chưa đến 7 tuổi nên không phải xem xét nguyện vọng của cháu Như vậy cháu Tín phải do anh Kha Tấn Tài trực tiếp nuôi Chị Sương có quyền thăm nom, chăm sóc, anh Tài không được ngăn cản Ngoài ra, chị Sương có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Tín (Điều 82)

Về cơ bản, những quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 không thay đổi nhiều so với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Chính vì vậy, hướng giải quyết tương tự như Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Kết luận.

Có thể thấy rằng việc sống chung với nhau như vợ chồng trong xã hội đang tạo ra thành một xu hướng đáng báo động hiện nay Trong thời gian trong sống nếu có sự tranh chấp nhất là tài sản hoặc về quyền nhân thân sẽ gây khó khăn cho việc phân chia và giải quyết vụ việc ngoài qui định của luật hôn nhân và gia đình Từ thực trạng đó ta có thể thấy rằng việc áp áp dụng luật hôn nhân và gia đình trong thực tế vẫn còn nhiều thiếu sót Chính vì vậy, cần có các biện pháp cụ

Ngày đăng: 02/10/2020, 09:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w