1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "CHẾN LƯỢC THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM "

25 358 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chến lược thị trường Việt Nam
Thể loại Báo cáo
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 340,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biểu đồ 2: Khả năng tăng trưởng ICORs trên thị trường NJA Nguồn : Datastream, Quỹ tiền tệ quốc tế, theo đánh giá Credit Suisse Biểu đồ 3: Nguồn vốn FDI đối với các ngành công nghiệp vào

Trang 1

- -

CHẾN LƯỢC THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

Trang 2

CHẾN LƯỢC THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

Những dự báo về thị trường tài chính VN

Việt Nam (VN) đang quyết tâm đẩy lùi khủng hoảng Chúng ta tin rằng VN có thể tiếp tục ổn định giá cả, giải quyết các khoản nợ nước ngoài và những vấn đề về chất lượng tài sản hệ thống ngân hàng có thể được kiểm soát Cần phải đưa ra những chiến lược ngắn hạn nhằm hạn chế rủi ro cơ bản cho thị trường

Tuy nhiên, chúng ta vẫn lo ngại các nhà đầu tư đang đánh giá cao tiềm năng phát triển dài hạn của VN Hy vọng rằng tỉ lệ tăng trưởng kinh tế của VN sẽ tăng trung bình từ 6-7% đến 8-10% trong thời gian từ 5 đến 10 năm tiếp theo

Chúng ta cũng phải lo ngại rằng VN có thể vẫn duy trì cơ cấu kinh tế lạm phát cao nhất Đông Á với kết quả đáng lo ngại về sức cạnh tranh

Các nhà đầu tư cần nhận thức về những thử thách liên quan đến nguồn vốn thương mại của VN Những khó khăn trong việc mở các tài khoản thương mại, gây trở ngại trong việc hạn chế quyền sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài Việc kiểm soát nguồn vốn trên thực tế và những hạn chế về khả năng thanh khoản làm cho việc đầu tư trực tiếp của những nhà đầu tư nước ngoài khó có thể thực hiện được trong tương lai Các sản phẩm đang được đưa ra trên thị trường đều bị hạn chế về khả năng thanh khoản

Chỉ số chứng khoán VN index là 55% cách xa so với đỉnh điểm vào tháng 3 năm 2007 nhưng chúng ta vẫn có thể tin rằng việc đánh giá cao giá trị thị trường VN so với các thị trường khác có thể xúc tiến việc ký kết những hợp đồng thương mại

Biểu đồ 1: Các giai đoạn tăng trưởng cao của GDP- VN tăng trưởng chậm

Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5 Năm6 Năm 7 Năm 8

Nguồn : Datastream, Quỹ tiền tệ quốc tế, theo đánh giá Credit Suisse

Trang 3

Biểu đồ 2: Khả năng tăng trưởng ICORs trên thị trường NJA

Nguồn : Datastream, Quỹ tiền tệ quốc tế, theo đánh giá Credit Suisse

Biểu đồ 3: Nguồn vốn FDI đối với các ngành công nghiệp vào 2007 – Đầu tư công nghiệp còn hạn chế

- Holtel and Tourism: Khách sạn và du lịch: 10%

- Agri, forestry and Fishery: Nông lâm, ngư nghiệp: 2%

- Petroleum: Dầu mỏ: 10%

- Industry: Công nghiệp 36%

- Industry zone: Khu công nghiệp 2%

- Culture, health and education: Văn hóa, sức khỏe và giáo dục 1%

- Construction Xây dựng 8%

- Transport, communication, post ofice: Vận tải, thông tin liên lạc, bưu chính: 3%

- Service, finance anh bạnking: Dịch vụ, tài chính và ngân hàng: 2%

- Office for rent: Văn phòng cho thuê: 26%

Biểu đồ 4: GDP Việt Nam – Thành phần kinh tế tư nhân nội địa còn hạn chế

Chú ý: Dựa trên giá GDP hiện hành

Nguồn : Tổng cục thống kê VN, theo đánh giá Credit Suisse

Biểu đồ 5: Chỉ số REER VN – Đe dọa khả năng cạnh tranh của thị trường VN

Trang 4

Nguồn : CEIC, theo đánh giá Credit Suisse

Biểu đồ 6: Tín dụng ngân hàng đang ở mức cao

GDP trên đầu người (USD)

Nguồn : Ngân hàng phát triển Châu Á, theo đánh giá Credit Suisse

Biểu đồ 7: Chỉ số P/E cao nhất trên thị trường NJA

Chỉ số P/E Việt Nam được tính toán từ 10 cổ phiếu hàng đầu trên thị trường CK TP Hồ Chí Minh

Nguồn : CEIC, Bloomberg, theo đánh giá Credit Suisse

Có nhiều ý kiến cho rằng VN là một thì trường tiềm năng lớn về phát triển dài hạn khi đã trải qua nhiều khó khăn trong phát triển ngắn hạn Chúng ta không cần phải lo lắng về khả năng quản lý của chính phủ đối với nền thương mại, sự lạm phát và những vấn đề về

hệ thống ngân hàng hiện nay nhưng e rằng giá cổ phần sẽ làm vượt quá tiềm năng thị trường dài hạn của quốc gia

Những cơ hội đối với thị trường ngắn hạn

Chỉ số ro tín dụng cơ bản của Credit Suissecho thấy khả năng tăng ngắn hạn của thị trường VN Động lượng tiên tiến đối với các khoản thâm hụt thương mại và lạm phát có thể duy trì áp lực lón đối với những cổ đông

Điều chỉnh các dự báo tăng trưởng

Tuy nhiên, các nhà đầu tư đã có những dự báo chưa đầy đủ về khả năng tăng trưởng kinh

tế của VN VN có nền kinh tế trẻ và đang tăng trưởng với những cơ hội đầu tư cao và nguồn nhân lực năng động được dự báo là chiến lược phát triển dài hạn của VN Chỉ số tăng trưởng của VN đang giảm xuống so với giai đoạn đang phát triển của các nước như

Trang 5

Thái Lan, Malaysia và không thể so sánh với các nước như Trung Quốc, Hàn quốc, Đài Loan, Singapore và Hồng Kong Chúng ta chỉ có thể hy vọng khả năng tăng trưởng của

VN có thể tương đồng với các nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan và

Indonesia

Lạm phát vẫn đang bị đe dọa

Trong một thời gian ngắn, Lạm phát có khả năng lắng dịu nhưng chúng ta vẫn lo ngại về triển vọng phát triển trung dài hạn của VN Lạm phát cao ở VN có một nền tảng cơ cấu trong một ngân hàng TW bị phụ thuộc, lịch sử về lạm phát tăng nhanh và những căn nguyên của lạm phát Chúng ta tin rằng lạm phát sẽ giảm dưới 20% nhưng khó có thể giảm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) xuống dưới mức 10% và để giảm dưới 5% thì phải cần có một nổ lực lớn Chúng ta cứ xem lạm phát cao đã từng xảy ra ở VN như là một căn nguyên đối với sự ổn định về tài chính và là sự cạnh tranh cho nhiều giá trị kinh tế vẫn chưa được đánh giá cao

Giảm rủi ro từ các ngân hàng

Chúng ta cứ xem như những vấn đề về chất lượng tài sản tiềm năng của hệ thống ngân hàng có thể kiểm soát được Những ngân hàng nhà nước hàng đầu đều có nguồn vay và nguồn gửi thu hút sự chú ý của các ngân hàng có quy mô nhỏ, và hầu hết các ngân hàng ở mức trung bình thì không đối mặt với rủi ro Tuy nhiên, chúng ta cũng lo ngại rằng hệ thống tài chính này sẽ được áp dụng vào nền kinh tế VN Trong hai, ba năm tới, chúng ta

hy vọng các ngân hàng sẽ tập trung cải thiện công tác quản lý rủi ro, giảm nợ xấu và xây dựng lại vốn cơ bản chứ không mở rộng các khoản vay mới

Những thách thức về kỹ thuật đối với các nhà đầu tư

Các nhà đầu tư cần phải nhận thấy những khó khăn đối với việc đầu tư ở VN Trên thực

tế, việc kiểm soát nguồn vốn có thể được áp đặt trong một thời gian nhất định, nền

thương mại trực tiếp thì không thực tế và các sản phẩm hiện nay thì không đủ khả năng thanh khoản so với thị trường ưu tiên Cơ sở hạ tầng của thị trường ưu tiên là thế hệ sau của thị trường các nước trong khu vực Đông Nam Á Theo nghiên cứu này thì VN là một thị trường biên giới giữa hai thế hệ thị trường

Trang 6

Các chỉ số giá trị chưa đạt đến mức hấp dẫn

Theo nghiên cứu này, các chỉ số về giá trị chưa đạt đến mức hấp dẫn Chỉ số P/E và P/B của 10 cổ phiếu lớn nhất trên thị trường chứng khoán TP Hồ Chí Minh đều cao hơn so với chỉ số trên thị trường các nước Châu Á trừ Nhật Bản và những cổ phiếu lớn đều có giá trị thấp hơn so với cổ phiếu của các quốc gia trong khu vực Các nhà đầu tư phải chờ đợi những chỉ số hấp dẫn hơn

Những cơ hội tăng trưởng ngắn hạn của thị trường VN

Trong một thời gian ngắn, thị trường VN vẫn tiếp tục tăng trưởng Mối quan tâm sâu sắc nhất về thị trường vĩ mô đang lắng dịu và sự xuất hiện của chu kỳ rủi ro đã cho thấy nhiều cơ hội tăng trưởng ngắn hạn

Khủng hoảng bị đẩy lùi

Chúng ta tin rằng VN đang quyết tâm đẩy lùi những khủng hoảng có thể xảy ra trong tương lai Chỉ số lạm phát CPI đạt 3,9% vào tháng 5 (biểu đồ 8) đã giảm từ 2,1% trong tháng 6 và 1,1% trong tháng 7 Sự thâm hụt thương mại đã giảm từ 3.2-3.3 tỉ đô la Mỹ trong tháng 3, tháng 4 xuống còn 700-800 triệu đô la Mỹ trong tháng 6, tháng 7 (Biểu đồ 9) Vấn đề về cải cách hành chính đã hạn chế sự tăng trưởng tín dụng ngân hàng, nhập khẩu và tiêu dùng đã cải thiện hiệu quả đối với nền kinh tế Chuyên gia kinh tế của tổ chức Credit Suise Vietnam, Joseph Lau đã dự báo tốc độ tăng trưởng GDP sẽ giảm dưới 7% so với 8,5% vào năm trước, nhưng yêu cầu đặt ra là sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô Ông cũng đã dự báo lạm phát sẽ giảm và chúng ta cũng không phải lo ngại nhiếu về sự thâm hụt thương mại

Xét một cách tổng quát, khủng hoảng tiền tệ đang tăng quá mức đang là mối lo ngại Ngân hàng trung ương vấn tiếp tục quản lý chặt chẽ đối với thương mại tiền tệ và kiểm soát nợ nước ngoài Nợ nước ngoài chiếm 30% trong tổng GDP vào cuối 2007 và nợ ngắn hạn chỉ chiếm 12% trong tổng GDP vào 2006 Nguồn vốn vay ODA chiếm 90% các khoản nợ nước ngoài Mặc dù dòng tiền vào của các danh mục đầu tư (6 tỉ đô la trong năm ngoái) thì không thể dự báo tăng hay giảm trong tương lai, nguồn vốn FDI và

chuyển tiền quốc tế đã vượt quá mức thâm hụt thương mại đến 20% trong năm 2007 Từ

Trang 7

khi hai nguồn này thổi phồng giá trị tài sản thì vẫn chưa hoàn toàn mang tính tích cực Tuy nhiên, điểm nổi bật trong cán cân thanh toán là hạn chế rủi ro đối với khủng hoảng

nợ nước ngoài

Biểu đồ 8: Chỉ số giá tiêu dùng đang ở mức đỉnh điểm

Biểu đồ 9: Sự thâm hụt thương mại đang giảm

Nguồn: CEIC

Chỉ số rủi ro

Phân tích chỉ số rủi ro cho thấy một quan điểm tích cực Vì VN là một thị trường biên giới với rủi ro cao, Chỉ số VN index (VNI) đã cho thấy sự tương quan khá chặt chẽ với chỉ số chỉ số rủi ro vốn cổ phần toàn cầu của nhà chiến lược Jonathan Wilmot về thu nhập

cố định toàn cầu của tổ chức Credit Suissse (Biểu đồ 10) Một nghiên cứu về chỉ số rủi ro thấp gần đây của Wilmot đã chỉ ra rằng thị trường vẫn đang hoạt động Với bất cứ chỉ số chỉ số rủi ro nào, thời điểm để mua bán là khi chỉ số rủi ro thấp

Biểu đồ 10: Chỉ số VN index so với chỉ số rủi ro cổ phần toàn cầu theo đánh giá của Credit Suisse

Nguồn : CEIC, Bloomberg, theo đánh giá Credit Suisse

Điều chỉnh các dự báo tăng trưởng của thị trường

Mặc dù những vấn đề về tăng trưởng ngắn hạn của thị trường đang lắng xuống nhưng chúng ta có thể tin rằng dự báo về khả năng tăng trưởng của thị trường đang ở mức cao

VN có thể sẽ đạt mức tăng trưởng 6-7% từ 5-10 năm tới chứ không thể duy trì ở mức

Trang 8

8-9% trong nhiều năm trước đây Chúng ta có thể tin rằng VN có mức tăng trưởng cao so với các nền kinh tế có mức tăng trưởng trung bình của các quốc gia láng giềng trong khu vực Đông Nam Á hơn là so với sự bùng nổ về kinh tế của Trung Quốc

Mức độ tăng trưởng của VN

Mức tăng trưởng cao sẽ đánh dấu bước chuyển mình hợp lý cho nền kinh tế VN VN là quốc gia có dân số trẻ và đang tăng trưởng, tỉ lệ đầu tư cao sẽ thúc đẩy mật độ sản xuất tăng nhanh (biểu đồ 11) VN đang thu hút nguồn tiền lớn từ tổ chức FDI Cùng với các khoản nợ từ đầu tư trực tiếp so với các nước trong khu vực chỉ báo cáo vốn cổ phần với những khó khăn từ các nhà đầu tư FDI Tuy nhiên, chúng ta có thể tin rằng ngay cả đối với chuẩn mực quốc tế, tổng nguồn FDI luôn luôn chiếm vị trí ưu thế (Biểu đồ 12) Các nhà đầu tư FDI chủ yếu đề cao sự hợp tác của chính phủ, lực lượng lao động trong ngành công nghiệp nặng và hứa hẹn một thị trường nội địa cũng chính là lý do họ đầu tư vào

VN

Biểu đồ 11: Đầu tư (% GDP)

Nguồn : CEIC, theo đánh giá Credit Suisse

Biểu đồ 12: Những báo cáo của VN nguồn vốn FDI cao nhất Châu á

(% GDP)

Nguồn : CEIC, theo đánh giá Credit Suisse

Trang 9

Sự lạc hậu về định giá trên thị trường Châu Á

Tuy nhiên, Các nhà đầu tư nên xem khả năng tăng trưởng của VN chỉ là triển vọng so với các nước trong khu vực Tỉ lệ tăng trưởng của VN nhìn chung còn lạc hậu về định giá trên thị trường Châu Á

Chỉ số GDP của VN trong những năm gần đây có chiều hướng tăng mạnh so với các nước phương Tây Tuy nhiên, VN vẫn chưa thể theo kịp các quốc gia trong khu vực với những bước tăng trưởng cao trong cùng một giai đoạn phát triển Khả năng tăng trưởng của VN trong vòng 8 năm từ giai đoạn cải cách kinh tế mới nhất bắt đầu vào năm 2000 vẫn không thể so sánh với tốc độ phát triển của Trung Quốc trong giai đoạn kể từ 1983 và càng không thể bắt kịp với sự tiến bộ của Thái Lan và Malaysia vào cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 khi thu nhập đầu người của những quốc gia này gần bằng với VN trong những năm gần đây (Biểu đồ 13) Trong giai đoạn phát triển cao của khu vực Châu Á vào những năm 1960, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapo, HồngKông và Nhật Bản cũng đã tiến bộ hơn so với VN Không giống như VN, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapo, HồngKông và Nhật Bản đều đã có tốc độ tăng trưởng với 2 con số trong một vài năm hay nhiều hơn nữa trong giai đoạn phát triển này

Biểu đồ 13: Giai đoạn tăng trưởng cao của GDP: Khả năng tăng trưởng của thị trường

VN còn chậm

Nguồn : Datastream, Quỹ tiền tệ quốc tế, theo đánh giá Credit Suisse

Những thách thức về cơ cấu kinh tế của VN

Nền kinh tế VN đang phải đối mặt với hai vấn đề về cơ cấu: sự bành trướng của thành phần kinh tế nhà nước và sự phối hợp giữa các thành phần kinh tế với nhau Số liệu chính thức gần đây đã cho thấy thành phần kinh tế nhà nước đã chiếm 36.5% trong tổng GDP của năm 2007 và một số công ty tư nhân cũng đã kết nối với nhà nước Chính phủ đang sáp nhập các doanh nghiệp nhà nước (SOEs) và bán một số cổ phần tuy nhiên, chúng ta

hy vọng rằng chương trình cổ phần hóa sẽ được tiến hành nhanh hơn Cổ phiếu phát hành lần đầu (IPOs) vấn còn chậm và chính phủ có kế hoạch duy trì các cổ phiếu đang được

Trang 10

kiểm soát ở các doanh nghiệp lớn Trong một số trường hợp, chính phủ đã có sự phối hợp giữa các doanh nghiệp nhà nước với nhiều ngành công nghiệp, giữa một cơ cấu quản lý không hiệu quả với hệ thống sở hữu chưa hiệu quả

Khoảng cách giữa thành phần kinh tế nhà nước với thành phần kinh tế tư nhân cần phải được xác định rõ ràng Tỉ suất sinh lời về vốn (ICORs) của thành phần kinh tế nhà nước thì gấp 3 lần so với thành phần kinh tế tư nhân và gấp 4 lần chỉ số ICORs của thành phần kinh tế quốc doanh với sự tăng trưởng của chỉ số ICORs quốc gia kể từ 1996 (Biểu đồ 14) Tỉ suất ICORs của thành phần kinh tế nhà nước đã tạo nên một khoảng cách lớn giữa

tỉ suất ICORs của VN với một số quốc gia đang phát triển ở khu vực Châu Á (Biểu đồ 15) Chỉ số ICORs của VN tăng cao sẽ làm hạn chế đặc biệt đối với các nước nghèo hơn, những quốc gia thường có lợi nhuận về vốn cao thì chỉ sô ICORs sẽ thấp Với kết quả này, chúng ta có thể xác định chỉ sô ICORs là tỉ suất đầu tư của năm trước so với sản lượng tăng lên trong năm nay Tỉ suất này càng cao thì hiệu quả càng thấp

Biểu đồ 14: Chỉ số ICORs đối với lĩnh vực kinh tế nhà nước so với chỉ số ICORs ngoài lĩnh vực kinh tế nhà nước

ICORs: Tỉ số sinh lời của vốn = Tỉ số vốn đầu tư trong năm trước / khả năng tăng trưởng GDP trong năm nay

Nguồn : Tổng cục thống kê VN, theo đánh giá Credit Suisse

Biểu đồ 15: Sự tăng trưởng tỉ số ICORs trên thị trường NJA

Nguồn : CEIC, theo đánh giá Credit Suisse

FDI : Dao 2 lưỡi

Sự thành công của VN trong việc thu hút nguồn vốn FDI cần phải được tập trung thực hiện trong năm tới Mặc dù vậy, các nhà đầu tư cũng cần phải xem xét đến những mặt hạn chế về lịch sử FDI ở VN

Theo số liệu về nguồn FDI trên biểu đồ đã đề cao tính cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất

ở VN Theo đó, ngành xây dựng và bất động sản chiếm 34%, ngành dầu mỏ chiếm 10%

Trang 11

trong tổng nguồn FDI năm 2007 Ngành công nghiệp chỉ chiếm 36% trong tổng FDI và những ngành này hầu hết đều là ngành sản xuất với giá trị gia tăng thấp (Biểu đồ 16) Tập đoàn Intel là doanh nghiệp dẫn đầu khi đưa ra kế hoạch 1 tỉ đô la về sản xuất Chip điện tử vào 12/2006 Tuy nhiên, tập đoàn Intel cũng đã tỏ ra rất lo ngại khi kiểm tra trình độ của 1.965 nhân viên nhưng chỉ có 90 người đạt trên 60% số điểm Việc đầu tư vào các ngành sản xuất với giá tri gia tăng thấp và những thành phần liên quan như là các doanh nghiệp sản xuất theo công nghệ của Đài Loan dường như phù hợp hơn với kỹ năng sản xuất đã tồn tại ở VN Nguồn vốn FDI đang tăng lên nhưng ngành sản xuất của VN vẫn chưa thể

so sánh với dây chuyền công nghệ hiện đại của các nước trong khu vực như Thái Lan và Malaysia

Biểu đồ 16: Nguồn vốn FDI đối với lĩnh vực công nghiệp năm 2007: Đầu tư công nghiệp còn hạn chế

- Hotel and Tourism: Khách sạn và du lịch: 10%

- Agri, forestry and Fishery: Nông lâm, ngư nghiệp: 2%

- Petroleum: Dầu mỏ: 10%

- Industry: Công nghiệp 36%

- Industry zone: Khu công nghiệp 2%

- Culture, health and education: Văn hóa, sức khỏe và giáo dục 1%

- Construction Xây dựng 8%

- Transport, communication, post ofice: Vận tải, thông tin liên lạc, bưu chính: 3%

- Service, finance anh bạnking: Dịch vụ, tài chính và ngân hàng: 2%

- Office for rent: Văn phòng cho thuê: 26%

Nguồn : Tổng cục thống kê VN, theo đánh giá Credit Suisse

Nguồn vốn FDI tăng lên cũng đã mang đến nhiều rủi ro cho VN Nguồn vốn FDI đã có những đóng góp to lớn đối với việc cung ứng nguồn tiền và định giá tài sản của VN Điều này đã cho thấy VN không thể dễ dàng tiếp nhận nguồn tiền vào như hiện nay

Trang 12

Sự phụ thuộc của VN vào nguồn vốn FDI cũng đã không hỗ trợ tất yếu cho sự phát triển của thị trường cổ phiếu VN Thị trường vốn cổ phần đã được hình thành từ các doanh nghiệp trong nước Tuy nhiên, sự tín nhiệm cao của VN đối với nguồn vốn FDI cùng với

sự bành trướng của các thành phần kinh tế nhà nước đã làm cho sự đóng góp to lớn đối với sự phát triển của các thành phần kinh tế tư nhân vẫn chưa được thể hiện một cách rõ ràng Đáng chú ý, số cổ phần về tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của các thành phần kinh

tế tư nhân trong nước thấp hơn so với năm 2000 (Biểu đồ 17) Khi đã trưởng thành thì thị trường cổ phiếu VN có thể ngang bằng với các nước trong khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên, VN vẫn chưa có nhiều ngành công nghiệp có vốn đầu tư chủ yếu từ nước ngoài đang chi phối nền kinh tế trong khu vực chẳng hạn như ngành công nghiệp điện tử của Singapo, Malaysia, Philippin và ngành công nghiệp ô tô ở Thái lan

Biểu đồ 17: GDP Việt Nam – Thành phần kinh tế tư nhân nội địa còn hạn chế

Chú ý: Dựa trên giá GDP hiện hành

Nguồn : Tổng cục thống kê VN, theo đánh giá Credit Suisse

VN chỉ có thể là một phần trong sự phát triển chung của khu vực Đông Nam Á chứ không thể so sánh với sự bành trướng của một quốc gia lớn như Trung Quốc

VN vẫn thường được so sánh với sự phát triển nhanh của nền kinh tế Trung Quốc nhưng chúng ta vẫn nhận thấy sự tương quan tăng trưởng đồng đều của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á

Xét về mặt tích cực, sự tăng trưởng dân số và cơ cấu tuổi thọ của VN rất phù hợp các quốc gia có dân số trẻ và đang phát triển như Indonesia, Philippin và Malaysia hơn là một đất nước với nhiều thử thách về dân số như Trung Quốc Năng lực nông nghiệp của VN đang đến gần với sự phát triển nông nghiệp của Thái Lan và ngành dầu thô với nhu cầu của khu vực tương xứng với vị thế về năng lượng của Malaysia Tiềm năng về du lịch vẫn chưa được khai thác nhưng đã được hưởng lợi từ lượng khách du lịch quá tải của Thái Lan - trung tâm du lịch phát triển của khu vực Đông Nam Á Chúng ta tin rằng nền nông nghiệp, nguồn tài nguyên và du lịch có thể đóng góp to lớn cho sự tăng trưởng của

Ngày đăng: 20/10/2013, 03:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w