Ộ Những thành công về quản lý môi trường đã được thể hiện: cách tiếp cận tổng thể hơn đối với quản lý đất, nước, không khí; đánh giá tác động môi trường; chuyển dịch từ cách tiếp cận "cu
Trang 1B6 Tai nguyên và Môi trường Báo cáo Hiện trạng môi trường
Việt Nam, năm 2003
MỤC LỤC Lời giới thiệu
Tổng quan về môi trường toàn cầu
Phát triển kinh tế - xã hội và môi trường
Tác động của ô nhiễm và tai biến môi trường
đối với sức khoẻ cộng đông và sự phát triển
Trang 2
LOI GIGI THIEU
Mặc dù có nhiều cố gắng trong công tác bảo uệ môi
trường nhưng môi trường nước ta uẫn đang diễn biến
theo chiêu hướng bất lợi, rất đáng lo ngại
Báo cáo Hiện trạng môi trường năm 2003, bên cạnh
uiệc đánh giá tổng quan uê phát triển kinh tế - xã hội uà
môi trường, đã tập trung đánh giá hiện trạng ô nhiễm
không khí, đất uà đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước, ô
nhiễm các dòng sông Báo cáo đã đánh giá những tiến
bộ trong công tác quản lý uà bảo uệ môi trường của các
cấp, các ngành, đồng thời cũng xem xét một cách khách
quan những uiệc chưa làm được hoặc làm chưa tối
Báo cáo Hiện trạng môi trường lần này, uới sự tham
gia của nhiều nhà bhoa học, nhà quản lý, đã đưa ra
những bết luận khoa học uê hiện trạng môi trường của
nude ta va biến nghị uới Quốc hội những uấn đề cụ thể
cần quan tâm giải quyết trong thời gian tới
Mai Ái Trực
Bộ trưởng
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Trang 3Bộ Tài nguyên và Môi trường Báo cáo Hiện trạng môi trường
Việt Nam, năm 2003
1 TONG QUAN VE MOI TRUONG TOAN CAU
e Những thành tựu đã đạt được kể từ Hội nghị Stockholm (1972)
Trong 30 năm qua, cộng đồng quốc tế đã có nhiều nỗ lực bảo vệ môi trường
Đã có những văn kiện quốc tế đánh dấu bước ngoặt lịch sử : Tuyên bố Rio và
Chương trình Nghị sự 21 (Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất về Môi trường và Phát
triển - 1992), Tuyên bố và Kế hoạch thực hiện Johannesburg (Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển Bên vững, 2002) Ộ
Những thành công về quản lý môi trường đã được thể hiện: cách tiếp cận tổng thể hơn đối với quản lý đất, nước, không khí; đánh giá tác động môi trường;
chuyển dịch từ cách tiếp cận "cuối đường ống" sang cách tiếp cận công nghệ sản
xuất sạch hơn; quản lý môi trường tổng hợp, nhằm hướng tới sự bên vững của các
hệ sinh thái; tăng cường các biện pháp giải quyết vấn đề suy thoái tầng ôzôn, mưa axít, biến đổi khí hậu Việc giảm rủi ro về môi trường đã được quan tâm, các cơ
chế đáp ứng và các hệ thống cảnh báo sớm đối với những nguy cơ suy thoái môi
trường đã được tăng cường
e_ Các thách thức về môi trường
Hiện thế giới đang phải đối mặt với các thách thức môi trường chủ yếu sau:
- Suy thoái đất ngày càng trầm trọng : Trên thế giới hiện có 2 tỷ ha đất đã bi thoái hoá và có những hạn chế nghiêm trọng đối với sản xuất do khô hạn, xói mòn, phèn hoá, nghèo dinh dưỡng, 50% diện tích đất canh tác nông nghiệp bị thoái hoá
- Ñwy thoái đa dạng sinh học : Nhiều hệ sinh thái rừng đang tiếp tục bị suy thoái, tốc độ mất và suy thoái đa dạng sinh học ngày càng tăng do sự phá hủy và biến đổi sinh cảnh và việc đưa vào hệ sinh thái bản địa các loài xâm lấn, việc khai thác tài nguyên quá mức đang làm suy giảm nhanh nguồn lợi tự nhiên
- Ô nhiễm không khí và suy thoái nước đang diễn ra ở mức độ ngày càng trầm trọng hơn Sự gia tăng về tần suất cũng như cường độ của các thiên tai trong 30
năm qua đang đặt con người trước những nguy cơ lớn hơn, nhất là đối với các cộng
đồng nghèo nhất Khoảng 1,2 tỷ người thiếu nước sạch để dùng và 2,4 tỷ người
thiếu các dịch vụ vệ sinh; hàng năm có khoảng 3-5 triệu người chết vì các bệnh liên quan đến nước Sự phát thải của hầu hết các khí nhà kính đều đang tiếp tục
tăng Tác động tổng hợp của khói, khí độc hại và bụi mịn ở tầng không khí gần
mặt đất đã tạo ra mối nguy cơ về sức khoẻ, làm tăng các bệnh đường hô hấp và tìm mạch
s_ Hội nghị thượng đình thế giới về phát triển bén vitng (Johannesburg, Nam
Phi, 2002)
Hội nghị đã thông qua được 2 văn kiện cơ bản là Tuyên bố Johannesburg về phát triển bên vững và Kế hoạch thực hiện Johannesburg
- Tuyên bố Johannesburg về phái triển bên vững Tuyên bố khẳng định đã có
những bước tiến bộ quan trọng hướng tới sự hợp tác giữa các nước và sự đồng thuận toàn cầu, chỉ ra những thách thức mà nhân loại đang phải đối mặt như 2
Trang 4
khoảng cách ngày một tăng giữa giàu và nghèo, môi trường toàn cầu tiếp tục bị
suy thoái, có nhiều thách thức của quá trình toàn cầu hóa Tuyên bố cam kết chú trọng và quan tâm giải quyết các vấn để đang đe dọa nghiêm trọng đến phát triển
bên vững của loài người, như nạn đói, xung đột vũ trang, khủng bố, kỳ thị chủng tộc, tôn giáo, dịch bệnh, đặc biệt là HIV/AIDS Tuyên bố cũng kêu gọi các nước
phát triển thực hiện các mục tiêu quốc tế vẻ Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), cam kết ủng hộ sự phát triển của các liên minh khu vực, các nước kém phát triển,
dân bản địa, khu vực tư nhân và khuyến khích sự tham gia của các cộng đồng
trong xây dựng chính sách và quyết định về phát triển bên vững
- Kế hoạch thực hiện Johannesburg Những mục tiêu bao trùm của Kế hoạch
là xóa nghèo đói, thay đổi mẫu hình sản xuất và tiêu thụ không bên vững, bảo vệ
và quản lý tài nguyên thiên nhiên và cải thiện sức khoẻ cho người dân Về mục
tiêu cụ thể của xóa nghèo đói, Kế hoạch đã đưa ra một số chỉ tiêu và biện pháp như đến năm 2015 giảm tỷ lệ số người nghèo đói, số người không được sử dụng nước sạch, không có các điểu kiện vệ sinh cơ bản xuống một nửa Trong lĩnh vực sản xuất, sẽ tăng cường quản lý sản xuất và sử dụng hóa chất, thực hiện các công ước quốc tế về hóa chất và chất thải độc hại Trong lĩnh vực bảo vệ thiên nhiên sẽ thúc
đẩy thực hiện Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ozon, triển
khai quản lý tổng hợp tài nguyên nước, tiếp cận sinh thái trong phát triển bền vững
các đại dương Bản Kế hoạch đã nêu ra một số chỉ tiêu về sức khoẻ như giảm tỷ lệ -
tử vong của các bà mẹ và trẻ sơ sinh, giảm tỷ lệ nhiễm HIV trong thanh niên và
phụ nữ, phổ cập giáo dục bậc tiểu học vào năm 2015
2 PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VA MOI TRUONG
2.1 PHAT TRIEN DO TH] VA MOI TRUONG
Trong thập niên vừa qua, mạng lưới đô thị nước ta đã được mở rộng và phát triển
Về số lượng đô thị năm 1990 mới có khoảng 500 đô thị, đến năm 2003 đã có 656
đô thị, trong đó có 4 thành phố loại I, 10 đô thị loại MH, 13 đô thị loại HI, 59 đô thị
loại TV và 570 đô thị loại V Dân số đô thị tăng từ 15 triệu người năm 1995 (chiếm
ty lệ 20,75%) lên khoảng 20 triệu người năm 2002 (chiếm tỷ lệ 25,11%) Năm
1999 đất đô thị chỉ chiếm 0,2% điện tích đất tự nhiên cả nước, đến nay đã đạt xấp
xỉ 1%, nhưng chỉ tiêu đất để trồng cây xanh còn quá thấp, trung bình chỉ đạt 0,5 m”/người, trong khi đó chỉ tiêu này ở các thành phố trên thế giới là 15 -
20 m”/người
Quá trình đô thị hoá tương đối nhanh ở nước ta đã có ảnh hưởng đáng kể đến môi
trường, tài nguyên thiên nhiên và cân bằng sinh thái : tài nguyên đất bị khai thác
triệt để để xây dựng đô thị, làm giảm diện tích cây xanh và mặt nước; nhu cầu
nước phục vụ sinh hoạt, dịch vụ, sản xuất ngày càng tăng làm suy thoái nguồn tài nguyên nước và gây ra úng ngập; nhiều xí nghiệp, nhà máy gây ô nhiễm môi trường trước đây nằm ở ngoại thành, nay đã lọt vào giữa các khu dân cư đông đúc;
bùng nổ giao thông cơ giới gây ô nhiễm môi trường không khí và tiếng ồn nghiêm
trọng; đô thị hoá gây mất việc làm cho nhiều lao động nông nghiệp ngoại thành, làm tăng dòng người di dân từ nông thôn ra thành thị, gây nên sức ép đáng kể về nhà ở và vệ sinh môi trường, hình thành các khu nhà "ổ chuột” và khu nghèo đô
thị
Trang 5Bộ Tài nguyên và Môi trường Báo cáo Hiện trạng môi trường
Việt Nam, năm 2003
Hệ thống quản lý môi trường đô thị ở nước ta hiện có một số tổn tại như : cơ chế, chính sách về quản lý và phát triển đô thị còn thiếu, chưa đồng bộ và còn nhiều bất
cập; mô hình tổ chức quản lý, cung cấp dịch vụ hạ tầng đô thị ở các địa phương
còn rất khác nhau, năng lực quản lý có hạn, dẫn tới hiệu quả quản lý thấp
Tén tại chính trong quản lý môi trường đô thị là : chưa đổi mới, sắp xếp tổ chức và
nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực quản lý hạ tầng kỹ thuật và môi trường đô thị; qui hoạch cấp thoát nước, quản lý chất thải rắn, nghĩa trang, chưa quan tâm tới các yếu tố liên vùng, liên tỉnh hoặc liên đô thị;
2.2 PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG
e_ Tình hình phát triển các khu công nghiệp
Trong 12 năm qua, kể từ khi khu chế xuất Tân Thuận được thành lập (9/1991), đến nay cả nước đã có 76 khu công nghiệp (gồm 73 khu công nghiệp, 3 khu chế xuất), được thành lập với tổng diện tích 15.216 ha Riêng năm 2002 và quý 1/2003
đã có thêm 10 khu công nghiệp mới với diện tích hơn 3320 ha
Trong 76 khu công nghiệp hiện có, phần lớn tập trung tại 3 vùng kinh tế trọng điểm: vùng Đông Nam Bộ chiếm 53% về số khu công nghiệp và 65,5% về diện
tích đất; Duyên hải miền Trung tương ứng là 18% và 13%; đồng bằng sông Hồng
là 18% và 14%; Trung du, miền núi Bắc Bộ, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu
Long chỉ có 10,5% và 7,5%
Ngoài những khu công nghiệp được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nhiều địa phương đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận cho xây dựng những khu công nghiệp vừa và nhỏ, những cụm công nghiệp, những điểm công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu ở vùng nông thôn, tạo địa bàn cho các cơ sở sản xuất trong diện phải di dời, tạo quỹ đất để mở rộng các cơ sở sản
xuất của làng nghề
©_ Về hạ tầng kỹ thuật của các khu công nghiệp
Hiện nay cả nước chỉ có !8/76 khu công nghiệp - khu chế xuất có hệ thống xử
lý nước thải tập trung (vùng trọng điểm miền Nam có 10/40 khu công nghiệp;
Vùng trọng điểm miền Bắc có 3/10 khu công nghiệp), còn ở các Khu công nghiệp
khác do các doanh nghiệp tự xử lý đều chưa đạt tiêu chuẩn quy định
Nhìn chung, việc xử lý nước thải trong các khu công nghiệp chưa được coi trọng, ngay cả những khu công nghiệp có trạm xử lý nước thải tập trung nhưng việc vận hành cũng chưa tốt, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nước ngày càng gia tăng
Theo đánh giá của Ban quản lý các khu công nghiệp thì hầu hết các cơ sở sản xuất có nguồn ô nhiễm dạng khí đều đã đầu tư xây dựng các thiết b† xử lý
Công tác quản lý chất thải rắn tại các khu công nghiệp còn ở mức đơn giản, phân tán, biện pháp xử lý chủ yếu là đổ bỏ vào các khu đất trống dưới dạng bãi rác
hở không hợp vệ sinh Vẫn tồn tại trong thực tế những chất thải rắn công nghiệp
nguy hại không được phân loại và thường được thu gom vận chuyển lẫn với các
loại chất thải rắn khác
4
Trang 6
2.3 PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG VÀ MÔI TRƯỜNG
Từ tháng 6/2002 đến tháng 6 năm 2003 là thời gian ngành GTVT đẩy nhanh
tiến độ thi công các công trình trọng điểm Có thể thấy rằng : trên kháp lãnh thổ nước ta trong năm qua nhiều tuyến đường giao thông, cầu, hầm, bến cảng được
nâng cấp và làm mới để hình thành được một hệ thống giao thông hiện đại, ngang tầm với các nước trong khu vực, tạo thuận lợi cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Phương tiện giao thông đã tăng rất nhanh, đến tháng 6/2003, số ô tô ở nước ta
đã tăng tới 600.430 chiếc và xe máy khoảng 10.410.000 chiếc
Năm 2002, giao thông vận tải đã sử dụng khoảng 1.5 triệu tấn xăng và dầu diezel Tương ứng với lượng xăng dầu tiêu thụ đó, lượng phát thải các loại khí ô
nhiễm là khoảng hơn 6 triệu tấn CO;, khoảng 61.000 tấn CO, 35 000 tan NO,, 12.000 tấn SO, va hon 22.000 tấn C„H,
2.4 PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG VÀ MÔI TRƯỜNG
Phát triển năng lượng là một trong những tác nhân quan trọng nhất gây ra các tác động tiêu cực tới môi trường sinh thái và sức khoẻ cộng đồng Tuy rằng quá trình phát triển năng lượng ở nước ta chưa gây ra những tác động môi trường có tính hủy diệt, song hiện nay đã có những tín hiệu cảnh báo về những hậu quả môi, trường nghiêm trọng của khai thác than (phá vỡ địa tầng, địa mạo, thảm thực vật, bụi, khí độc, chất thải v.v ), khai thác dầu khí ngoài khơi (sự cố tràn dầu, vỡ ống dẫn khí, chất thải v.v ), thủy điện (gây ngập lụt, suy giảm hệ sinh thái động thực vật, thay đổi chế độ thuỷ văn v.v ), nhiệt điện (ô nhiễm cục bộ do khói thải, bụi, nước thải có nhiệt độ cao v.v ) và sử dụng nhiên liệu - năng lượng (than, sản
phẩm dầu, điện v.v ) không tiết kiệm và kém hiệu quả của các ngành kinh tế - xã
hội và dịch vụ sinh hoại
Hiện trạng suy thoái môi trường trong phát triển năng lượng đòi hỏi sự tuân
thủ nguyên tác "Phái triển kinh tế - An toàn năng lượng - Bảo vệ môi trường"
thông qua lựa chọn hợp lý các giải pháp công nghệ - kỹ thuật theo hướng "Tiết kiệm năng lượng và tăng hiệu quả năng lượng chính là phát triển năng lượng với
chi phí ít nhất và bền vững nhất về môi trường"
2.5 KHAI THAC KHOANG SAN VA MOI TRUONG
Cho đến nay nganh dia chat da tim kiém, phat hién hon 5000 mé va diém md
của khoảng 60 loại khoáng sản khác nhau Nhiều mỏ và điểm mỏ đã được đưa vào khai thác với sản lượng ngày càng tăng, ngành nghề và mặt hàng kinh doanh được
mở rộng và giải quyết công ăn việc làm cho phần lớn lao động phổ thông vùng trung du và miền núi
Hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản luôn gây nhiều tác hại đến môi
trường bởi chất thải, kể cả chất thải nguy hại, gây ô nhiễm không khí và nguồn
nước, phá vỡ chu kỳ thuỷ văn, làm mất đa dạng sinh học, tàn phá rừng, sa mạc hoá
và nghèo hoá nhiều vùng đất, phá hoại cảnh quan thiên nhiên, gây tác động xấu
đến sức khoẻ người lao động và cộng đồng dân cư trong khu vực Hiện nay, các hoạt động khai thác khoáng sản với quy mô công nghiệp do các Tổng Công ty,
5
Trang 7Bộ Tùi nguyên và Môi trường Báo cáo Hiện trạng môi trường
Việt Nam, năm 2003
Công ty thực hiện đã từng bước kiểm soát được tác động xấu gây ra đối với môi trường Hoạt động khai thác với quy mô nhỏ, tận thu đang diễn ra phổ biến ở hầu
hết các địa phương trong cả nước, tuy có chú ý đến công tác bảo vệ môi trường,
nhưng kết quả còn ở mức rất thấp Đặc biệt là khai thác khoáng sản trái phép đang
là vấn để bức xúc hiện nay, đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường như thải xianua, hoá chất trực tiếp ra sông, suối
Kết quả khảo sát môi trường khu vực khai thác và chế biến khoáng sản của
một số tính cho thấy môi trường lao động bị ô nhiễm nặng bởi bụi, nồng độ bụi
vượt tiêu chuẩn cho phép từ 30 - 100 lần Tỷ lệ công nhân mỏ bị các bệnh về đường hô hấp khá cao so với toàn quốc Gần 50% số người mắc bệnh bụi phổi silic
của cả nước là công nhân khai thác mỏ Nhiều công nhân khai thác mỏ chì bị nhiễm độc chì nặng
2.6 KHAI THẮC, NUOI TRONG THUY SAN VA MÔI TRƯỜNG
Nhìn từ góc độ môi trường, hoạt động khai thác và nuôi trồng thuỷ sản vừa là
“nạn nhân” vừa là “thủ phạm”, vì thuỷ sản rất nhậy cảm với các tác động môi trường và chính nó cũng gây ra các tác động cho môi trường xung quanh và sức
khoẻ cộng đồng
Trong khai thác hải sản, số lượng tâu thuyền máy tăng đáng kể (năm 2002
tăng thêm 75 tàu so với 2001), nhưng chủ yếu là tầu nhỏ Trung bình mỗi tầu neo đậu tại một cảng cá xả ra biển chừng 200-300 kg chất thải/ngày (chưa kể dầu thải
từ hoạt động trên biển) Hiện tượng vi phạm các qui định của nhà nước về cấm
khai thác nguồn lợi thuỷ sản bằng các phương pháp huỷ diệt vẫn xẩy ra thường xuyên ở nhiều nơi và có phần phức tạp hơn Do đó, nguồn lợi và nguồn giống tự nhiên bị suy giảm nghiêm trọng, số lượng loài thuỷ sản có nguy cơ tuyệt chủng và
cạn kiệt ngày càng tăng Theo Viện Tài nguyên thế giới (2002), 80% rạn san hô và
cỏ biển Việt Nam nằm trong tình trạng rủi ro, trong đó 50% ở mức rủi ro cao Phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ sản được xem là một trong những giải pháp nhằm giảm bới sức ép từ hoạt động khai thác quá mức ở vùng biển ven bờ Nhưng
do thiếu quy hoạch và phát triển tự phát, phương thức nuôi trồng vẫn chủ yếu là
quảng canh, nên diện tích các vùng đất ngập nước ven bờ bị thu hẹp, Điều này sẽ
đẩy môi trường vào tình trạng khắc nghiệt và thuỷ sản chịu nhiều rủi ro hơn Phần
lớn các vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung do thiếu hệ thống thuỷ lợi và xử lý chất
thải dư thừa, dẫn đến nhiều đầm bị tù đọng, làm cho chất lượng nước trong đầm
biến đối theo chiều hướng xấu (DO thấp, chất hữu cơ tăng, H;S tăng), gây hiện
tượng "thối đầm", Ngoài ra, một số nơi sử dụng hoá chất tẩy rửa ao đầm, xử lý
nguồn nước và thức ăn công nghiệp dẫn đến môi trường đầm bị suy thoái và ô
nhiễm
Nuôi tôm trên bãi cát ở một số tỉnh ven biển miền Trung, bên cạnh hiệu quả
kinh tế - xã hội cũng đã bộc lộ một số bất cập liên quan đến môi trường như: cạn
kiệt và nhiễm mặn nguồn nước, ô nhiễm môi trường nước biển ven bờ Nếu công
tác quy hoạch và quản lý không tốt, khi việc nuôi tôm trên cát diễn ra ở quy mô lớn, trong một thời gian dài sẽ nấy sinh những vấn đề môi trường nghiêm trong,
trước mắt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả nuôi và sau đó có thể ảnh hưởng đến
sức khoẻ cộng đồng và các hoạt động kinh tế khác ở xung quanh
6
Trang 8
2.7 PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI VÀ MÔI TRƯỜNG
Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế thế giới, thương mại nước ta đã phát triển
nhanh chóng, đều đặn và khá vững chắc Tự do hoá thương mại, toàn cầu hoá đã
thúc đẩy sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động xuất nhập khẩu và thị trường nội
địa Tuy nhiên, tự do hoá thương mại cũng dẫn đến những tác động tiêu cực vẻ
kinh tế - xã hội và môi trường Trước hết, tự do hoá thương mại dẫn đến sự gia tăng qui mô hoạt động, bao gồm gia tăng việc sử dựng tài nguyên và ô nhiễm đối với
môi trường, làm thay đổi giá cả một cách tương đối, kéo theo những thay đổi về
cấu thành của sản phẩm và thường phát triển sự chuyên môn hoá vào những ngành
hang mà nước ta có lợi thế tương đối, dẫn đến việc khai thác tối da moi tiém luc va
tài nguyên Trước tình hình đó, cần phải tăng cường sự phối hợp của các cấp quản
lý thương mại và môi trường; hoàn thiện các tiêu chuẩn, các văn bản hướng dẫn các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh thực hiện Luật Bảo vệ môi trường trong kinh doanh thương mại; hoàn thiện các chính sách về thuế, phí và tín dụng; các doanh nghiệp sản xuất và thương mại cần xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn có tính
đến quy định môi trường của các tổ chức quốc tế
2.8 PHÁT TRIỂN DU LICH VA MOI TRUONG
Hoạt động du lịch trong năm 2002 và đầu năm 2003 vẫn đảm bảo được sự tăng trưởng cao Tuy nhiên, hoạt động du lịch đã gây ra một số tác động xấu đến môi trường, đó là :
- Gia tăng lượng chất thải sinh hoạt, đặc biệt ở các trung tâm du lịch, góp
phần làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí Tổng lượng chất
thải rắn từ hoạt động du lịch trên phạm vi cả nước năm 2002 tăng tới khoảng 32.273 tấn và tổng lượng chất thải lỏng 4.817.000 mẻ,
- Gia tăng mức độ suy thoái nguồn nước ngâm Ở khu vực ven biển Nhu cầu
nước cho khách du lịch năm 2002 tăng tới 8.100.000 m” Việc tăng nhanh nhu cầu nước sinh hoạt cho hoạt động du lịch sẽ góp phần làm tăng mức độ suy thoái và ô nhiễm các nguồn nước ngầm hiện đang khai thác, đặc biệt ở vùng ven biển do khả năng xâm nhập mặn cao
- Gia tdng lượng khí thải.Vào mùa du lịch, các ngày lễ hội, ngày nghỉ cuối tuần, các máy điểu hoà không khí của các phòng nghỉ đều hoạt động, tiêu hao
năng lượng lớn và gây ô nhiễm môi trường không khí, lượng xe du lịch tập trung chuyên chở khách đến các trung tâm đô thị du lịch gây ra tình trạng ách tắc giao
thông và làm tăng đáng kể lượng chất thải vào môi trường
- Tác động tiêu cực đến tài nguyên sinh vật Nhiễu cảnh quan đặc sắc, hệ sinh thái nhạy cảm, đặc biệt ở vùng ven biển, hải đảo và ở các khu bảo tồn tự nhiên, vư-
ờn quốc gia bị thay đổi hoặc suy giảm cùng với việc việc phát triển các khu du lịch mới như ở đảo Cát Bà, khu Hùng Thắng, Tuần Châu (Hạ Long), v.v Đa dạng sinh học bị đe dọa bởi nhiều loài sinh vật hoang dã quý hiếm bị săn bắt phục vụ nhu cầu ẩm thực, đồ lưu niệm của khách du lịch
Trang 9Bộ Tài nguyên và Môi trường Báo cáo Hiện trạng môi trường
Việt Nam, năm 2003
2.9 DÂN SỐ, NGHÈO ĐỐI VÀ MÔI TRƯỜNG
Dân số của nước ta năm 2002 là 79,7 triệu người, trong đó nữ 40,5 triệu
(chiếm 50,8%), thành thị 20,0 triệu (25,11%)
Chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta tiếp tục được cải thiện, liên tục tăng từ 0,583 năm 1985 lên 0,688 năm 2002, duy trì vị trí trung bình - 109 trên
173 nước - trong bảng xếp hạng về phát triển con người
Theo kết quả điều tra biến động dân số 1/4/2002 của Tổng cục Thống kê cho thấy dân số phân bố không đều và có sự khác biệt rất lớn theo vùng địa lý kinh tế
Hai vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long chiếm tới 43% dân
số cả nước, nhưng chỉ chiếm gần 17% diện tích đất đai Ngược lại, vùng Tây Bắc
và Tây Nguyên, chỉ có 8,4% dân số của cả nước nhưng chiếm 27% diện tích đất Mật độ dân số trung bình năm 2002 là 242 người/kmỷ, thuộc loại mật độ cao trên thế giới, đứng thứ 3 khu vực Đông Nam Á (sau Singapo và Philippin)
Theo đánh giá của Tổ chức Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, nước ta tiếp tục đạt kết quả về giảm nghèo một cách nhanh chóng Tuy nhiên, hiện nay 29% dân số Việt Nam (ở khu vực thành thị là 7%, nông thôn là 36%) còn ở trong tình trạng
nghèo đói Nạn nghèo đói sẽ vẫn là nguyên nhân dẫn tới huỷ hoại tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường
Từ nay đến năm 2010, dự đoán trung bình mỗi năm dân số Việt Nam tăng thêm khoảng I triệu đến 1,1 triệu người, đến năm 2024 dân số nước ta sẽ là khoảng trên 100 triệu người Quy mô dân số lớn, trong khi tài nguyên thiên nhiên
có xu hướng suy giảm, điều này sẽ gây sức ép to lớn đối với tài nguyên và môi
trường trên phạm vi toàn quốc
Việc di dân tự do và dịch chuyển lực lượng lao động theo mùa vụ đã và đang trực tiếp làm tăng thêm gánh nặng cho những dịch vụ xã hội cơ bản, gây ô nhiễm môi trường sống, tàn phá tài nguyên và gia tăng các tệ nạn xã hội
3 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG
3.1 KHÍ QUYỂN VÀ KHÍ HẬU
©_ Tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu
- Sự phát thải các khí nhà kính: Hàm lượng khí Cacbon dioxit (CO;) trong khí
quyền đã tăng 31% kể từ năm 1750, chủ yếu do đốt nhiên liệu hóa thạch, thay đổi
- Mực nước biển: Mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng 0,1 - 0,2m trong
thế kỷ 20 Dự báo mực nước biển tiếp tục tăng trong khoảng thời gian hàng trăm năm nữa và tăng khoảng 0,09 - 0,88m trong thế kỷ 21
8
Trang 10
e_ Tình hình biến đổi khí hậu ở nước ta
- Sự phát thải khí nhà kính: Tổng lượng phát thải khí nhà kính năm 1994 là
khoảng 104 triệu tấn CO; Ước tính, tổng lượng phát thải khí CO; năm 2010 sẽ là khoảng 140 triệu tấn và năm 2020 là khoảng 233 triệu tấn
- Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình năm của thập kỷ 1991-2000 ở Hà Nội cao hơn trị số trung bình thời kỳ chuẩn (1961-1990) 072C Năm 1997 và 1998
là những năm nóng nhất trong khoảng 100 năm qua
- Mực nước biển: Trong khoảng nửa cuối thế kỷ 20, mực nước biển trung bình
ở các trạm hải văn ven biển nước ta đã tăng trung bình 2,5 - 3,0cm/Ithập kỷ
e_ Tình hình thời tiết, khí hậu năm 2002 và đầu năm 2003
- Nhiệt độ: Năm 2002 là năm nóng hơn bình thường ở hầu hết các vùng trong
cả nước và nóng hơn các năm 2001 và 2000 Mùa đông 2002 là mùa đông thứ 3 liên tiếp ấm hơn bình thường Nhiệt độ trung bình các tháng cuối mùa đông cao
hơn trung bình nhiều năm tới 2 - 3°C Tám tháng đầu năm 2003, nhiệt độ trung
bình ở hầu hết các vùng đều cao hơn trung bình nhiều năm, đã gây ra những đợt
nắng, nóng sớm và gay gắt ngay từ tháng 3 ở Bắc Bộ và từ tháng 5, tháng 6 ở
Trung Bộ và Nam Bộ
- Lượng mưa : Năm 2002 ít mưa, trừ vùng Tây Bắc và một số nơi ở Trung Trung Bộ (Huế, Đà Nắng), lượng mưa năm ở các nơi khác đều ít hơn trung bình
nhiều năm 5 - 35% ở Nam Bộ và 10 - 25% ở vùng phía Đông và đồng bằng Bắc
Bộ Sáu tháng đầu năm 2003 mưa ít kết hợp với nắng nóng gay gắt kéo dài đã gây
ra hạn trên diện rộng ở nhiều vùng, nhất là Trung Bộ và Tây Nguyên Trong nửa
đầu tháng 9, ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ có mưa rất to, nhất là trong 3 ngày 8, 9,
10/9 Tổng lượng mưa 13 ngày đầu tháng 9 ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ phổ biến
300 - 600 mm, một số nơi 800 - 900 mm (Tĩnh Gia, Ba Lạt), đặc biệt ở thị xã Thái
Bình, mưa 1648 mm, bằng 78% lượng mưa trung bình năm và Văn Lý, mưa 1422
mm, bằng 81% lượng mưa trung bình năm
3.2 Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ
Môi trường không khí đô thị ở nước ta bị ô nhiễm do các nguyên nhân : thứ nhất là hoạt động giao thông, số lượng xe, đặc biệt là xe máy đã tăng lên rất nhanh (15 - 18% mỗi năm), đường xá chật hẹp và thường xuyên bị bẩn, thứ hai là do hoạt
động xây dựng và sửa chữa nhà cửa và hạ tầng đô thị không tuân thủ các yêu cầu
bảo vệ môi trường và thứ ba là do khí thai của các xí nghiệp nằm xen kế trong các
khu dân cư
Hoạt động công nghiệp gây ô nhiễm không khí chủ yếu ở các khu, cụm công
nghiệp cũ, như các khu công nghiệp Thượng Đình, Minh Khai - Mai Động (Hà Nội), Thủ Đức, Tân Bình (TP Hồ Chí Minh), Biên Hoà I (Đồng Nai), khu công nghiệp Việt Trì, Khu gang thép Thái Nguyêt, v.v và ô nhiễm không khí cục bộ ở xung quanh các nhà máy xi măng (đặc biệt là xi măng lò đứng), các lò nung gach
ngói, xí nghiệp sản xuất đồ gốm, các nhà máy nhiệt điện đốt than và đốt dầu FO, các nhà máy đúc đồng, luyện thép, các nhà máy sản xuất phân hoá học v.v
Trang 11Bộ Tài nguyên và Môi trường Báo cáo Hiện trạng môi trường
Việt Nam, năm 2003
Ô nhiễm môi trường không khí ở nhiều làng nghề đã tới mức báo động Ở rất
nhiều làng nghề, đặc biệt là một số làng nghề ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ nạn ô
nhiễm môi trường không khí đang rất trầm trọng
- Ô nhiễm bụi Ö hầu hết các đô thị nước ta đều bị ô nhiễm bụi, nhiều đô thị
bị ô nhiễm bụi trầm trọng, tới mức báo động Nồng độ bụi trong các khu dân cư ở bên cạnh các nhà máy, xí nghiệp hoặc gần các đường giao thông lớn đều vượt trị
số tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 3 lần, trường hợp cá biệt có nơi vượt trị số tiêu
chuẩn cho phép tới 5-10 lần, nhất là ở những nơi đang diễn ra thi công xây dựng
Hình I cho thấy từ 1995 đến nay ô nhiễm bụi ở xung quanh các khu công nghiệp
cũ có xu hướng giảm dần đôi chút, Riêng trường hợp ở cụm công nghiệp Tân Bình
(TP Hồ Chí Minh) ô nhiễm bụi có chiều hướng tăng
0 95 96 9708 99 00 01 03 95969798 990001 02 9596 9708 99 0001 0) 9596979899 000103 35096979899 060103) Năm
KCN [7 CumcCN [7 KhuNM [| KhuNM Ƒ| KhuCN
Thượng Đình Tân Bình Xi măng Thép Biên
Hải Phòng Đà Nang Hoà I
Nguồn : Cục BVMT - Báo cáo Quan trắc và Phân tích Môi trường
- Ô nhiễm khí SO; Nhìn chung, nồng độ khí SO; trung bình ở các đô thị nước ta còn thấp hơn trị số tiêu chuẩn cho phép (Hình 2) Tuy vậy, ở các nút giao thông chính và ở gần một số khu công nghiệp, xí nghiệp nung gạch ngói, gốm sứ
và nhà máy nhiệt điện đốt than - dầu, nồng độ khí SO; đã xấp xỉ bằng hoặc lớn hơn
trị số tiêu chuẩn cho phép, có chỗ lớn hơn tới 2-3 lần -
Nhìn chung, nồng dộ khí SO; từ 1995 đến nay thay đổi không đáng kể, hoặc
có xu hướng giảm đi đôi chút,
10
Trang 12
mg/m! : TCCP SO, = 0,3 mgim”
KCN CụmCN |[Ƒj KhuNMXi ] KhuNM {| KhuCN — Thượng Đình Tân Bình măng Hải Thép Biên
Phòng Đà Nẵng Hoa |
Hình 2 Diễn biến nồng độ khí SO; (mg/m)) trung bình năm từ nam 1995 dén nam
2002 trong không khí xung quanh gần các khu công nghiệp,
Nguồn : Cục BVMT - Báo cáo Quan trắc và Phân tích Môi trường,
- Ô nhiễm các khí CO, NÓ¿ Nông độ khí CO trung bình ngày dao động từ 2
đến 5 mg/m”, nồng độ khí NO; trung bình ngày dao động từ 0,04 đến 0,09 mg/mỷ,
chúng đều nhỏ hơn trị số tiêu chuẩn cho phép Tuy vậy, ở một số nút giao thông lớn trong đô thị nồng độ khí CO và khí NO; đã vượt trị số tiêu chuẩn cho phép
- Ô nhiễm chỉ (Pb) Ô nhiễm chì trong không khí đô thị đã giảm đáng kể do ở
nước ta đã sử dụng xăng không pha chì từ ngày 1-7-2001
©_ Mua axit đã xuất hiện và là mối de doa tiém ẩn đối với môi trường Kết quả phân tích số mẫu nước mưa thu được trong các năm 2000, 2001 và năm 2002 của
tất cả 9/9 địa diểm quan trắc mưa axit (Lào Cai, Hà Nội, Quảng Ngãi, Nha Trang,
Biên Hoà, TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Vũng Tàu và Mỹ Tho) đều xuất hiện
nồng độ trong nước mưa với pH <5,5 (mưa axit)
« ˆ Ô nhiễm tiếng ồn đô thị Từ 1999 đến hết năm 2002, mức ồn ở cạnh các đường phố của 13 thành phố/thị xã đã quan trắc thay đổi không đáng kể, mức ồn giao thông cao nhất là 82 - 85 đBạ
Hình 3 cho thấy : tuy lưu lượng xe giao thông từ năm 1995 đến năm 2002 tang
lên hơn 2 lần, nhưng mức ồn giao thông chỉ tăng 1,6 đBA Nguyên nhân có thể do
đường đã được cải tạo, mặt đường tốt hơn, đường thông thoáng hơn và tỷ lệ xe mới
tăng, xe cũ giảm
11
Trang 13‘ Bộ Tài nguyên và Môi trường Báo cáo Hiện trạng môi trường
Việt Nam, năm 2003
Hình 3 Diễn biến mức ồn tương đương trung bình ngày (dB,) và lưu lượng dong
xe ở giờ cao điểm trên đoạn đường bến xe phía Nam TP Hà Nội, từ năm
1995 đến năm 2002
Nguồn : Cục BVMT - Báo cáo hàng năm của trạm QT« PT Môi trường
«© Các chính sách và giải pháp đáp ứng BVMT không khí
- Giảm thiểu ô nhiễm bụi là yêu cầu bức bách nhất : Trước hết là phải bảo
đảm mặt đường sạch sẽ, tránh đất cát rơi vãi khi vận chuyển vật liệu, khi đào lấp
sửa chữa đường xá, cống rãnh, khi sửa chữa, xây dựng nhà cửa và tích cực giữ gìn
vệ sinh đô thị
- Giảm thiểu ô nhiễm khí SO; và NO; : Biện pháp chủ yếu để giảm thiểu là thay thế các nhiên liệu than và dầu nặng bằng khí hoá lỏng và dầu nhẹ Trong
trường hợp cần thiết thì sử dụng các thiết bị xử lý khí SO›, NO; công nghiệp
- Giảm thiểu tiếng ôn : 2 biện pháp hiệu quả nhất để giảm tiếng ồn là kiểm tra
chất lượng xe và cấm tất cả các xe sử dụng còi khi chạy trong thành phố
3.3 MÔI TRƯỜNG NƯỚC LỤC ĐỊA
e Nuéc mat Khoang 70% tài nguyên nước của nước ta tạo ra từ nước ngoài Ở thượng lưu Nguồn nước phân phối rất không đều trong năm và trên toàn lãnh thổ,
đã gây nên bất lợi trong sử dụng nước: lũ lụt về mùa mưa và hạn hán, thiếu nước
về mùa khô Để điều hoà và phát triển các nguồn nước cho các mục đích khác
nhau, nước ta đã và đang xây dựng các công trình hồ chứa như: hồ Thác Bà, Hoà Bình, Trị An, Yaly, Dầu Tiếng
e_ Nước ngầm Trữ lượng tiểm năng của các phức hệ chứa nước chính khoảng 48
tỷ mÌnăm (131,5 triệu m/ngày) Trữ lượng khai thác dự báo khoảng 6 - 7 tỷ
mÌ/năm (17 - 20 triệu mỶ/ngày) Đã phát hiện ô nhiễm nước ngầm cục bộ ở một số nơi
12
Trang 14
©_ Khai thác và quản lý tài nguyên nước
Việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước mặt, nước ngâm tăng lên cùng với quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, nhu cầu nước ngày càng tăng, trong khi
nguồn tài nguyên nước không đổi
Tình hình quản lý tài nguyên nước còn nhiều bất cập Tình trạng khai thác sử
dụng bừa bãi, không quản lý được vẫn còn phổ biến
Về mùa khô mực nước sông hồ hạ thấp, lưu lượng nhỏ gây nên tình trạng nước
bị ô nhiễm hoặc hiện tượng xâm nhập mặn do triểu cường gây nên
Nhu cầu cấp nước đô thị, nông thôn, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải thuỷ, du lịch, ngày càng tăng
Tỷ lệ dân số được cấp nước còn thấp mới đạt mức khoảng 60-70%, về lượng chỉ đạt 40 - 50% tiêu chuẩn cần thiết Vẫn thiếu nước trầm trọng ở nhiều nơi vào mùa hè
Tỷ lệ dân vùng nông thôn được cấp nước sạch đạt trung bình 51%, thấp nhất ở
vùng núi phía Bắc: 38%, cao nhất ở đồng bằng sông Hồng và sông Cửu long: 56% e_ Diễn biến chất lượng nước các sông, hồ ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ
Chí Minh
Sông Tô Lịch, Kim Ngưu (Hà Nội)
Nước ở các sông thoát nước của Hà Nội : Tô Lịch và Kim Ngưu thuộc loại rất
ban, chi tiêu BOD; cũng như COD đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 3 lần, tổng Coliform cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ hàng chục đến hàng trăm lần Nếu
so sánh với các năm 1994, 1995 ta thấy các sông thoát nước của Hà Nội ngày càng
bị nhiễm bản hơn, các chỉ tiêu như NH,’ , COD, BODs, Coliform déu tang manh
Sông hồ ở Đà Nẵng
Tại thành phố Đà Nẵng, ở những đoạn sông thuộc vùng khai thác khoáng sản, nhất là nơi có nạn khai thác trái phép, hàm lượng cyanua vượt 1,6 đến 2 lần tiêu
chuẩn cho phép Tại hồ Phú Ninh vào mùa mưa, hàm lượng Hg vượt tiêu chuẩn
cho phép 3 lần, nước sông Tranh thuộc huyện Trà My hàm lượng Hg vượt 5 lần
TCVN
Kênh rạch TP Hô Chí Minh
Do BOD cao, hàm lượng DO trên một số đoạn kênh rạch bị ô nhiễm nhất hầu
như bằng 0, gây ra hiện tượng phân hủy yếm khí, tạo nên mùi hôi thối nồng nặc,
đồng thời tạo ra lớp váng trên mặt, làm mất vẻ mỹ quan và ngăn cản quá trình hòa tan Ôôxy trong nước
13
Trang 15Bộ Tài nguyên và Môi trường Báo cáo Hiện trạng môi trường
Việt Nam, năm 2003
e Diễn biến chất lượng nước của một số sông chính (hình 4, hình 5)
TCVN 5942 - 1995 Nguồn A < 0,5 mg/l
Hình 4 Diễn biến N-NH,' tại các sông đã quan trắc từ 1995 - 2002
Nguồn : Cục BVMT - Báo cáo Quan trắc và Phân tích Môi trường
Song Héng SôngCấm SôngHương Sông làn 5 Sai gon 1 trí
(Hà Nội) (Hải phòng) (Huế) (Đà nắng) (TP.HCM)
Hình 5 Diễn biến BOD, trên các sông đã quan trắc từ 1995 - 2002
Nguồn : Cục BVMT- Báo cáo Quan trắc và Phán tích Môi trường
e_ Diễn biến chất lượng nước ngầm
Ô nhiễm chất hữu cơ : Nhìn chung, hàm lugng cla BOD, va COD của nước ngầm đều thấp hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần
Ô nhiễm các chất dinh dưỡng : Nhiễm bẩn các hợp chất Nitơ diễn ra ở đồng bằng Bắc Bộ, đặc biệt là ở Hà Nội Một số vùng khác như TP Hồ Chí Minh, đồng bằng sông Cửu Long và một số thành phố miền Trung khác cũng đã phát hiện thấy
tình trạng ô nhiễm Nitơ; Nhiễm bẩn Phốt phát (PO,”): Hàm lượng PO,` trong 14
Trang 16
nước ngầm tầng Q, ở một số nơi (đồng bằng Bác Bộ) cũng có biểu hiện tăng theo
thời gian
Ô nhiễm kim loại nặng : một số điểm khai thác nước ngầm có hiện tượng ô
nhiễm kim loại nặng Trong những năm gần đây, đã phát hiện hàm lượng Asenic tồn tại trong nước tại một số khu vực ở thành phố Hà Nội Tuy nhiên, đa số các
mẫu đều có hàm lượng Asenic thấp hơn giá trị cho phép
© Moét sé giải pháp ngăn ngùa, giảm thiểu ô nhiễm cần thực hiện gồm :
- Tổ chức và quản lệ nước thống nhất theo lưu vực : Quản lý và giám sát tại các nguồn phát sinh nước thải; Quản lý và giám sát chất lượng nguồn nước tiếp nhận, khả năng tự làm sạch của chúng Thực hiện nguyên tắc bảo vệ tài nguyên
nước là trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi người dân; xã hội hoá nhằm
thay đổi hành vi và hành động của người dân
- Các giải pháp công trình xử lý nước thải : Đa dạng hoá loại hình, áp dung
công nghệ trạm xử lý tập trung hoặc theo kiểu phân tán; hệ thống vệ sinh và xử lý
nước thải tại chỗ với mức độ xử lý bậc hai
3.4 MÔI TRUONG NUGC BIEN VEN BO
©_ Các nguồn thải chính gây ô nhiễm biển
- Các nguồn thải có nguồn gốc lục địa: các đô thị và các khu công nghiệp ven
biển
- Nguồn ô nhiễm từ sông tải ra: các hệ thống sông lớn ở Việt Nam hàng năm
đổ ra biển khoảng hàng trăm ngàn tấn chất hữu cơ, trong đó có chứa kim loại nặng
và nhiều chất độc hại khác
- Nguồn thải từ các hoạt động giao thông đường thuỷ và đánh bắt hải sản, các
vụ (ràn dầu do va chạm, đắm tầu
- Hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí, ngoài việc thải nước lẫn dầu với
khối lượng lớn, còn sinh ra khoảng 5.600 tấn chất thải rắn, trong đó có 20-30% là
chất thải rắn nguy hại
¢ Hiện trang môi trường nước biển ven bờ
Nhìn chung, chất lượng nước, trầm tích và đa dạng sinh học ở biển ven bờ
nước ta vẫn tiếp tục bị suy giảm
_ Dâu, coliform và kẽm vẫn là 3 thông số nhiễm bẩn nước biển chủ yếu nhất,
Ô nhiễm TSS, Si, NO;, NH;, PO¿ cũng ở mức đáng lo ngại
- Ham luong Aldrin, Endrin va Diedrin trong các mẫu sinh vật đáy ven bờ
biển miền Bắc đều cao hơn giới hạn cho phép Mức độ đa dạng sinh học động vật đáy ở miền Bắc, thực vật nổi ở miền Trung suy giảm rõ rệt
- Hiện tượng thuỷ triều đồ tiếp tục xuất hiện tại biển Bình Thuận và bùng nổ
tảo độc ở biển Nha Trang, Đà Nắng
15
Trang 17Bộ Tài nguyên và Môi trường Báo cáo Hiện trạng môi trường
Việt Nam, năm 2003
© Các giải pháp bảo vệ môi trường nước biển
- Đẩy mạnh các chương trình và dự án về môi trường biển: Chương trình
nghiên cứu hợp tác đa phương về khoa học biển khu vực Đông Nam Á, chương trình quản lý tổng hợp vùng bờ Việt Nam do chính phủ Hà Lan tài trợ, chương
trình nghiên cứu xu thế suy thoái môi trường biển Đông của UNEP, các dự án về
quản lí các khu bảo tồn biển, các vùng đất ngập nước, các vườn Quốc gia hải đảo
- Thực hiện đánh giá tác động môi trường đối với các dự án xây dựng và phát
triển luồng tàu, cầu cảng, lấn biển làm khu dân cư, khu công nghiệp, khu nuôi trồng thuỷ sản, phát triển nuôi tôm trên bãi cát
3.5 MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG ĐỒNG NẠI - SÀI GỒN
Hệ thống sông Đồng Nai - Sài Gòn bao gồm các sông Đồng Nai, La Ngà, sông Bé, Sài Gòn, Nhà Bè và các nhánh sông tách từ sông Nhà Bè đổ ra vịnh Gành Rái: sông Soài Rạp, Lòng Tàu - Ngã Bảy, Dừa, Vàm Sát - Đồng Tranh - Gò Da Diện tích lưu vực hệ thống sông Đồng Nai - Sài Gòn khoảng trên 43.450 kmỶ, là lưu vực lớn thứ hai ở các tỉnh phía Nam sau lưu vực sông Mêkông
Hiện trạng chất lượng nước trong lưu vực vào năm 2002 - 2003 được tóm tắt
dưới đây:
- Sông Đồng Nai : vùng hạ lưu (tính từ sau hổ Trị An đến điểm hợp lưu với
sông Sài Gòn): ô nhiễm hữu cơ chưa cao (DO = 4 -6 mg/I, BOD = 4 - 8 mg/)
nhưng hầu như không đạt TCVN đối với nguồn loại A Ô nhiễm vi sinh và đầu mỡ
rõ rệt, ô nhiễm kim loại nặng, phenol, PCB chưa vượt tiêu chuẩn, nhiễm mặn không xảy ra từ Long Bình đến thượng lưu Vùng thượng lưu nước có chất lượng tốt, trừ khu vực thành phố Đà Lạt đã bị ô nhiễm nặng do hàm lượng cao của các
chất hữu cơ, dinh dưỡng, vi sinh Khả năng tự làm sạch của sông Đồng Nai khá tốt
- Sông La Ngà : Có chất lượng tốt, nhưng đã có chỗ có đấu hiệu ô nhiễm hữu
cơ và vi sinh ở một số nơi
- Sông Sài Gòn: mức độ ô nhiễm là nghiêm trọng cả về hữu cơ (DO = 1,5 -
5,5 me/l, BOD = 10 - 30 mg/I), dầu mỡ, vi sinh Không có điểm nào đạt TCVN đối với nguồn loại A Ô nhiễm cao nhất là ở vùng sông chảy qua trung tâm TP Hồ Chí Minh Ngoài ra sông Sài Gòn còn bị axit hoá nặng do nước phèn ở đoạn Hóc Môn
- Các sông Vàm Có Đông, Vàm Có Táy: bị ảnh hưởng mặn khá sâu vào mùa kiệt,
bị ô nhiễm hữu cơ và vi sinh ở mức cao, độ axit hoá khá cao (độ pH vùng nước ngọt 4
- 6) Không có điểm nào trên 2 sông này đạt TCVN đối với nguồn loại A
- Ô nhiễm nước ngầm không phải là vấn đề lớn ở các tỉnh thượng lưu, nhưng ở
TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Tây Ninh, Long An nước ngầm có chất lượng kém
16
Trang 18
do nhiễm mặn nặng ở vùng Cần Giờ; nhiễm phèn ở Tây TP Hồ Chí Minh, Long An; nhiễm nitrat, amoni, vi sinh ở TP Hồ Chí Minh
Tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá, mức độ tăng trưởng kinh tế của các tỉnh
thuộc lưu vực ở mức cao, cần hết sức quan tâm có các giải pháp bảo vệ môi trường
hữu hiệu đảm bảo phát triển bền vững trên toàn lưu vực
3.6 MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỤC SÔNG CẦU
Lưu vực sông Cầu có diện tích 6030 km”, có đa dạng và phong phú về tài nguyên, có tầm quan trọng về kinh tế, xã hội đối với 6 tỉnh thuộc lưư vực
Hiện nay sông Cầu đang chịu tác động mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế -
xã hội, đặc biệt của các khu công nghiệp, khu khai thác và chế biến khoáng sản, các đô thị và các điểm dân cư , chất lượng nước các sông thuộc lưu vực sông Cầu ngày càng xấu đi, nhiều đoạn sông đã bị ô nhiễm tới mức báo động Ô nhiễm cao nhất là đoạn sông Cầu chảy qua địa phận thành phố Thái Nguyên, đặc biệt là tại các điểm thải của nhà máy giấy Hoàng Van Thụ, khu gang thép Thái Nguyên ,
chất lượng nước không đạt cả tiêu chuẩn A và B Tiếp đến là đoạn sông Cà Lồ, hạ
lưu sông Công, chất lượng nước không đạt tiêu chuẩn A và một số yếu tố không
đạt tiêu chuẩn B Yếu tố gây ô nhiễm cao nhất là các chất hữu cơ, NO; và dầu Ô nhiễm nhất là đoạn từ nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ tới cầu Gia Bảy, ôxy hòa tan
đạt giá trị thấp nhất (0,4 - 1,5 mg/I), BOD;, COD rất cao (>1000mg/); Colifom ở một số nơi khá cao, vượt quá tiêu chuẩn A tới hàng chục lần Hàm lượng
NO, > 2,0 mg/l và dầu > 5,5 mg/l, vượt quá tiêu chuẩn B tới 20 lần Đoạn sông từ
cầu Gia Bảy đến đập Thác Huống, mức độ ô nhiễm tuy có giảm đi, nhưng chất lượng nước sông vẫn không đạt tiêu chuẩn nước loại A Đoạn sông từ đập Thác
Huong đến sau cửa xả thải của khu Gang thép, do nhận nước thải từ khu Gang thép
nên nước sông lại bị ô nhiễm nặng Điều đáng lưu ý là tại đoạn sông trên, hàm
lượng dầu mỡ quá cao (> 20 mg/l), vượt quá tiêu chuẩn B tới gần 70 lần, hàm
lượng NO; rất cao, > 2,0 mg/l, vượt quá tiêu chuẩn A > 200 lần, hàm lượng DO
thấp, BOD;, COD cũng ở mức cao Đoạn từ điểm xả thải của khu gang thép về
phía hạ lưu, chất lượng nước sông được phục hồi dần Hàm lượng BOD., độ đục,
độ cặn lơ lửng, dầu, mỡ, NO; giảm dân Mặc dù vậy, chất lượng nước sông vẫn kém so với đoạn sông ở thượng nguồn và vẫn không đạt tiêu chuẩn A
Để phát triển bền vững lưu vực sông Cầu cần thiết phải thực hiện quản lí tổng
hợp, bao gồm từ việc thiết lập thể chế, chính sách, chiến lược đến các biện pháp quản lí, công nghệ phù hợp cho từng khu vực, cho từng thành phần môi trường Đề
án tổng thể về bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu đang được xây dựng
3.7 MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG NHLỆ - SÔNG ĐÂY
Lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy thuộc các tỉnh và thành phố Hoà Bink; Hà Nội,
Hà Tây, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình
Hiện tại nước của trục sông chính thuộc lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đã bị ô
nhiễm, đặc biệt là nước sông Nhuệ Chất lượng nước sông Nhuệ từng lúc (phụ
thuộc vào thời gian mở cống Liên Mạc), từng nơi vượt trên giới hạn cho phép đối
với nước loại B Các sông khác có chất lượng nước ở mức giới hạn cho phép đối
với nước loại B Nếu không có biện pháp ngăn ngừa khác phục, xử lý ô nhiễm kịp
17
Trang 19Bo Tai nguyên và Môi trường Báo cáo Hiện trạng môi trường
Việt Nam, năm 2003
Nguyên nhân gây ô nhiễm gồm :
- Chất thải không được xử lý trước khi thải vào lưu vực sông: theo thống kê chưa đầy đủ thì trong phạm vi lưu vực sông Nhuệ - sông Day có gần 700 nguồn
thải công nghiệp, sản xuất thủ công nghiệp làng nghề, trong đó nhiều nguồn thải
chứa các chất thải nguy hại và khó phân huy như kim loại nặng, dầu mỡ, dung môi
hẹp, gây tắc nghẽn dòng chảy, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tự làm sạch của
dòng sông
Để giải quyết một cách cơ bản vấn để môi trường, Đề án tổng thể quản lý và
bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đang được xây dựng,
3.8 CHẤT THÁI RẮN
Theo số liệu thống kê từ các tỉnh, thành phố và quan trắc môi trường năm
2002 cho thấy lượng chất thải rắn bình quân ở các đô thị lớn khoảng từ 0,8 đến 1/2 kgjngười- ngày và ở một số đô thị nhỏ dao động từ 0,5 đến 0,7 kg/người - ngày Tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh từ các đô thị năm 2002 tăng từ 3% đến 12% so với năm 2001 (Hình 6)
Hinh 6 Luong chat thải phát sinh năm 2002 tại một số tỉnh/thành khu vực
miền Bắc (a), khu vực miền Nam (b)
WWX Tổng lượng rác (tấn/ngày)
BE Lượng thu gom (tấn/ngày)
18