Để có thể giảm thiểu tác động xấu của BĐKH đối với môi trường và cuộc sống con người, các quốc gia phải cùng nhau hợp tác trong nhiều hoạt động, trong đó đặc biệt chú ý đến giảm phát thả
Trang 1TS Vò Thu H¹nh *
1 Đặt vấn đề
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là vấn đề mang
tầm quốc gia và quốc tế Ảnh hưởng của
BĐKH đến các mặt của đời sống kinh tế, xã
hội đã được nhiều lĩnh vực khoa học nghiên
cứu như khoa học môi trường, khoa học thuỷ
văn và khí tượng, khoa học quản lí và kiểm
soát các thảm họa từ thiên nhiên Để có thể
giảm thiểu tác động xấu của BĐKH đối với
môi trường và cuộc sống con người, các quốc
gia phải cùng nhau hợp tác trong nhiều hoạt
động, trong đó đặc biệt chú ý đến giảm phát
thải khí nhà kính; tái tạo, sử dụng năng lượng
sạch và hấp thụ khí nhà kính Để tiến hành
các hoạt động trên, chính sách và pháp luật
của mỗi quốc gia vừa đóng vai trò chủ động
phòng ngừa, hạn chế BĐKH vừa mang ý
nghĩa thích nghi và ứng phó với BĐKH
Tại Việt Nam, các nỗ lực trong việc tìm
kiếm giải pháp ứng phó với BĐKH cũng đã
được Chính phủ quan tâm sâu sắc Việt Nam
đã kí kết và phê chuẩn hai (02) văn kiện quan
trọng trong lĩnh vực này là Công ước khung
của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu
(UNFCCC) và Nghị định thư Kyoto (KP),
cũng như từng bước hình thành khung khổ
chính sách, pháp luật về giảm thiểu, ứng phó
và thích nghi với BĐKH Tuy nhiên, có thể
nhận xét chung là hệ thống chính sách và
pháp luật Việt Nam trong mối liên hệ với BĐKH còn nhiều khoảng trống; nhiều quy định còn chung chung, mang tính tuyên ngôn hơn là tính quy phạm, một số quy định không còn phù hợp với yêu cầu mới, hiệu lực thực thi của nhiều quy định chưa cao Những rà soát, phân tích, bình luận dưới đây về nhận thức đối với vấn đề BĐKH, ảnh hưởng của BĐKH đến phát triển kinh tế- xã hội và thực trạng chính sách, pháp luật của Việt Nam về thích nghi và ứng phó với BĐKH sẽ minh chứng cho những nhận định trên
2 Nhận thức chung về khí nhà kính và ảnh hưởng của nó tới biến đổi khí hậu
Cũng như hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, tại Việt Nam, khí nhà kính phát sinh chủ yếu từ các lĩnh vực nông nghiệp, giao thông vận tải, sản xuất và tiêu thụ năng lượng Ngoài ra, khí nhà kính còn sinh ra từ quá trình đốt cháy than củi và phụ phẩm nông nghiệp Với tốc độ tăng trưởng GDP
từ 7.5 - 8.5%/năm, tốc độ phát triển công nghiệp từ 14 - 16%/năm, nhu cầu sử dụng năng lượng từ nhiên liệu hoá thạch phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội là rất lớn.(1)
Điều này cũng có nghĩa là việc thải khí nhà kính sẽ tiếp tục gia tăng Việt Nam
*, ** Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2cũng đã dự báo lượng phát thải khí nhà kính
đến năm 2010 và 2020 ở 3 lĩnh vực chính là
nông nghiệp, lâm nghiệp và năng lượng Theo
đó, tổng lượng CO2 dự kiến phát thải là trên
140 triệu tấn vào năm 2010 và trên 230 triệu
tấn vào năm 2020.(2)
Tuy nhiên, nhận thức trên thực tế về tính
chất của khí nhà kính, tác động của BĐKH
đến các mặt của đời sống kinh tế, xã hội, vai
trò của chính sách, pháp luật đối với BĐKH
vẫn chưa đạt được sự thống nhất cao, cả trong
giới khoa học cũng như các nhà hoạch định
chính sách Thể hiện qua các cách hiểu như sau:
Một là khí nhà kính là loại khí thải nên
phải được kiểm soát bởi hệ thống quy chuẩn
kĩ thuật về môi trường Song không ít quan
điểm cho rằng CO2 (chất chủ yếu gây hiệu
ứng nhà kính) không phải là chất gây ô
nhiễm nên không cần thiết phải kiểm soát
qua hệ thống này
Hai là bất cứ hoạt động nào thải CO2
cũng được coi là thải khí nhà kính, trong khi
quan điểm khác lại cho rằng không coi là
thải khí nhà kính nếu việc thải CO2 nằm
trong chu trình carbon trong tự nhiên Nói
khác đi, chỉ xem các hoạt động đốt nhiên
liệu hoá thạch, đốt rừng, phá vỡ chu trình
carbon trong tự nhiên mới là hoạt động thải
khí nhà kính
Ba là sẽ là phiến diện nếu chỉ tập trung
vào việc chỉ ra các tác động tiêu cực của
hiệu ứng nhà kính mà không thấy những mặt
tích cực của nó, đặc biệt là trong lĩnh vực
nông, lâm nghiệp Thực tế cho thấy năng
suất cây trồng, vật nuôi tăng nhanh hơn
trong điều kiện thời tiết ấm hơn, ở những nơi
có hàm lượng CO2 nhiều hơn Cần phải thấy
rõ mặt tích cực này để xem trồng cây, gây rừng không chỉ là biện pháp đối phó với BĐKH mà còn là giải pháp tận dụng lợi thế
để phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp
Bốn là theo những gì đã cam kết với
cộng đồng quốc tế thì tại thời điểm này Việt Nam chưa có nghĩa vụ phải giảm phát thải khí nhà kính, do vậy chính sách, pháp luật quốc gia chưa cần phải điều chỉnh vấn đề giảm phát thải Trước mắt, chỉ cần thực hiện một số nghĩa vụ chung mà thôi Trong khi quan điểm khác lại cho rằng chính sách và pháp luật không chỉ để điều chỉnh các vấn đề hiện tại mà còn cần phải hướng tới mục tiêu lâu dài Do vậy, vẫn cần phải có sự điều chỉnh của chính sách và pháp luật về giảm phát thải khí nhà kính ngay từ thời điểm này Tuy nhiên, bất chấp những tranh cãi nêu trên, những gì mà BĐKH đã, đang và sẽ gây
ra tại Việt Nam vẫn là điều không thể phủ nhận,(3) cụ thể là:
- Đối với lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp Tác động của BĐKH làm cho phạm vi phân
bố các cây trồng nhiệt đới mở rộng và cây trồng á nhiệt đới thu h p lại; ngập úng và hạn hán xuất hiện với tần suất cao hơn; một phần đáng kể diện tích đất trồng trọt vùng đồng bằng duyên hải, châu thổ sông Hồng, sông
Mê Kông bị ngập mặn do nước biển dâng ; diện tích rừng ngập mặn bị thu h p; rừng nguyên sinh bị thay đổi ranh giới; nguy cơ tuyệt chủng một số loài động, thực vật hoang dã; gia tăng nguy cơ cháy rừng, sâu bệnh, dịch bệnh ; địa bàn sinh sống của một số loài thuỷ sản nước ngọt bị thu h p; xuất hiện hiện tượng phân tầng nhiệt độ trong thuỷ vực nước đứng, ảnh hưởng đến quá trình sinh sống của các loài thuỷ sinh
Trang 3- Đối với lĩnh vực năng lượng, giao thông
- vận tải: Nước biển dâng ảnh hưởng đến các
dàn khoan dầu trên biển, hệ thống các công
trình ven biển; dòng chảy các con sông có
thuỷ điện bị ảnh hưởng Ngoài ra, nhiệt độ
tăng cao sẽ tăng chi phí thông gió, làm mát
các hầm lò, giảm hiệu suất của các nhà máy
điện, tiêu thụ điện cho sinh hoạt gia tăng
- Đối với sức kh e con người: Nhiệt độ
tăng làm thay đổi đặc tính trong nhịp sinh học
của con người, gia tăng các nguy cơ đối với
người già, người mắc bệnh tim mạch, bệnh
thần kinh; xuất hiện một số dịch, bệnh nhiệt
đới mà người Việt Nam chưa kịp thích nghi(4)
3 Pháp luật hiện hành về thích nghi
và ứng phó với bđkh và những ưu điểm,
hạn chế của nó
Hệ thống pháp luật hiện hành của Việt
Nam liên quan đến BĐKH gồm hai (02)
nhóm quy định: 1) Các quy định về giảm
phát thải khí nhà kính; 2) Các biện pháp
pháp lí và công cụ kinh tế hỗ trợ việc giảm
phát thải khí nhà kính (bao gồm việc sử
dụng năng lượng sạch, năng lượng tái sinh
và cơ chế sản xuất sạch hơn - CDM)
3.1 Các quy định về giảm phát thải khí
nhà kính
Như đã đề cập ở trên, do chưa có nghĩa
vụ phải giảm phát thải khí nhà kính nên các
quy định của pháp luật Việt Nam đề cập trực
tiếp đến việc thải khí nhà kính còn ít và tản
mạn Luật BVMT năm 2005 mới chỉ có một
vài điều khoản quy định việc quản lí khí thải
gây hiệu ứng nhà kính, phá huỷ tầng ôzôn,
như “Bộ tài nguyên và môi trường có trách
nhiệm thống kê khối lượng khí thải gây hiệu
ứng nhà kính trong phạm vi cả nước nhằm
thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên Việc chuyển nhượng, mua bán hạn ngạch phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính của Việt Nam với nước ngoài do Thủ tướng Chính phủ quy định Cấm sản xuất, nhập khẩu, sử dụng hợp chất làm suy giảm tầng ôzôn theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên” (Điều 84); “Nâng dần tỉ trọng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo trong tổng sản lượng năng lượng quốc gia; thực hiện mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính”
(điểm c khoản 3 Điều 33) Còn lại phần lớn các quy định gián tiếp điều chỉnh việc phát thải khí nhà kính Chúng được thể hiện tại các quy định chung trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và trong các lĩnh vực khác như năng lượng, giao thông, nông nghiệp, công nghiệp, nhập khẩu hàng hoá Cụ thể là:
a Các quy định chung trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường
- Quy chuẩn kĩ thuật về môi trường đối với khí thải Luật BVMT (bảo vệ môi trường) năm 2005 đề cập 2 nhóm quy chuẩn
kĩ thuật về chất thải khí, gồm: 1) Nhóm quy chuẩn kĩ thuật về khí thải công nghiệp, khí thải từ các thiết bị dùng để xử lí, tiêu huỷ chất thải sinh hoạt, công nghiệp, y tế và từ hình thức xử lí khác đối với chất thải; 2) Nhóm quy chuẩn kĩ thuật về khí thải đối với phương tiện giao thông, máy móc thiết bị
chuyên dụng (điểm b, c khoản 3 Điều 10)
Tính tới thời điểm này, đã có 95 quy chuẩn
kĩ thuật liên quan đến không khí được ban hành, trong đó có 26 quy chuẩn kĩ thuật về chất thải khí.(5) Tuy nhiên, các quy chuẩn về
Trang 4chất thải khí mới chỉ chủ yếu tập trung vào
lĩnh vực công nghiệp và giao thông, trong
khi chất thải khí phát sinh từ lĩnh vực xử lí
chất thải, sử dụng phân hoá học, thuốc trừ
sâu trong nông nghiệp lại chưa được quan
tâm đầy đủ Ngoài ra, việc tiếp cận, tra cứu
các quy chuẩn kĩ thuật về môi trường được
cho là chưa thuận tiện mặc dù chúng đã
được đăng tải trên website của Tổng cục môi
trường, Bộ tài nguyên và môi trường.(6)
- Đánh giá tác động môi trường đối với
các dự án có liên quan đến thải khí Pháp
luật môi trường quy định danh mục 162 dự
án thực hiện mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở
rộng phải tiến hành đánh giá tác động môi
trường Một trong những nội dung quan
trọng của báo cáo đánh giá tác động môi
trường là phải đánh giá chi tiết và có biện
pháp cụ thể giảm thiểu các tác động xấu đến
môi trường nói chung, không khí nói riêng
Đối với mỗi loại chất thải, trong đó có khí
thải, phải nêu đầy đủ các thông tin về tổng
lượng phát sinh trên một đơn vị thời gian,
thành phần và hàm lượng/nồng độ của từng
thành phần; so sánh đối chiếu với các tiêu
chuẩn, quy chuẩn hiện hành (nếu có) (Điều
20 Luật BVMT năm 2005) Các dự án khác
không phải thực hiện đánh giá tác động môi
trường thì phải thực hiện cam kết bảo vệ môi
trường Nội dung của bản cam kết bảo vệ
môi trường phải đề cập các nhu cầu về
nguyên nhiên liệu, loại chất thải phát sinh,
trong đó có khí thải; các biện pháp giảm
thiểu và cam kết tuân thủ quy chuẩn môi
trường.(7)
Rõ ràng, theo các quy định về nội
dung của bản cam kết bảo vệ môi trường nêu
trên thì trách nhiệm lập bản cam kết chỉ
thuộc về chủ các dự án đầu tư cụ thể hoặc tiến hành một hoạt động sản xuất kinh doanh
cụ thể, song nếu căn cứ vào quy định “Những
chủ thể không thuộc dự án quy định tại Điều
14 và Điều 18 Luật BVMT năm 2005 thì phải có bản cam kết BVMT” (Điều 24 Luật
BVMT năm 2005) thì lại có thể hiểu là các
dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch cũng phải lập bản cam kết bảo vệ môi trường
- Kiểm soát khí thải Pháp luật quy định
chung về việc kiểm soát chất thải khí, như
nghiêm cấm thải khói, bụi, khí có chất hoặc mùi độc hại vào không khí; phát tán bức xạ, phóng xạ, các chất ion hoá vượt quá tiêu chuẩn môi trường cho phép; tổ chức, cá
nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ có phát tán bụi, khí thải phải có trách
nhiệm kiểm soát và xử lí bụi, khí thải đạt tiêu chuẩn môi trường; phương tiện giao thông,
máy móc, thiết bị, công trình xây dựng có
phát tán bụi, khí thải phải có bộ phận lọc, giảm thiểu khí thải đạt tiêu chuẩn môi trường, có thiết bị che chắn hoặc biện pháp khác để giảm thiểu bụi bảo đảm đạt quy chuẩn môi trường (khoản 6 Điều 7; Điều 36;
Điều 83 Luật BVMT năm 2005)
b Các quy định trong lĩnh vực khác
- Năng lượng Tiết kiệm điện là một trong những nội dung quan trọng của Luật điện lực năm 2004, được thể hiện qua các quy định
“Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng
trong sản xuất công nghiệp, trong các toà nhà, đối với thiết bị, phương tiện sử dụng năng lượng và trong sinh hoạt của nhân dân”; (8)
“Xây dựng và đưa nhà máy điện hạt
nhân đầu tiên vào vận hành an toàn, khai thác hiệu quả Đồng thời, xây dựng hạ tầng
Trang 5cơ sở vững chắc cho chương trình dài hạn về
phát triển điện hạt nhân, từng bước nâng tỉ lệ
điện hạt nhân đạt mức cân bằng trong tổng
sản lượng điện năng quốc gia (khoảng 11%
vào năm 2025 và 25 - 30% vào năm 2040 -
2050)” (9)
Tuy nhiên, trừ các quy định tiết
kiệm điện trong trụ sở của các cơ quan nhà
nước, chiếu sáng công cộng là mang tính bắt
buộc, các quy định khác về tiết kiệm năng
lượng mới chỉ dừng lại ở mức khuyến khích
Còn thiếu vắng các quy chuẩn về tiêu thụ
năng lượng đối với các loại thiết bị (như
công suất tối đa hoặc hiệu suất sử dụng năng
lượng) Hiện tại, các quy định về sử dụng
tiết kiệm năng lượng mới chỉ được được
nhìn nhận, đánh giá dưới góc độ kinh tế mà
chưa coi trọng đúng mức những tác động của
nó tới môi trường nói chung và vấn đề
BĐKH nói riêng Tương tự, các quy định về
khai thác, sử dụng các loại năng lượng khác
như than đá, dầu m (10)
mới chỉ dừng ở mức là khai thác, sử dụng hợp lí và tiết kiệm
mà chưa có các quy định mang tính kĩ thuật
như hiệu suất khai thác, định mức kĩ thuật
của các thiết bị tiêu thụ nhằm triển khai
chính sách tiết kiệm năng lượng trong hoạt
động khai thác, sử dụng than đá, dầu m
- Giao thông vận tải Luật giao thông
đường bộ năm 2001 quy định “Nhà nước có
chính sách ưu tiên phát triển vận tải khách
công cộng, hạn chế sử dụng phương tiện
giao thông cá nhân ở các thành phố lớn”
(khoản 2 Điều 5) Luật hàng không dân dụng
Việt Nam 2006 quy định: “Tàu bay khi khai
thác phải tuân thủ các yêu cầu về bảo vệ môi
trường đối với tàu bay và động cơ tàu bay;
việc khai thác tàu bay, cảng hàng không, sân
bay phải đáp ứng quy chuẩn kĩ thuật về tiếng ồn, khí thải và các quy chuẩn khác về bảo vệ môi trường (Điều 26, Điều 54) Luật
BVMT năm 2005 quy định “Quy hoạch giao
thông phải tuân thủ quy chuẩn và yêu cầu về bảo vệ môi trường Ô tô, mô tô và các phương tiện giao thông cơ giới khác được sản xuất, lắp ráp trong nước hoặc nhập khẩu phải bảo đảm quy chuẩn kĩ thuật về khí thải
và phải được cơ quan đăng kiểm kiểm tra, xác nhận mới được đưa vào sử dụng Áp dụng tiêu chuẩn EURO 2 đối với tất cả ôtô
kể từ ngày 1/7/2008”.(11) Có thể dễ dàng nhận thấy các quy định về kiểm soát khí thải trong lĩnh vực giao thông mới chỉ chú trọng đến giao thông đường bộ và cũng chỉ áp dụng đối với ô tô, trong khi với số lượng xe máy nhiều trong đó không ít xe thô sơ, tự chế, hết khẩu hao từ lâu, lại tập trung chủ yếu tại đô thị lớn, cùng với các phương tiện giao thông đường thuỷ, đường sắt và đường hàng không cũng được xem là phát thải khí không nh vào bầu khí quyển
- Nông nghiệp, lâm nghiệp Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam xác định nhiệm vụ bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên
và đa dạng sinh học nhằm đóng góp có hiệu quả cho phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven
biển và đô thị, giảm nh thiên tai, chống xói
mòn, giữ nguồn nước, bảo vệ môi trường sống và tạo nguồn thu từ các dịch vụ môi trường (phí môi trường, giảm khí thải CO2,
du lịch sinh thái ) Chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nh thiên tai đến năm
2020 xác định rõ: “Công tác phòng, chống
và giảm nhẹ thiên tai lấy phòng ngừa là chính, không ngừng nghiên cứu tác động của
Trang 6BĐKH toàn cầu, nước biển dâng và những
hiện tượng bất thường khác của khí hậu để
phòng, tránh Nội dung phòng, chống và
giảm nhẹ thiên tai phải được lồng ghép
trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế,
xã hội của từng vùng, từng lĩnh vực, quốc
gia” (12)
Bên cạnh đó là các quy định đối với
tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, kinh
doanh phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,
thuốc thú y phải thực hiện đúng các quy định
của pháp luật về bảo vệ môi trường và các
quy định khác của pháp luật có liên quan,
“khu chăn nuôi tập trung có hệ thống thu
gom, xử lí nước thải đạt quy chuẩn kĩ thuật
về môi trường; chất thải rắn chăn nuôi phải
được quản lí theo quy định về quản lí chất
thải, tránh phát tán ra môi trường” (Điều 46
Luật BVMT năm 2005)
- Sản xuất công nghiệp Theo Luật thương
mại năm 2005: “Xăng dầu các loại, khí đốt
các loại thuộc Danh mục hàng hoá, dịch vụ
kinh doanh có điều kiện”.(13)
Đặc biệt là pháp luật có quy định nghĩa vụ của khu kinh tế,
khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công
nghệ cao, cụm công nghiệp, khu du lịch và
khu vui chơi giải trí tập trung “phải có hệ
thống xử lí khí thải đạt quy chuẩn kĩ thuật về
môi trường và được vận hành thường xuyên”
(điểm đ khoản 1 Điều 36 Luật BVMT năm
2005”; “Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ phải có biện pháp giảm thiểu và xử lí bụi,
khí thải đạt quy chuẩn kĩ thuật trước khi thải
ra môi trường; bảo đảm không để rò rỉ, phát
tán khí thải, hơi, khí độc hại ra môi trường”
(điểm c khoản 1 Điều 37 Luật BVMT năm
2005) Tuy nhiên, nhìn chung các quy định
trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp còn
thiếu cụ thể, hiện mới chỉ có các quy định chung về trách nhiệm phòng ngừa ô nhiễm, tuân thủ quy chuẩn kĩ thuật môi trường Chưa có các quy định nhằm hạn chế việc sử dụng nguyên, vật liệu sản xuất các loại hàng hoá gây ảnh hưởng tới không khí Các loại nguyên liệu bị cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh (như cấm sử dụng xăng pha chì, cấm sử dụng Amiăng trong sản xuất vật liệu xây dựng ) được quy định tản mạn trong nhiều văn bản khác nhau, gây khó khăn cho các chủ thể trong việc tuân thủ pháp luật
- Nhập khẩu hàng hoá Pháp luật thương
mại quy định “Hàng hoá cấm nhập khẩu gồm
phế liệu, phế thải, thiết bị làm lạnh sử dụng CFC”.(14)
Bộ tài nguyên và môi trường cũng
đã quy định cấm nhập khẩu 4 nhóm thiết bị làm lạnh sử dụng môi chất lạnh CFC, gồm: tủ lạnh gia dụng, tủ trữ đông, quầy bảo quản lạnh, máy làm mát nước.(15)
Một số hoá chất và dung môi khác mặc dù cũng được xem là tác động không nh đến BĐKH khi sử dụng song pháp luật mới chỉ quy định chung là việc nhập khẩu phải bảo đảm quy chuẩn kĩ thuật môi trường, trong khi các quy chuẩn kĩ thuật môi trường lại chưa được ban hành đầy đủ, dẫn đến tình trạng không có đủ căn cứ pháp lí để kiểm soát việc nhập khẩu các loại hoá chất đó
3.2 Các biện pháp kinh tế trong việc hỗ trợ giảm phát thải khí nhà kính
So với các quy định về giảm phát thải khí nhà kính, các quy định hỗ trợ việc giảm phát thải khí nhà kính thông qua các biện pháp, công cụ kinh tế chú trọng hơn Cụ thể là:
a Về sử dụng năng lượng sạch Năng lượng sạch, năng lượng tái tạo là năng lượng được khai thác từ gió, mặt trời,
Trang 7địa nhiệt, nước, sinh khối và các nguồn tái tạo
khác (khoản 1 Điều 33 Luật BVMT năm
2005) Bên cạnh những quy định có tính định
hướng như “Nhà nước đầu tư và khuyến
khích tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt
Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân
nước ngoài, tổ chức quốc tế đầu tư vào hoạt
động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
phục vụ phát triển kinh tế-xã hội” còn có các
quy định về đầu tư, thuế, phí, tín dụng nhằm
cụ thể hoá chủ trương này Luật đầu tư 2005
quy định: “Sản xuất vật liệu mới, năng lượng
mới, bảo vệ môi trường sinh thái là những
lĩnh vực được ưu đãi đầu tư” (khoản 1, 3
Điều 27); “Nhà đầu tư trong các lĩnh vực trên
được miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng
đất, thuế sử dụng đất theo quy định của pháp
luật về đất đai và pháp luật về thuế (khoản 2
Điều 36) Luật đất đai năm 2003 cũng có
cùng quy định với nội dung như trên (Điều
60) Luật BVMT 2005 quy định cụ thể hơn:
Sản xuất năng lượng sạch, năng lượng tái tạo
được miễn hoặc giảm thuế doanh thu, thuế
giá trị gia tăng, thuế môi trường, phí bảo vệ
môi trường; máy móc, thiết bị, phương tiện,
dụng cụ nhập khẩu được sử dụng trực tiếp
trong sản xuất năng lượng sạch, năng lượng
tái tạo được miễn thuế nhập khẩu; các sản
phẩm tái chế từ chất thải, năng lượng thu
được từ việc tiêu huỷ chất thải, các sản phẩm
thay thế nguyên liệu tự nhiên có lợi cho môi
trường được Nhà nước trợ giá; tổ chức, cá
nhân đầu tư bảo vệ môi trường được ưu tiên
vay vốn từ các quỹ bảo vệ môi trường (16)
Ngoài các quy định khuyến khích sử dụng
năng lượng sạch, năng lượng tái sinh, còn có
các quy định hạn chế việc sản xuất, kinh
doanh các sản phẩm gây hại cho môi trường
Theo Luật BVMT năm 2005: “Tổ chức, hộ
gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh một số sản phẩm gây tác động lâu dài đến môi trường
và sức khoẻ con người phải nộp thuế môi trường”
(khoản 1 Điều 112) Tổ chức, cá nhân xả thải
ra môi trường hoặc có hoạt động làm phát sinh nguồn tác động xấu đối với môi trường phải nộp phí bảo vệ môi trường, trong đó có phí bảo vệ môi trường đối với khí thải Dự thảo Nghị định phí bảo vệ môi trường đối với
khí thải quy định: “Phí bảo vệ môi trường đối
với khí thải là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi chế biến nguyên vật liệu, đốt cháy nhiên liệu phát tán ra môi trường 1 (một)
kg chất gây ô nhiễm” NOx là một trong những chất gây ô nhiễm phải chịu tính phí Bên cạnh
đó, Luật đầu tư năm 2005 còn quy định cấm đầu tư vào các dự án phá huỷ môi trường, xử
lí phế thải độc hại đưa từ bên ngoài vào Việt Nam; sản xuất các loại hoá chất độc hại hoặc
sử dụng tác nhân độc hại bị cấm theo điều ước quốc tế (khoản 3, 4 Điều 30)
Pháp luật đã có những chính sách về ưu đãi tài chính đối với sản xuất, sử dụng năng lượng sạch thông qua ưu đãi về thuế, tiền thuê đất và các quy định về thuế môi trường
và phí bảo vệ môi trường nhằm “trừng phạt” đối với những hoạt động không thân thiện với môi trường Tuy nhiên, chỉ với những quy định hiện hành, các nhà đầu tư rất khó
có thể có đầy đủ cơ sở pháp lí để có thể tiếp cận với các ưu đãi cũng như bị “trừng phạt’
về tài chính Việc hoàn thiện nhằm cụ thể hoá các quy định nhằm thực hiện chính sách
ưu đãi và “trừng phạt” về mặt tài chính là nhu cầu tất yếu trong thời gian tới
Trang 8b Về cơ chế phát triển sạch (CDM)
Kể từ ngày Nghị định thư Kyoto có hiệu
lực (ngày 16/2/2005), Việt Nam có nghĩa vụ
thực hiện cơ chế phát triển sạch Theo cơ chế
này, Việt Nam có thể thực hiện các hoạt động
dự án mang lại khối lượng giảm phát thải
nhất định Lượng giảm thải đó được chứng
nhận và được bán cho một hoặc nhiều bên
khác theo đơn giá tính cho từng tấn CO2 Thu
nhập từ các hoạt động dự án đó được sử dụng
để chi trả cho công tác hành chính cũng như
đáp ứng các chi phí ứng phó với BĐKH(17)
Để thúc đẩy các hoạt động trên, một số chính
sách tài chính đối với dự án đầu tư theo CDM
đã được ban hành.(18)
Theo đó nhà đầu tư xây dựng và thực hiện dự án CDM tại Việt Nam
có quyền: 1) Hưởng các ưu đãi về thuế; tiền
sử dụng đất, tiền thuê đất; khấu hao tài sản cố
định; tín dụng đầu tư của nhà nước; 2) Được
xem xét trợ giá đối với sản phẩm của dự án
CDM thuộc lĩnh vực ưu tiên; 3) Được xem
xét hỗ trợ tài chính trong việc lập, xây dựng
dự án theo quy định của pháp luật hiện hành;
4) Bán chứng nhận giảm phát thải thuộc sở
hữu của mình theo quy định của pháp luật hiện
hành; 5) Được tiếp cận, cung cấp các thông tin
liên quan đến việc xác định giá bán chứng
nhận giảm phát thải; 6) Được ưu tiên tiêu thụ
sản phẩm của dự án CDM so với sản phẩm
cùng loại không thuộc dự án CDM Tuy nhiên,
có thể nhận thấy sự hoàn thiện cơ chế phát
triển sạch (CDM) mới chỉ thể hiện trong các
quy định pháp luật mà chưa có điều kiện phát
huy một cách có hiệu quả trên thực tế Lí do
là vì hiện tại Việt Nam chưa phải thực hiện
nghĩa vụ giảm thiểu phát thải theo UNFCCC
và KP nên thị trường chuyển nhượng trong
nước vẫn chưa thực sự hình thành và phát triển
4 Kết luận và kiến nghị
Nhận thức được những tác động to lớn của BĐKH đối với môi trường và cuộc sống của người dân, Nhà nước đã có nhiều hoạt động tích cực và chủ động nhằm ứng phó và thích nghi với BĐKH, trong đó có hoạt động xây dựng và thực thi pháp luật trong lĩnh vực này Tuy nhiên, vì nhiều lí do khác nhau, pháp luật về ứng phó và thích nghi với BĐKH còn manh mún, phần nhiều là những quy định chung chung và từ đó dẫn tới hiệu quả, hiệu lực áp dụng không cao
Để có thể góp phần phát triển bền vững, hạn chế các những tác động bất lợi của BĐKH đối với môi trường và con người trong tương lai, bên cạnh việc tăng cường hợp tác quốc tế, hoàn thiện việc xây dựng, triển khai có hiệu quả kế hoạch hành động ứng phó, thích nghi với BĐKH và nâng cao năng lực ứng phó, thích nghi với BĐKH của
cơ quan nhà nước và người dân, Việt Nam cần hoàn hiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này, cụ thể:
Thứ nhất, soạn thảo và ban hành luật về
không khí sạch
Luật không khí sạch được xem là luật chuyên ngành để bảo vệ yếu tố quan trọng nhất của môi trường là không khí, trong đó quy định các nội dung cơ bản về: Nghĩa vụ của
tổ chức cá nhân có hành vi xả thải khí thải, những hoạt động có nguy cơ ảnh hưởng tới môi trường không khí; các biện pháp, chính sách hỗ trợ nâng cao chất lượng môi trường không khí; hoạt động kiểm tra, giám sát của
cơ quan quản lí nhà nước về môi trường và chính sách tài chính cho hoạt động này
Thứ hai, hoàn thiện dự thảo và ban hành
Trang 9nghị định về phí BVMT đối với khí thải
Bộ tài nguyên và môi trường đang soạn
thảo dự thảo Nghị định về phí bảo BVMT
đối với khí thải Vì những lí do khác nhau,
dự thảo Nghị định này đã được chuẩn bị
trong thời gian khá dài nhưng chưa thể ban
hành Đây là văn bản quan trọng nhằm điều
chỉnh hành vi của tổ chức, cá nhân có hành
vi xả thải khí thải vào môi trường Do đó,
Bộ tài nguyên và môi trường cần tích cực
hơn nữa trong quá trình soạn thảo để Chính
phủ có thể ban hành và được áp dụng trên
thực tế./
(1) Biến đổi khí hậu tác động như thế nào tới một số
ngành kinh tế của Việt Nam, Tạp chí bảo vệ môi
trường, số 6/2007
(2) Việt Nam và cơ chế phát triển sạch; nguồn: http://www
nea.gov.vn/thongtinmt/noidung/tbk_14_3_05.htm
(3) Theo đánh giá của UNDP, Việt Nam là một trong 05
quốc gia sẽ bị ảnh hưởng lớn nhất bởi biến đổi khí hậu
(4) Xem: Báo cáo đánh giá về BĐKH ở Việt Nam
của Viện chiến lược, chính sách tài nguyên và môi
trường tại Hội thảo quốc gia về chính sách và pháp
luật liên quan đến BĐKH được tổ chức tại Bắc Ninh,
ngày 23-24/6/2008
(5) Chất lượng nhiên liệu và các chỉ tiêu về khí thải
đáp ứng tiêu chuẩn châu Âu EURO 2, Tạp chí bảo vệ
môi trường, số 8/2007
(6).http://www.nea.gov.vn/TCVNMT/Tracuu.aspx?ID
Loai=2&IDLoaihinh=47&subselection=2&selection=1
(7) Các điều 24, 25, 26 Luật bảo vệ môi trường năm
2005; Điều 17, 17a Nghị định của Chính phủ số
21/2008/NĐ-CP ngày 28/2/2008 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định của Chính phủ số 80/2006/NĐ-CP
ngày 9/8/2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường;
Thông tư của Bộ tài nguyên và môi trường số
08/2006/TT-BTNMT ngày 8/9/2006 hướng dẫn về
ĐMC, ĐTM và cam kết BVMT
(8) Nghị định của Chính phủ số 102/2003/NĐ-CP
ngày 03/9/2003 về sử dụng năng lượng tiết kiệm và
hiệu quả
(9) Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 01/2006/QĐ-TTg ngày 03/01/2006 về việc ban hành Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình
(10) Được quy định trong Luật khoáng sản năm
1996, 2005; Luật dầu khí năm 1993, 2000, 2008 (11) Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 249/2005/QĐ-TTg ngày 100/100/2005 quy định lộ trình áp dụng quy chuẩn kĩ thuật về khí thải đối với phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
(12) Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 172/2007/QĐ-TTg ngày 16/11/2007 phê duyệt “Chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nh thiên tai đến năm 2020”
(13) Nghị định của Chính phủ số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 quy định chi tiết Luật thương mại về hàng hoá dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện
(14) Danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu (Phụ lục số 01) được quy định tại Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 quy định chi tiết thi hành Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lí mua, bán, gia công
và quá cảnh hành hoá với nước ngoài chỉ quy định cấm nhập khẩu
(15) Quyết định của Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường số 15/QĐ-BTNMT ngày 08/9/2006 về việc ban hành Danh mục thiết bị làm lạnh sử dụng môi chất lạnh CFC cấm nhập khẩu
(16) Điều 115 Luật bảo vệ môi trường năm 2005; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 82/2002/QĐ-TTg ngày 26/6/2002 về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam; Thông tư của
Bộ tài chính số 93/TT-BTC hướng dẫn thực hiện chế
độ quản lí tài chính đối với Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam
(17) Báo cáo đánh giá nhanh về UNFCCC và KP - Chuyên gia và Nhóm dự án NCSA Việt Nam thực hiện năm 2005
(18) Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 130/2007/QĐ-TTg ngày 02/8/2007 về một số cơ chế, chính sách tài chính đối với dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch