Thị trường tiền tệ - tín dụng Thị trường tiền tệ - tín dụng thế giới Trước mối lo ngại về đà tăng trưởng yếu kém của nền kinh tế toàn cầu, Fed đã quyết định giữ nguyên lãi suất ở mức 0-
Trang 1MỤC LỤC
A THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ 2
I Thị trường tiền tệ - tín dụng 2
II Thị trường ngoại hối và vàng 17
B THỊ TRƯỜNG VỐN 26
I Thị trường chứng khoán 26
II Thị trường BĐS 37
C PHẢN HỒI CHÍNH SÁCH 41
Trang 2A THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
I Thị trường tiền tệ - tín dụng
Thị trường tiền tệ - tín dụng thế giới
Trước mối lo ngại về đà tăng trưởng yếu kém của nền kinh
tế toàn cầu, Fed đã quyết định giữ nguyên lãi suất ở mức 0-0.25% với tỷ lệ 9 phiếu thuận và 1 phiếu chống vào ngày thứ Năm (17.9/2015) sau khi kết thúc cuộc họp chính sách 2 ngày Jeffrey Lacker là thành viên duy nhất của Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) phản đối quyết định trên khi ông muốn nâng lãi suất thêm 0.25%
Tuy nhiên, FOMC để ngỏ khả năng thắt chặt nhẹ chính sách trong các tháng còn lại của năm nay Mô hình dot plot của Fed cho thấy từ đây đến cuối năm, Fed có thể tăng lãi suất thêm 0.4% - đồng nghĩa với việc cơ quan này sẽ phải nâng lãi suất tại cuộc họp vào tháng 10 hoặc tháng 12 tới
Bên cạnh đó, dự báo của Fed cho thấy 13/17 nhà làm chính sách cho rằng lãi suất sẽ tăng ít nhất 1 lần trong năm 2015, thấp hơn
so với con số 15 người tại cuộc họp gần nhất vào tháng 6 Hiện tại
có 4 nhà làm chính sách cho rằng Fed chưa nên nâng lãi suất ít nhất cho đến năm 2016, cao hơn so với con số 2 người nghĩ như vậy trong tháng 6
Nhìn chung, Fed bày tỏ sự lạc quan hơn về nền kinh tế Mỹ khi nâng dự báo tăng trưởng GDP 2015 từ 1.9% lên 2.1% và hạ dự
Trang 3báo tỷ lệ thất nghiệp xuống 5% vào cuối năm nay Được biết, hiện
tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ đang đứng ở mức 5.1% Fed dự báo lãi suất sẽ ở mức 0.4% trong năm 2015, 1.4% năm 2016, 2.6% năm
2017 và 3.4% năm 2018, đồng loạt thấp hơn so với ước tính được ngân hàng trung ương đưa ra trong tháng 6 Fed cũng hạ dự báo lạm phát cho cả 3 năm 2015, 2016, 2017 và cho rằng chỉ báo này chưa thể chạm mục tiêu 2% cho đến năm 2018 Trong khi đó, cơ quan này lại lạc quan hơn về tỷ lệ thất nghiệp khi hạ dự báo 2015, 2016,
2017 và xa hơn
Tuy nhiên, những đồn đoán xung quanh khả năng Fed sẽ tăng lãi suất vào cuối năm nay đã khiến giới đầu tư tỏ ra hờ hững với những đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi và đổ xô đi mua USD để kiếm lời Cụ thể, đồng rupee của Ấn Độ, đồng rupiah của Indonesia, đồng ringgit của Malaysia và đồng đôla Singapore lần lượt hạ 0,26%, 0,03%, 0,3% và 0,15% Trong khi đó, đồng won Hàn Quốc và đồng baht Thái Lan lại nhích lên đôi chút so với đồng bạc xanh sau chuỗi những phiên giảm liên tiếp gần đây
Sự hồi phu ̣c của nền kinh tế châu Âu mới đây vẫn chưa có gì
là ấn tượng, bất chấp viê ̣c đã được bơm mô ̣t lượng tiền khổng lồ bởi NHTW châu Âu ECB thông qua các gói nới lỏng đi ̣nh lượng muô ̣n màng Chủ tịch ECB Mario Draghi mới đây thông báo ECB hạ dự báo tăng trưởng cũng như lạm phát ECB có thể tung biện pháp kích thích bổ sung
Trang 4Con số GDP quý II /2015 từ Eurostat đã gây thất vo ̣ng , tăng trưởng toàn khu vực Eurozone trong quý II năm 2015 đã giảm từ 0,4% xuống còn 0,3% so vớ i quý trước đó – tương đương với tỷ lê ̣ tăng trưởng năm chỉ đa ̣t 1,2%, mô ̣t con số vô cùng ảm đa ̣m Đáng thất vọng hơn , mức tăng trưởng bình quân của toàn khu vực thâ ̣m chí còn thấp hơn cả của Hy La ̣p (nước đang chìm trong khủng hoảng nợ công lại có GDP lên tới 0,8%)
Với nền kinh tế lớn thứ hai Eurozone , là Pháp, tăng trưởng gần như ở mức 0% Tăng trưởng của nền kinh tế lớn thứ 3 Eurozone
- Ý cũng đã châ ̣m la ̣i Trong khi đó nền kinh tế lớn nhất cả Eurozone (và châu Âu) là Đức, tăng trưở ng quý II chỉ đa ̣t 0,4% Tình hình gần đây là vô cùng ảm đa ̣m
Biểu đồ 1: Lãi suất đồng USD và EUR trên Thị trường liên ngân
hàng London tháng 09/2015
Nguồn: www.homefinance.nl
Trang 5Biểu đồ 2: Lãi suất đồng USD và EUR trên Thị trường liên ngân
hàng London 9 tháng đầu năm 2015
Nguồn: www.homefinance.nl
Kết quả cuộc khảo sát của CNNMoney trên các nhà kinh tế cho thấy nhà đầu tư nên thận trọng vì đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc có thể rớt giá mạnh hơn nữa trước thời điểm cuối năm Theo ước tính bình quân, đồng Nhân dân tệ có thể giảm tiếp 2.8% so với đồng USD vào cuối năm 2015 Từ đầu năm đến nay, đồng tiền này
đã giảm 2.6% so với đồng bạc xanh, trong đó phần lớn đà sụt giảm chỉ diễn ra vỏn vẹn trong 2 phiên đầu tháng 8, khiến nhà đầu tư choáng váng và dẫn đến đà bán tháo trên các thị trường chứng khoán toàn cầu
Bên cạnh động thái phá giá đầy bất ngờ, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBoC) còn thay đổi cách xác định biên độ giao dịch hàng ngày 2% Theo đó, cách tính mới sẽ sử dụng giá đóng cửa
(000.000) (000.000) (000.000) - 000.000 000.000 000.000 000.000 000.000 000.000 000.000
1/1 1/2 1/3 1/4 1/5 1/6 1/7 1/8 1/9
KH 1 tháng KH 3 tháng
KH 6 tháng KH 12 tháng
Trang 6của phiên hôm trước thay cho quy trình không rõ ràng trước đây của PBoC Động thái này đã khiến thị trường tiền tệ xáo trộn và khơi mào cho các dự báo về mức độ sụt giảm của đồng tiền này trong thời gian tới
CNNMoney cho biết đồng Nhân dân tệ có thể giảm về mức 7.5 CNY so với đồng USD, tức thấp hơn giá hiện tại 17.8% Dù các
dự báo khác về năm 2016 không mạnh như dự báo trên nhưng hầu như tất cả các nhà kinh tế tham gia cuộc khảo sát đều có chung quan điểm rằng đồng Nhân dân tệ có thể tiếp tục giảm giá khi tăng trưởng kinh tế Trung Quốc suy yếu Bên cạnh đó, bất ổn về các đợt nâng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cũng khiến lo lắng tăng cao
Tăng trưởng trong quý II/2015 của Nhật Bản giảm 1,6% so với cùng kỳ năm 2014 Đây được coi là “điềm xấu” cho nỗ lực thực hiện gói chính sách “Abenomics” của Thủ tướng Shinzo Abe nhằm đưa nền kinh tế lớn thứ ba thế giới thoát khỏi thời kỳ giảm phát và suy thoái kéo dài hai thập kỷ
Thậm chí Abenomics còn đang bị đe dọa từ Trung Quốc cũng như những vấn đề nội tại khi mà chính sách này chưa tạo ra được sự chuyển biến đáng kể trong cấu trúc nền kinh tế Nhật Đáng
lo nga ̣i hơn cả là sự chững la ̣i của nền kinh tế Trung Quốc và sự yếu
đi của đồng Nhân Dân Tê ̣
Ngân hàng trung ương Hàn Quốc (BOK) đã quyết định duy trì lãi suất cơ bản ở mức thấp kỷ lục 1,5% trong bối cảnh BOK đánh
Trang 7giá ảnh hưởng từ những lần cắt giảm lãi suất gần đây cũng như khả năng Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) lần đầu tiên nâng lãi suất trong gần một thập kỷ BOK đã hạ lãi suất xuống 1,75% vào tháng 3 và tiếp tục hạ xuống 1,5% vào tháng 6 sau lần đầu tiên cắt giảm lãi suất xuống 2% hồi tháng 10 năm ngoái
Tuy nhiên, nền kinh tế lớn thứ 4 châu Á này không có dấu hiệu khởi sắc đáng kể với tăng trưởng trong quý 2 năm nay chậm chạp ở mức 0,3%, một phần do ảnh hưởng từ sự bùng phát của dịch Hội chứng Hô hấp vùng Trung Đông (MERS) khiến người tiêu dùng hạn chế mua sắm
Không có gì đáng ngạc nhiên khi các đồng tiền của các thị trường mới nổi - từ Malaysia đến Thổ Nhĩ Kỳ, qua Thái Lan và Philippines - đang giảm mạnh Dòng vốn giá rẻ đang tháo chạy khỏi những thị trường này đến Mỹ , nơi đươ ̣c dự đoán sẽ đem la ̣i lợi suất cao hơn Nhu cầu đối với các loa ̣i khoáng sản và dầu khí (vốn
là tài nguyên thế ma ̣nh của các thi ̣ trường mới nổi ) đang giảm ma ̣nh, dẫn đến nguồn thu từ xuất khẩu các tài nguyên này su ̣t giảm Chi phí cho các khoản nợ bằng đồng USD của các quốc gia này thì do đó lại càng phình to ra
Nhưng viê ̣c nới lỏng tiền tê ̣ cũng chỉ được coi là biê ̣n pháp cứu cánh ta ̣m thời , bởi nó không giải quyết được n hững vấn đề nô ̣i tại của nền kinh tế đang “ì ạch Thậm chí các biện pháp này còn khiến kinh tế toàn cầu mất cân bằng Thặng dư của các nền kinh tế sản xuất như Trung Quốc và khu vực Eurozone , tiêu biểu là Đức sẽ
Trang 8bị thổi phồng Trong khi đó thâm hụt của các nền kinh tế tiêu dùng – dịch vụ, như Anh, Mỹ, sẽ tăng lên tương ứng
Thị trường tiền tệ - tín dụng trong nước
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), kinh tế Việt Nam 9 tháng năm 2015 diễn ra trong bối cảnh thị trường toàn cầu có nhiều biến động mạnh Thị trường hàng hóa quốc tế, đặc biệt là dầu thô giảm giá liên tục và giảm ở mức sâu trong những tháng qua, chủ yếu do nguồn cung tăng, tác động tích cực tới tăng trưởng của các nước nhập khẩu dầu nhưng đối với các nước xuất khẩu dầu, tăng trưởng bị ảnh hưởng do doanh thu xuất khẩu giảm
Trước diễn biến phức tạp của kinh tế toàn cầu, Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các Bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ các giải pháp, chính sách, nhất là chính sách tài khóa, tiền tệ nhằm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, duy trì mức tăng trưởng hợp lý
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 9 tháng đầu năm 2015 ước tính tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó quý I tăng 6,12%; quý II tăng 6,47%; quý III tăng 6,81% Trong mức tăng 6,5% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,08%, đóng góp 0,36 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,57%, đóng góp 3,12 điểm phần trăm; khu vực dịch
vụ tăng 6,17%, đóng góp 2,38 điểm phần trăm Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành lâm nghiệp đạt mức tăng cao nhất
Trang 9với 7,89% so với cùng kỳ năm 2014 do sản lượng gỗ khai thác tăng cao ở mức 11,8%; ngành thủy sản tăng 2,11% Riêng ngành nông nghiệp chỉ tăng 1,77%, nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng của thời tiết không thuận, giá cả một số vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp không ổn định và có xu hướng tăng nên sản lượng lúa đạt thấp (ước tính sản lượng lúa cả năm 2015 đạt 45,1 triệu tấn, chỉ tăng 0,3% so với năm 2014)
Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 9,69% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều mức tăng cùng
kỳ của một số năm gần đây trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt mức tăng cao với 10,15%, góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng chung (đóng góp 1,58 điểm phần trăm); ngành khai khoáng tăng 8,15% Ngành xây dựng 9 tháng tăng 9,00%, là mức tăng cao nhất trong 5 năm gần đây
Trong khi đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 năm 2015 đạt 99,79%, giảm 0,21% so với tháng trước; bằng 100% so cùng kỳ năm trước; tăng 0,4% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân 9 tháng đầu năm 2015 tăng 0,74% so với cùng kỳ năm 2014
Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 7 nhóm tăng:
Đồ uống và thuốc lá tăng 0,1%; May mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,21%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,07%; Thuốc và dịch vụ y
tế tăng 0,43%; Giáo dục tăng 1,24% Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03% và Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,19% Có 4 nhóm hàng hóa và dịch vụ giảm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,13%;
Trang 10Nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,68%; Giao thông giảm 3,17%; Bưu chính viễn thông giảm 0,07%
Theo đánh giá từ Tổng cục Thống kê, CPI tháng 9 năm 2015 giảm do các nguyên nhân như: giá xăng được điều chỉnh giảm vào ngày 19 tháng 8 năm 2015 và ngày 03 tháng 9 năm 2015 Theo tính toán, giá xăng dầu giảm làm cho nhóm giao thông giảm 3,17% góp phần giảm CPI chung của tháng 9 khoảng 0,28%;
Bên cạnh đó, thời tiết chuyển sang mùa Thu nên nhu cầu sử dụng điện giảm làm cho chỉ số giá điện sinh hoạt giảm 0,32%; Giá các mặt hàng lương thực, thực phẩm giảm nhẹ do nguồn cung dồi dào cùng với giá xăng dầu giảm làm chi phí vận chuyển giảm nên chỉ số lương thực, thực phẩm giảm 0,14%;Trong 10 năm gần đây, lần đầu tiên CPI tháng 9 giảm so với tháng trước; CPI tháng 9 năm
2015 so với tháng 12 cũng tăng thấp nhất và tăng dưới 1%
Xét đến tình trạng ngành sản xuất, chỉ số nhà quản trị mua hàng Nikkei Việt Nam (Purchasing Managers’ Index - PMI) đã giảm xuống dưới mốc 50.0 và ở mức 49.5 (từ mức 51.3 điểm trong tháng 8).Mức giảm sút nhẹ này đã kết thúc thời kỳ hai năm khi tình trạng của lĩnh vực sản xuất đã liên tục được cải thiện
Giai đoạn cuối quý 3 năm 2015 cho thấy sự suy giảm về các điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất của Việt Nam khi cả sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới đều giảm Trong khi đó, giá nhiên liệu giảm dẫn đến chi phí đầu vào tổng thể giảm, vì vậy dẫn tới việc các công ty giảm chi phí cho khách hàng bằng cách
Trang 11giảm giá đầu ra.Số lượng đơn đặt hàng mới đã giảm lần đầu tiên trong hơn một năm vào tháng 9 khi các điều kiện thị trường xấu đi với tốc độ giảm nhẹ
Trong khi đó, số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới giảm tháng thứ tư liên tiếp, và với tốc độ nhanh thứ nhì trong lịch sử của chỉ số này Việc giảm số lượng đơn đặt hàng mới đã góp phần làm giảm nhẹ sản lượng sản xuất, xảy ra lần đầu tiên trong hai năm Việc hoàn thành các dự án cũng được coi là nhân tố dẫn đến giảm hoạt động sản xuất
Mặc dù sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới giảm, các
xí nghiệp vẫn tiếp tục tăng số lượng việc làm trong tháng 9 Tuy nhiên, tốc độ tạo việc làm còn khiêm tốn, và là yếu tố chậm nhất trong ba tháng gần đây
Dữ liệu mới nhất chỉ ra sự sụt giảm mạnh với tốc độ tăng nhanh của giá cả đầu vào trong lĩnh vực sản xuất, chủ yếu do chi phí nhiêu liệu giảm gây ảnh hưởng lớn hơn so với mức ảnh hưởng lạm phát của một đồng tiền yếu Mức giảm giá cả đầu vào đạt mức giảm nhanh thứ nhì trong lịch sử của chỉ số này, chỉ thấp hơn mức của tháng 1 Với mức giảm mạnh của chi phí đầu vào, các nhà sản xuất tiếp tục giảm giá đầu ra Hơn nữa, tốc độ giảm đã tăng lên trong ba tháng liên tiếp thành mức cao nhất kể từ tháng 7 năm 2012
Bình luận về dữ liệu khảo sát PMI ngành sản xuất Việt Nam đơn vị cung cấp cho rằng sau khi tăng trưởng chậm lại trong những tháng gần đây, tình hình đã trở nên xấu hơn trong tháng 9 khi lĩnh
Trang 12vực sản xuất của Việt Nam bị giảm sút cả về số lượng đơn đặt hàng mới và sản lượng Nhu cầu yếu trong khu vực chứng tỏ rằng đang
có tác động tiêu cực nhiều hơn lên các nhà sản xuất địa phương trong thời gian tới, và dữ liệu mới nhất trái ngược hẳn so với mức tăng mạnh được ghi nhận trong những tháng đầu năm Một điểm tích cực trong kỳ khảo sát PMI mới nhất là việc làm tiếp tục tăng, mặc dù tình trạng này có thể thay đổi trong những tháng tới nếu sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục xu hướng giảm Một điểm đáng quan tâm khác là giá cả đầu vào đã giảm mạnh hơn khi một số công ty báo cáo chi phí nhiên liệu của họ giảm trong tháng
Mặt bằng lãi suất vẫn đang ổn định sau khi điều chỉnh tỷ giá
và so với cuối năm 2014 đã giảm khoảng 0,2-0,5%/năm Một số ý kiến lo ngại rằng lãi suất huy động tăng do ảnh hưởng của việc điều chỉnh tỷ giá có thể dẫn đến tăng lãi suất cho vay, đi ngược với chủ trương tiếp tục giảm lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp Thời gian qua, trước những biến động trên thị trường tài chính - tiền tệ quốc tế, Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã điều chỉnh tăng tỷ giá 1% và nới rộng biên độ tỷ giá từ +/-1% lên +/-3% Đây là việc làm cần thiết, kịp thời, phù hợp, hạn chế tác động bất lợi từ bên ngoài
Tuy nhiên, do lạm phát đang ở mức thấp, để ổn định kinh tế
vĩ mô và thúc đẩy sản xuất kinh doanh Thực tế mặt bằng lãi suất vẫn đang ổn định sau khi điều chỉnh tỷ giá và so với cuối năm 2014
đã giảm khoảng 0,2-0,5%/năm.Từ nay đến cuối năm và đầu năm
2016, theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành tiếp tục bám sát diễn biến tình hình thế giới và trong nước, có đối sách, giải
Trang 13pháp phù hợp, tiếp tục thực hiện nhất quán mục tiêu ổn định kinh tế
vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Số liệu của NHNN cho thấylãi suất huy động tại các ngân hàng thương mại nhà nước lớn như Ngân hàng TMCP Ngoại thương (Vietcombank), Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển (BIDV) vẫn giữ nguyên, không có điều chỉnh Cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên phổ biến ở mức 7,5-8%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác khoảng 9,5-10,5%/năm đối với ngắn hạn và 11,5-12,5%/năm đối với trung và dài hạn Với các DN có chỉ số xếp hạng tín nhiệm cao, báo cáo tài chính minh bạch thì lãi suất cho vay có thể chỉ từ 6-7%/năm
Tuy nhiên, lãi suất huy động các kỳ hạn ngắn tại một số ngân hàng cổ phần tư nhân nhỏ và vừa đã được điều chỉnh tăng 0,1-0,5%/năm.Chẳng hạn như lãi suất huy động một số kỳ hạn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương (Saigonbank) đã tăng thêm 0,1
%/năm, mức tăng tại Ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB) từ 0,2 - 0,3
%/năm Trước đó Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) cũng tăng lãi suất huy động các kỳ hạn ngắn thêm 0,2 %/năm.Theo biểu lãi suất áp dụng từ ngày 24/8 tại Ngân hàng TMCP Bản Việt (Viet Capital Bank), lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 3 tháng là 5,2%/năm (tăng 0,1%), kỳ hạn 6 tháng là 6,2%/năm và kỳ hạn 12 tháng là 7,4%/năm.Tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank), lãi suất huy động kỳ hạn 3 tháng được niêm yết ở mức 5,3%/năm (tăng 0,2%), kỳ hạn 6 tháng là 5,9%/năm (tăng 0,4%) và kỳ hạn 12 tháng
là 6,8%/năm (tăng 0,3%)
Trang 14Bên cạnh đó, tăng trưởng tín dụng trong 9 tháng đầu năm nay ở mức cao cũng góp phần nhất định co hẹp tỷ lệ nợ xấu Tính đến ngày 17/9, tăng trưởng tín dụng đã đạt trên 10% so với cuối năm 2014; dự kiến cả năm có thể lên tới 17%
Diễn biến tỷ lệ nợ xấu của các tổ chức tín dụng tiếp tục được cập nhật, khi thời điểm hoàn thành mục tiêu mà Ngân hàng Nhà nước đặt ra là 30/9/2015 Theo báo cáo thẩm tra việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về hoạt động giám sát chuyên đề, hoạt động chất vấn từ đầu nhiệm kỳ khóa 13 đến năm 2015, ở lĩnh vực ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu tính đến cuối tháng 8/2015 đã giảm xuống còn 3,2% Tại buổi tiếp ông Eric Sidgwick, tân Giám đốc quốc gia của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết, đến thời điểm này Việt Nam đã thành công trong việc giảm nợ xấu từ mức 17% xuống còn 3% và cơ bản
xử lý xong các ngân hàng yếu kém
Như vậy, sau ba năm kể từ khi lập đề án xử lý với tỷ lệ thống
kê lên tới 17% vào tháng 9/2012, nợ xấu đã chính thức giảm về còn 3% Theo đó, Ngân hàng Nhà nước đã hoàn thành sớm trước một quý so với thời điểm mục tiêu mà Quốc hội và Chính phủ đề ra (cuối 2015).Để thực hiện mục tiêu trên, cùng với việc các tổ chức tín dụng tự xử lý và tập trung thu hồi nợ xấu, từ quý 2/2015, Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản chỉ đạo các thành viên đẩy mạnh việc bán lại nợ xấu cho Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC)
Trang 15Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất của hầu hết các kì hạn đều có xu hướng đi ngang ở tuần đầu tháng, sau đó tăng, và về cuối tháng thì có phân hoá, kỳ hạn 1 tháng thì tăng còn các kỳ hạn còn lại có xu hướng giảm
Biểu đồ 3: Diễn biến lãi suất trên thị trường liên ngân hàng
tháng 9/2015
Nguồn: sbv.gov.vn
Nhìn đồ thị cho thấy, lãi suất bình quân trên thị trường liên ngân hàng đi ngang ở mọi kỳ hạn trong tuần đầu của tháng, tuy nhiên đến tuần thứ 2,3 lại tăng lên Hiện nay, lãi suất huy động bằng VND phổ biến ở mức 0,5-4%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và
có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,0-5,0%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ
1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,2-5,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn
từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn trên 12 tháng ở mức 7%/năm
6,2%-Trên thị trường mở, NHNN đã bơm ròng trong gần cả tháng 9
Trang 16Biểu đồ 4: Diễn biến thị trường mở tháng 9/2015
Nguồn: Tổng hợp
Hoạt động thị trường tín phiếu tuần đầu tháng 9 với lượng tín phiếu phát hành mới đạt 1.796 tỷ đồng, trong khilượng tín phiếu đáo hạn là 33.344 tỷ đồng Tính tổng lượng vốnđược bơm ròng qua kênh tín phiếu đạt 31.548 tỷ đồng Sang tuần thứ 2, hoạt động trên thị trường OMO khá sôi động.Cụ thể, NHNN đã bơm mới 1.662 tỷ đồng, trong khi lượng đáohạn là 3.595 tỷ đồng Như vậy đã có 1.933
tỷ đồng đã đượcNHNN hút ròng trở lại tuần qua Đến tuần thứ 3, NHNN bơm ròng 24.711 tỷ đồng thông qua kênh tín phiếu Trên thị trường tín phiếu không diễn ra đợt pháthành mới nào, trong khi lượng tín phiếu đáo hạn là 24.711 tỷđồng Vì thế lượng vốn được bơm ròng qua kênh tín phiếu là24.711 tỷ đồng
Đến tuần thứ 4, 2.465 tỷ đồng giao dịch reverse repo được thực hiện trên thi ̣ trường mở và 2.670 tỷ đồng giao dịch reverse repo đáo ha ̣n Trong khi đó, NHNN đã huy động được 18.142 tỷ đồng tín
Trang 17phiếu các loa ̣i Trong đó , tín phiếu 14 ngày chiếm 50% tổng khối lượng phát hành với giá trị 9.152 tỷ đồng Tín phiếu 28 ngày chiếm 24% vớ i giá tri ̣ 4.431 tỷ đồng và tín phiếu 56 ngày chiếm 25% với giá trị 4.559 tỷ đồng Mức lợi suất tín phiếu 14 ngày và 28 ngày đều giảm so với với tuần trước trước đó Cụ thể lợi suất của tín phiếu 14 ngày giảm 5 điểm cơ bản xuống mức 3,50%/năm, còn tín phiếu 28 ngày giảm 20 điểm cơ bản về mức 3,70%/năm Tuy nhiên lợi suất tín phiếu 56 ngày tăng 4 điểm cơ bản, đa ̣t mức 4%/năm Đồng thời, trong tuần có 3.716 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn Như vậy trong tuần này, NHNN hút ròng 14.631 tỷ đồng thông qua thị trường mở
Sự tăng nhẹ của lãi suất trên thị trường liên ngân hàng cho thấy nhu cầu về thanh khoản của các ngân hàng khá căng thẳng so với tháng trư ớc Tuy nhiên, mức lãi suất trung bình tuần vẫn chưa quá cao Theo nhận định, đợt biến đ ộng mạnh của thi ̣ trường lãi suất liên ngân hàng hi ện này chủ yếu xuất phát từ vi ệc điều chỉnh trần lãi suất tiền gửi bằng đồng đô la Mỹ của NHNN Tuy nhiên, sau đó thị trường có đi vào ổn định và thiết lập mặt bằng theo cung cầu của thị trường
II Thị trường ngoại hối và vàng
1 Thị trường ngoại hối
Thị trường ngoại hối quốc tế
Chỉ số USD Index trong tháng 9/2015 diễn biến diễn biến với
xu hướng chung là giảm trong nửa đầu tháng, sau tăng trở lại vào giai đoạn cuối tháng Chỉ số đạt mức cao nhất tại 96,41 ngày 3/9 và thấp
Trang 18nhất tại 94,54 ngày 17/9 Trong nhóm các đồng tiền mạnh, USD giảm 0,5% so với EUR, tăng 1,21% so với GBP, tăng 0,4% so với CHF, giảm 2,44% so với JPY và tăng 1,78% so với AUD
Biểu đồ 5 : Diễn biến chỉ số Dollar tháng 9/2015
Nguồn: www.marketwatch.com
Tháng 9, đồng USD diễn biến tăng giảm với biên độ lớn, chịu ảnh hưởng chính từ tình hình kinh tế trong nước cũng như những biến động từ nước khác Giai đoạn đầu tháng, khi các thông tin kinh tế trong tháng 8 được công bố không cao như mức dự đoán, số đơn đặt hàng hóa lâu bền tháng 8 không tăng so với tháng trước, cho thấy nhu cầu yếu trên toàn cầu, cũng như việc nước này đã từng cắt giảm các
dự báo về việc làm được tạo ra trong các tháng trước đó khiến đồng USD có vài phiên giảm mạnh Theo Bộ Lao động Mỹ công bố báo cáo việc làm cho thấy Mỹ chỉ tạo thêm được 142.000 việc làm trong tháng 9 Thêm vào đó, Chỉ số nhà quản lý mua hàng (PMI) được công bố cho thấy hoạt động của ngành công nghiệp Mỹ đã chững lại
Trang 19trong tháng 9 Số liệu này cho thấy nền kinh tế Mỹ rõ ràng là đang yếu đi nhiều hơn dự kiến Tuy nhiên, giai đoạn cuối tháng, đồng USD nới rộng đà tăng với phần lớn các đồng tiền khác sau khi FED cho biết cơ quan này có thể nâng lãi suất trước cuối năm nay Những dự đoán về khả năng Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) sẽ tăng lãi suất trong năm nay đã khiến giới đầu tư tập trung chủ yếu vào đồng USD Ngoài ra, doanh số bán nhà mới của Mỹ tăng vượt kỳ vọng cũng tác động tích cực đến đà tăng của USD
Tháng 9, đồng Euro có xu hướng tăng so với hầu hết các đồng tiền mạnh, đặc biệt là giai đoạn FED công bố hoãn nâng lãi suất khiến đồng USD mất giá Tuy nhiên biến động tăng không mạnh do các số liệu kinh tế trong khu vực được công bố không mấy khả quan Theo
Cơ quan Thống kê châu Âu, lạm phát trong Khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone) đã giảm xuống mức - 0,1% trong tháng 9/2015 Cùng lúc đó, số liệu sơ bộ của Cục Thống kê liên bang Đức (Destatis) cho biết tỷ lệ lạm phát tháng 9 của nước này đã giảm xuống mức thấp
kỷ lục 0% Nguyên nhân chính của sự sụt giảm này là giá năng lượng, đặc biệt là giá xăng dầu liên tục giảm mạnh Lạm phát thấp đang gây khó khăn cho mục tiêu nâng lạm phát lên mức 2% của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và gây sức ép khiến ECB có thể phải mở rộng chương trình nới lỏng định lượng (QE) ECB không chỉ chịu sức
ép từ tình hình lạm phát thấp ở châu Âu mà cả áp lực từ nguy cơ suy thoái toàn cầu và những chỉ dấu tiêu cực từ nền kinh tế Trung Quốc Trước tình hình trên, ECB cho biết sẽ sẵn sàng triển khai thêm các biện pháp kích cầu để hỗ trợ nền kinh tế eurozone
Trang 20Tháng 9, đồng JPY có xu hướng tăng so với cả đồng USD và đồng EUR, giữa bối cảnh những lo ngại về nguy cơ tình hình kinh tế Trung Quốc sẽ kéo lùi đà tăng trưởng kinh tế toàn cầu ngày càng gia tăng Các nhà đầu tư tiền tệ có xu hướng đầu tư vào tài sản an toàn trong thời gian gần đây, khi thị trường cổ phiếu liên tục giảm mạnh
do những nhận định tiêu cực về triển vọng của lĩnh vực khai mỏ và
vụ bê bối khí thải của hãng sản xuất ô tô Volkswagen gây chấn động toàn cầu
Đồng CNY tăng 0,13% so với USD trong tháng 9 Thông tin nổi bật đáng chú ý trong tháng qua là Đồng CNY của Trung Quốc đã vượt qua đồng JPY của Nhật Bản để trở thành đồng tiền được sử dụng nhiều thứ 4 trong thanh toán quốc tế Theo thông tin của Hội Viễn thông Tài chính Liên Ngân hàng Thế Giới, tỷ lệ giao dịch bằng đồng NDT đã tăng cao kỷ lục lên tới 2,79% trong tháng 8, từ mức 2,34% trong tháng 7 Thông tin này được đưa ra trong bối cảnh IMF đang xem xét về khả năng để đưa đồng NDT vào giỏ tiền tệ quốc tế
Thị trường ngoại hối trong nước
Trong tháng 9, tỷ giá VND/USD diễn biến tương đối ổn định, giai đoạn đầu tháng tỷ giá giảm nhẹ và ổn định sau đó xu hướng tăng trong giai đoạn giữa tháng, cuối tháng, tỷ giá biến động với xu hướng giảm do chịu ảnh hưởng từ chính sách liên quan đến
ngoại hối của NHNN Tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa đồng
VND và USD do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố vẫn ở mức 21.890 đồng/USD, tỷ giá trần là 22.547 VND/USD, tỷ giá sàn là
Trang 2121.233 VND/USD Chỉ số giá USD tháng 9 tăng 2,71% so với tháng
Giai đoạn cuối tháng, sau khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thông báo hạ trần lãi suất đối với tiền gửi USD từ ngày 28/9/2015,
từ 0,25% xuống 0% đối với tiền gửi USD của các tổ chức kinh tế và
từ 0,75% về mức 0,25% đối với cá nhân, tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng đều được điều chỉnh giảm theo đúng quy định
Trang 22Tính trong 9 tháng đầu năm 2015, tiền gửi tiết kiệm dân cư bằng USD và tiền gửi thanh toán USD của doanh nghiệp tăng gấp 3 lần so với cùng kỳ Điều này cho thấy kỳ vọng tỷ giá USD/VND tiếp tục điều chỉnh tăng vào cuối năm nay đang rất lớn, dẫn tới sự găm giữ ngoại tệ gây bất lợi cho việc chống đô-la hóa của nền kinh
tế Do đó, động thái hạ lãi suất USD của NHNN nhằm ổn định đồng nội tệ với mục tiêu ổn định tỷ giá, chống hiện tượng đô-la hóa nền kinh tế, từ đó ổn định kinh tế trong nước từ nay đến cuối năm
2.Thị trường vàng
Thế giới
Thị trường vàng thế giới trong tháng 9/2015 diễn biến với xu hướng chung là giảm trong nửa đầu tháng, sau đó phục hồi và tăng mạnh giai đoạn cuối tháng Trong tháng, giá vàng (giao ngay tại thị trường NewYork) lên cao nhất tại mức 1.154,1 USD/oz ngày 24/9
và thấp nhất là 1.105,1 USD/oz ngày 15/9 Tính chung cả tháng, giá vàng thế giới đã giảm 2,14%
Biểu đồ 7: Diễn biến giá vàng thế giới tháng 9/2015
Nguồn: kitco.com
Trang 23Nửa đầu tháng 9, giá vàng giữ nguyên đà giảm từ cuối tháng trước trong bối cảnh các nhà đầu tư vẫn đang kỳ vọng vào khả năng tăng lãi suất của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) Nhà đầu tư chờ tuyên bố chính thức của Fed vào ngày 17/9 về các gói chính sách tài chính tiếp theo liên quan đến khả năng tăng lãi suất, trước khi quyết định bất kỳ một giao dịch mua bán vàng lớn nào Trong vài năm gần đây, giá vàng đã được hưởng lợi lớn từ mức lãi suất cực thấp do chi phí cơ hội của việc tích trữ vàng so với tích trữ USD giảm mạnh Ngoài ra, tính dến đầu tháng 9/2015, nhu cầu mua vàng và hàng nhập khẩu của Ấn Độ đã giảm 10% trong năm nay cũng tác động đến thị trường vàng thế giới
Giai đoạn cuối tháng, giá vàng giảm mạnh khi số liệu kinh tế
Mỹ tích cực làm tăng khả năng Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) sẽ nâng lãi suất trong năm nay Việc FED tăng lãi suất sẽ đẩy đồng USD tăng lên và làm tăng chi phí cơ hội nắm giữ vàng
Tính từ đầu năm đến nay, giá vàng đã giảm tổng cộng 5,8% Riêng trong quý III-2015, giá vàng thế giới giảm tổng cộng 4,8% - quý giảm nhiều nhất trong năm 2015
Trong nước
Chịu ảnh hưởng từ diễn biến giá vàng và giá USD trên thế
giới, giá vàng trong nước tháng 9/2015 diễn biến tăng giảm liên tục
trong biên độ dao động hẹp Giá vàng SJC tăng mạnh nhất lên 34,15 – 34,52 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra) ngày 1/9 và thấp nhất
Trang 24tại 33,6 – 33,85 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra) ngày 29/9 Tháng 9, chỉ số giá vàng tăng 3,54% so với tháng 8/2015
Biểu đồ 8: Diễn biến giá vàng trong nước tháng 9/2015
Nguồn: sjc.com.vn
Sau đà tăng mạnh trong tháng 8, giá vàng trong nước biến động tương đối ổn định và có xu hướng giảm trong tháng 9 trước sự sụt giảm của giá vàng thế giới Ngoài ra, tỷ giá USD/VND tự do đã giảm mạnh so với tháng trước cũng là nguyên nhân khiến giá vàng giảm
Mặc dù diễn biến cùng xu hướng với giá vàng thế giới, nhưng đà tăng giảm của giá vàng trong nước luôn chậm và không tương xứng với đà tăng giảm của giá vàng thế giới dẫn tới chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới tiếp tục tăng Tính đến thời điểm cuối tháng, chênh lệch giữa giá vàng trong nước với giá vàng thế giới khoảng 3,3 triệu đồng/lượng