Nhận thức được tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của vấn đề xã hội trên, tôi chọn đề tài “Truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ tại t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THU TRANG
TRUYỀN THÔNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA PHỤ NỮ (Tại thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THU TRANG
TRUYỀN THÔNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA PHỤ NỮ (Tại thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số: 60.90.01.01
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Trịnh Văn Tùng
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Tong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở trường đến nay em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của qúy Thầy Cô, gia đình và bạn bè
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý Thầy Cô của khoa Xã hội học - Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn đã cùng với những tri thức và
tâm huyết của mình để truyền dạy vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường Và đặc biệt trong học kì này, dưới sự tạo điều kiện giúp
đỡ của khoa, bộ môn em đã có cơ hội được làm luận văn tốt nghiệp Đây là một vinh dự hết sức lớn lao mà bản thân em đã nhận được trong thời gian qua
Em xin chân thành cảm ơn thầy PGS.TS Trịnh Văn Tùng đã tận tâm hướng
dẫn em qua từng buổi thảo luận, hướng dẫn về kiến thức, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học Nếu không có những lời chỉ dạy, hướng dẫn của thầy em tự nhận thấy luận văn tốt nghiệp của em rất khó có thể hoàn thiện được Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn thầy
Bài luận văn tốt nghiệp của em bước đầu đi vào thực tế, tìm hiểu về lĩnh vực sáng tạo trong nghiên cứu khoa học, kiến thức của em còn hạn chế và nhiều bỡ ngỡ,
do vậy không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy Cô để em có thể hoàn thiện hơn nữa
Sau cùng em xin kính chúc quý Thầy Cô dồi dào sức khỏe, niềm tin để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ sau
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ (Tại thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ)” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi,
có sự hỗ trợ, hướng dẫn của thầy PGS.TS Trịnh Văn Tùng Các nội dung nghiên
cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
cứ công trình nghiên cứu nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tôi thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo Nếu phát hiện có bất kì sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2016
Học viên
Nguyễn Thu Trang
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu 12
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 13
5 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 14
6 Câu hỏi nghiên cứu 15
7 Giả thuyết nghiên cứu 15
8 Phương pháp nghiên cứu 16
9 Kết cấu của luận văn 21
NỘI DUNG 22
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU 22
1.1 Một số khái niệm công cụ 22
1.1.1 Truyền thông 22
1.1.2 Cộng đồng 24
1.1.3 Dựa vào cộng đồng 24
1.1.4 Truyền thông dựa vào cộng đồng 25
1.1.5 Phụ nữ 26
1.1.6 Sức khỏe sinh sản 26
1.1.7 Chăm sóc sức khỏe sinh sản 27
1.1.8 Nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ 28
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 28
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của Maslow 28
1.2.2 Lý thuyết hệ thống 30
1.2.3 Mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng 31
Trang 61.3 Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về truyền thông
nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ 35
1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (Thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ) 38
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VÀ CÔNG TÁC TRUYỀN THÔNG NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA PHỤ NỮ TẠI THỊ TRẤN PHONG CHÂU, HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ 42
2.1 Thực trạng sức khỏe và nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ tại thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 42
2.1.1 Nhận thức của phụ nữ về phòng tránh thai an toàn 42
2.1.2 Nhận thức của phụ nữ về các bệnh lây truyền qua đường tình dục 43
2.1.3 Nhận thức của phụ nữ về làm mẹ an toàn 45
2.1.4 Nhận thức của phụ nữ về nạo phá thai an toàn 46
2.1.5 Mức độ quan tâm và sự thiếu hụt kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ tại địa phương 47
2.2 Thực trạng công tác truyền thông nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ tại thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 50
2.2.1 Thực trạng công tác truyền thông hiện nay qua kênh truyền thông đại chúng 50
2.2.2 Thực trạng công tác truyền thông hiện nay qua kênh truyền thông trực tiếp 52 2.2.3 Thực trạng công tác truyền thông hiện nay qua hoạt động đoàn thể xã hội 54
2.3 Nguyên nhân của kết quả truyền thông nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản hiệu quả còn thấp 57
Tiểu kết chương 63
Trang 7CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA PHỤ NỮ (TẠI THỊ TRẤN PHONG
CHÂU, HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ) 64
3.1 Nhu cầu tìm hiểu và tham gia mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ tại thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 64
3.2 Những nguồn lực truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức về chăm sóc khỏe sinh sản của phụ nữ tại thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 66
3.2.1 Đánh giá về nguồn lực đặc trưng từ sinh hoạt cộng đồng 66
3.2.2 Đánh giá nguồn lực truyền thông 67
3.3 Đề xuất mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ tại thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 71
3.3.1 Xác định đối tượng đích của truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chắm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ 71
3.3.2 Tình huống truyền thông dựa vào cộng đồng 73
3.3.3 Thiết kế thông điệp truyền thông dựa vào cộng đồng 74
3.3.4 Biện pháp tiến hành truyền thông dựa vào cộng đồng 76
KẾT LUẬN 90
KHUYẾN NGHỊ 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 96
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Đặc tính của mẫu nghiên cứu 20
Bảng 2.1: Tỉ lệ phụ nữ biết đến các biện pháp phòng tránh thai 42
Bảng 2.2: Tỉ lệ phụ nữ có biết về các bệnh lây truyền qua đường tình dục 43
Bảng 2.3: Đánh giá kiến thức về bệnh lây truyền qua đường tình dục 44
Bảng 2.4: Đánh giá kiến thức về các bệnh phụ khoa 44
Bảng 2.5: Đánh giá kiến thức về thai sản của phụ nữ 45
Bảng 2.6: Nhu cầu tìm hiểu loại thông tin về thai sản 46
Bảng 2.7: Đánh giá kiến thức về nạo phá thai an toàn 47
Bảng 2.8: Mức độ quan tâm đến chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ 47
Bảng 2.9: Mức độ quan tâm của chị em phụ nữ về các nội dung trong chăm sóc sức khỏe sinh sản 48
Bảng 2.10: Đánh giá mức độ thiếu hụt kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ địa phương 49
Bảng 2.11: Phương thức tiếp cận thông tin kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ 51
Bảng 2.12: Thông tin nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ qua kênh truyền thông trực tiếp được cộng đồng tiếp cận 53
Bảng 3.1: Tỉ lệ người dân sẵn sàng tham gia truyền thông dựa vào cộng đồng 65
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ đang là một vấn đề rất được quan tâm và chú ý hiện nay Trong giai đoạn đất nước phát triển hiện nay, mỗi ngày trên thế giới có khoảng hơn 3000 phụ nữ tử vong cũng như đang gặp phải các vấn đề do sức khỏe sinh sản Tính riêng tại Việt Nam bình quan mỗi ngày có khoảng 20 đến
25 phụ nữ đang phải chung sống với các vấn đề về sức khỏe sinh sản cũng như mắc mới Các nguyên nhân hàng đầu khiến các con số cao như vậy là do: chị em còn thiếu kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản, ngại nói ra hay đến các cơ sở y tế khám chữa bệnh vì là vấn đề tệ nhị, do hạn chế về điều kiện kinh tế, địa hình sinh sống nên chưa thể tiếp cận các dịch vụ y tế và công tác truyền thông cung cấp kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản,… [4, tr 26]
Đặc biệt là trong vấn đề nhận thức và công tác truyền thông chăm sóc sức khỏe cho người dân vẫn còn nhiều hạn chế dẫn đến những hậu quả tiêu cực cần khắc phục Để khắc phụ những hạn chế trên thì trước tiên phải nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao sức khoẻ của người dân nhằm tạo ra một lực lượng khoẻ mạnh
về thể chất, tinh thần và được trang bị những tri thức phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội Đây có thể nói là mối quan tâm hàng đầu, là mục tiêu quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế xã hội của đất nước [13, tr 33].Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ vùng sâu vùng xa luôn là vấn đề quan tâm của những nhà hoạch định chính sách, nhà xã hội học, nhà dân số học, nhà quản lý xã hội, y tế.Tăng cường chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em cả nước nói chung, cho miền núi, hải đảo, vùng sâu vùng xa nói riêng đang là một vấn đề ưu tiên trong chiến lược chăm sóc sức khỏe cộng đồng Những nỗ lực trong việc triển khai các chiến lược quốc gia cũng như các chương trình y tế đã đem lại những cơ hội khả quan cho việc chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ Tuy nhiên trong thực tế, sự phát triển lại không đồng đều giữa các vùng: miền xuôi và miền núi, nông thôn và thành thị, hải đảo và đất liền
Chăm sóc sức khỏe sinh sản là một trong những mục tiêu và là nội dung công tác quan trọng của Uỷ ban Dân số Gia đình và Trẻ em, hiện nay là chức năng của Tổng
Trang 11cục Dân số- Kế hoạch hóa gia đình - (Bộ Y tế) Đối với chiến lược Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản là một bộ phận tối quan trọng Nó có vai trò quyết định tới sự thành công hay thất bại của chiến lược quốc gia này [3, tr 57]
Ở nước ta hiện nay công tác truyền thông đang từng bước mở rộng tầm ảnh hưởng tới quần chúng Các thông tin xã hội có định hướng, trong đó các vấn đề liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ được truyền tải nhiều hơn tới người dân đặc biệt là chị em phụ nữ cả về số lượng và chất lượng Nhận thức của của người phụ nữ về các vấn đề liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản không ngừng được cải thiện Mặc dù vậy vẫn còn một khoảng cách khá lớn về nhận thức của người dân trong công tác nâng cao nhận thưc chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ Nhiều hoạt động truyền thông vẫn chưa thự sự có hiệu quả trong việc tham gia, khuyến khích cộng đồng chung tay nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ Đó là những thiếu hụt nghiêm trọng trong nhận thức và hành động thực tiến của đại bộ phân chị em nhất là những vùng nông thôn còn chưa phát triển Tìm hiểu vấn đề truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, khắc phục những thiếu hụt kiến thức cũng như phòng ngừa những nguy cơ liến quan đến các vấn đề sức khỏe sinh sản của chị em phụ nữ
Trong những năm qua, thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
đã thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước đã từng bước tăng trưởng kinh tế bền vững, các dịch vụ y tế, chất lượng cuộc sống của người dân đã từng bước được nâng cao Bên cạnh đó các nhu cầu và nguyện vọng của người dân đã được quan tâm và chú trọng hơn [46] Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được không thể không nhắc đến những điểm hạn chế vẫn còn tồn tại như hạn chế trong công tác thăm khám, bảo vệ sức khỏe sinh sản của phụ nữ địa phương và truyền thông nâng cao nhận thức chăm sóc sức khóe sinh sản của phụ nữ Trong vòng 5 năm trở lại đây, thực trạng chị em phụ nữ thiết hụt kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản dẫn đến những hậu quả đáng tiếc vẫn còn tồn tại [33] Mặc dù các cấp chính quyền cùng các cơ quan đoàn thể, tổ chức xã hội đã có những biện pháp nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu tình trạng trên nhưng trong thức tế thì hiệu quả vẫn chưa
Trang 12cao Tại thị trấn Phong Châu, qua quá trình thực tiễn chúng tôi thấy rằng nhận thức của chị em phụ nữ về vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản còn thấp, còn nhiều thiếu hụt kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản của chính bản thân mình Từ thực tế đó chứng minh cho chúng ta thấy sự cần thiết phải có một nghiên cứu thực tiễn để tìm
ra một mô hình truyền thông hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ
Nhận thức được tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của vấn đề xã hội trên,
tôi chọn đề tài “Truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ tại thi trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình với mong muốn tìm
hiểu thực trạng nhận thức và công tác truyền thông chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ tại địa phương, kèm theo đó là xác định những nguyên nhân thực trạng
đó và cuối cùng là đánh giá các nguồn lực trong công tác truyền để từ đó đề xuất kiến tạo một mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ, cải thiện và nâng cao đời sống sức khỏe nhân dân địa phương nói chung và chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ nông thôn nói riêng
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ hiện nay đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu xã hội học và ngành y tế không chỉ ở Việt Nam mà còn cả trên thế giới Phụ nữ là nhóm xã hội đặc biệt luôn chiếm được sự quan tâm rất lớn của Đảng, Chính Phủ và các tổ chức xã hội, do đó có rất nhiều công trình lấy đối tượng nghiên cứu là phụ nữ và các vấn đề liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ Trong phần tổng quan nghiên cứu này, tác giả tiến hành nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ theo các góc độ: Nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ, truyền thông nâng cao nhận thức và truyền thông dựa vào cộng đồng
2.1 Nghiên cứu dưới góc độ xã hội học
Chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ đang là một vấn đề đáng được quan tâm và chú trọng hiện nay không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới Xã hội
Trang 13càng phát triển, nhu cầu chăm sóc, tìm hiểu, nâng cao kiến thức về sức khỏe đặc biệt
là sức khỏe sinh sản của chị em phụ nữ ngày càng tăng và cần thiết hơn bao giờ hết bởi phụ nữ là một nửa thế giới, là người mẹ, người bà, là người có vị trí vô cùng quan trọng trong gia đình và xã hội
Theo một nghiên cứu cho thấy, từ những năm 1970, tình trạng bệnh tật và sức khỏe sinh sản của phụ nữ đã được các nước có thu nhập cao, các nước phát triển quan tâm và giảm thiểu tỉ lệ mắc bệnh nhờ những nỗ lực tuyên truyền, phòng ngừa và quan tâm bằng nhiều phương thức khác nhau Trong khi đó thì tại các nước có thu nhập thấp, các nước đang phát triển và chậm phát triển thì gánh nặng về bệnh tật ngày càng tăng
do nhiều nguyên nhân môi trường, chính sách, các nguồn bệnh mới đây là mối quan ngại vô cùng lớn đối với toàn xã hội, với cuộc sống của con người nên sức khỏe sinh sản của phụ nữ chỉ là một vấn đề rất nhỏ và chưa được quan tâm Một số nghiên cứu tại Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam cho thấy các vấn đề về sức khỏe sinh sản đặc biệt là các bệnh lây truyền qua đường tình dục như HIV là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tỉ lệ tử vong ở phụ nữ còn hơn cả bệnh ung thư Nghiên cứu cho thấy, trong khi các nước phát triển chỉ có khoảng 140 phụ nữ tử vong do các bệnh về sức khỏe sinh sản trên 100.000 dân thì ở các nước chậm phát triển hay các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á thì con số này lại cao hơn rất nhiều lên đến 1000 phụ nữ Bện cạnh
đó nghiên cứu cũng chỉ ra rằng không chỉ tỉ lệ phụ nữ tử vong vì các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản cao mà những phụ nữ hiện vẫn đang chung sống cùng bệnh tật đường sinh sản cũng là rất lớn với con số là 25.000 phụ nữ trên 100.000 thậm chí có trường hợp đã thăm khám nhưng chưa khỏi và có cả những trường hợp không có sự can thiệp về y tế do nhiều yếu tố tác động khác nhau [19, tr 42]
Mỗi ngày, trên khắp thế giới cuộc sống của người phụ nữ luôn phải đối mặt với rất khó khăn và yếu tố tác động đến hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của bản thân Vấn đề trên đã được đề cập đến rất nhiều trong các nghiên cứu khoa học hay như hiện nay nó còn được nâng cao thành một môn học trong trường đại học vơi tên gọi hết sức cụ thể và khoa học là “Nhân học y tế” Không như những y, bác sĩ, các nhà nhân học y tế không nhất thiết phải hiểu các kiến thức về y khoa, mà được đào tạ
để biết cách áp dụng những kiến thức khoa học xã hội vào việc giúp hiểu rõ hơn về
Trang 14các vấn đề sức khỏe của mọi người cũng như cách thức mọi người tiếp nhận và xử trí các vấn đề sức khỏe của họ Nhân học y tế là một chuyên ngành nghiên cứu đến cả hai khía cạnh sinh học và văn hóa – xã hội của hành vi, nhận thức của loài người, đặc biệt nghiên cứu những cách thức mà hai khía cạnh này tương tác với nhau trong suốt quá trình giải quyết các vấn đề liên quan đến nhận thức, hành vi của con người Trong đó nó cũng nhấn mạnh đến những tác động gây ảnh hưởng đến những thói quen của con người đặc biệt là người phụ nữ trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản của bản thân như tập tục sinh hoạt, kiến thức của bản thân và người trong gia đình,…[2, tr 135]
Chỉ số nhân khẩu học và chỉ số kinh tế đã nói lên thành công của Việt Nam, tuy nhiên quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng và mức độ di chuyển dân cư ra thành thị tăng đang dần làm thay đổi cơ cấu và chức năng của xã hội Hậu quả là hiện đang tồn tại sự khác biệt lớn giữa tình trạng sức khỏe của bà mẹ ở nông thôn
và thành thị, với 44% phụ nữ nông thôn vẫn sinh con tại nhà, trong khi đó con số này chỉ có 7% ở khu vực thành thị [18, tr 48] Sự phát triển của xã hội cũng đồng thời tạo ra những thách thức, đặc biệt trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS) Thanh niên vị thành niên được coi là đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong
xã hội đã trở thành nhóm mục tiêu của các hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông (IEC) về SKSS ở Việt Nam Thanh niên Việt Nam ngày nay đã có sự thay đổi
về tập quán và văn hóa, như lập gia đình ở độ tuổi muộn hơn và gia tăng quan hệ tình dục trước hôn nhân Thiếu số liệu điều tra về các trường hợp viêm nhiễm lây truyền qua đường tình dục (STIs) đã gây khó khăn cho việc lập báo cáo chính xác Tuy nhiên trong một nghiên cứu được thực hiện vào năm 1997 đã ước tính rằng sự lây lan của các viêm nhiễm lây truyền qua đường tình dục đã tăng lên 10 lần trong thập kỷ qua [32, tr 58] Dường như tình trạng này đã không được cải thiện, đặc biệt
là trong điều kiện hiện nay khi mà số công nhân lao động nhập cư sống xa nhà, xa người thân đang làm tăng nguy cơ lây nhiễm nhiều hơn so với trước đây
Vấn đề HIV/AIDS tại Việt Nam thực sự đáng lo ngại, số ca nhiễm HIV/AIDS theo báo cáo hiện nay thấp hơn so với số thực tế Thêm vào đó, rất nhiều phương tiện thông tin đại chúng thường đề cập đến HIV/AIDS cùng với các tệ nạn
Trang 15xã hội như nghiện hút hay mại dâm, đã là nguyên nhân gây ra kỳ thị của xã hội đối với những người bị nhiễm bệnh Một thực tế đáng chú ý là “nạn dịch” này có nguy
cơ sẽ lây sang rất nhiều người khác thông qua những khách hàng là gái mại dâm, đặc biệt cho đối tượng là công nhân lao động xa nhà Kết quả là, chị em phụ nữ có quan hệ tình dục, có nguy cơ lây nhiễm HIV và từ đó có khả năng lây truyền cho con nếu có mang
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất mà Việt Nam đang phải đối mặt trong lĩnh vực SKSS là vấn đề nạo phá thai Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai thấp được phản ánh bằng tỷ lệ nạo phá thai cao và tỷ lệ này đang tiếp tục gia tăng ở Việt Nam Với tỷ lệ nạo phá thai cao nhất ở Đông Nam Á và là một trong những nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, trung bình mỗi phụ nữ Việt Nam nạo phá thai 2.5 lần trong đời (2002) Đáng ngại là trong khi thông tin, giáo dục, truyền thông đã nỗ lực nâng cao nhận thức của người dân nhưng rõ ràng họ chưa thực sự thay đổi được hành vi của mình Nhiều bạn gái trẻ thiếu kiến thức cơ bản về tình dục hoặc không tin tưởng vào việc dùng bao cao su hay không yêu cầu bạn tình sử dụng bao cao su Hơn nữa, sự nhìn nhận một cách tiêu cực về nạo phá thai đã gây nên tình trạng nhiều phụ nữ tiến hành nạo phá thai ở nơi bí mật và bất hợp pháp Ở Việt Nam mỗi tuần có 1 phụ nữ tử vong vì nạo phá thai không an toàn [19, tr 83]
Quỹ dân số liên hợp quốc (UNFPA) đã nêu ra các vấn đề chủ yếu sau trong lĩnhvực sức khỏe sinh sản ở Việt Nam: Tỷ lệ tránh thai phổ biến cao (75%), trong
đó đa số chị em phụ nữ sử dụng vòng tránh thai (IUDs) và các biện pháp tránh thai
tự nhiên Việc tiếp cận các biện pháp tránh thai hiện đại còn nhiều hạn chế Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại là 52,6% [30, tr 39] Không phải tất cả người dân Việt Nam đều dễ dàng tiếp cận các thông tin và dịch vụ về sức khỏe sinh sản Vị thành niên, thanh niên chưa lập gia đình, và những người dân sống ở vùng sâu, vùng xa, đặc biệt đối mặt với những khó khăn trong việc tìm kiếm và tiếp cận các thông tin và dịch vụ sức khỏe sinh sản có chất lượng
Tỷ lệ phụ nữ ở độ tuổi sinh sản mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản (20%) và nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục cao (25%) Những đóng góp của y tế công đã góp phần làm giảm tỷ lệ tử vong mẹ và con, tuy nhiên tử vong mẹ
Trang 16vẫn còn ở mức cao (29,9/1000), đặc biệt ở miền trung cao nguyên và các tỉnh miền núi phía bắc [30, tr 78]
Trong cuốn “Nhân học - một quan điểm về tình trạng nhân sinh” của Amily
A và Robert H đã luôn có một cách nhìn hết sức bao quát về con người từ xưa đến nay cả về thể chất và những đòi hỏi về tinh thần trong cuộc sống Con người luôn có những nhu cầu thiết yếu về chăm sóc sức khỏe cho bản thân và những người xung quanh nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của chính bản thân họ Trong nghiên cứu và đánh giá của cả hai tác giả đã cùng nhận thấy yếu tố xã hội hay văn hóa tập tục của con người trong môi trường sống luôn có sự ảnh hưởng không hề nhỏ đến mức độ nhận thức hay các hành vi sinh hoạt thường ngày của người dân Chính vì vậy ta muốn thay đổi bất cứ một điều gì của bản thân con người thì luôn phải chú ý và quan tâm đến những nhân tố ảnh hưởng đến họ để đưa ra những phương thức giải quyết hiệu quả nhất [1, tr 48]
Theo nghiên cứu y học và xã hội của Đức –2000 thì cho thấy rằng khi bước sang thế kỉ 21 bản thân người phụ nữ đã có những sự hiểu biết và nhận thức đúng đắn hơn rất nhiều trong việc bảo vê sức khỏe của bản thân được thể hiện qua tỉ lệ số phụ
nữ biết cách sử dụng các biện pháp tránh thai an toàn đã tăng cao (từ 25,6 % lên 64,1%) Đây có thể nói là một con số đáng mừng để hướng tới một cuộc sống có chất lượng tốt hơn và sức khỏe sinh sản của người phụ nữ được nâng cao hơn [32, tr 68]
Nghiên cứu của tác giả Đỗ Mai Hoa, J.S.Hirsch và R.Martorell trong cuốn “Các phương thức chăm sóc sức khỏe phụ nữ bị mắc bệnh phụ khoa tại nhà” thì lại đề cập
và đi sâu vào lí giải các yếu tố tác động cũng như cách thức chăm sóc hiệu quả nhất cho các chị em phụ nữ bị mắc bệnh phụ khoa tại nhà Cuốn sách đã cung cấp những kiến thức có thể nói là vô cùng quan trọng và thiết yếu nhất cho phụ nữ trong vấn đề sức khỏe sinh sản để tự bản thân họ thấy được tầm nguy hiểm khi mắc bệnh phụ khoa
để từ đó có cách phòng tránh và điều trị, chăm sóc hiệu quả nhất [6, tr 152]
2.2 Nghiên cứu dưới góc độ y học
Theo tổ chức Y tế thế giới thì số liệu thông kê strong những năm gần đấy cho thấy tỉ lệ các bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục không hề giảm mà còn có xu hướng tăng đặc biệt là ở các nước Châu Phi, Nam Á và Đông Nam Á
Trang 17Về sức khỏe sinh sản của phụ nữ, hiện nay trên toàn thế giới đang là vấn đề y
tế công cộng và là vấn đề của sự phát triển Ước tính mỗi năm trên thế giới có khoảng 830.000 phụ nữ tử vong trong đó có hơn một nửa là do các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản, tương đương với khoảng hơn 1.000 phụ nữ tử vong trong một ngày Nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do sức khỏe sinh sản thường do các baajnh lấy truyền qua đường tình dục đặc biệt là HIV (260.000 trường hơp /năm), các tai biến sản khoa (175.0000 trường hơp/ năm), các trường hợp không được tiếp cận dịch vụ y tế kịp thời (92.000 trường hợp/ năm) [4, tr 84] Tuy nhiên thực trạng các con số tỉ lệ tử vong của phụ nữ do nguyên nhân liên quan đến sức khỏe sinh sản chỉ là một phần nổi của tảng băng gánh nặng bệnh tật do về sức khỏe sinh sản của phụ nữ chưa được quan tâm đúng mức vì hiện nay vẫn còn rất trường hợp đã có điều trị về y tế nhưng vẫn phải sống chung với bệnh tật cả đời hoặc là để lại những hậu quả nghiêm trọng cả về sức khỏe và tâm lí cho người phụ nữ
Theo các báo cáo của Tổng cục dân số - kế hoạch hóa gia đình (Bộ y tế), trong quý I năm 2010 về tình trạng sức khỏe sinh sản của phụ nữ của 53 tỉnh thành
và báo cáo của 57 bệnh viện , có 286.380 trường hợp phụ nữ nhập viện trong đó có 125.340 trường hợp bệnh nhân có liên quan đến vấn đề sức khỏe sinh sản Các trường hợp này có rất nhiều nguyên nhân khác nhau: Các bệnh phụ khoa, nạo phá thai, áp dụng các biện pháp tránh thai, tai biến sản khoa, các bất thường trong quá trình thai sản Để khắc phục thực trạng trên, Bộ y tế đã cho xây dựng hệ thống giám sat về mắc và tử vong do các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản được thiết lập trên phạm vi toàn quốc [33, tr 25]
Hiện nay Bộ y tế đã có rất nhiều hỗ trợ trong việc giảm thiểu tỉ lệ tử vong hay mắc bệnh liên quan đến sức khỏe sinh sản của phụ nữ như việc liên tục ban hành các chương trình quốc gia về nâng cao sức khỏe sinh sản của phụ nữ với thời gian 10 năm/ chương trình Bổ sung, cung cấp các thiết bị y tế đến tận tuyến y tế địa phương (364 máy siêu âm/ năm, 120 xe chuyên dụng, 150 máy nội soi), khuyến khích và bổ sung đội ngũ y bác sĩ có chuyên môn về tuyến y tế địa phương [28, tr 65]
Bên cạnh đó Bộ y tế cũng đã chủ động phối hợp với các địa phương tổ chức tập huấn phổ biến kiến thức, kĩ năng xử trí với các ván đề liến quan đến sức khỏe sinh sản của phụ nữ cho các cán bộ trực tiếp liên tại các tuyến cơ sở, tập trung bồi dưỡng đội ngũ cán bộ y tế, lồng ghép trong chương trình xây dựng chuẩn quốc gia
Trang 18về y tế huyện, xã và xây dựng nông thôn mới Bên cạnh đó công tác truyền thông , giáo dục sức khỏe sinh sản được thực hiện thường xuyên, liên tục thông qua các phương tiện thông tin đại chúng , khẩu hiệu, tờ rơi, tài liệu cầm tay, cộng tác viên tuyên truyền tại địa phương, xây dựng các mô hình mẫu an toàn, khỏe mạnh, hạnh phúc nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất các nguy cơ mắc và tử vong do bệnh liên quan đến sức khỏe sinh sản ở phụ nữ
Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, song công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ tại cộng đồng Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn và thách thức Vì vậy giai đoạn 2010 – 2020 ngành y tế cần tập trung giải quyết các vấn đề như kiện toàn các chính sách, chương trình hỗ trợ các dịch vụ y tế đới với chị em phụ nữ, triển khai các mô hình cộng đồng an toàn, khỏe mạnh, truyền thông nâng cao nhận thưc chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ
nữ [31, tr 64]
Trong mảng kiến thức về phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình
dục thì trong cuốn “Quản lí và phòng chống HIV lây qua đường tình dục cho phụ nữ” của tác giả Lê Vũ Anh và Phạm Trí Dũng đã cung cấp cho người dân nói chung
và phụ nữ nói riêng cái nhìn toàn diện nhất về HIV Cuốn sách đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của người đọc vì đã đưa ra cách nhìn chuyên sâu, khoa học về một căn bệnh được gọi là căn bệnh thế kỉ hiện nay Nó không chỉ nghiên cứu trên lí thuyết mà còn đưa ra các số liệu thực tế và các cách giải quyết, khắc phục hậu quả
do căn bệnh gây nên trong xã hội nhằm nâng cao sức khỏe cho phụ nữ để hướng đến một cuộc sống có chất lượng cao hơn nữa [4]
2.3 Nghiên cứu dưới góc độ truyền thông
Truyền thông là giải pháp được toàn cầu hướng tới vơi mong muốn nâng cao chất lượng nguồn thông tin và tiếp cận các nguồn kiến thức phong phú hơn về nhiều lĩnh vực trong cuộc sống và nâng cáo sức khỏe sinh sản của phụ nữ
Ở nước ta hiện nay, năm 2010 Bộ y tế đã kí quyết định abn hành chiến lược quốc gia về sức khỏe sinh sản của phụ nữ với mục tiêu:
Bảo đảm đến năm 2020 tình trạng sức khoẻ sinh sản được cải thiện rõ rệt và giảm được sự chênh lệch giữa các vùng và các đối tượng bằng cách đáp ứng tốt hơn
Trang 19những nhu cầu đa dạng về chăm sóc sức khoẻ sinh sản (CSSKSS) phù hợp với điều kiện của các cộng đồng ở từng địa phương, đặc biệt chú ý đến các vùng và đối tượng có khó khăn
Tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, cũng như sự ủng hộ và cam kết thực hiện các mục tiêu và các nội dung của CSSKSS trong mọi tầng lớp nhân dân, trước hết trong cán bộ lãnh đạo các cấp, người đứng đầu trong các tổ chức, đoàn thể
Nâng cao tình trạng sức khoẻ của phụ nữ và các bà mẹ, giảm tỷ lệ bệnh tật, tử vong mẹ, tử vong chu sinh và tử vong trẻ em một cách đồng đều hơn giữa các vùng
và các đối tượng, đặc biệt chú ý các vùng khó khăn và các đối tượng chính sách
Dự phòng có hiệu quả để làm giảm số mắc mới và điều trị tốt các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bệnh lây qua đường tình dục, kể cả HIV/AIDS
Để tăng cường quản lí và phong chống các bệnh liên quan đến sức khỏe sinh sản của phụ nữ, ngành y tế đã phối hợp với chính quyền địa phương các tỉnh thành phố trên cả nước thực hiện các chương trình tuyên truyền nâng cao kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản với rất nhiều nội dung khác nhau như: các bệnh lây qua đường tình dục, quá trình thai sản và cách chăm sóc, biện pháp phòng tránh thai an toàn,… Trên cả nước đã diễn 458 chương trình tuyên truyền, có 657.480 áp phích được sử dụng tuyên truyền, 595.382 cuốn cẩm nang kiến sức sức khỏe sinh sản của phụ nữ đã được phát đi, gần 120 tin bài truyền hình, truyền thanh được đăng tải nhằm góp phần nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ trên
cả nước đặc biệt là các chị em tại các địa phương nông thôn, dân tộc [45] Đây là những bước tiến không nhỏ thể hiện sự quan tâm và chú trọng vào công tác nâng cao sức khỏe cho chị em phụ nữ hiện nay của các cấp chính quyền từ Trung ương
Trang 20đến địa phương nhằm giảm thiểu những nguy cơ tử vong và mắc các bệnh về sức khỏe sinh sản của phụ nữ, góp phần không nhỏ giải quyết những mặt hạn chế và bất lợi trong việc làm thế nào để nâng cao nhận thức của phụ nữ về chắm sóc sức khỏe sinh sản
Nghiên cứu tại tỉnh Thái Nguyên cho thấy, tỉnh cũng là một đơn vị đã chú trọng tới công tác truyền thông nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ trực tiếp tại cộng đồng Hội phụ nữ tỉnh cũng đã tổ chức 06 buổi truyền thông trực tiếp với cộng đồng về công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ tại 4 địa bàn cơ sở là 4 huyện Tại các buổi truyền thông , đã có hơn 600 chị em tham gia, các chị em tham gia đã được thông tin, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và các câu chuyện với kiến thức thực tế, khoa học về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ [29] Bên cạnh đó bên tổ chức cũng đã thu lại được những ý kiến chân thực nhất về những khó khăn tiếp cận thông tin chăm sóc sức khỏe sinh sản của chị em, những nguyên nhân kiến cho sức khỏe sinh sản của chị em chưa được cải thiện như: phong tục văn hóa, khó khăn về địa bàn di chuyển, bản tính người phụ nữa Việt Nam từ xưa vốn rất e ngại khi nhắc đến bản thân đặc biệt là những vấn đề tế nhị, trình độ dân trí chưa đồng đều,…
Ngay tại một tỉnh rất gần Phú Thọ về mặt vị trí địa lí là tỉnh Vĩnh Phúc cũng
đã có các công tác truyền thông nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ được tổ chức do sự làm việc kết hợp của Hội phụ nữ tỉnh và phòng dân số,
kế hoạch hóa gia đình tại các huyện Cùng với tổ chức tập huấn cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo địa phương, lãnh đạo các ban ngành, cộng tác viên dân số về công tác nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ, tăng cường trên hệ thống truyền thanh và truyền hình của tỉnh nhà, tại các địa phương còn tổ chức truyền thông trực tiếp cho các đối tượng là chị em không thể tham dự trực tiếp các buổi truyền thông qua các cộng tác viên truyền thông tại khu, xã Các kiến thức được đề cập đến chủ yếu tập trung vào những nội dung theo nhu cầu của chị em đã điều tra
từ trước và những tiến bộ y học trong chăm sóc sức khỏe sinh sản [10]
Mục đích của việc xây dựng mô hình này là nâng cao kiến thức và trách nhiệm của các cấp ngành về công tác truyền thông nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ, nâng cao nhận thức của chính chị em phụ nữ để biết
Trang 21chăm sóc sức khỏe của chính bản thân mình, tăng số người được tiếp cận thông tin
về chăm sóc sức khỏe sinh sản để giảm thiểu những thực trạng đáng tiếc về tỉ vong hay mắc bệnh sức khỏe sinh sản do thiếu kiến thức và thông tin
Tóm lại
Công tác xã hội là một ngành khoa học mang tính chuyên ngành, chính vì vậy từ tất cả các góc nhìn xã hội, văn hóa, y học, chúng tôi đã kết hợp lại để nghiên cứu truyền thông dưới góc độ phát triển cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ tại địa bàn thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ Trong tất cả những nghiên cứu trước đấy về truyền thông nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ vẫn chỉ là những nghiên cứu về các công tác tuyên truyền đơn thuần do một hoặc hai tổ chức đoàn thể xã hội tại địa phương nhận thấy sự cần thiết của vấn đề nên thực hiện mà chưa biết cách kết nối
và tận dụng những nguồn lực cộng đồng sẵn có tại địa phương như tài lực, vật lực
và nhân lực sẵn có tại địa phương để mở rộng phạm vi và chất lượng của công tác truyền thông Các công tác truyền thông trước đây chủ yếu mới chỉ là truyền thông một chiều mà chưa có được kết quả phản hồi của người nhận thông tin truyền thông, từ đó chưa nắm bắt được nhu cầu thiết thực, hiệu quả của các thông tin truyền thông Từ những hạn chế đó nghiên cứu của chúng tôi sẽ đề cập đến một khía cạnh khác hơn đó là đánh giá và tận dụng các nguồn lực truyền thông tại cộng đồng và từ đó kiến tạo một mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ tại thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu
3.1 Ý nghĩa khoa học
Trong đề tài này chúng tôi cố gắng vận dụng những lí thuyết của một vài ngành khoa học gần gũi như: Xã hội học, tâm lí học xã hội và một mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng để tìm hiểu, phân tích nguyên nhân và đánh giá thực trạng
về nhận thức, đánh giá nhu cầu và nguồn lực truyền thông để từ đó kiến tạo một mô hình can thiệp nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ tại địa bàn thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trang 22Trong quá trình thực hiện, đề tài nghiên cứu “Truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ tại thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ” đã thực sự mang lại một số mặt ưu
điểm trong cuộc sống
Nâng cao nhận thức của chính bản người phụ nữ địa phương về tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khỏe sinh sản từ đó cũng có nhưng tác động không nhỏ đến nhận thức của gia đình và cộng đồng địa phương trong các vấn đề về sức khỏe của người phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ nông thôn
Từ những số liệu và kết quả điều tra nghiên cứu của đề tài, Hội phụ nữ là cơ quan đoàn thể xã hội gần nhất với chị em phụ nữ có những kế hoạch kết nối các nguồn lực truyền thông để từ đó xây dựng các mô hình truyền thông hiệu quả và thiết thực hơn phù hợp với tình hình thực tế địa bàn
Chính quyền địa phương cũng đã hiểu được tầm quan trọng của công tác truyền thông dựa vào cộng đồng từ đó đã có những chính sách hỗ trợ và sự quan tâm hợp lí đến các kế hoạch hiện có và trong tương tai tại địa phương Đề tài cũng khẳng định được vai trò vô cùng quan trọng của nhân viên công tác xã hội trong công tác truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ Bên cạnh đó nghiên cứu còn đè xuất xây dựng một mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thưc chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ phù hợp với địa phương
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ (tập trung vào độ tuổi sinh sản phổ biến từ 18 tuổi đến 40 tuổi)
4.2 Khách thể nghiên cứu
Những đối tượng mà đề tài chúng tôi nghiên cứu bao gồm:
Những phụ nữ trong độ tuổi sinh sản nhưng tập trung vào độ tuổi từ 18 đến
40 tuổi (đây là độ tuổi sinh sản phổ biến của phụ nữ tại địa phương)
Cán bộ Hội phụ nữ địa phương
Trang 23Cán bộ làm công tác dân số, gia đình và trẻ em
Cán bộ trạm y tế
Lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể xã hội tại địa phương
Một số chủ doanh nghiệp và cơ quan trên địa bàn nghiên cứu
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi địa điểm nghiên cứu: Thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
Phạm vi thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/ 2015 đến tháng 06/2016
Giới hạn nội dung nghiên cứu: Nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản thường có rất nhiều cách tiếp cận và nghiên cứu như xã hội học, tâm lí học hay
y học nhưng trong khuân khổ luận văn này chúng tôi chỉ tập trung vào khía cạnh nội dung nghiên cứu các yếu tố truyền thông dựa vào cộng đồng bao gồm:
Thực trạng về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ
Nguyên nhân của thực trạng trên
Nhu cầu về việc nâng cao nhận thưc chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ tại địa phương
Đánh giá thực trạng truyền thông và nguồn lực truyền thông dựa vào cộng đồng Nghiên cứu kiến tạo một mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nư
5 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng nhận thức của phụ nữ tại địa bàn thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ về chăm sóc sức khỏe sinh sản, nguyên nhân, nhu cầu nâng cao, nguồn lực của cộng đồng trong truyền thông,… Trên cơ sở đó kiến tạo một kế hoạch, mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lí luận truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ
Phân tích thực trạng nhận thức của phụ nữ địa phương về chăm sóc sức khỏe sinh sản
Trang 24Phân tích những nguyên nhân của thực trạng nhận thức trên
Đánh giá nhu cầu nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ
nữ địa phương
Đánh giá nguồn lực của cộng đồng trong lĩnh vực truyền thông
Xây dựng một kế hoạch truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thưc chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ tại thị trân Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
6 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng và nguyên nhân nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ
nữ hiện nay tại địa phương như thế nào?
Nhu cầu tìm hiểu và nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ
nữ như thế nào?
Cộng đồng có những nguồn lực truyền thông gì để phục vụ cho việc nâng cao nhận thức chăm sóc khỏe sinh sản của phụ nữ?
Làm thế nào để kết nối được nguồn lực truyền thông dựa vào cộng đồng?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay thực trạng nhận thức của phụ nữ tại thị trấn Phong Châu về chăm sóc sức khỏe còn ở mức thấp (Ví dụ như trong nội dung đánh giá kiến thức về thai sản của chị em tại địa phương thì có đến 79,3% người không biết thời gian dễ thụ thai trong chu kì kinh nguyệt, 85,7% người không có kiến thức đúng về các dấu hiệu có thai sớm,… )
Nguyên nhân nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản của chị em phụ nữ còn thấp do: trình độ dân trí chưa đồng đều, địa hình đi lại khó tiếp cận thông tin và các dịch vụ y tế, người phụ nữ chủ yếu làm nông nghiệp nên chư có nhiều thông tin
và sự quan tâm đến vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản, tập tính truyền miệng các kinh nghiệm từ người trước có những thông tin chưa đúng và phản khoa học,…
Hiện nay nhu cầu về nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ
nữ là rất cao thể hiện ở những thiếu hụt sau: Thiếu hụt kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường tình dục, thiếu hụt kiến thức về các phương pháp phòng tránh thai an toàn tiên tiến có hiệu quả cao, thiếu hụt các kiến thức về thai sản và tai biến ản khoa,…
Trang 25Công đồng thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ hiện nay có rất nhiều nguồn lực truyền thông khác nhau nhuwngc chưa có một phương án kết nối để xây dựng một mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ hiệu quả
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Cách tiếp cận
Ứng dụng cách tiếp cận từ dưới lên dựa vào cộng đồng làm nền tảng cho quá trình nghiên cứu Tất cả các cách tiếp cận đều tập trung vào: củng cố mọi nguồn lực trong một cộng đồng, phát triển sự liên quan, tiếp cận nguồn lực cho các thành viên cộng đồng và phát triển năng lực của các thành viên cộng đồng để sử dụng các nguồn lực
Nghiên cứu được áp dụng phương pháp tiếp cận từ dưới lên trong phát triển cộng đồng nhằm vào các mục đích cụ thể:
Tìm hiểu nhu cầu và nguồn lực của người dân đối với hoạt động truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ Cách tiếp cận này luôn bám sát tình hình thực tế cộng đồng tại địa phương, tìm hiểu nhu cầu và nguồn lực dựa trên tình hình địa lí, kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng Từ đó đưa ta hướng đến liên kết các nguồn lực lại với nhau nhằm xây dựng một mô hình truyền thông hiệu quả và phù hợp nhất
8.2 Phương pháp thu thập và xử lí thông tin
8.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Phân tích tài liệu là phương pháp thu thập thông tin gián tiếp thông qua nguồn tài liệu có sẵn Những nguồn tài liệu này đã có trước khi nghiên cứu
Để bài luận văn được hoàn thiện đầy đủ nội dung và thông tin phong phú, cá nhân đã khai thác thu thập và xử lý thống kê được từ nhiều nguồn khác nhau Phương pháp phân tích tài liệu là một phương pháp quan trọng trong nghiên cứu của đề tài Tài liệu thu thập được từ các báo cáo tổng kết năm của Thị trấn Phong Châu, Uỷ ban Nhân dân huyện Phù Ninh phản ánh tình hình kinh tế - xã hội của huyện Ngoài ra, còn sử dụng một số tài liệu của Trung tâm Y tế huyện; số liệu thống kê của Hội liên hiệp phụ nữ huyện trong 03 năm trở lại đây và sử dụng một
Trang 26số tài liệu liên quan tới sức khỏe sinh sản của phụ nữ như Tạp chí xã hội học, Tạp chí dân số và phát triển, tài liệu chuyên ngành dân số, Y tế Các thông tin trong các tài liệu này được xử lý, phân tích và nêu ra nhằm giải quyết các vấn đề trong giả thuyết nghiên cứu Những nghiên cứu về truyền thông nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ được sử dụng ở phần đánh giá trong các chương hai
và ba của luận văn và đính kèm ở phần phụ lục
8.2.2 Phương pháp quan sát
Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu địa bàn thông qua tri giác trực tiếp Chúng tôi tiến hành quan sát trong cộng đồng những tập tục sinh hoạt hàng ngày của người dân đặc biệt là người phụ nữ, những buổi sinh hoạt cộng đồng của phụ nữ Những quan sát này không chỉ cung cấp cho chúng tôi một thực trạng rõ nét thói quen, trình độ nhận thức của người phụ nữ địa phương trong việc tự chăm sóc sức khỏe sinh sản của bản thân mà còn cho chung tôi thấy được những sinh hoạt cộng đồng của chị em được tổ chức như thế nào, các mặt hậu cần và chi phí do những đối tượng nào chuẩn bị, thành phần nào là người chủ trì và có tiếng nói đối với chị em Từ tất cả những hình ảnh chúng tôi quan sát được giúp chúng tôi xác định được phương thức và những điểm tích cực, hạn chế trong công tác truyền thông và sinh hoạt cộng đồng tại địa phương Bên cạnh đó chúng tôi cũng xác định được những thành viên có khả năng tham gia làm nòng cốt trong công tác truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thưc chăm sóc sức khỏe sinh sản của phự nữ tại địa phương Đây là điều rất cần thiết cho việc đánh giá các nguồn lực truyền thông và kiến tạo một mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ tạ chương ba của luận văn
Trang 27Nữ giới từ 22 tuổi đến 35 tuổi (Độ tuổi sinh sản phù hợp và được khuyến khích sinh sản)
Nữ giới từ 35 tuổi đến 40 tuổi (Độ tuổi không được khuyến khích sinh sản)
01 người là Phó chủ tịch hội phụ nữ thị trấn (Nữ giới Đây là người đã gắn
bó với công tác tuyên truyền sức khỏe và làm việc với các chị em phụ nữ địa phương với 12 năm kinh nghiệm nên luôn nắm rõ các đặc điểm cũng như những thuận lợi cho công tác truyền thông dựa vào cộng đồng tại địa phương)
01 người là cán bộ đoàn thanh niên (Nữ giới Đây là cán bộ đoàn thanh niên thị trấn cũng đã có 6 năm làm việc cùng các chị em và kết hợp với các hội nhóm đoàn thể địa phương tổ chức các buổi hoạt động của chị em, hơn hết chị cũng đang trong độ tuổi sinh sản nên rất hiểu và có nhiều kinh nghiệm tổ chức các hoạt dộng.)
01 người là cán bộ y tế thị trấn (Nữ giới, bác sĩ chuyên khoa sản phụ khoa Đây là một bác sĩ có trình độ chuyên môn và có kinh nghiệm 8 năm làm việc tại trạm y tế thị trấn về chuyên môn nên rất có tiếng uy tín và kinh nghiệm trong tư vấn
và kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ)
01 cán bộ dân số, kế hoạch hóa gia đình (Nữ giới Đây là cán bộ chuyên về mảng tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình đã 6 năm vì vậy tất cả tình hình thực tế và những hạn chế, thuận lợi tại địa phương trong công tác truyền thông nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữa tại địa phương)
01 người là Phó chủ tịch thị trấn (Nam giới Đây là người lãnh đạo nắm rất
rõ các chính sách, nguồn lực về tài chính và nhân lực của thị trấn, đặc biệt cũng rất quan tâm, chú trọng đến việc nâng cao sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người dân, đặc biệt là người phụ nữ địa phương)
01 người là cán bộ truyền thanh thị trấn (Nữ giới Đây là người có 4 năm làm việc trong công tác truyền thanh hàng ngày tại trung tâm phát thanh của thị trấn Chị
có khả năng viết bài và giọng nói truyền cảm thuyết phục người nghe.)
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn với các nội dung cụ thể sau:
Thứ nhất: Đánh giá của họ về hiệu quả và sự thực hiện của các biện pháp
truyền thông hiện nay trong cộng đồng địa phương
Trang 28Thứ hai: Nhu cầu tìm hiểu và tham gia công tác truyền thông dựa vào cộng
đồng nhằm nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ, cũng như các phương thức để kết nối các nguồn lực địa phương
Thứ ba: Đánh giá của họ về tính khả dụng của các nguồn lực tại cộng đồng
để từ đó có thể dựa vào xây dựng mô hình và thực hiện truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ
Những thông tin thu được chúng tôi sẽ sử dụng trong chương 2 và chương 3 của luận văn
8.2.4 Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi
Sử dụng bảng hỏi cầm tay khảo sát 150 phụ nữ là người dân địa phương Tìm hiểu nhận thức của người dân về việc sự tồn tại và hiệu quả của các biện pháp truyền thông tại cộng đồng
Tìm hiểu các phương thức truyền thông đã và đang được sử dụng
Nhu cầu và mức độ sẵn sàng của người dân khi tham gia tiến hành truyền thông cộng đồng
8.3 Mẫu nghiên cứu
8.3.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Chúng tôi chọn mẫu nghiên cứu ngẫu nhiên đơn giản từ danh sách nhân khẩu của thị trấn Phong, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ để chọn ra 150 người (độ tuổi từ
18 tuổi đến 40 tuổi)
Lý do chọ độ tuổi của mẫu nghiên cứu:
Đây có thể nói là độ tuổi sinh sản phù hợp nhất 18 tuổi là độ tuổi mà nguời con gái Việt Nam được pháp luật công nhận khi kết hôn, 22 tuổi là độ tuổi mà cả sức khỏe về mặt tâm lí và sinh lí đều phát triển phù hợp nhất và được khuyến khích đây là độ tuổi bắt đầu mang thai tốt nhất, 35 tuổi đến 40 tuổi là độ tuổi mà cơ thể người phụ nữ đã có những thay dổi nhất định và là độ tuổi mà y học không còn khuyến khích sinh đẻ
8.3.2 Giới thiệu mẫu nghiên cứu
Qua các nghiên cứu phân tích các số liệu điều tra có sẵn của Hội Liên hiệp phụ nữ thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ ta có thể thống kê các đặc tính của đối tượng nghiên cứu tại địa phương như sau:
Trang 29Bảng 1.1: Đặc tính của mẫu nghiên cứu
Số con trong gia đình
(Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài)
Bảng số liệu trên cho chúng ta một cái nhìn khái quát nhất về các đặc điểm
về độ tuổi, nghề nghiệp, số con và trình độ học vấn của mẫu nghiên cứu Qua phân tích số liệu trên cho ta thấy sô lượng người trong độ tuổi sinh đẻ tốt nhất (22 – 30 tuổi) là rất lớn, chiếm 31,3%; bên cạnh đó thì số lượng thanh niên bắt đầu bước vào
độ tuổi kết hôn (18 – 22 tuổi) chiếm tỉ lệ nhiều nhất 42,6% Từ những số liệu trên cho thấy sự cần thiết của công tác truyền thông nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ là rất lớn Chính các buổi truyền thông này sẽ cung cấp cho chị em những kiến thức cần thiết nhất để sẵn sàng cócuộc sống hôn nhân hạnh phúc với một sức khỏe tốt nhất Các số liệu phân tích về nghề nghiệp và trình độ học vấn (Tỉ lệ chị em làm ruộng – 67,2%; Tỉ lệ chị em học hết THPT – 73,4%) của chị em lại cho ta một mối quan tâm và cân nhắc khác về phương thức và nội dung hay ngôn ngữ trong cácbuổi truyền thông.Từ các số liệu trên thì trong các buổi truyền thông nhân viên công tác xã hội cũng như các cộng tác viên truyền thông
Trang 30phải sử dụng ngôn ngữ dễ nhớ, dễ hiểu và trên hết là luôn phải có nội dung trọng tâm của từng buổi để chị em dễ nhập tâm hơn, hình thức thực hiên phải phong phú,
xen kẽ nhiều hoạt động tránh để sực nhàm chán xuất hiện
9 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, nội dung chính, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trong đó nội dung chính bao gồm 3 chương:
CHƯƠNG 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn nghiên cứu
CHƯƠNG 2 Thực trạng nhận thức và công tác truyền thông nhằm nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ tại thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
CHƯƠNG 3 Đề xuất xây dựng mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sức khỏe sinh sản của phụ nữ tại thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
Trang 31NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU
1.1 Một số khái niệm công cụ
1.1.1 Truyền thông
“Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm,… chia sẻ kinh nghiệm và kĩ năng giữa hai hay nhiều người với nhau để gia tăng sự hiểu biết lẫn nhau và hiểu biết về môi trường xung quanh nhằm thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ cho phù hợp với nhu cầu phát triển các nhân, của nhóm, của cộng đồng xã hội nói chung, bảo đảm sự phát triển bền vững” [17, tr 17]
Trong nghiên cứu này tôi xin đề cập nhiều đến khía cạnh truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin tư tưởng, tình cảm,… chia sẻ kinh nghiệm và kĩ năng giữa hai hay nhiều người với nhau để tăng sự hiểu biết lẫn nhau.Trong đề tài nghiên cứu này nhân tố con người trong truyền thông là vô cùng cần thiết Đây là yếu tố quan trọng và có thể nói là nhân tố chính giúp quá trình truyền thông được diễn ra thuận lợi và hoàn thiện hướng đến kết quả tích cực nhất
- Nguồn lực truyền thông
Phát triển cộng đồng dựa vào tài sản và nguồn lực trong cộng đồng là khởi điểm các tài sản và nguồn sức mạnh hiện có của cộng đồng, đặc biệt là sức mạnh vốn có trong các hội, nhóm cộng đồng và mạng lưới xã hội trong cộng đồng Nguồn lực cộng đồng được xem như là một trong những sự lựa chọn các phương pháp tiếp cận dựa vào nhu cầu để phát triển
Vậy nguồn lực truyền thông tham gia vào phát triển cộng đồng đó là toàn bộ nguồn lực vật chất và tinh thần, nhân lực và vật lực tham gia vào quá trình truyền thông
Với mỗi địa bàn gay địa phương nghiên cứu khác nhau thì những nguồn lực truyền thông là khác nhau Tuy nhiên do đại bàn Thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ là một thị trấn có trình độ dân trí khá cao, địa hình không quá phức tạp và có các cơ sở kinh tế khá ổn định nên nguồn lực truyền thông tại đây khá dồi dào và thực sự hữu hiệu trong công tác truyền thông đựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ Nguồn lực truyền
Trang 32thông tại địa phương trong đề tài nghiên cứu này được xác định gồm: Tài lực, vật lực, nhân lực và kiến thức kĩ năng
Với nguồn lực về tài chính ở đây được xác định chính là các nguồn quỹ chính cho phụ nữ tại địa phương, kèm theo đó là một số nguồn quỹ ủng hộ của các các nhân hay tập thể có tấm lòng và ý nghĩ tích cực đóng góp…
Với nguồn lực về vật lực: Trong việc truyền thông dực vào cộng đồng theo
đề tài nghiên cứu thì nguồn vật lực ở đây không cần quá nhiều, chủ yếu cần địa điểm truyền thông và một số vật dụng hỗ trợ trong quá trình nói chuyện, chia sẻ để đạt được hiệu quả cao hơn nữa
Với nguồn lực về nhân lực: Đây có thể nói là nguồn lực quan trọng là cần thiết nhất trong quá trình truyền thông dựa vào cộng đồng của đề tài Nguồn nhân lực ở đây được huy động từ chính các chị em phụ nữ tại địa phương, các cán bộ y tế, cũng có thế là từ những người chồng đã từng có vợ ốm bệnh vì những vấn đề sức khỏe sinh sản Nguồn nhân lực quan trọng không chỉ là những người dân tại địa phương mà nó còn là
từ chính quyền địa phương và các cơ quan đoàn thể, hội, nhóm với những hành động
và quan tâm hết sức cho việc thực hiện chương trình này
Với nguồn lực về kiến thức và kĩ năng thì ta không thể không nhắc đến một đội ngũ có kiến thức nhất về vấn đề này tại địa phương là đội ngũ cán bộ y tế Có được sự giúp đỡ cảu các cán bộ y tế thì truyền thông mới đảm bảo được sự tin cậy cảu người dân kèm theo đó là những kiến thức chuẩn và hợp lí nhất Tuy vậy ta cũng không thể không nhắc đến một nhóm cũng vô cùng hích trong công việc này, đó là nhóm nòng cốt Đây là nhóm các chị em có kinh nghiêm và tiếng nói và sự tin cậy của người dân, đồng thời họ cũng phải ó khả năng ăn nói và truyền đạt đến chị em
- Kênh truyền thông
Muốn truyền tải các thông điệp/thông tin nhằm nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ từ nguồn phát triển đến người nhận phải có các kênh truyền thông trung gian
Kênh truyền thông chính là các phương tiện kĩ thuật và phương thức truyền tải thông tin tương ứng Trong đó, những phương thức truyền tải thông tin phụ thuộc rất nhiều vào các đối tượng tiếp nhận thông tin bằng các giác quan nào
Trang 33Các nhà nghiên cứu về truyền thông cho biết, phần lớn (83%) thông tin được tiếp nhận qua thị giác, còn lại là thính giác (11%), khứu giác (3%) và vị giác (1%) [7, tr42] Như vậy từ các cơ sở khoa học này ta có thể thấy trong công tác truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản
có thể vận dụng vào thực tiễn nhằm mang lại hiệu quả cao nhất
1.1.2 Cộng đồng
“Cộng đồng là một nhóm người sống chung trong một môi trường có những điểm tương đối giống nhau, có những mối quan hệ nhất định với nhau” (Korten – 1987) [11, tr 72]
Theo Tô Duy Hợp và cộng sự thì “Cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua các tương tác
và trao đổi giữa các thành viên”[40, tr 88]
Mặc dù có khá nhiều các định nghĩa về cộng đồng khác nhau theo từng chuyên ngành nghiên cứu, theo từng mục đích nghiên cứu, tuy nhiên để phù hợp nhất với đề tài nghiên cứu của luận văn chúng tôi xin được sử dụng định nghĩa cộng đồng sau đây:
“Cộng đồng là tập hợp xã hội trong đó các thành viên của nó chia sẻ các giá trị và các mối liên hệ thuộc tính chặt chẽ với nhau Đồng thời tất cả các cá nhân đều
có những liên hệ chặt chẽ với tổng thể cộng đồng, tức là họ có cảm giác thuộc về tập hợp xã hội đó” [39, tr 88]
Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới: “Dựa vào cộng đồng là lấy cộng đồng làm định hướng trao quyền kiểm soát việc quyết định nguồn lực cho các nhóm
Trang 34cộng đồng Những nhóm này thường hợp tác dưới hình thức đối tác với các tổ chức cung cấp, hỗ trợ căn cứ theo yêu cầu và các bên cung cấp dịch vụ trong đó gồm chính quyền địa phương, khu vực tư nhân và các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan nhà nước cấp Trung ương” [41, tr 32]
Vận dụng vào đề tài nghiên cứu truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ tại thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, tác giả lựa chọn khái niệm thứ nhất vì nó hoàn toàn phù hợp với thực tiễ tại địa bàn nghiên cứu tại thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, vì để tiến hành truyền thông dựa vào cộng đồng hiệu quả cần dựa trên nhu cầu, nguồn lực và sức mạnh hiện có của chính các tiểu hệ thống trong cộng đồng, từ đó liên kết nguồn lực các tiểu hệ thống đó lại với nhau
Nói đến truyền thông dựa vào cộng đồng không thể nào không nhắc đến những yếu tố quan trọng và luôn có mặt tại cộng động đồng đó nứ chính là những người dân tại địa phương, cơ sở vật chất, chính quyền địa phương, dội ngũ cán bộ tại các ban ngành liên quan… Đó là những đặc điểm đặc trưng của truyền thông dựa vào cộng đồng Nói đến truyền thông dựa vào cộng đồng tì ta luôn phải tìm và nghĩ ngay tới đầu tiên đó là những yếu tố, nguồn lực mà cộng đồng địa phương đang sẵn
có và sẵn sàng phát huy thế mạnh và nhiệm vụ của nó Từ đó mới có thể đưa ra các cách thức hoạt động, phát triển và hướng đến một kết quả tích cực, toàn diện nhất
1.1.4 Truyền thông dựa vào cộng đồng
Căn cứ vào khái niện truyền thông và khái niệm dựa vào cộng đồng đã nêu ở trên, tôi xin được đề xuất khái niệm truyền thông dựa vào cộng đồng như sau:
Truyền thông dựa vào cộng đồng là quá trình truyền thông khởi điểm từ sức mạnh nội lực và nguồn lực của cộng đồng để tăng cường và phát huy vai trò của cộng đồng, chìa khóa của phát triển cộng đồng là dựa trên sự kết nối cộng đồng, thông qua các nguồn lực tồn tại từ các tiểu hệ thống trong cộng đồng, tiến hành kết nối các nguồn lực trong cộng đồng thông qua vai trò cảu người làm đầu mối lết nối
và các tình huống để kết nối
Truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ là quá trình truyền thông khởi điểm từ sức mạnh của nội
Trang 35lực và nguồn lực của cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ; chìa khóa của truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm óc sức khỏe sinh sản của phụ nữ chính là dựa trên sự kết nối cộng đồng, thông qua các nguồn lực tồn taị từ các tiểu hệ thống trong cộng đồng; tiến hành kết nối các nguồn lực trong cộng đồng thông qua vai trò của người làm đầu mối kết nối và các tình huống để kết nối nguồn lực
1.1.5 Phụ nữ
“Nữ giới là một khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người hay toàn bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họ hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường.”[34, tr 78]
Nữ giới, phân biệt với nam giới, là một trong hai giới tính truyền thống, cơ bản và đặc trưng của loài người
Trong ngôn ngữ Việt Nam, có nhiều từ gần nghĩa với "nữ giới", đều chỉ một nhóm đối tượng thuộc nữ giới nhưng mang tính phân loại cao hơn Một số từ tiêu biểu hay gặp là đàn bà, phụ nữ, con gái Cách hiểu những từ này còn rất khác nhau, do đó, cần phải chuẩn hóa chúng để tránh những thành kiến, những hiểu lầm hay những sai sót trong việc sử dụng
Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc được cho
là đã trưởng thành về mặt xã hội Nó cho thấy một cái nhìn ít nhất là trung lập, hoặc thể hiện thiện cảm, sự trân trọng nhất định từ phía người sử dụng Nó đề cập đến, hoặc hướng người ta đến những mặt tốt, hoặc ít nhất là không xấu, đến những giá trị, những đóng góp, những ảnh hưởng tích cực từ những nữ giới này
1.1.6 Sức khỏe sinh sản
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) và được Bộ Y tế Việt Nam chấp nhận lấy làm chuẩn chung để xây dựng các chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe phụ nữ thì: “Sức khỏe sinh sản là tình trạng khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan tới hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản chứ không phải chỉ là không có bệnh hay khuyết tật của hệ cơ quan sinh sản” [15, tr 42]
Trang 36SKSS bao gồm các khía cạnh sau:
- Sức khỏe thể chất: cơ thể khỏe mạnh, các cơ quan sinh dục nam, nữ không
bị tổn thương và đảm bảo cho việc thực hiện chức năng tình dục và sinh sản
- Sức khỏe tinh thần: cá nhân cảm thấy thoải mái với chính mình về sức khỏe sinh sản và tình dục, biết thừa nhận những nhược điểm, không tự ti, sống đoàn kết với mọi người
- Sức khỏe xã hội: đảm bảo sự an toàn cho xã hội, có mối quan hệ tốt với cộng đồng [42, tr 148]
Khái niệm sức khỏe sinh sản có nhiều nội dung như: Làm mẹ an toàn; Kế hoạch hoá gia đình; Giảm phá thai, phá thai an toàn; Sức khoẻ sinh sản Vị thành
niên; Nhiễm khuẩn đường sinh sản; Bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS; Ung thư tử cung, ung thư vú; Giáo dục tình dục/ sức khoẻ tình dục; Vô
sinh; Tuyên truyền giáo dục về chăm sóc Sức khoẻ sinh sản
1.1.7 Chăm sóc sức khỏe sinh sản
Sau hội nghị dân số và phát triển tại Caro – Ai Cập năm 1994, trong chương trình hành động sau hội nghị Qũy Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) đã mô tả chăm sóc sức khỏe sinh sản gồm 5 nội dung chính và đây cũng là những điểm tập trung nhấn mạnh trong các chiến lược toàn cầu về sức khỏe sinh sản của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tháng 5 năm 2004 [43]
- Làm mẹ an toàn và chăm sóc trẻ sơ sinh
- KHHGĐ
- Các bệnh lây nhiễm qua đường sinh sản (bao gồm cả các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục và HIV/AIDS)
- SKSS vị thành niên
- Nạo phá thai an toàn
Ngoài sự quan tâm của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương thì vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ cũng luôn được các nhà nghiên cứu khoa học của Việt Nam nhấn mạnh trong các công trình của mình Họ luôn đầu
tư và cống hiến hết mình cho các nghiên cứu khoa học và góp phần không nhỏ vào công cuộc giải quyết các vấn đề đó
Trang 371.1.8 Nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ
Nhận thức là hành động (quá trình) con người tìm hiểu thế giới tự nhiên Trong quá trình này con người lí giải vạn vật tự nhiên theo từng giai đoạn nhận thức của mình
để từ đó tìm ra quy luật vận động và phát triển, thay đổi và tiến hóa, bản chất và hình thức, hình thành và tiêu vong của thế giới vật chất và tinh thần [34, tr 82]
Hành động nhận thức là hành động nhận ra, biết được về một vấn đề cụ thể trong đời sống vật chất hoặc tinh thần của con người (khi ấy khái niệm này được sử dụng như một động từ
Qúa trình nhận thức là kết quả hiểu biết của con về một vấn đề cụ thể của thế giới khách quan Kết quả này được tìm thấy trong một khoảng thời gian nhất định (khi ấy khía niệm này được sử dụng như một danh từ)
Theo khái niệm về nhận thức ở trên tác giả xin được rút ra kết luận về định nghĩa nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản là những kiến thức, hiểu biết và kĩ năng trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản Đây là một mảng kiến thức vô cùng quan trọng đòi hỏi nguồn kiến thức và kĩ năng con người tiếp nhận được phải luôn chính xác, cập nhật để có một sức khỏe tốt và chất lượng cuộc sống nói chung được nâng cao
Nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ được tập trung vào năm mảng kiến thức chính và tổng quát nhất gồm có:
- Làm mẹ an toàn và chăm sóc trẻ sơ sinh
- KHHGĐ
- Các bệnh lây nhiễm qua đường sinh sản (bao gồm cả các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục và HIV/AIDS)
- SKSS vị thành niên
- Nạo phá thai an toàn [45, tr 24]
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của Maslow
Tháp nhu cầu của Maslow (tiếng Anh: Maslow's hierarchy of needs) được nhà tâm lý học Abraham Maslow đưa ra vào năm 1943 Theo Maslow, về căn bản,
Trang 38nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản (basic needs)
và nhu cầu bậc cao (meta needs)
Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày
Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, an toàn, vui vẻ,địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân v.v
5 tầng trong Tháp nhu cầu của Maslow [25, tr 27]
Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "thể lý" (physiological) - thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi
Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn (safety) - cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo
Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc (love/belonging) - muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy
Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem) - cần có cảm giác được tôn trọng, kinh mến, được tin tưởng
Trang 39 Tẩng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (self-actualization) - muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt
Lý thuyết nhu cầu của Maslow cũng có thể được tổng hợp chia ra làm 3 lập luận chính như sau để phù hợp với hướng tiếp cận truyền thông dựa vào cộng đồng của đề tài nghiên cứu như sau:
Lập luận 1: Nhu cầu của cn người có thể được sắp xếp theo thứ bậc từ thấp đến cao, Nhóm nhu cầu bậc thấp được gọi là nhóm nhu cầu sơ cấp nhằm đáp ứng cho nhu cầu “Con người ta cần những cái gì?”.Nhóm nhu cầu bậc cao là nhóm nhu cầu sơ cấp trả lời cho câu hỏi “ Con người ta cần trở thành ai”
Lập luận 2: Khi nhu cầu bậc thấp được thỏa mãn thì nhu cầu bậc cao hơn trở thành nguồn động lực mới thúc đẩy hành động của con người
Lập luận 3: Không loại trừ cùng một lúc con người ta có cùng nhiều nhu cầu tương tác mạnh mẽ với nhau dẫn đến cùng trong một con người có mâu thuẫn về nhu cầu [44]
Trong luận văn của mình tác giả sử dụng lập luận thứ 2 vì khi con người ta
có nhu cầu cao về một vấn đề thì đây sẽ là động lực vô cùng lớn thức đẩy hành động của họ Từ đó họ sẽ mạnh dạn và nhiệt tình tham gia hoạt động hơn
Trong nghiên cứu, tác giả sử dụng lý thuyết nhu cầu của Maslow để nghiên cứu các loại nhu cầu của cộng đồng tại địa bàn thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
Nhu cầu về cộng đồng (đặc biệt là người phụ nữ) có cần tìm hiểu các kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ hay không?
Nhu cầu tham gia: Cộng đồng có nhu cầu được tham gia truyền thông dựa vào cộng đồng hay không; nhu cầu của từng tiểu hệ thống như thế nào, từ đó chúng tôi sẽ đưa ra những đánh giá và phân tích một cách khách quan nhất về cộng đồng
1.2.2 Lý thuyết hệ thống
Hệ thống là một chỉnh thể thống nhất được kiến tạo từ những bộ phận tương đối độc lập nhưng nó có sự phụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ Nếu chúng ta thay đổi một thành tố của hệ thống này thì sẽ thay đổi những thành tố khác của hệ thống
Trang 40Mỗi thành tố đều mang một chức năng và từ đó một khi kết nối được những thành
tố với chức năng của nó thì mọi việc được vận hành tốt [44]
Thuyết hệ thông nhấn mạnh vào mối tương tác giữa con người với con người
và với môi trường xã hội Trong phát triển cộng đồng thuyết hệ thống được sử dụng nhằm giúp cho chúng ta hiểu và xác định được cộng đồng là một hệ thống cung cấp các yếu tố tương tác với nhau Thuyết hệ thông cung cấp một mô hình, lí thuyết để giúp hiểu biết và phương cách đáp ứng nhu cầu, giải quyết vấn đề của con người trong xã hội Thuyết hệ thông giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về các thể chế, mối tương tác của con người với nhau, vơi hoàn cảnh và các thể chế có tác động đến con người
Trong luận văn của mình chúng tôi sử dụng lí thuyết hệ thống để nhìn cộng đồng thị trấn Phong Châu với tư cách là một hệ thống, có tổ chức được cấu thành từ các tiểu hệ thống như chính quyền, các tổ chức đoàn thể xã hội, nhà trường, hội nhóm, doanh nghiệp, thành phần tôn giáo và toàn thể người dân sinh sống trong đia bàn thị trấn Phong Châu Trên những cơ sở đó chúng tôi nghiên cứu, đánh giá các nguồn lực của từng tiểu hệ thống trên và cách thức liên kết các tiểu hệ thống lại với nhau trong cộng đồng để tìm ra biện pháp, cách thức phù hợp nhất để tiến hành truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ
1.2.3 Mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng
1.2.3.1 Đặc điểm của mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng
Dựa trên những khái niệm đã nghiên cứu, chúng tôi xây dựng lên một mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng như sau:
Truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ được thực hiện dựa trên sự liên kết các nguồn lực, các thành phần, tổ chức tham gia truyền thông trong cộng đồng Đó chính là chính quyền địa phương, các đoàn thể, tổ chức, hội, nhóm,… và toàn thể người dân trong cộng đồng
Truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm lấy người dân (đặc biệt là người phụ nữ) làm mục tiêu tổng quan nhất của mô hình, đó là những người dân sinh sống tại địa phương Họ không chỉ là người tham gia hoạt động truyền thông mà còn có quyền quyết định các hình thức vận động truyền thông, xây dựng nguồn lực truyền thông Người dân không chỉ phải có trách nhiệm trong các hoạt động truyền thông