Vì thế đề tài nghiên cứu "Vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình trên Báo Phụ nữ Thủ đô, Báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh năm 2015 - 2016 là một cố gắng để ph n nào đóng góp vào nỗ lự
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
Nguyễn Thị Hà
VẤN ĐỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH TRÊN BÁO PHỤ NỮ THỦ ĐÔ, BÁO PHỤ NỮ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NĂM 2015 - 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Hà Nội, 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
Nguyễn Thị Hà
VẤN ĐỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH TRÊN BÁO PHỤ NỮ THỦ ĐÔ, BÁO PHỤ NỮ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NĂM 2015 - 2016
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mai Quỳnh Nam
Hà Nội, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình
trên báo Phụ nữ Thủ đô, Báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh năm 2015-2016” là
công trình nghiên cứu do tôi viết dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Mai Quỳnh Nam Các trích dẫn và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thị Hà
Trang 4tư liệu cần thiết trong thời gian nghiên cứu và thực địa
Trân trọng cảm ơn các thầy/cô trong Viện Đào Tạo Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn PGS.TS Mai Quỳnh Nam, người thầy đã định hướng và tận tâm chỉ bảo giúp tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thị Hà
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 16
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 16
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 17
6 Giá trị lý luận và thực tiễn của đề tài 21
7 Kết cấu luận văn 21
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TRUYỀN THÔNG
ĐẠI CHÚNG ĐƯỢC VẬN DỤNG CHO NGHIÊN CỨU BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG 22
1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài 22
1.2 Quan điểm đường lối chính sách của Đảng về bình đẳng giới, tuyên truyền
về bình đẳng giới, chống bất bình đẳng giới 33
1.2.1 Quan điểm, đường lối của Đảng về bình đẳng giới 33
1.2.2 Về công tác truyền thông về bình đẳng giới, chống bất bình đẳng giới 35
1.3 Vấn đề bình đẳng giới và bất bình đẳng giới trong gia đình hiện nay 37
1.4 Đặc điểm của báo in, vai trò của báo in trong truyền thông về bình đẳng giới, chống bất bình đẳng giới 40
1.5 Các lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu 43
1.5.1 Báo chí truyền thông 43
1.5.2 Xã hội học truyền thông đại chúng 45
1.5.3 X ã hội học gia đình 47
Tiểu kết chương 1 48
Trang 6Chương 2: NỘI DUNG THÔNG ĐIỆP BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG GIA ĐÌNH PHẢN ÁNH TRÊN BÁO PNTĐ, BÁO PNTP HCM
NĂM 2015 - 2016 50
2.1 Thông điệp bất bình đẳng giới trong chức năng gia đình 50
2.1.1 Thông điệp bất bình đẳng trong chức năng kinh tế 50
2.1.2 Thông điệp bất bình đẳng giới trong đời sống tình dục và chức năng
sinh con 59
2.1.3 Thông điệp bất bình đẳng giới trong chức năng xã hội hóa 68
2.1.4 Thông điệp bất bình đẳng giới trong chức năng an sinh gia đình 73
2.2 Thông điệp bất bình đẳng trong các mối quan hệ gia đình 80
2.2.1 Thông điệp bất bình đẳng trong quan hệ vợ - chồng 81
2.2.2 Thông điệp bất bình đẳng trong quan hệ cha mẹ - con cái 82
2.2.3 Thông điệp bất bình đẳng trong mối quan hệ ông bà - cháu 83
Tiểu kết chương 2 84
Chương 3: HÌNH THỨC THỂ HIỆN THÔNG ĐIỆP BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN BÁO PNTĐ VÀ BÁO PNTPHCM NĂM 2015 - 2016 86
3.1 Đặc điểm chung về cách đưa tin bài của báo PNTĐ và Báo PNTPHCM 86
3.1.1 Báo PNTĐ 86
3.1.2 Báo PNTPHCM 87
3.2 Tít bài báo và nguồn đăng tải 88
3.2.1 Tít bài báo 88
3.2.2 Nguồn đăng tải 92
3.3 Thể loại, hình thức, chuyên mục đăng tải 94
3.3.1 Thể loại 94
3.3.2 Hình thức tổ chức thông tin 96
3.3.3 Chuyên mục đăng tải 97
Trang 73.4 Ngôn ngữ và hình ảnh trong bài viết 100
3.4.1 Ngôn ngữ bài viết 100
3.4.2 Hình ảnh trong bài viết 101
3.5 Thời gian đăng tải 103
Tiểu kết chương 3 104
Chương 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ
CỦA THÔNG ĐIỆP CHỐNG BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG GIA ĐÌNH
TRÊN BÁO PNTĐ VÀ BÁO PNTPHCM 106
4.1 Giải pháp chung cho báo PNTĐ và báo PNTPHCM 106
4.1.1 Về cách thức làm việc của tòa soạn 106
4.1.2 Tạo điều kiện cho các phóng viên, nhà báo, biên tập viên viết về lĩnh vực gia đình được nâng cao kiến thức chuyên môn 107
4.1.3 Về nội dung và hình thức đưa tin 109
4.2 Giải pháp đối phóng viên, nhà báo, biên tập viên 116
4.2.1 Cần nâng cao năng lực, cập nhật kiến thức, kỹ năng làm việc
thường xuyên 116
4.2.2 Nâng cao đạo đức nghề nghiệp 117
Tiểu kết chương 4 118
KẾT LUẬN 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1: Mô hình truyền thông tuyến tính 22
Bảng 2.1a: Nội dung phản ánh trong chức năng kinh tế trên báo PNTĐ
và báo PNTPHCM (nguồn khảo sát luận văn) 51
Bảng 2.1.2a: Các vấn đề được đề cập trong chức năng sinh con 60
Bảng 2.1.3a: Vai trò, trách nhiệm nuôi dạy con cái của các thành viên
trong gia đình 68
Bảng 2.1.4: Vấn đề được đề cập phản ánh trong chức năng an sinh gia đình 74
Bảng 2.2: Bất bình đẳng trong mối quan hệ giới trong gia đình 80
Bảng 3.1: Số trang trên báo PNTĐ 86
Bảng 3.2: Số trang trên báo PNTPHCM 87
Biểu 3.1: Cách đặt tít báo (số liệu phân tích là số liệu của luận văn) 88
Biểu 3.2: Tên bài báo chứa thông điệp (Nguồn số liệu luận văn) 89
Bảng 3.3: Nguồn đăng tải thông tin 93
Biểu 3.4: Các thể loại sử dụng (nguồn số liệu phân tích của luận văn) 95
Biểu 3.5: Hình thức đăng tải tin bài (tỷ lệ %) (nguồn số liệu của luận văn) 96
Bảng 3.6: Chuyên mục mảng Hôn nhân gia đình trên báo PNTĐ 99
Bảng 3.7: Chuyên mục mảng Hôn nhân gia đình trên báo PNTPHCM 99
Bảng 3.8: Ngôn ngữ được sử dụng trong bài viết 100
Bảng 3.9: Sử dụng hình ảnh trong bài viết (%) (nguồn khảo sát của luận văn) 101
Bảng 3.10: Hình ảnh có sử dụng chú thích, không chú thích (%) 102
Bảng 3.11: Thời gian đăng tải tin bài 103
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một trong những quốc gia đ u tiên trên thế giới k kết các công ước quốc tế về thực hiện quyền phụ nữ và quyền tr em và việc đưa những tư tưởng tiến bộ về bình đẳng giới vào gia đình được coi là một bước tiến bộ lớn tạo điều
kiện về mặt pháp l để nâng cao vị tr và vai tr của người phụ nữ trong gia đình
Tuy nhiên thực hiện bình đẳng giới (BĐG) không dễ dàng Bởi một bộ phận
xã hội vẫn hiểu không đúng về bất bình đẳng giới, và những nhận thức mang tính định kiến giới, coi trọng con trai hơn con gái mặc định công việc gia đình là trách nhiệm của riêng phụ nữ… vẫn còn tồn tại nặng nề, tình trạng bạo lực gia đình vẫn tiếp tục gia tăng gây bất ổn cho xã hội
Báo cáo tóm tắt tình hình giới của Việt Nam năm 2016 của Liên hiệp quốc tại Việt Nam cho thấy “mặc dù có một môi trường chính sách thuận lợi nhưng phân biệt đối xử với phụ nữ và tr em gái vẫn phổ biến ở Việt Nam Vẫn có tình trạng phá bỏ thai nhi nữ do sự ưu tiên có con trai phụ nữ và tr em gái bị phân biệt đối xử trong suốt cuộc đời Phụ nữ có quyền lực hạn chế trong nhiều lĩnh vực của đời sống,
kể cả trong đời sống cá nhân và trong đời sống xã hội… Họ vẫn phải đối mặt với những rào cản trong việc tiếp cận và kiểm soát đất đai cũng như các tài sản khác, dịch vụ tài chính, tài sản thừa kế và tài nguyên thiên nhiên Giống như ở nhiều nước khác, phụ nữ và tr em gái Việt Nam vẫn là người mang gánh nặng chính của những công việc chăm sóc không được trả lương và việc nhà Họ cũng bị bạo lực dưới nhiều hình thức khác nhau” [1]
Bình đẳng giới là động lực và mục tiêu phát triển quốc gia và để thực hiện được mục tiêu này, rất c n đến sự phối hợp của nhiều nhân tố, trong đó thông tin, giáo dục nâng cao nhận thức về BĐG thực hiện xóa bỏ bất BĐG quan trọng
Với tư cách là một thiết chế của xã hội nêngia đình cũng phản ánh các vấn đề của xã hội.Nhận thức của các thế hệ đi trước trong gia đình về giới và BĐG sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức và hành vi của các thế hệ sau Khi những định kiến giới tồn tại trong cuộc sống gia đình nó sẽ được thể hiện cụ thể thông qua các hành
Trang 11vi chăm sóc giáo dục tr của cha mẹ.Ngược lại, khi các thế hệ trước nhận thức đúng đắn về bất BĐG, xóa bỏ định kiến giới thì họ sẽ truyền dạy cho các thế hệ kế tiếp những nhận thức đúng đắn
Hiện nay, việc xóa bỏ bất BĐG trong gia đình vẫn là một cuộc chiến gian nan nhiều thách thức Theo Báo cáo g n đây nhất của Chính phủ về kết quả thực hiện Chương trình quốc gia về BĐG trong giai đoạn 2011-2015 đã thừa nhận tiến
độ BĐG ở Việt Nam vẫn còn chậm chạp đôi khi c n trì trệ, hoặc thậm chí là thụt lùi trong một số lĩnh vực Báo cáo Khoảng cách giới toàn c u năm 2014 Việt Nam
đã tụt hạng từ thứ 42 năm 2007 xuống thứ 76 năm 2014
Xuất phát từ thực tiễn đó việc thông tin định hướng nhận thức cho cộng đồng xóa bỏ bất BĐG trong gia đình là rất c n thiết, trong đó truyền thông đại chúng (TTĐC) là một kênh rất quan trọng Bên cạnh báo điện tử, truyền hình, phát thanh, báo in được xem là một kênh truyền thông góp ph n làm chuyển biến nhận thức và hành vi của cộng đồng dân cư về việc phòng chống bất BĐG trong các mối quan hệ gia đình xóa bỏ những định kiến giới trong vai trò của nam giới và phụ nữ, phòng chống bạo lực gia đình v.v Bởi báo in là một trong những thể loại của báo chí có những thế mạnh khác biệt so với các loại hình báo ch khác như: Thứ nhất, khả năng lưu trữ thông tin cao, nhất là lưu trữ bằng tr não Khi người đọc tiếp nhận thông tin qua mắt nhưng đồng thời với đó là tr não hoạt động, tập trung mọi nghĩ vào trong tờ báo để tiếp nhận thông tin rất hiệu quả Khi người đọc tiếp nhận một thông tin từ báo in, họ có thể truyền tải lại thông ấy một cách chi tiết, cụ thể sinh động cho người khác nghe qua những cử chỉ điệu bộ của mình để thu hút sự lắng nghe, quan tâm của người khác Điều này là hơn hẳn với các loại hình báo chí khác Thứ hai, báo in có khả năng phân t ch bình luận, lý giải sâu rộng về các vấn đề, sự kiện Đây là một thế mạnh mà có thể nói đặc trưng nhất của báo in mà đến nay không loại hình báo chí nào có thể làm được điều này,
kể cả báo mạng điện tử Chính lợi thế này nó đã giúp báo in đứng vững và cạnh tranh với các loại hình báo chí khác trong sự phát triển nhanh chóng vượt bậc của khoa học công nghệ
Trang 12Đây ch nh là l do mà tác giả chọn báo in làm kênh nghiên cứu của mình và
cụ thể là hai tờ báo in: báo Phụ nữ Thủ đô (PNTĐ) và báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh (PNTPHCM)
Bên cạnh việc truyền thông góp ph n làm chuyển biến nhận thức và hành vi của cộng đồng về thực hiện BĐG ph ng chống bất BĐG trong gia đình thì cách xử
lý thông tin của truyền thông (báo in)khi đề cập vấn đề giới vẫn còn nhiều bất cập Nhiều khuôn mẫu giới định kiến giới vẫn vô tình được phản ánh trong các tác phẩm báo chí, trong các câu hỏi, lời bình, dẫn dắt của một số nhà báo Điều này khiến cho việc truyền thông về bình đẳng giới vẫn còn hạn chế, góp ph n làm cho tiến trình thực hiện BĐG bị chậm lại ngăn cản sự phát triển của gia đình nói riêng
và xã hội nói chung
Vì thế đề tài nghiên cứu "Vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình trên Báo Phụ nữ Thủ đô, Báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh năm 2015 - 2016 là một cố
gắng để ph n nào đóng góp vào nỗ lực chung nhằm tìm ra giải pháp cho việc truyền thông về vấn đề BĐG trong gia đình có hiệu quả hơn trên báo PNTĐ báo PNTPHCM nói riêng và báo in nói chung
Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của luận văn do có giới hạn nên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu ph n thông điệp bất bình đẳng giới trong gia đình thông qua các chức năng gia đình trên báo PNTĐ và báo PNTPHCM từ năm 2015-2016
60 của Thế kỷ XX và cho tới khi kết thúc Thế kỷ XX; Giai đoạn bốn bắt đ u từ Thế
kỷ XXI đến nay
Giai đoạn thứ nhất, vào giai đoạn này những người thuộc trường phái Frankfurt của Đức cho rằng truyền thông đại chúng đặc biệt ở Mỹ đã biến các cá nhân thành những khối đại chúng, làm tan rã những khối xã hội truyền thống [21]
Trang 13Câu hỏi lớn được đặt ra cho giới nghiên cứu lúc bấy giờ là vai trò và t m quan trọng của truyền thông đại chúng đối với xã hội như thế nào?
Định nghĩa của Harold Laswell về truyền thông đại chúng đúc kết trong câu nói nhiều người biết đến “Ai nói cái gì bằng kênh nào với ai với hiệu ứng thế nào” (who says what in which channel to whom with what effect) là một trong những vấn
đề được thảo luận sôi nổi trong thời kỳ này Nhiều nhà nghiên cứu trong giai đoạn này thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm để chứng minh khả năng tác động trực tiếp của truyền thông đến công chúng Hiệu ứng của truyền thông trong giai đoạn này được xem như “mũi kim tiêm” hoặc “viên đạn th n kỳ” nghĩa là có sức mạnh vạn năng trong việc tác động đến nhận thức và hành vi của khán thính giả
Giai đoạn thứ hai, người ta đưa ra những đánh giá bớt bi quan hơn về truyền thông đại chúng Ở giai đoạn này, truyền thông đại chúng tác động gián tiếp thông qua nhiều bước trung gian Trong đó bước trung gian đóng vai tr là máy lọc hay những người hướng dẫn dư luận
Do ảnh hưởng của những vấn đề chính trị (trong đó có cuộc chiến tranh lạnh), các nghiên cứu truyền thông có xu hướng phục vụ cho nhu c u của các nhà lãnh đạo nhằm đề cao hệ tư tưởng chủ đạo của xã hội
Về mặt kỹ thuật nghiên cứu điểm nổi bật trong giai đoạn này là việc tiến hành nhiều nghiên cứu thực nghiệm, tinh lọc lại các kỹ thuật điều tra dư luận bằng bảng hỏi
Đây cũng là giai đoạn phát triển các lý thuyết như Thuyết về Nhóm Tham khảo và Quá trình Truyền thông Hai bước (Two-Step Flow), Thuyết Khuếch tán (Diffusion of Innovation), Thuyết Thiết lập Chương trình Nghị sự (Agenda Setting)
Cũng trong giai đoạn này, các nghiên cứu truyền thông dựa trên phương pháp định lượng trở nên phổ biến
Ở giai đoạn thứ ba, những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, các nghiên cứu truyền thông thuộc trào lưu thứ hai xuất hiện Lúc này, chính trị và dư luận xã hội không còn là mối ưu tiên hàng đ u Những người làm truyền thông quan tâm hơn đến các ứng dụng của truyền thông trong việc đào tạo nhân lực, cung cấp kiến thức,
Trang 14xây dựng hình ảnh thông qua đó đạt được các mục tiêu về phát triển kinh tế Các
nghiên cứu về hiệu quả truyền thông xác định vai trò của Người Dẫn đường Dư luận (opinion leader) và Thuyết Truyền thông Hai bước (Two - Step) được vận
dụng trong truyền thông để tác động đến công chúng
Một xu hướng khác xuất hiện trong nghiên cứu truyền thông giai đoạn này là phân tích mối quan hệ giữa các phương tiện truyền thông đại chúng với sự phát triển kinh tế - xã hội Mối lưu tâm ở đây không tập trung vào các phương tiện truyền thông đại chúng mà tập trung vào mạng lưới truyền thông có t nh tương tác
Về mặt hiệu ứng truyền thông xu hướng nhấn mạnh vai trò của công chúng
d n d n chiếm ưu thế
Ví dụ: Thuyết Sử dụng và Hài lòng (Uses & Gratifications) bắt đ u nhìn
nhận công chúng truyền thông là chủ thể của hoạt động tiếp nhận nội dung truyền thông một cách chủ động theo nhu c u của mình
Hay nhà nghiên cứu Stuart Hall theo trường phái Cultural Studies (tạm dịch
là việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến văn hóa một cách hệ thống) đề xuất cách hiểu thông điệp truyền thông theo cơ chế mã hóa và giải mã (Hall, 1997) Thông điệp truyền thông c n mang t nh đa nghĩa và có rất nhiều cách hiểu Công chúng thường giải mã thông điệp theo quan điểm riêng của họ Ngoài ra, họ còn có cảm giác “thỏa mãn” khi có thể “chống lại” đồ truyền tải thông điệp của nhà truyền thông (Fiske, 1986)
Bước sang giai đoạn thứ tư từ những năm đ u của thế kỷ XX đến nay, gắn liền với sự phát triển của công nghệ thông tin, với sự ra đời của Internet thì hàng loạt các loại hình truyền thông mới ra đời Truyền thông không còn là vấn đề của từng địa phương mà trở thành một trong các yếu tố quan trọng của quá trình toàn
c u hóa Các nhà phân tích cho rằng các ch nh sách và quy định của từng quốc gia ít
có khả năng chi phối đến các tổ chức và hoạt động truyền thông xuyên quốc gia Trên thực tế, hoạt động của các tập đoàn truyền thông đa quốc gia đã có xu hướng tách rời khỏi sự điều khiển của một nước cụ thể Cùng với những công nghệ mới, nhiều học giả đưa ra giả thiết truyền thông tự sẽ tự quản lý chính mình chứ không còn chịu sự chi phối của luật pháp từng quốc gia nữa
Trang 15Một trong những nghiên cứu truyền thông sớm nhất ứng dụng phương pháp
điều tra bằng bảng hỏi diễn ra năm 1916 khi tờ Literary Digest (Mỹ) gửi một triệu
bảng hỏi tới những người có tên trong danh bạ điện thoại và danh sách những người
sở hữu xe hơi Tất nhiên phương pháp lấy mẫu của tờ này chưa đạt tiêu chuẩn của một mẫu khoa học Dù thế, tờ báo này đã dự đoán đúng trong 5 kỳ tổng thống Mỹ
từ năm 1916 đến năm 1932 và mắc sai l m năm 1936 khi họ dự đoán tổng thống Roosevelt sẽ thất bại [22, tr 11]
Tiếp đó năm 1922 tờ báo St.Louis Post Dispatch thuê 50 sinh viên tiến hành
điều tra bằng bảng hỏi trực tiếp với 55 cư dân tại thành phố St.Louis để tìm hiểu quan điểm của họ về tờ báo George H Gallup (một trong những sinh viên được thuê) là người đã đưa ra phương pháp chọn mẫu giúp tránh được việc phải phỏng vấn toàn bộ 55.000 cư dân thành phố mà kết quả vẫn có thể áp dụng cho toàn bộ dân số Năm 1930 George H Gallup đã công bố phương pháp nghiên cứu chọn
mẫu trên tờ Editor& Publisher sau khi ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về lý
thuyết chọn mẫu Theo đó phương pháp nghiên cứu truyền thông được đánh dấu bước phát triển mới
Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu về truyền thông đề xuất đ u tư nhiều hơn cho hạ t ng kiến trúc của công nghệ nhằm phát triển thông tin vì cả lợi ích kinh tế lẫn xã hội Đến cuối thế kỷ XX, truyền thông đóng vai tr quan trọng trong các hoạt động mang tính toàn c u như vận động dân chủ, nhân quyền, bảo vệ môi trường, sức khỏe người lao động, an toàn hạt nhân, ứng dụng kỹ thuật công nghệ truyền thông mới Trong giai đoạn này có một điều đáng chú là các học giả xuất thân từ lĩnh vực kinh tế chính trị và nghiên cứu chính sách công bố các nghiên cứu về truyền thông nhiều hơn những nhà nghiên cứu có nền tảng đào tạo là truyền thông
Giới nghiên cứu truyền thông cũng khảo sát những thay đổi của ngành công nghiệp truyền thông cùng các ch nh sách quá trình tư nhân hóa mua bán sáp nhập, dân chủ và tự do hóa Bên cạnh đó sự chủ động của công chúng trong việc tiếp nhận thông tin là một căn cứ khác để một số nhà nghiên cứu giảm bớt mối quan ngại rằng truyền thông của các nước phát triển sẽ “nô lệ hóa” hoặc “điều khiển” người dân ở các quốc gia đang phát triển
Trang 16Trong đại chiến thế giới thứ II, seri phim "Tại sao chúng ta chiến đấu" (Why
we fight) được thiết kế thành một thí nghiệm áp dụng tại các doanh trại quân đội
Mỹ để kiểm tra tính thuyết phục của thông điệp đối với các thay đổi thái độ của binh lính Nghiên cứu quy mô rất lớn này do tiến sĩ Carl Holvand làm trưởng nhóm, đặt nền móng cho pương pháp th nghiệm, một phương pháp nghiên cứu định lượng khác trong nghiên cứu truyền thông bên cạnh phương pháp điều tra và phỏng vấn Nghiên cứu này đã chỉ ra mô hình thay đổi thái độ, nhấn mạnh vai tr động cơ cũng như sự khác biệt c n lưu tâm giữa hiệu quả tức thời và hiệu quả lâu dài của truyền thông đối với cá nhân [22, tr 12]
Phương pháp phân t ch thông điệp ra đời với sự đóng góp của Harold Lasswell người tiến hành những nghiên cứu về tuyên truyền trong cả hai cuộc Đại chiến thế giới áp dụng phương pháp này
Tổng kết lại các phương pháp nghiên cứu truyền thông chính (cả định đ nh
và định lượng) đã được phát triển và ứng dụng đến ngày nay gồm có:
- Điều tra (Survey)
- Phân tích nội dung (Content analysis)
- Thí nghiệm (Experiment)
- Phỏng vấn nhóm tập trung (Focus group interview)
- Phỏng vấn sâu (In- depth interview)
- Nghiên cứu trường hợp (Case study)
- Phân tích thứ cấp (Secondary Analysic)
- Các phương pháp nghiên cứu định tính khác: Nghiên cứu dân tộc học, nghiên cứu cách thức tiếp nhận, nghiên cứu văn hóa nghiên cứu văn bản [23, tr.14)
2.1.2 Trong nước
Lĩnh vực nghiên cứu truyền thông đại chúng ở Việt Nam khá mới m Tuy nhiên các công trình liên quan đến hướng nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về công chúng đã xuất hiện từ thập kỷ những năm 1990 đến nay Xét riêng trong ngành báo chí, xã hội học một số nghiên cứu có thể kể đến là:
Cuốn "Truyền thông đại chúng" của Tạ Ngọc Tấn xuất bản năm 2001 giới
thiệu về các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại, các nguyên tắc phương
Trang 17pháp quản l điều hành, phát huy vai trò sức mạnh của các loại hình phương tiện truyền thông đại chúng
Một số giáo trình cung cấp các tri thức về lý luận báo ch như: Cơ sở lý luận
báo chí - Đặc tính và phong cách (Hà Minh Đức), Cơ sở lý luận báo chí truyền thông (Đinh Hường- Dương Xuân Sơn-Tr n Quang) với nội dung đề cập đến những
vấn đề có tính chất phương pháp luận, các khái niệm, phạm trù đặc trưng chức năng nguyên tắc, hiệu quả, tính sáng tạo của lao động báo ch làm cơ sở cho việc tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề cụ thể trong lĩnh vực báo chí truyền thông
Nhóm sách về thể loại báo ch như: Thể loại báo chí thông tấn (Đinh Hường), Thể loại báo chí chính luận nghệ thuật (Dương Xuân Sơn) Thể loại báo chí chính luận (Tr n Quang) Thể loại báo chí chính luận của Tr n Quang, Phê bình tác phẩm văn học nghệ thuật trên báo chí của Nguyễn Thị Minh Thái Đặc biệt là bộ sách Báo chí-Những vấn đề lý luận và thực tiễn (nhiều tập, nhiều tác giả do Khoa Báo ch trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn HN thực hiện) đã mô tả bức tranh toàn cảnh của nền báo chí truyền thông Việt Nam hiện nay từ lý luận đến thực tiễn, giữa sự bùng nổ của công nghệ số và toàn c u hóa, vấn đề trách nhiệm xã hội đạo đức nghề nghiệp của nhà báo Đồng thời, bộ sách tập hợp nhiều bài viết về lý luận báo chí học, nghiên cứu truyền thông đại chúng, kỹ năng làm truyền thông Các tập sách chú trọng cách tiếp cận báo chí học và hướng nghiên cứu truyền thông đại chúng Hiện nay, bộ sách là tài liệu tham khảo hữu ích cập nhật cho nhà báo, nhà truyền thông, nhà nghiên cứu và sinh viên
Cuốn Ngôn ngữ báo chí của tác giả Vũ Quang Hào đưa ra cách tiếp cận có
hệ thống ngôn ngữ Việt với tư cách là ngôn ngữ của truyền thông đại chúng ở Việt Nam Đây là giáo trình bổ ích và c n thiết cho người đọc về những vấn đề chung của ngôn ngữ truyền thông Việt Nam
Công trình Nghiên cứu Báo chí Việt Nam thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến
nay) của tác giả Dương Xuân Sơn đã khẳng định những đóng góp của báo chí Việt
Nam thời kỳ đổi mới Đồng thời tập trung nghiên cứu về vai trò của báo ch được thể hiện trên các vấn đề: Vai trò của đội ngũ nhà báo; Báo ch với lĩnh vực đổi mới kinh tế Tìm ra những hạn chế để báo chí phát triển hơn nữa trong những năm tiếp theo
Trang 18Các ấn phẩm về báo chí của các tác giả kể trên cho thấy những vấn đề cơ bản
về lý luận báo chí, kiến thức nghiệp vụ của hoạt động báo chí, vai trò của báo chí trong đời sống xã hội và báo ch trong đời sống quốc tế, khu vực
Về nghiên cứu dưới góc độ xã hội học truyền thông đại chúng, có thể điểm qua một vài nghiên cứu như:
Các công trình nghiên cứu của tác giả Tr n Hữu Quang như: Chân dung
công chúng truyền thông (qua khảo sát xã hội học tại TPHCM, 2001); Xã hội học về truyền thông đại chúng (tài liệu hướng dẫn học tập), Xã hội học báo chí (NXB Trẻ,2006) được xem là một trong những cuốn giáo trình đ u tiên ở nước ta tiếp cận
hướng nghiên cứu xã hội học trong báo chí truyền thông một cách có hệ thống Đặc biệt trong nghiên cứu "Truyền thông đại chúng và công chúng, trường hợp
thành phố Hồ Chí Minh (luận án tiến sĩ xã hội học năm 2000) đã khảo sát mức độ
và cách thức sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng của công chúng Từ
đó đi đến nhận diện, phân tích những mô thức tiếp nhận truyền thông đại chúng của các giới công chúng ở thành phố Hồ Chí Minh Phát hiện đáng chú của luận án là
sự ghi nhận hiệu quả không đồng đều của truyền thông đại chúng tới các t ng lớp công chúng khác nhau như một sự phân t ng về văn hóa góp ph n củng cố cho quá
trình phân t ng xã hội đang diễn ra trong thực tế
Hay các nghiên cứu về xã hội học truyền thông của tác giả Mai Quỳnh Nam
như: Mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng và công chúng trong điều kiện hiện
nay (Đề tài nghiên cứu khoa học 2006); Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội (Tạp chí Xã hội học số 1, 1996), Về vấn đề nghiên cứu hiệu quả của truyền thông đại chúng (Tạp chí Xã hội học số 4 năm 2001) Bài Nghiên cứu hiệu quả truyền thông địa chúng trong cuốn Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn (tập 6), Nghiên cứu Thông điệp về trẻ em trên báo hình, báo in (Tạp chí Xã hội học số 2,
2002), Nghiên cứu Dư luận xã hội, mấy vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu
(Tạp chí Xã hội học số 1 1995)… Những nghiên cứu này không chỉ phác ra xu hướng phát triển của nghiên cứu truyền thông mà c n đưa ra nhiều kết quả thực chứng thuyết phục và có giá trị thực tiễn cao
Trang 19Theo tác giả Mai Quỳnh Nam, truyền thông đại chúng được coi như một thiết chế cơ bản trong xã hội hiện đại Đã là thiết chế thì phải chuẩn mực, phải duy trì các giá trị, phải tạo dựng được khuôn hình văn hóa phải tham gia vào hoạt động
tổ chức và kiểm soát xã hội Hệ thống này phổ biến các điển hình tiên tiến, các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh có hiệu quả nhằm nhân rộng các khuôn mẫu xã hội tích cực Các phương tiện truyền thông đại chúng, bằng hoạt động cung cấp thông tin đã tạo điều kiện để công chúng tham gia vào các quyết định xã hội, là diễn đàn của mọi t ng lớp nhân dân Đối tượng tác động của truyền thông đại chúng là công chúng xã hội, cụ thể là ý thức qu n chúng Báo chí, truyền thông tác động vào
ý thức qu n chúng trước hết là tác động vào dư luận xã hội Truyền thông đại chúng có vai tr đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và thể hiện dư luận xã hội Truyền thông khơi nguồn dư luận xã hội, phản ánh dư luận xã hội định hướng, điều h a dư luận xã hội
Tác giả cũng đưa ra những phân tích về mối liên hệ giữa giao tiếp liên cá
nhân, giao tiếp đại chúng và hệ thống truyền thông đại chúng qua bài viết "Về đặc
điểm và tính chất của giao tiếp đại chúng" Trên cơ sở đưa ra những phân tích này,
tác giả chỉ ra tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động báo chí từ hai phía Phía thứ nhất của pháp luật, của các cơ quan quản lý mà thiết chế truyền thông đó là công cụ Phía thứ hai từ công chúng báo chí Bài viết cũng lưu rằng trong xu thế toàn c u hóa, những biến đổi văn hóa dưới tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng đã diễn ra ở những bộ phận công chúng mà nhất là đối với công chúng thanh niên đô thị; ảnh hưởng là dương t nh khi nhân tố văn hóa trong giao tiếp đại chúng phù hợp với chiều hướng tích cực của hội nhập văn hóa
Như vậy trên cơ sở các nghiên cứu, các nhà xã hội học được trang bị đ y đủ
về phương pháp nghiên cứu, giúp họ có phương tiện để phát triển những hướng nghiên cứu như: Nghiên cứu thông điệp, nghiên cứu công chúng dư luận xã hội, hiệu quả truyền thông
2.2 Nghiên c u về vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình
2.2.1 Ngoài nước
Gia đình là một trong những đề tài được các nhà khoa học xã hội trong nhiều ngành trên thế giới quan tâm Mỗi nhà nghiên cứu có một cách tiếp cận riêng
Trang 20Những người theo trường phái nữ quyền (Feminists) nhìn gia đình như một kiến trúc có bản chất xã hội, ph n nhiều do con người nghĩ ra và không dựa trên cơ sở những tất yếu mang tính tự nhiên Theo họ các vai tr gia đình là kết quả đã định trước của các quan hệ quyền lực mà theo đó nam giới có quyền gắn với những công việc nhất định cho phụ nữ và loại trừ họ khỏi các công việc khác
Những nhà kinh tế (becker, Eang land và Farkas) thì lập luận gia đình được kiến trúc theo các trục các lợi ích kinh tế Còn những nhà theo thuyết sinh học xã hội lại cho rằng tổ chức gia đình bị quy định rất nhiều bởi việc sinh con và những khác biệt sinh học khác giữa nam và nữ Một số nhà xã hội học cơ bản cho rằng công nghệ có thể là một yếu tố chính của đời sống gia đình (Huber); Hoặc giải thích việc gán cho phụ nữ các vai trò có tính nội trợ (trong khuôn khổ hộ gia đình) như một đặc điểm có t nh định vị văn hóa (Collin) [1]
Các nhà Mác xít tranh luận rằng một nền kinh tế tư bản và những người kiểm soát nó có lợi từ sự tồn tại của sự phân công lao động giới một cách cứng nhắc trong gia đình
Một số nghiên cứu trên thế giới về bất BĐG trên các sản phẩm truyền thông
phổ biến trong các sản phẩm truyền thông trên thế giới [2]
Nghiên cứu "Những xu hướng chính ảnh hưởng đến gia đình trong thiên niên
kỷ mới ở Tây Âu và Bắc Mỹ" của Robert Cliquet-nhà tư vấn về dân số chính sách xã
hội giáo sư nhân chủng học và sinh học xã hội của trường ĐH Ghent (Bỉ) nêu lên thực trạng biến đổi về cấu trúc và chức năng gia đình ở các nước Tây Âu và Bắc
Mỹ trong thế kỷ XX, và những xu hướng chính ảnh hưởng đến gia đình trong thiên
kỷ mới Những vấn đề nêu ra từ nghiên cứu này tuy diễn ra ở các nước Tây Âu và
Trang 21Bắc Mỹ nhưng lại có giá trị đối với các nước khác trên thế giới Liên hợp quốc xem nghiên cứu này là một trong những tư liệu nền tảng khi nghiên cứu về sự phát triển của gia đình
Nghiên cứu về sự xuất hiện các hình ảnh nam-nữ trên truyền thông của David Gaunlett (2003) cho rằng trong quá khứ, truyền thông đại chúng thường rập
khuôn trong sự trình bày các vai trò giới So với phụ nữ, nam giới thường theo mẫu hình năng động, quyết đoán thông minh Ngày nay sự thể hiện vai trò giới trên truyền thông đã đa dạng hơn và bớt đi t nh khuôn mẫu so với quá khứ [3]
Ngoài ra còn có các nghiên cứu của tổ chức ILO như: "Work, income and
gender equality in East Asia" (2014) (Công việc, thu nhập và bình đẳng giới ở
Đông Á); "Gender Equality and Decent work selected ILO conventions and
recommendations that promote Gender Equality as of 2012" (Bình đẳng giới và công việc quyết định đã chọn các công ước và khuyến nghị của ILO thúc đẩy bình đẳng giới kể từ năm 2012); Hay cuốn "Rethinking Domestic Violence A Training Process for Community activists" của tác giả: Dipak Naker, Lori Michau (2014) (Suy nghĩ lại bạo lực gia đình Một quá trình đào tạo cho các nhà hoạt động cộng đồng) Cuốn sách gồm 4 ph n: Nhận thức giới và quyền; Hiểu sâu về Bạo lực gia đình; Phát triển các kỹ năng để phòng chống bạo lực trong gia đình; Hành động nhằm ngăn chặn bạo lực gia đình
Như vậy trên thế giới đã có không t nghiên cứu liên quan đến nội dung của luận văn Những nghiên cứu này rất có giá trị ở chỗ nó giúp phác ra xu hướng phát triển chung của thế giới cũng như định hướng nghiên cứu của luận văn Việc quan sát và tìm hiểu về những nghiên cứu liên quan đến truyền thông đại chúng trên thế giới và Việt Nam cho thấy những nghiên cứu truyền thông là không thể thiếu trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay Truyền thông đại chúng có phạm vi tác động đến mọi thành viên của các nhóm xã hội từ tr em đến người cao tuổi Do đó việc chuyển tải thông điệp cụ thể trên các phương tiện truyền thông đại chúng c n được xem xét cẩn trọng nhằm khẳng định hướng hành vi định hướng dư luận xã hội góp
ph n hạn chế những hành vi lệch chuẩn trong xã hội Để làm được diều này một trong khâu rất quan trọng là phải nghiên cứu thông điệp truyền thông
Trang 222.2.2 Trong nước
Vấn đề bất BĐG trong gia đình được rất nhiều các công trình nghiên cứu xã hội học đề cập tới Có thể điểm qua một vài công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
Công trình nghiên cứu "Bạo lực trên cơ sở giới" của Vũ Mạnh lợi Vũ Tuấn
Huy, Nguyễn Hữu Minh năm 1999 đã tiến hành ở 3 thành phố Hà Nội, Huế, TP HCM Các tác giả đã đi sâu xem xét thái độ của cộng đồng và các thể chế xã hội về bạo lực trên cơ sở giới cũng như các phản ứng của cá nhân, luật pháp và các thể chết với nạn bạo lực gia đình
Cuốn "Gia đình trong tấm gương xã hội học" do tác giả Mai Quỳnh Nam
chủ biên (NXB khoa học xã hội, 2002) là tập hợp những nghiên cứu của các tác giả trong Viện Xã học và các cộng tác viên của Viện về gia đình; nêu lên những vấn đề
về cấu trúc gia đình và vấn đề giới, chức năng kinh tế, chức năng sinh đ của gia đình các ảnh hưởng văn hóa sự biến đổi và các quan hệ trong gia đình
Cuốn "Bạo lực gia đình một sự sai lệch của giá trị" của tác giả Lê Thị Quý, Đặng Vũ Cảnh Linh (NBX Khoa học xã hội 2007); cuốn “Định kiến giới đối với cán bộ nữ lãnh đạo các cấp trong bối cảnh hội nhập quốc tế” do Nguyễn Thị Thu Hà
chủ biên (Nxb Khoa học xã hội, 2015); cuốn “Hướngtới bình đẳng giới ở Việt Nam:
Để tăng trưởng bao trùm có lợi cho phụ nữ” của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội
Việt Nam; UN Women 2016… không chỉ mang tính gợi ý cho một chiến lược hành động lâu dài của đất nước, mà còn làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động thực tiễn và những người tham gia trong các hoạt động phòng chống BLGĐ
Trong bài viết tổng quan của nghiên cứu “Bạo lực của chồng đối với vợ ở
Việt Nam trong những năm gần đây” do Nguyễn Hữu Minh và cộng sự thực hiện đã
chỉ ra tình trạng một bộ phận phụ nữ trở thành nạn nhân của các hành vi bạo lực diễn ra ngay trong gia đình do ch nh nam giới đặc biệt là người chồng gây ra Dựa vào kết quả nghiên cứu về bạo lực gia đình ở Việt Nam từ đ u những năm 1990 thế
kỷ trước đến nay đặc biệt là những nghiên cứu trong 5 năm g n đây Tổng quan đã tập trung phân tích các hiện tượng bạo lực trong gia đình do người chồng gây ra đối với người vợ Đây là một tổng quan tương đối bao quát tình hình nghiên cứu về bạo lực gia đình ở Việt Nam từ trước đến nay
Trang 23Tài liệu "Công tác phòng chống bạo lực gia đình" (2011) của cơ quan ph ng chống Ma túy và tội phạm Liên hợp quốc (UNODC Việt Nam) đã nêu khái quát về khái niệm BĐG và bạo lực gia đình những quan niệm sai l m về bạo lực gia đình vòng trong bạo lực Từ đó đưa ra những góc nhìn chân thật đa chiều về bản chất của bạo lực gia đình và hậu quả của bạo lực gia đình
Công trình nghiên cứu “Các yếu tố xã hội quyết định bất bình đẳng giới ở
Việt Nam” do Viện nghiên cứu Phát triển Xã hội thực hiện từ năm 2012-2015 Mục
đ ch chung của nghiên cứu là tìm hiểu những chiều cạnh, bản chất và những yếu tố quyết định của tình trạng bất bình đẳng giới ở Việt Nam Các mục tiêu nghiên cứu của cuộc nghiên cứu bao gồm: Mô tả về thực hành giới và nhận thức giới ở Việt Nam; Tìm hiểu những yếu tố góp ph n tạo nên tình trạng bất bình đẳng; Xây dựng các khuyến nghị nhằm cải thiện ch nh sách và cách chương trình can thiệp nhằm thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam Nghiêu cứu cũng đã làm rõ sự bất bình đẳng trong hôn nhân-gia đình trên phương diện đời sống hôn nhân, sự ưa th ch con trai quyền sở hữu tài sản đời sống tình dục vợ chồng…
Nghiên cứu về vấn đề bấtBĐG trên truyền thông đại chúng gồm có:
Nghiên cứu “Một số vấn đề về quan hệ gia đình qua báo chí” của tác giả
Nguyễn Hồng Thái đăng trên Tạp chí Xã hội học số 4 năm 2000 đã trình bày những vấn đề phụ nữ hôn nhân gia đình ở Việt Nam mà báo ch đề cập đến trong thời gian g n thời điểm nghiên cứu qua đó cho thấy được ph n nào thực trạng, xu hướng biến đổi, các chiều cạnh tác động của những biến đổi kinh tế - xã hội tới các quan hệ hôn nhân gia đình Nghiên cứu qua báo chí các vấn đề về gia đình là một cách tiếp cận, nó gợi mở con đường nhận thức nội dung, tập hợp các yếu tố, các tác nhân xã hội, tạo nên những biến đổi rất phức tạp trong quan hệ gia đình Báo ch phản ánh sự tương tác của những biến đổi trong các quan hệ xã hội tới nội hàm của quan hệ gia đình giúp xác định những vấn đề c n nghiên cứu sâu, phục vụ cho chiến lược phát triển xã hội bền vững
“Thông điệp về trẻ em trên báo hình, báo in” (Mai Quỳnh Nam,Tạp chí Xã
hội học, số 2, 2002), là một ph n kết quả nghiên cứu phân tích quốc tế về “Hình ảnh
trẻ em trên báo chí” do Trung tâm truyền thông ASIAN (AMIC) phối hợp với Viện
Trang 24Xã hội học thực hiện năm 1999 Nghiên cứu này tiến hành quan sát các thông điệp
về tr em được thông báo trong tháng 10 năm 1999 về 10 tờ báo in và trên 2 đài truyền hình Tác giả bài viết chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu: nội dung thông điệp về
cả số lượng tờ báo có bài liên quan đến tr em, về vị trí, về thể loại, về trang mục; cách đưa tin về các vấn đề liên quan đến tr em trên truyền hình và báo in; vấn đề
tr em trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên báo hình báo in
Nghiên cứu về “Định kiến giới trong các sản phẩm truyền thông trên các
phương tiện truyền thông đại chúng hiện nay” do tác giả Nguyễn Thị Tuyết Minh
và cộng sự tiến hành năm 2011 đã đi tìm kiếm và phân t ch các vấn đề giới địnhkiến giới khuôn mẫu giới trong thông điệp truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng qua hình ảnh minh họa và ngôn từ được sử dụng
Tài liệu "Truyền thông có nhạy cảm giới" của TS Trịnh B ch Liên do tổ
chức OXFAM tài trợ và CSAGA phát hành năm 2011 đặt ra câu hỏi người làm truyền thông có thể làm gì trước vấn đề BLGĐ Từ đó trang bị kiến thức kỹ năng truyền thông về nhạy cảm giới có liên quan đến BLGĐ có thể tạo nên sự khác biệt quan trọng trong việc giúp đỡ cộng đồng nhận thức đúng đắn về BLGĐ
Nghiên cứu "Bình đẳng giới trong các quảng cáo tuyển dụng trên báo in"
do Viện nghiên cứu xã hội kinh tế và môi trường phối hợp với Học viên Báo ch
và Tuyên truyền thực hiện Đây là nghiên cứu trường hợp trên một số báo in nhằm xem xét vấn đề giới trong các quảng cáo tuyển dụng dưới tác động của các nhân
tố như thể chế kinh tế và xã hội các yếu tố thị trường lao động xã hội văn hóa
Từ đó đánh giá cơ hội việc làm do các nhà tuyển dụng đưa ra đối với nam giới và
nữ giới
Tài liệu "Nhạy cảm giới trong ngôn ngữ báo in" của Csaga và Oxfam (2011)
nêu lên sự nhạy cảm giới trong ngôn ngữ báo in - nơi các định kiến khuôn mẫu tiêu cực về giới có thể tồn tại dưới những dạng thức không dễ nhận ra
Về ch nh sách pháp luật liên quan đến công tác bình đẳng giới nói chung và bất đẳng giới trong hôn nhân và gia đình nói riêng có: Luật Bình đẳng giới có hiệu lực từ năm 2006 Luật ph ng chống Bạo lực gia đình năm 2007 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Trang 25Nhìn chung ph n tổng quan đã cho thấy vấn đề nghiên cứu truyền thông về BĐGđã được nghiên cứu nhiều ở trên thế giới và cả ở trong nước Tuy nhiên chưa
có nhiều các công trình nghiên cứu về hoạt động truyền thông bất BĐG nhất là nghiên cứu về vai tr của hoạt động truyền thông xóa bỏ bất BĐG trên một địa bàn
cụ thể nhằm chỉ ra một số hạn chế nhất định c n tồn tại trong hoạt động này, và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động truyền thông bất BĐG Vì vậy cùng với những hướng nghiên cứu xã hội học về truyền thông đại chúng gồm: công chúng truyền thông các nhà truyền thông ảnh hưởng xã hội thì hướng nghiên cứu thông điệp truyền thông có vị tr quan trọng nhưng chưa có nhiều công trình theo hướng này Đặc biệt là hướng nghiên cứu về nội dung thông điệp truyền thông
về vấn đề bất BĐG trong gia đình phản ánh cụ thể trên tờ báo dành cho giới nữ c n rất t Đây
cũng là l do để tác giả lựa chọn hướng nghiên cứu này
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, luận văn sẽ phân tích nội dung thông điệp về vấn đề bất BĐG trong lĩnh vực gia đình được phản ánh trên báo PNTĐ Báo PNTPHCM năm 2015-2016, phân tích những thành công
và hạn chế thông điệp, từ đó đề xuất giải pháp, khuyến nghị nhằm giúp các nhà báo các cơ quan báo ch thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình
4 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình (trên báo
Phụ nữ Thủ đô báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh)
Khách thể nghiên cứu: Báo Phụ nữ Thủ đô (PNTĐ) Báo Phụ nữ Thành phố
Trang 265 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu dựa trên cơ sở kết hợp lý luận Mác x t và tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí truyền thông với chủ trương đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước về báo chí Nghiên cứu dựa trên những lý luận về công tác tư tưởng cũng như những quy định của pháp luật về hoạt động báo chí truyền thông
Lý luận về hình thái ý thức của chủ nghĩa Mác chỉ rõ: Báo chí có vai trò quan trọng tạo nên trạng thái tinh th n xã hội thông qua sự tác động của hệ thống này đối với qu n chúng Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức: "Lý luận có thể trở thành sức mạnh vật chất khi nó thâm nhập vào qu n chúng" [4]
"V.L.Lênin cũng cho rằng báo chí có vai trò trong việc hướng dẫn và thúc đẩy dư luận theo chiều hướng tích cực, bởi ý thức không chỉ phản ánh lại hiện thực
c n được thể hiện ở ý thức tư tưởng cũng có thể biến thành sức mạnh vật chất khi
nó theo vào qu n chúng".[23]
Chủ tịch Hồ Ch Minh cũng nhấn mạnh vai trò của nhà báo là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng Bác luôn nhắc nhở các nhà báo phải biết: Viết cho ai? Viết cái gì? Viết như thế nào? Viết sao cho dễ hiểu đơn giản và thiết thực
Từ những luận điểm chung của các nhà Mác xít, Chủ tịch Hồ Ch Minh đã cho thấy vai trò của hoạt động báo ch trong đời sống xã hội là rất lớn Đồng thời cũng chỉ rõ cơ chế tác động của báo chí, nội dung thông điệp của báo chí c n phải hướng tới, hiệu quả xã hội mà báo chí c n đạt được Những chỉ dẫn đó được coi là
cơ sở lý luận c n phải xác định trong cách tiếp cận và cả trong phương pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ cở lý thuyết của luận căn là những lý thuyết truyền thông đại chúng, xã hội học về truyền thông đại chúng
5.2 Phương pháp nghiên c u
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích nội dung: Đây là phương pháp ch nh được sử dụng
trong luận văn Việc phân tích bằng phương pháp này căn cứ vào cách xác định các
Trang 27khái niệm, từ khóa được mã hóa thành bộ công vụ thể hiện các chỉ báo nghiên cứu, nhằm đưa ra những suy luận xác đáng về quá trình xã hội mà thông điệp đề xuất
Quy trình phân tích nội dung thông điệp nhằm mục đ ch chuyển các đặc điểm được lựa chọn của thông điệp thành số liệu có thể xử lý bằng các phương pháp thống kê về mặt định lượng và định tính Những đơn vị phân tích c n phải được xác định bằng sự tham chiếu của hệ thống đặc điểm ngữ nghĩa cú pháp của thông điệp Những đơn vị điển hình của phân t ch thông điệp là câu chuyện được thể hiện dưới văn bản báo chí hoặc các hình thức khác Ở nghiên cứu này, tác giả đã thực hiện việc phân t ch “Vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình trên báo PNTĐ và báo PNTPHCM năm 2015-2016” theo các bước như sau:
+ Xác định khái niệm và từ khóa làm cơ sở cho việc phân tích
+ Xác định bảng mã các từ khóa về hệ thống chỉ báo và xác định các chỉ báo thành ph n
- Phương pháp phân tích thông tin: Nghiên cứu sử dụng hai ph n mềm SPSS
và Nvivo trong quá trình tổng hợp và phân tích dữ liệu
+ Đối với dữ liệu định lượng, nghiên cứu tiến hành phân tích theo trình tự: lập bảng mã hóa định lượng phân t ch trên các bài báo đã được lựa chọn, tập trung
mô tả làm rõ thông điệp về bất bình đẳng giới trong gia đình trên báo PNTĐ và báo PNTPHCM
+ Thống kê t n suất, mức độ xuất hiện các tin, bài tuyên truyền về vấn đề bất bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình trên báo PNTĐ và báo PNTPHCM trong thời gian 2 năm
+ Tác giả chọn phương pháp lấy mẫu xác định Đó là sau khi xác định được tổng thế số báo, số tin, bài, hình ảnh có nội dung viết về các vấn đề bất bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình sẽ chọn k ch thước mẫu để phân tích số mẫu
+ Tiến hành lập bảng mã hóa dựa trên các dấu hiệu của ngôn ngữ Các từ khóa được xem là chỉ báo để lượng hóa các thông tin từ những thông điệp về bất bình đẳng giới được đăng tải trên báo PNTĐ và báo PNTPHCM
Trang 28+ Đối với dữ liệu định tính: Nghiên cứu tiến hành theo trình tự: Lập bảng mã hóa cho nội dung nghiên cứu đối với các bài báo, với kết quả phỏng vấn sâu
+ Trong bảng mã hóa, mỗi cột (ngang và dọc) sẽ là một khía cạnh được mã hóa và nhan đề của các cột sẽ là các khía cạnh được mã hóa, các cột sẽ được đánh dấu số Mỗi mẫu số sẽ dùng cho một bài được mã hóa
- Phương pháp phỏng vấn sâu:
Phỏng vấn các nhà báo là: tổng biên tập, phó tổng biên tập phụ trách nội dung trưởng ban, phóng viên, biên tập viên để tìm hiểu về nhận thức của đối tượng đối với các quyền thông tin về bình đẳng giới, bất bình đẳng giới trên báo chí hiện nay cũng như mục đ ch khi sáng tạo các thông điệp có liên quan đến bình đẳng, bất bình đẳng giới trong gia đình
Tác giả phỏng vấn sâu 6 trường hợp:
- 01 lãnh đạo
- 02 người phụ trách chuyên mục Gia đình của Báo PNTĐ và báo PNTPHCM
- 02 nhà báo, phóng viên viết về mảng gia đình
- 01 chuyên gia nghiên cứu về gia đình giới (cộng tác viên tư vấn viết bài và trả lời tư vấn cho báo)
5.2.1 Giả thiết nghiên cứu
Giả thiết 1: Bất BĐG trong gia đình vẫn tồn tại rất nặng nề trên báo PNTĐ
báo PNTPHCM
Giả thiết 2: Nhà báo và các CTV độc giả tham gia viết bài về các vấn đề gia
đình đang thiếu kiến thức hoặc chưa có nhận thức đúng đắn về BĐG BBĐG trong lĩnh vực này Do đó đôi khi họ vô tình tuyên truyền cho sự BBĐG mà lẽ ra họ phải
là người có trách nhiệm xóa bỏ
Trang 29Đặc điểm chung
về cách đưa tin bài của Báo PNTĐ Báo
PNTPHCM
Chức năng
xã hội hóa
Chức năng an sinh gia đình
Chức
năng
kinh
tế
Trang 306 Giá trị lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Giá trị lý luận
Cung cấp thêm cho các nhà nghiên cứu góc nhìn tổng quan về vấn đề bất BĐG trong lĩnh vực gia đình trên truyền thông đại chúng nói chung và Báo PNTĐ báo PNTPHCM nói riêng
Cung cấp những luận giải khoa học cho việc đánh giá chất lượng, hiệu quả, phương pháp truyền thông về phòng chống bất BĐG trong lĩnh vực gia đình trên báo PNTĐ báo PNTPHCM
có thái độ và hành động phù hợp để thực hiện BĐG trong lĩnh vực gia đình
7 Kết cấu luận văn
Chương 4: Giải pháp nhằm nâng cao cách thể hiện thông điệp chống bất bình
đẳng giới trong gia đình trên Báo PNTĐ Báo PNTPHCM
Kết luận
Trang 31Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG ĐƯỢC VẬN DỤNG CHO NGHIÊN CỨU BÌNH ĐẲNG GIỚI
VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG 1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài
Năm 1948 mô hình truyền thông đ u tiên được đưa ra bởi nhà chính trị học Harol D.Lasswell Theo đó quá trình truyền thông bao gồm: Người phát tin- kênh truyền thông - người nhận tin Đây là mô hình khá đơn giản, dễ hiểu, dễ chấp nhận
và thông dụng trên toàn thế giới.: Ai nói cái gì - bằng kênh nào - hướng tới đối tượng nào Tuy nhiên mô hình này cũng có khuyết điểm, đó là t nh đơn chiều, không có sự phản hồi lại và t nh tương tác quá trình truyền thông như một đường thẳng (tuyến tính) Với công thức truyền thông này người ta dễ rơi vào khuynh hướng chỉ quan niệm về người nhận tin như một người nhận tin thụ động
Người phát tin kênh truyền tin người nhận tin
Sơ đồ 1: Mô hình truyền thông tuyến t nh
Sau này, một số nhà nghiên cứu khác đã bổ sung thêm yếu tố nhiễu (noise)
và phản hồi (feedback) tạo nên quá trình truyền thông khép kín, có thể xem xét được sự tác động và hiệu quả thông tin đến công chúng Trong đó bao gồm 4 giai đoạn như sau: phát tin truyền tin, nhận tin, phản hồi
Trong truyền thông người ta phân chia ra các dạng thức, loại hình khác nhau nhằm khu biệt các mô hình, cách thức tổ chức liên kết các yếu tố hoạt động truyền thông Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau sẽ có các cách phân loại khác nhau như:
Trang 32truyền thông nội bộ cá nhân, truyền thông liên cá nhân, truyền thông nhóm, truyền thông đại chúng
Truyền thông đại chúng
Truyền thông đại chúng (mass communication) là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi dến mọi người thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: báo ch phát thanh truyền hình báo điện tử
Khái niệm truyền thông đại chúng được định nghĩa theo nhiều cách khác bởi các tác giả nghiên cứu khác nhau
Tác giả Mai Quỳnh Nam cho rằng: Truyền thông địa chúng là toàn bộ những phương tiện lan truyền thông tin như báo ch truyền hình, phát thanh, internet tới những nhóm công chúng lớn Đặc điểm của các phương tiện truyền thông đại chúng
là các tin tức từ hệ thống này được chuyển đến công chúng một cách nhanh chóng, đều đặn và gián tiếp Nó vừa phải hướng tới đối tượng công chúng nói chung, vừa phải quan tâm đến nhu c u thông tin của các nhóm công chúng cụ thể Hoạt động của truyền thông đại chúng luôn chịu sự tác động từ hai phía.: Phía thứ nhất từ các thiết chế xã hội mà phương tiện đó là công cụ (như các tờ báo của các tổ chức chính trị xã hội), phía thứ hai là công chúng
Truyền thông đại chúng c n được hiểu là giao tiếp đại chúng Đó là quá trình truyền bá với số lượng lớn nội dung giống nhau cho những cá nhân và những nhóm đông người trong xã hội, dựa vào những yếu tố kỹ thuật truyền bá tập thể gọi là media
Tác giả Nguyễn Văn Dững cho rằng: "Về phương diện lý thuyết, truyền thông đại chúng là một trong những khái niệm cơ bản, chiếm vị trí trung tâm, nền tảng trong hệ thống lý luận báo chí-truyền thông nói chung Trên phương diện thực tiễn, truyền thông đại chúng là một lực lượng xã hội rất quan trọng trong việc tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội hàng ngày, trên phạm vi quốc gia, quốc tế, khu vực hay trong khuôn khổ gia đình" [4]
Còn theo tác giả Tr n Hữu Quang thì: Truyền thông đại chúng là một quá trình xã hội đặc thù bao gồm ba thành tố sau:
Trang 33Hoạt động truyền thông: săn tin quay phim chụp ảnh, viết bài, biên tập, dựng, xuất bản, phát hành, phát sóng
Các nhà truyền thồng bao gồm các tổ chức truyền thông như: các t a soạn báo đài phát thanh đài truyền hình, các nhà báo, phóng viên, biên tập viên
Công chúng độc giả hoặc khán thính giả
Dưới góc độ xã hội học, truyền thông đại chúng được nghiên cứu như một quá trình xã hội, xuất phát từ thiết chế truyền thông đại chúng đại chúng đến với công chúng và tạo hiệu quả xã hội trong nhận thức, hành vi của công chúng theo những hiệu ứng xã hội mà các phương tiện thông tin đại chúng hướng tới [5]
Báo in
Báo in là những ấn phẩm xuất bản định kỳ, bằng ký hiệu chữ viết, hình ảnh và các ngôn ngữ phi văn tự, thông tin về các sự kiện và vấn đề thời sự, phát hành rộng rãi và định kỳ nhằm phục vụ công chúng nhóm đối nào đó với mục đ ch nhất định
Thuật ngữ báo in được dùng trong luận văn này để chỉ những tờ báo phát hành trong tu n, không bao chứa loại hình tu n san, nguyệt san, các ấn phẩm định
kỳ mang tính chất tiếp thị, quảng cáo
Thông điệp có hai lớp: Lớp bên trong và lớp bên ngoài
Lớp bên trong chính là nội dung thông tin mà đối tượng tiếp nhận có thể đọc hiểu và thay đổi ý thức, hành vi Lớp bên ngoài là hình thức và phương thức truyền
tải thông điệp Ở hình thức thể hiện, thông điệp bao gồm: Lời nói, hình ảnh, cỡ chữ,
ký tự Nói cách khác đây là những tín hiệu chúng ta có thể nghe, nhìn, thấy được
Trong truyền thông, thông điệp được hiểu là một phát ngôn hoàn chỉnh cả về hình
thức lẫn nội dung dành cho một nhóm đối tượng trong hoàn cảnh cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu của chiến dịch truyền thông
Trang 34Giới, bình đẳng giới, bất bình đẳng giới
Giới (gender): là sự khác biệt giữa nữ giới và nam giới xét về mặt xã hội
Nói đến giới là nói đến các quan niệm thái độ, hành vi, các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của nữ giới và nam giới trong một bối cảnh xã hội cụ thể
Theo Luật Bình đẳng giới thì giới được hiểu là "đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội
Như vậy, giới là một thuật ngữ để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội
và những kỳ vọng liên quan đến nam và nữ Là một phạm trù xã hội, giới cũng
giống như chủng tộc, tộc người và phân t ng xã hội, trong một mức độ lớn sẽ quyết định cơ hội cuộc sống của con người xác định vai trò của chúng ta trong xã hội và trong nền kinh tế
Nói cách khác, khái niệm giới không chỉ đề đến nam và nữ mà cả mối quan
hệ giữa nam và nữ Trong mối quan hệ ấy có sự khác biệt về vai trò, trách nhiệm, hành vi hoặc sự mong đợi mà xã hội quy định cho mỗi giới Những quy định/mong đợi xã hội này phù hợp với các đặc điểm văn hóa ch nh trị, kinh tế xã hội và tôn giáo Vì thế nó luôn biến đổi theo các giai đoạn lịch sử và có sự khác biệt giữa các cộng đồng, xã hội
Giới khác với giới tính (sex), có thể phân biệt đặc điểm giới và giới tính qua các đặc điểm dưới đây
Đặc điểm
Đặc trưng sinh học
Bẩm sinh Đồng nhất Khó thay đổi
Đặc trưng xã hội
Do học hỏi mà có
Đa dạng
Có thể và dễ thay đổi
Bình đẳng giới: là một thuật ngữ phản ánh một sự chia s bình đẳng về
quyền lợi giữa nam giới và nữ giới, trong sự tiếp cận bình đẳng của họ về giáo dục, sức khỏe, quản lý và lãnh đạo bình đẳng về tiền lương về số đại biểu quốc hội và
về những cái khác" [6]
Trang 35Theo tài liệu của Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam, bình đẳng giới được hiểu là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ nam giới Nam giới và phụ nữ có cùng một vị thế bình đẳng
và được tôn trọng như nhau; cùng có điều kiện để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình; cùng có cơ hội bình đẳng để tham gia đóng góp và thụ hưởng từ các nguồn lực của xã hội và quá trình phát triển; cùng được hưởng tự
do và chất lượng cuộc sống bình đẳng; cùng được hưởng thành quả bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội
Nói tóm lại, bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau,
được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó (Điều
5, Luật Bình đẳng giới)
Bất bình đẳng giới: là sự phân biệt đối xử với nam, nữ về vị thế điều kiện và
cơ hội bất lợi cho nam, nữ trong việc thực hiện quyền con người đóng góp và hưởng lợi từ sự phát triển của gia đình của đất nước
Hay nói cách khác, bất bình đẳng giới là sự đối xử khác biệt với nam giới và phụ nữ tạo nên các cơ hội khác nhau, sự tiếp cận các nguồn lực khác nhau, sự thụ hưởng khác nhau giữa nam và nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội
Bất bình đẳng giới được sinh ra bởi định kiến giới Đó là những nhận thức,
thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ, là suy nghĩ của mọi người về những gì mà phụ nữ và nam giới có khả
năng làm và loại công việc mà họ có thể làm và nên làm; là tập hợp các đặc điểm
mà một nhóm người, một cộng đồng cụ thể nào đó gán cho là thuộc tính của nam giới hay nữ giới
Các định kiến giới thường theo xu hướng nhìn nhận ít tích cực, không phản ánh đúng khả năng thực tế của từng cá nhân dẫn đến việclàm sai lệch và hạn chế những điều mà một cá nhân nam, nữ có thể làm, c n làm hoặc nên làm
Ví dụ: Quan niệm cho rằng phụ nữ gắn liền với sự mềm yếu, với công việc nội trợ đàn ông gắn liền với vai trò trụ cột gia đình
Trang 36Bất bình đẳng giới tồn tại dưới các dạng: Gánh nặng công việc, sự phân biệt đối xử, bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, những định kiến dập khuôn và bạo lực trên cơ sở giới tính
Gia đình và chức năng của gia đình
Mặc dù gia đình đã hình thành từ rất lâu trong lịch sử phát triển của nhân loại nhưng nghiên cứu về gia đình như một ngành khoa học thì thực sử mới chỉ từ thế kỷ XIX trở lại đây Tùy theo cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu từ góc độ nào sẽ có những định nghĩa gia đình Do đó đã có rất nhiều khái niệm định nghĩa về gia đình
trong lịch sử nghiên cứu về gia đình
G.P.Murdock trong tác phẩm “Cấu trúc xã hội” (1949) viết rằng: “Gia đình
là một nhóm xã hội có đặc trưng là cùng cư trú hợp tác và tái sản xuất kinh tế (người lớn của cả hai giới), và ít nhất trong đó có quan hệ tính dục với nhau được
xã hội tán thành, một hoặc nhiều con cái (do họ đ ra hoặc do họ nhận con nuôi [7]
E.W Burgess và H.J Locke trong “Gia đình” (1953) đã định nghĩa gia đình như sau: “Gia đình là một nhóm người đoàn kết với nhau bằng những mối liên hệ hôn nhân, huyết thống và việc nhận con nuôi tạo thành một hộ đơn giản tác động lẫn nhau trong vai tr tương ứng của họ là người chồng và người vợ người mẹ và người cha, anh em và chị em, tạo ra một nền văn hóa chung” [8]
Có thể thấy, dù có các khái niệm định nghĩa khác nhau về gia đình nhưng tất
cả đều đề cập đến một điểm chung quan trọng của gia đình Đó là: hôn nhân huyết thống, hay nuôi dưỡng
Trên cơ sở đó xin được đưa ra một khái niệm chung nhất về gia đình được
xem là phù hợp với gia đình Việt Nam trong hoàn cảnh hiện nay như sau: “Gia đình
là một nhóm người có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nghĩa dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân cùng chung sống, có ngân sách chung”
Gia đình có các chức năng cơ bản sau:
Chức năng kinh tế: là một trong những chức năng cơ bản của gia đình nó
tạo ra cơ sở vật chất để gia đình tồn tại và phát triển
Trang 37Chức năng kinh tế gia đình mang một số đặc điểm khác biệt với các loại hình
tổ chức kinh tế khác Sản xuất gia đình như một đơn vị hợp tác, những nhiệm vụ được phân công tùy theo tuổi và giới tính của các thành viên trong gia đình Về cơ bản việc kiếm sống, tạo thu nhập thường là trách nhiệm do cả người vợ và người chồng thực hiện Tuy nhiên trong gia đình truyền thống Việt Nam thường có sự phân công lao động theo giới rõ ràng như: nam giới hoạt động bên ngoài gia đình đảm nhiệm vai trò trụ cột kinh tế, kiếm tiền mang về Công việc của phụ nữ thường gắn liền với ngôi nhà làm nội trợ và chăm sóc con cái
Theo sự biến đổi của xã hội, chức năng kinh tế đang có sự biến đổi so với xã hội cũ Nếu như trước đây gia đình được xem là đơn vị sản xuất thì nay đã chuyển sang đơn vị tiêu dùng Trong xã hội nông nghiệp, sự phân công lao động giữa vợ và chồng mang tính chia s , hợp tác thương thuyết ph n nhiều dựa trên yếu tố giới tính
và tình cả Tuy nhiên, những biến đổi của xã hội công nghiệp đã tạo ra nơi làm việc tách khỏi nơi ở Vì vậy chức năng tái sản xuất tách khỏi chức năng sản xuất và mang tính chuyên biệt hơn
Xã hội công nghiệp cùng với sự tiến bộ bình đẳng giữa nam nữ trong xã hội
đã đưa người phụ nữ ra ngoài xã hội làm việc thay vì chỉ làm việc trong gia đình như trước đây Ch nh sự tham gia ngày càng tăng của phụ nữ vào các hoạt động tạo thu nhập ngoài gia đình cũng góp ph n làm thay đổi diện mạo kinh tế của gia đình Thu nhập của người phụ nữ trong gia đình có thể cân đo đong đếm được Cùng với
đó sự độc lập hơn về kinh tế của phụ nữ cũng làm thay đổi mối quan hệ trong hôn nhân gia đình nó tạo sự dân chủ bình đẳng hơn Thu nhập của vợ chồng là một chỉ báo về mức độ độc lập kinh tế của người vợ và sự bình đẳng trong phát triển tiến tới xóa bỏ d n sự bất bình đẳng
Tuy nhiên cùng với đó phụ nữ cũng chịu áp lực bởi "chuẩn mực kép", tạo ra những áp lực nặng nề hơn cho họ khi quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa
đủ điều kiện giải phóng phụ nữ ra khỏi mô hình truyền thống
Ngoài sự biến đổi trên, chức năng kinh tế gia đình c n bị biến đổi bởi sự can thiệp của chính sách xã hội, với khía cạnh tạo ra việc làm, mở rộng thị trường, chính sách an sinh xã hội chia s với gia đình trong việc hỗ trợ kinh tế đối những thành
Trang 38viên còn phụ thuộc hoặc trợ giúp những gia đình do những nguyên nhân khác nhau không làm tốt chức năng kinh tế Ví dụ như hiện nay Nhà nước có chính sách hỗ trợ kinh tế cho các hộ nghèo, trợ cấp cho người khuyết tật
Chức năng sinh con: được biểu hiện qua việc gia đình thực hiện tái sản xuất
(sinh đ ) ra con người - các thế hệ thành viên mới - nhằm đáp ứng nhu c u của các
cá nhân và nhu c u xã hội
Chức năng này thể hiện sự khác biệt căn bản giữa gia đình với các nhóm xã hội khác Đó là chức năng đặc biệt của gia đình mà không một thiết chế xã hội nào
có được Nó thể hiện sự khác biệt giữa gia đình và các nhóm xã hội khác Chức năng sinh đ của gia đình một mặt đáp ứng nhu c u duy trì và phát triển dân số của
xã hội, mặt khác đáp ứng nhu c u riêng tư của cá nhân là thỏa mãn nhu c u có con
Theo tác giả Mai Quỳnh Nam, trong xã hội Việt Nam truyền thống, con cái
là nguồn của cải, là giá trị sức mạnh vật chất và tinh th n của gia đình Biểu hiện của thang giá trị chính là số lượng và giới tính con cái
Sự mong đợi của xã hội đối với con cái thể hiện trên 4 khía cạnh:
Thứ nhất, khi việc sinh đ gắn liền với chức năng sản xuất của gia đình thì con cái là thành viên có đóng góp rất lớn vào kinh tế gia đình
Thứ hai, con cái là nhân tố đóng góp vào an sinh và hạnh phúc của gia đình Thứ ba, con cái là nguồn lực để cha mẹ “nhờ cậy” khi họ về già, khi không còn sức lao động
Thứ tư giá trị của người con trai được đề cao để nối dõi tông đường, kế tục dòng họ [9]
Trong gia đình truyền thống, hành vi tình dục gắn liền với chức năng sinh đ của gia đình Con người sinh ra đến tuổi trưởng thành là phải lấy vợ, lấy chồng rồi sinh con đ cái Liên minh hôn nhân trước hết là một liên minh tái sinh sản Và chỉ khi nào vợ chồng hoàn thành được việc sinh con nối dõi tông đường thì mới gọi là thành công của cuộc sống vợ chồng Động lực có con trai mạnh đến nỗi người ta dám vượt qua những giới hạn được Nhà nước quy định chính thức về kế hoạch hóa gia đình để đạt được mục đ ch sinh con nối dõi của mình
Trang 39Trong xã hội hiện đại, chức năng sinh đ được kiểm soát bằng chính sách xã hội tùy theo quốc gia và những giai đoạn lịch sử nhất định Cùng với đó những thành tựu trong ý học, sản khoa đã mang lại cho con người khả năng kiểm soát nhiều hơn trong việc quyết định số con Trong điều kiện hiện nay, khi việc tiếp cận
sử dụng các biện pháp tránh thai thuận tiện cũng như sự hiểu biết về vấn đề này càng nâng cao người phụ nữ nếu không phải chịu một sức ép nào đó thì hoàn toàn
có thể điều tiết được hành vi sinh đ của mình
Ngoài ra, sự thay đổi quan niệm sống đời sống vật chất, tinh th n được nâng cao hơn so với trước đây khiến cho xu hướng lập gia đình muộn và sinh con muộn ở nhiều cặp vợ chồng Cùng với đó việc nuôi dưỡng con cũng tốt hơn khi cha mẹ có thể đ u tư nhiều nguồn lực vào cải thiện mức sống gia đình nâng cao học vấn cho con cái Tuy nhiên hiện tượng lựa chọn giới tính khi sinh, nạo phá thai bé gái vẫn diễn ra rất cao ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống xã hội Nguyên nhâu sâu xa của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh bắt nguồn từ sự bất bình đẳng giới do truyền thống trọng nam khinh nữ
Mức độ biến đổi của chức năng sinh đ khác nhau tùy thuộc vào từng khu vực vùng địa lý, phong tục tập quán, t ng lớp xã hội, mức độ sống chính sự biến đổi của chức năng sinh đ trong xã hội hiện đại là nguyên nhân quan trọng dẫn đến
sự hình thành và phát triển quy mô gia đình t con cái
Nói tóm lại, chức năng sinh đ đang chịu tác động của xã hội hiện đại và d n
có sự biến đổi nhiều so với xã hội nông nghiệp trước đây Nhưng ảnh hưởng của tư tưởng trọng nam khinh nữ, có con trai nối dõi vẫn còn rất nặng nề
Chức năng xã hội hóa:
Xã hội hóa là quá trình biến đổi từ con người sinh học sang con người xã hội
và là một tiến trình kéo dài suốt đời mỗi cá nhân Dựa trên sự tương tác xã hội, qua
đó cá nhân phát triển khả năng con người của mình và học các khuôn mẫu văn hóa của xã hội Gia đình là môi trường xã hội hóa đ u tiên của con người Bài học đ u tiên mỗi chúng ta học trên cuộc đời này là trong gia đình
Xã hội hóa trong gia đình có vai tr quan trọng đối việc hình thành nhân cách của tr em Nuôi dưỡng và giáo dục tr em là mục đ ch và nền tảng tự nhiên của gia
Trang 40đình Trong suốt quãng đời niên thiếu và trưởng thành con người c n có sự nuôi dưỡng che chở và rèn luyện của gia đình Bởi vậy gia đình là nhân tố đ u tiên và ảnh hưởng mạnh nhất đến quá trình xã hội hóa cá nhân
Nội dung xã hội hóa trong gia đình tương đối bao quát và đ y đủ đáp ứng những yêu c u nhất định của xã hội Đó là giáo dục hành vi đạo đức, tri thức căn bản thái độ, kỹ năng sống và lao động, thể chất, thẩm mỹ Mục tiêu của quá trình
xã hội hóa là tạo ra những con người hiếu thảo có đạo đức trong sáng có suy nghĩ lành mạnh, thể chất khỏe mạnh, chuyên môn, nghề nghiệp cao đáp ứng mọi yêu c u của gia đình và xã hội Vấn đề giáo dục con con cái trong gia đình là nền tảng quan trọng cho thành công của hệ thống giáo dục chính quy[10]
Quá trình xã hội hóa trong gia đình tuân thủ các nguyên tắc: Tôn trọng nhân cách, cá tính, phẩm chất riêng của tr Trong đó sử dụng quyền uy của cha mẹ một cách hợp lý và quyền uy chủ yếu được sử dụng trong ngăn chặn răn đe có sự thống nhất mục tiêu giữa các thành viên gia đình
Dễ dàng nhận thấy chức năng xã hội hóa của gia đình hiện nay đang d n bị thu hẹp lại Nguyên nhân là do ngày càng có sự can thiệp của các thiết chế xã hội khác đối với chức năng xã hội hóa của gia đình Điều này thể hiện ở sự phát triển của các loại hình giáo dục đào tạo khác nhau như: bán trú nội trú đạo tạo chính quy đào tạo mở rộng, từ xa đáp ứng nhu c u giáo dục từ cấp m m non cho đến cấp đại học
Cùng với đó nội dung giáo dục trong gia đình ngày một đa dạng và phản ánh những biến đổi trong thực tiễn xã hội Ngày nay, cùng với giáo dục tri thức đạo đức văn hóa các gia đình đã chú đến giáo dục giới tính (nội dung trước đây thường được cấm kỵ t được nhắc đến trong gia đình)
Một sự biến đổi khác của chức năng xã hội hóa là các thiết chế xã hội đang từng bước thay thế vai trò xã hội hóa của gia đình Để có được nguồn thu nhập đảm bảo cuộc sống, nhiều gia đình cha mẹ phải thường xuyên đi xa ly hương tìm việc ở các đô thị, các khu công nghiệp Họ không có điều kiện g n gũi để chăm sóc giáo dục con cái Theo đó sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình cũng trở nên lỏng l o d n Đời sống thị trường, sự phát triển kinh tế đem lại đời sống vật chất