1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em tại địa bàn xã Ninh Sở - Huyện Thường Tín, Hà Nội

173 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

79 Bảng 3.8: Đánh giá của cộng đồng về sự tham gia của người dân trong công tác truyền thông nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em .... Tại huyện Thường Tín, qua quá trình nghiên cứ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘIuy TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em tại địa bàn xã Ninh Sở- huyện Thường Tín- thành phố hà Nội” là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các

nội dung nghiên cứu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và rõ ràng./

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn tốt nghiệp này được hoàn thành bởi sự giúp đỡ của nhiều người

Lời đầu tiên em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới

PGS.TS Trịnh Văn Tùng, người đã tận tình hướng dẫn và đóng

góp những ý kiến quý báu để em hoàn thành luận văn này

Em cũng xin được gửi lời cảm ơn tới tất cả những cá nhân, cơ quan, tổ chức tại các địa phương đã cung cấp thông tin và các tài liệu cần thiết cho nghiên cứu; đồng thời em cũng xin được cảm ơn

sâu sắc các thầy cô lãnh đạo và các cán bộ trong khoa Xã hội học

đã động viên và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, 11-2014 Tác giả

Đỗ Thị Miền

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 7

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 17

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 17

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 18

6 Câu hỏi nghiên cứu 19

7 Giả thuyết nghiên cứu 19

8 Phương pháp nghiên cứu 19

9 Kết cấu luận văn 23

NỘI DUNG CHÍNH 24

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu 24

1.1 Một số khái niệm công cụ 24

1.1.1 “Truyền thông” 24

1.1.2 Cộng đồng 25

1.1.3 “Dựa vào cộng đồng” 25

1.1.4 “Truyền thông dựa vào cộng đồng” 26

1.1.5 “Trẻ em” 26

1.1.6 “Tai nạn thương tích trẻ em” 27

1.1.7 “Phòng ngừa tai nạn thương tích” 28

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 28

1.2.1 Lý thuyết hệ thống 28

1.2.2 Lý thuyết nhu cầu của Maslow 29

1.2.3 Lý thuyết thuyết phục 30

1.2.4 Mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng 33

Trang 6

1.3 Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về phòng chống tai nạn thương tích 37 1.4 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 41

Chương 2 Thực trạng công tác truyền thông nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em tại địa bàn xã Ninh Sở- huyện Thường Tín- thành phố

Hà Nội 45

2.1 Thực trạng trẻ em bị tai nạn thương tích ở xã Ninh Sở giai đoạn (2003- 2013) 45 2.2 Thực trạng công tác truyền thông phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em hiện nay đang áp dụng tại cộng đồng 47

2.2.1 Thực trạng công tác truyền thông hiện nay qua kênh truyền thông đại chúng 47 2.2.2 Thực trạng công tác truyền thông hiện nay qua kênh truyền thông trực tiếp 49 2.2.3 Thực trạng công tác truyền thông hiện nay qua kênh truyền thông trong nhà trường 51 2.2.4 Thực trạng công tác truyền thông hiện nay qua kênh truyền thông dân gian 53

2.3 Tổng hợp đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với công tác truyền thông của địa phương hiện nay 60

Tiểu kết chương 63 Chương 3 Một số giải pháp truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm

phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em tại địa bàn xã Ninh Sở - huyện Thường Tín - thành phố Hà Nội 64

3.1 Sự cần thiết phải thực hiện các giải pháp truyền thông dựa vào cộng đồng 64

Trang 7

3.2 Đánh giá nguồn lực truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm phòng

ngừa tai nạn thương tích trẻ em 66

3.2.1 Đánh giá chung về nguồn lực đặc trưng trong sinh hoạt cộng đồng 66

3.2.2 Đánh giá nguồn lực các tiểu hệ thống theo lý thuyết hệ thống 67

3.3.2 Tình huống truyền thông dựa vào cộng đồng 84

3.3.3 Thiết kế thông điệp truyền thông dựa vào cộng đồng 86

3.3.4 Biện pháp tiến hành truyền thông dựa vào cộng đồng 88

Tiểu kết chương 92

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng số 2.1: Số liệu thống kê về tai nạn thương tích của trẻ em địa phương trong giai đoạn 2003-2013 46 Bảng 2.2: Thông tin phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em qua phương tiện truyền thông đại chúng được cộng đồng tiếp cận 48 Bảng 2.3: Thông tin phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em qua kênh truyền thông trực tiếp được cộng đồng tiếp cận 50 Bảng 2.4: Thông tin về phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em qua kênh

truyền thông trong nhà trường được cộng đồng tiếp cận 51 Bảng 2.5: Thông tin về phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em qua kênh

truyền thông dân gian được cộng đồng tiếp cận 53 Bảng 3.1: Số lượng người dân sẵn sàng tham gia truyền thông dựa vào cộng đồng 65 Bảng 3.2: Đánh giá của cộng đồng về sự tham gia của chính quyền trong công tác truyền thông nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em 67 Bảng 3.3: Đánh giá của cộng đồng về sự tham gia của hội đoàn thể trong công tác truyền thông nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em 71 Bảng 3.4: Đánh giá của cộng đồng về sự tham gia của trạm y tế xã trong công tác truyền thông nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em 73 Bảng 3.5: Đánh giá của cộng đồng về sự tham gia của nhà trường trong công tác truyền thông nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em 75 Bảng 3.6: Đánh giá của cộng đồng về sự tham gia của chủ doanh nghiệp trong công tác truyền thông nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em 77 Bảng 3.7: Đánh giá của cộng đồng về sự tham gia của tổ chức tôn giáo trong công tác truyền thông nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em 79 Bảng 3.8: Đánh giá của cộng đồng về sự tham gia của người dân trong công tác truyền thông nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em 80 Bảng 3.9: Danh sách các sự kiện có thể tiến hành truyền thông dựa vào cộng đồng được người dân đánh giá 84

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tai nạn thương tích trẻ em đang là vấn đề mang tính toàn cầu Trong giai đoạn hiện nay, mỗi ngày trên thế giới có khoảng 2.000 trẻ em tử vong do tai nạn thương tích Tại Việt Nam, bình quân mỗi ngày có khoảng 19-20 trẻ

em tử vong Các nguyên nhân hàng đầu khiến trẻ em tử vong do tai nạn thương tích gồm: đuối nước, tai nạn giao thông, do bỏng, điện giật và ngã [43,

tr 7] Hầu hết trẻ bị tai nạn thương tích do sự bất cẩn của cha mẹ và người chăm sóc trẻ Ngoài ra còn do môi trường xã hội tiềm ẩn nhiều rủi ro nhưng chưa có biện pháp can thiệp Theo các bác sỹ, tai nạn thương tích không chỉ gây ra tử vong cho trẻ em mà còn để lại hậu quả nặng nề như thương tật vĩnh viễn không thể đi học, đi làm, trở thành gánh nặng cho xã hội Theo điều tra của tổ chức Liên minh Vì sự an toàn của trẻ em cho biết: cứ một trẻ tử vong thì có 12 trẻ nằm viện hoặc thương tật vĩnh viễn; và 34 trẻ cần chăm sóc y tế hoặc không thể đi học, đi làm do tai nạn thương tích Tai nạn thương tích ở trẻ

em Việt Nam hiện nay là một vấn đề vô cùng nghiêm trọng, nó đòi hỏi toàn

xã hội, đặc biệt là gia đình phải có những hành động thiết thực để ngăn chặn nguy cơ tai nạn thương tích đe dọa đến tính mạng, sức khỏe của trẻ em nước

ta Thông thường, hè là thời gian nghỉ ngơi cho trẻ em sau một năm học vất

vả, tuy nhiên đây cũng chính là thời gian tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ gây mất

an toàn cho trẻ

Ở nước ta, công tác truyền thông đã và đang từng bước mở rộng tầm ảnh hưởng tới quần chúng Các thông tin xã hội có định hướng, trong đó các vấn đề liên quan đến tai nạn thương tích trẻ em được truyền tải nhiều hơn tới người dân cả về số lượng và chất lượng Nhận thức của toàn dân về các vấn

đề liên quan đến tai nạn thương tích trẻ em không ngừng được cải thiện Mặc

dù vậy, vẫn còn một khoảng cách khá lớn về nhận thức của người dân trong

Trang 10

công tác phòng ngừa tai nạn thương tích ở trẻ em Nhiều hoạt động truyền thông vẫn chưa thực sự có hiệu quả trong việc tham gia, khuyến khích cộng đồng chung tay phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ Đó là những thiếu hụt nghiêm trọng trong nhận thức và hành động thực tiễn của đại bộ phận người dân nhất là ở những vùng nông thôn còn chưa phát triển Tìm hiểu vấn đề truyền thông về tai nạn thương tích trẻ em sẽ góp phần quan trọng trong việc phòng ngừa và giảm thiểu nguy cơ cho trẻ, nhất là khi mùa hè sắp đến

Trong những năm qua huyện Thường Tín, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước đã từng bước tăng trưởng kinh tế bền vững, đi đôi với xóa đói giảm nghèo, đời sống người dân không ngừng được cải thiện, vấn đề chăm sóc sức khỏe cũng như cải thiện mức sống được quan tâm hơn, đặc biệt

là trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Các khu vui chơi giải trí, bể bơi cho trẻ em được đầu tư xây dựng nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng cao của trẻ em Việc tổ chức thành công các hoạt động vui chơi, giải trí, giao lưu văn hóa văn nghệ đáp ứng không nhỏ nhu cầu học tập và thư giãn cho trẻ, tạo được tiền đề tích cực trong công tác phát triển nguồn nhân lực sau này

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được, không thể không nhắc đến những tồn tại, hạn chế trong công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ Trong 10 năm trở lại đây, trên địa bàn huyện Thường Tín còn tồn tại thực trạng trẻ em bị tai nạn thương tích do đuối nước, tai nạn giao thông, bỏng và điện giật, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất, tinh thần của trẻ và cha mẹ trẻ Mặc dù các cấp chính quyền và đoàn thể đã có những giải pháp nhằm ngăn ngừa tình trạng trên nhưng trong thực tế hiệu quả vẫn chưa cao Tại huyện Thường Tín, qua quá trình nghiên cứu thực tiễn tại xã Ninh Sở, công tác truyền thông nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em còn tồn tại nhiều hạn chế, điều này xuất phát từ nhận thức của một số cán bộ và người dân về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

Trang 11

Địa phương chưa có nhiều khu vui chơi giải trí cho trẻ sau những ngày học tập căng thẳng, do đó vẫn còn tình trạng trẻ em chơi gần ao hồ, sông, ngòi, đá bóng trên trục đường đi lại của người dân… bởi vậy tỉ lệ trẻ em bị tai nạn thương tích trong quá trình vui chơi tại gia đình và ngoài xã hội còn khá cao Điều này gây ra những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trẻ, dẫn đến tổn thất về tinh thần và vật chất cho mỗi gia đình và địa phương

Bên cạnh đó, công tác triển khai các hoạt động liên kết giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong phòng ngừa và giảm thiểu tai nạn thương tích cho trẻ em chưa được quan tâm đúng mức, tại địa phương còn xảy ra các vụ việc trẻ bị tai nạn thương tích tại nhà trường, trên đường đi học về hay chính trong gia đình mỗi em Điều này cho thấy công tác truyền thông, nâng cao nhận thức cho các bậc phụ huynh học sinh hiểu và nhận thức được tầm quan trọng của công tác phòng ngừa tai nạn thương tích là vô cùng cần thiết

Vậy thực trạng về công tác truyền thông nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em tại địa bàn xã Ninh Sở giai đoạn từ năm 2003 – 2013 như thế nào? Và phải làm gì để ngăn ngừa được tai nạn thương tích trẻ em bằng việc truyền thông dựa vào cộng đồng?

Xuất phát từ những vấn đề lý luận và đòi hỏi của thực tiễn, tôi lựa chọn

nghiên cứu “Truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em tại địa bàn xã Ninh Sở- huyện Thường Tín- thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sỹ

2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Trẻ em là nhóm xã hội đặc biệt luôn chiếm được sự quan tâm rất lớn của Đảng, chính phủ và các tổ chức xã hội, do đó có rất nhiều công trình nghiên cứu về trẻ em và các vấn đề liên quan đến tai nạn thương tích trẻ em Trong phần tổng quan nghiên cứu này, tác giả tiến hành nghiên cứu về tai nạn thương tích trẻ em theo góc độ xã hội học, y tế công cộng và truyền thông

Trang 12

2.1 Nghiên cứu dưới góc độ xã hội học

Tai nạn thương tích trẻ em đang là vấn đề nóng bỏng không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới Xã hội càng phát triển, nhu cầu bảo vệ, chăm sóc trẻ em càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết bởi lẽ trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai

Theo một nghiên cứu cho thấy, từ những năm 1970, tử vong ở trẻ em

do các nguyên nhân liên quan đến tai nạn thương tích đã giảm ở các nước có thu nhập cao nhờ những nỗ lực phòng ngừa thành công Trong khi đó, ở các nước đang phát triển, gánh nặng bệnh tật do tai nạn thương tích đang ngày càng tăng lên do gánh nặng của các bệnh truyền nhiễm đang dần giảm xuống Một nghiên cứu tiến hành tại Bangladesh, Trung Quốc, Philippines, Thái Lan

và Việt Nam cho thấy tai nạn thương tích là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ 1 tuổi trở lên ở tất cả các quốc gia điều tra Nghiên cứu cho thấy, trong khi

ở các nước phát triển chỉ dưới 135 trẻ em tử vong do tai nạn thương tích trên 100.000 trẻ được sinh ra thì con số này ở các nước Đông Nam Á được điều tra lên đến hơn 1000 Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng với mỗi trường hợp tử vong do tai nạn thương tích ở trẻ dưới 18 tuổi thì có 12 trẻ cần phải nhập viện hoặc để lại khuyết tật vĩnh viễn và 34 trẻ cần chăm sóc y tế hoặc phải nghỉ học, nghỉ làm do tai nạn thương tích [35, tr 21]

Mỗi ngày, trên khắp thế giới cuộc sống của hơn 2000 gia đình phải rơi

lệ vì sự ra đi của những đứa trẻ do tai nạn thương tích Sự đau khổ mà các gia đình này phải chịu- những người mẹ, người cha, người anh, người chị, ông bà hay bạn bè là vô hạn Tai nạn thương tích là mối đe dọa chủ yếu ảnh hưởng đến sự sống còn của các em, đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tàn tật ở trẻ em, nó ảnh hưởng kéo dài một cách toàn diện tới cuộc đời non nớt của trẻ: những mối quan hệ, việc học tập và vui chơi Trong số đó, những trẻ

em phải sống trong nghèo đói, gánh nặng về thương tích là cao nhất, vì các

Trang 13

em ít có khả năng hưởng lợi từ các biện pháp phòng ngừa hay chi trả các khoản chi phí mà các em khác có thể [41, tr 17]

Năm 2005, WHO và UNICEF ra lời kêu gọi một nỗ lực toàn cầu để phòng chống tai nạn thương tích ở trẻ em Năm 2006 lời kêu gọi đó được tiếp nối bởi kế hoạch hành động 10 năm của WHO về tai nạn thương tích ở trẻ

em Kế hoạch này liệt kê các mục tiêu, hoạt động và các kết quả mong muốn

về tai nạn thương tích trẻ em và bao gồm các lĩnh vực số liệu, nghiên cứu, dự phòng, dịch vụ, xây dựng năng lực và truyền thông [36, tr 22]

Báo cáo thế giới chung của WHO/UNICEF về tai nạn thương tích của trẻ em hội tụ tất cả những kiến thức hiện nay đã được biết về các loại tai nạn thương tích và cách phòng ngừa chúng Đồng thời, báo cáo này cũng công nhận rằng có những khoảng cách lớn về kiến thức Báo cáo đã mở rộng và củng cố các lĩnh vực hành động được đưa ra vào năm 2005 kêu gọi hành động toàn cầu và kế hoạch 10 năm của WHO Hơn nữa, có mục đích giúp đỡ, chuyển giao kiến thức, đưa kiến thức vào thực tế, cho nên những gì đã được thực chứng là có hiệu quả trong việc làm giảm gánh nặng tai nạn thương tích trẻ em ở một vài nước có thể được điều chỉnh và thực hiện ở các nước khác, với những kết quả tương tự [36, tr 23]

Ở Việt Nam, một quốc gia với hơn 90 triệu dân trong đó khoảng 34%

là người dưới 18 tuổi, tai nạn thương tích trẻ em ngày càng tăng và đang trở thành một vấn đề y tế công cộng, nhất là từ khi bắt đầu của thời kỳ mở cửa từ năm 1986, thời kỳ Đổi mới Tác động của những thay đổi về kinh tế- xã hội

và phát triển ở Việt Nam có mối liên hệ rõ rệt đối với tình trạng tai nạn giao thông, với số vụ tăng gấp 10 lần trong vòng 10 năm từ khi bắt đầu thời kỳ Đổi mới Tai nạn thương tích là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ dưới 18 tuổi Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ trẻ bị tai nạn thương tích do súc vật cắn là 44%, tỷ lệ các em bị té ngã là 38%, các em bị tai

Trang 14

nạn giao thông là 13% Tai nạn thương tích bởi dụng cụ gia đình là 8% và do dụng cụ ở trường học là 4% Trong đó chấn thương ở tay là chân tỷ lệ 76%, ở đầu, mặt và cổ là 21%, ở thân mình là 2% và tỷ lệ nhỏ 1% là đa chấn thương Mức độ chủ yếu là dạng trầy xước 42%, là vết thương hở có 27%, gãy xương 21% Thời gian xảy ra tai nạn thương tích chủ yếu vào ban ngày, tỷ lệ 86%, tai nạn thương tích vào mùa mưa tỷ lệ 64% Về địa điểm xảy ra chấn thương

ở nhà là 38%, ở đường phố 33% và ở trường học là 12%; chủ yếu xảy ra khi các em đang vui chơi 55%, đang tham gia giao thông là 27%, làm việc nhà 11% và đang tham gia thể dục thể thao là 7% [43, tr 9]

Chỉ riêng trong năm 2007 đã có 7.894 trẻ em và người chưa thành niên tuổi từ 0- 19 tuổi bị tử vong do tai nạn thương tích Nhiều sông, suối, ao và

hồ là nơi trẻ thường vui chơi, cùng với tình trạng thường xuyên bão lũ, là những đặc điểm khiến cho tỉ lệ tử vong do đuối nước ở trẻ em Việt Nam luôn

ở mức cao Các nguyên nhân tai nạn thương tích khác cũng có tỉ lệ mắc và tử vong cao ở trẻ em bao gồm ngã, bỏng, ngộ độc và động vật cắn Ngoài ra tại một số tỉnh bị ảnh hưởng trầm trọng bởi bom mìn còn sót lại sau chiến tranh thì trẻ em còn bị thương tích do bom mìn và vật nổ [34, tr 20]

Một vấn đề đáng báo động là số ca trẻ em chết do tai nạn thương tích thường năm sau cao hơn năm trước và địa điểm xảy ra tai nạn chủ yếu tại nhà, trên đường đi và ở trường học Chi phí điều trị và phục hồi chức năng, tử vong và mất khả năng lao động ở Việt Nam rơi vào khoảng 30 nghìn tỷ đồng/năm, trong đó riêng cho trẻ em ước tính khoảng 11 nghìn tỷ đồng Cũng giống như những nước có thu nhập thấp và trung bình khác, những yếu tố quan trọng liên quan đến khả năng xảy ra tai nạn thương tích là tuổi, giới tính, môi trường nguy hiểm, tình trạng kinh tế xã hội, yếu tố thường có mối liên hệ với nhận thức hạn chế về nguy cơ giám sát đối với trẻ; và tình trạng được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, điển hình là dịch vụ cấp cứu và chăm sóc trước viện [42, tr 17]

Trang 15

Năm 2003, với mục đích tìm hiểu về tai nạn thương tích trẻ em ở các vùng nông thôn từ đó đề ra các biện pháp khắc phục, nhóm nghiên cứu

Trương Xuân Trường và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu nguy cơ và nguyên nhân tai nạn thương tích trẻ em ở nông thôn Việt Nam” tại

địa bàn các tỉnh Hải Phòng, Quảng Trị và Đồng Tháp Nghiên cứu đã chỉ ra các loại hình tai nạn thương tích trẻ em thường gặp ở các vùng nông thôn trong đó tai nạn bỏng có mức độ phổ biến và tính nghiêm trọng cao, tai nạn bỏng chủ yếu là bỏng nhiệt và bỏng điện

Về yếu tố liên quan đến tuổi và giới tính trẻ em: trong một báo cáo tử vong do tai nạn thương tích cho thấy nhóm nam từ 0-19 tuổi bị tử vong do tai nạn thương tích nhiều gấp 2 lần so với số nhóm nữ cùng lứa tuổi Nguy cơ tai nạn thương tích cao ở bé trai so với bé gái cũng được nhận thấy ở nhiều nước khác và được cho rằng có liên quan đến tính hiếu động hơn, xu hướng thực hiện hành vi có nguy cơ của bé trai cao hơn so với bé gái và một thực tế nữa

là là cha mẹ và cộng đồng thường ít hạn chế bé trai hơn bé gái đối với các hoạt động trong nhà và ngoài cộng đồng Về địa điểm và môi trường: các nghiên cứu về nguy cơ tai nạn thương tích trẻ em ở Việt Nam đều cho thấy rằng nhà ở là địa điểm phổ biến nhất trong số các trường hợp tai nạn thương tích và cho rằng tai nạn thương tích cũng xảy ra nhiều ở vùng nông thôn so với vùng thành thị Trẻ em ở khu vực nông thôn miền núi Việt Nam sống ở nhà được xây dựng trên sườn dốc, với độ dốc khác nhau và chất lượng cầu thang thường là kém vì vậy làm tăng nguy cơ tai nạn thương tích ở nhà, đặc biệt là ngã, đối với những trẻ sống ở khu vực này

Ngoài ra, trẻ sống ở khu vực nông thôn chủ yếu là những vùng nông nghiệp và có thu nhập thấp, thường phải làm nhiều việc gia đình như nấu ăn, chăm sóc em nhỏ, lau dọn và nhiều hoạt động sản xuất nông nghiệp, đây chính là những yếu tố làm tăng các nguy cơ bị tai nạn thương tích trong cộng đồng

Trang 16

Ở Việt Nam, một điều tra về tác động kinh tế do tai nạn thương tích ở khu vực nông thôn cho thấy rằng nghèo đói là yếu tố nguy cơ quan trọng đối với tai nạn thương tích, đặc biệt là các tai nạn thương tích trong nhà Nghiên cứu chỉ ra, chất lượng nhà kém khiến trẻ có nguy cơ tai nạn thương tích cao hơn, đặc biệt là ngã và bỏng Ở các vùng nông thôn Việt Nam, các hộ gia đình nghèo thường dùng rơm để đun nấu, đặc điểm này làm tăng nguy cơ bỏng ở trẻ em

2.2 Nghiên cứu dưới góc độ y học

Theo Tổ chøc y tế thế giới thì số liệu thống kê trong những năm gần đây cho thÊy tỷ lệ các bệnh truyền nhiễm có xu hướng thuyên giảm nhưng tỷ

lệ chấn thương vẫn không thay đổi mà còn có xu hướng gia tăng

Về tai nạn thương tích ở trẻ em, hiện nay trên toàn thế giới, tai nạn thương tích trẻ em là vấn đề y tế công cộng và vấn đề của sự phát triển Ước tính mỗi năm trên thế giới có khoảng 830.000 trẻ em tử vong do tai nạn thương tích không chủ định, tương đương với khoảng 2.000 trẻ em tử vong trong một ngày Nguyên nhân tai nạn thương tích gây tử vong hàng đầu ở trẻ

em là tai nạn giao thông đường bộ (260.000 trường hợp/năm), (đuối nước 175.000 trường hợp/năm), bỏng (96.000 trường hợp/năm) và ngã (47.000 trường hợp/năm) Tuy nhiên, thực trạng tử vong này chỉ là phần nổi của tảng băng gánh nặng bệnh tật do tai nạn thương tích ở trẻ em, vì vẫn có hàng chục triệu trường hợp khác phải nhập viện do tai nạn thương tích và thường để lại những hậu quả lâu dài về sức khỏe và tâm lý hay thậm chí là những khuyết tật đối với trẻ, gia đình của trẻ và cộng đồng quả thực là rất lớn [42, tr 11]

Theo báo cáo của Cục quản lý môi trường và y tế (Bộ Y tế), trong 6 tháng đầu năm 2001 về tình trạng tai nạn thương tích của 53 tỉnh, thành phố

và báo cáo tai nạn giao thông của 57 bệnh viện, có 551.380 trường hợp tai nạn thương tích với tỉ suất 740,33/100.000 người trong đó có 4665 trường hợp tử

Trang 17

vong chiếm tỉ lệ 0,84% Nhóm tuổi từ 15-19 tuổi có tỉ suất mắc tai nạn thương tích và tử vong do tai nạn thương tích cao nhất là 1312,44/100.000 người và 8,9/100.000 người Nguyên nhân tử vong và tai nạn thương tích do tai nạn giao thông đứng hàng đầu trong các nguyên nhân Các nghiên cứu đều chỉ ra, tai nạn thương tích gây hậu quả rất nặng nề cho trẻ em và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em và trẻ vị thành niên, mặt khác, tai nạn thương tích còn đề lại những di chứng rất nặng nề về cả thể xác lẫn tinh thần cho trẻ em, là gánh nặng cho gia đình và xâ hội, gây thiệt hại rất lớn về người

và của, đe doạ tới sự phát triển bền vững của quốc gia Để khắc phục thực trạng trên, Bộ y tế đã cho xây dựng hệ thống giám sát về mắc và tử vong do tai nạn thương tích được thiết lập trên phạm vi toàn quốc, phản ánh được chính xác số trường hợp tử vong do tai nạn thương tích tại cộng đồng Mạng lưới cấp cứu và hệ thống chăm sóc chấn thương thiết yếu đã được củng cố Hệ thống chăm sóc chấn thương trước viện đã được thành lập với 25.377 cộng tác viên, trong đó có 15.670 cộng tác viên được tập huấn sơ cấp cứu Được trang bị 150 xe chuyên dụng, 8.651 túi cứu thương Từ năm 2011, hệ thống tăng cường chăm sóc chấn thương trước viện được triển khai tại Hà Nội, Đồng Nai, Thừa Thiên Huế, Hưng Yên và thành phố Hồ Chí Minh với các hoạt động nâng cao năng lực về chăm sóc chấn thương trước viện, ghi chép báo cáo và truyền thông cho tình nguyện viên và cộng tác viên Mô hình cộng đồng an toàn được phổ biến, triển khai rộng rãi tại nhiều tỉnh, thành phố Hiện nay, cả nước có 68 cộng đồng an toàn Việt Nam và 10 xã, phường được công nhận cộng đồng an toàn quốc tế Giai đoạn 2011 – 2013, tỉ suất tử vong do tai nạn thương tích tại cộng đồng là 43,37/100.000 dân giảm hơn so với giai đoạn

2006 – 2010 (45,4/100.000) [45]

Bên cạnh đó, ngành Y tế đã chủ động phối hợp với các địa phương tổ chức tập huấn phổ biến kiến thức, kỹ năng phòng, chống tai nạn thương tích

Trang 18

cho các bậc phụ huynh, tập trung đào tạo nâng cao năng lực của đội ngũ cán

bộ y tế, đặc biệt là sơ cấp cứu để cấp cứu những trường hợp bị tai nạn thương tích không may xảy ra một cách kịp thời, lồng ghép trong chương trình xây dựng chuẩn quốc gia về y tế xã và xây dựng nông thôn mới Bên cạnh đó, công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe được thực hiện thường xuyên, liên tục thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, khẩu hiệu, tờ rơi, cộng tác viên truyền thông tại cộng đồng, trường học và các hộ gia đình; xây dựng nhiều mô hình tiêu biểu như cộng đồng an toàn, trường học an toàn, ngôi nhà

an toàn nhằm mục đích giảm thiểu đến mức thấp nhất các nguy cơ tai nạn thương tích trẻ em

Mặc dù đạt được những kết quả nhất định, song công tác phòng chống tai nạn thương tích tại cộng đồng ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn và thách thức Tai nạn giao thông, đuối nước, tự tử, tai nạn lao động còn cao, chưa có cơ quan điều phối công tác phòng chống tai nạn thương tích nên hoạt động chỉ đạo và phối hợp giữa các Bộ, ngành còn yếu… Vì vậy, giai đoạn

2014 – 2015, ngành Y tế cần tập trung giải quyết một số các vấn đề như kiện toàn Ban chỉ đạo phòng chống tai nạn thương tích ngành Y tế, triển khai các

mô hình cộng đồng an toàn tập trung vào các loại hình tai nạn thương tích có nguy cơ tử vong cao như tai nạn giao thông, tai nạn lao động, đuối nước, tai nạn thương tích trẻ em, tăng cường năng lực giám sát, truyền thông về phòng chống tai nạn thương tích tại cộng đồng…

2.3 Nghiên cứu dưới góc độ truyền thông

Truyền thông là một giải pháp được toàn cầu hướng tới với mong muốn phòng ngừa và đẩy lùi tai nạn thương tích trẻ em

Ở nước ta, ngày 11 tháng 5 năm 2009, Bộ Lao động- thương binh và xã hội ban hành quyết định về việc phê duyệt kế hoạch phòng, chống tai nạn thương tích trẻ em giai đoạn 2009-2010 với mục tiêu chung là từng bước hạn

Trang 19

chế tai nạn thương tích ở trẻ em, góp phần đảm bảo an toàn tính mạng của trẻ

em và sự phát triển bền vững của Quốc gia thông qua các hoạt động tuyên truyền nâng cao kiến thức, nhận thức, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức,

cá nhân về phòng, chống tai nạn thương tích trẻ em

Để hạn chế sự gia tăng của tai nạn thương tích tại cộng đồng, từ năm

2011 – 2013, ngành Y tế đã triển khai nhiều hoạt động truyền thông, giáo dục

về phòng chống tai nạn thương tích, chăm sóc chấn thương, sơ cấp cứu ban đầu tai nạn thương tích ở trẻ em, phòng chống đuối nước… tại hầu hết các tỉnh/ thành phố trên cả nước Tại 54 tỉnh/ thành phố có 3.639.142 tờ rơi về sơ cấp cứu ngộ độc, tai nạn giao thông, sơ cấp cứu bỏng, tai nạn lao động, phòng chống tai nạn thương tích trẻ em 68.434 áp phích, 6.050 tranh lật, 3.700 tài liệu tập huấn, 240 pano về phòng chống tai nạn thương tích được xây dựng và phân phát cho cộng đồng Gần 60 tin, bài, phóng sự tuyên truyền về phòng chống tai nạn thương tích được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, truyền hình địa phương đã góp phần không nhỏ trong công cuộc phòng ngừa và giảm thiểu nguy cơ tai nạn thương tích cho trẻ em [46]

Nghiên cứu tại Bắc Giang cho thấy, tỉnh cũng là một đơn vị đã chú trọng tới công tác truyền thông về phòng chống tai nạn thương tích trực tiếp tại cộng đồng Sở Lao động Thương binh và xã hội đã tổ chức 04 buổi truyền thông trực tiếp về công tác phòng chống tai nạn thương tích trẻ em tại cộng đồng 04 xã Tại các buổi truyền thông, đã có 600 đại biểu là cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em tham dự; các đại biểu đã được thông tin, trao đổi những kiến nghị, thực trạng tai nạn thương tích trẻ em hiện nay, ảnh hưởng của tai nạn thương tích đối với sự phát triển của trẻ và sự phát triển của kinh tế xã hội; các yếu tố về nguyên nhân gây ra tai nạn thương tích trẻ em cũng như các giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu tai nạn thương tích, đưa ra các tiêu chí về “Ngôi nhà an toàn”[47]

Trang 20

Các buổi truyền thông trực tiếp tại cộng đồng là hoạt động thiết thực giúp cho bạc cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em nâng cao nhận thức trong việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em nhằm phòng ngừa, giảm thiểu tai nạn thương tích đối với trẻ em, tạo dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho trẻ em, giúp trẻ

em phát triển toàn diện

Một nghiên cứu tại Thái Bình cho thấy, trong những năm gần đây, tình trạng tai nạn thương tích trẻ em gia tăng ở các địa phương trong tỉnh Trước tình trạng báo động này, Uỷ ban Dân số gia đình và trẻ em đã chỉ đạo xây dựng mô hình điểm truyền thông tai nạn thương tích trẻ em

Chọn 4 xã Đông Cơ, Nam Hưng (Tiền Hải) và Đông Kinh, Phú Châu (Đông Hưng) là những xã có tỷ lệ trẻ em bị tai nạn thương tích cao làm điểm,

Uỷ ban Dân số Gia đình và trẻ em đã triển khai nhiều hoạt động truyền thông tại đây Cùng với tổ chức tập huấn cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo xã, lãnh đạo các ban ngành, cán bộ, công tác viên dân số về công tác phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em, tăng cường tuyên truyền trên hệ thống loa truyền thông, tại các địa phương còn tổ chức truyền thông trực tiếp cho các đối tượng cha

mẹ và người chăcm sóc trẻ Các kiến thức chủ yếu được đề cập là phòng tránh đuối nước, phòng tránh bỏng, phòng tránh súc vật cắn, ngạt tắc đường thở, tai nạn giao thông

Mục đích của xây dựng mô hình này là nâng cao kiến thức và trách nhiệm của các cấp ngành về công tác tuyên truyền phòng chống tai nạn thương tích, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của gia đình cộng đồng đối với việc phòng chống tai nạn thương tích trẻ em và tăng số người dân ở xã nghèo được tiếp cận với các thông tin về phòng tránh tai nạn thương tích trẻ

em để giảm thiểu tới mức thấp nhất tỷ lệ trẻ em bị tai nạn thương tích

Trang 21

Tiểu kết

Công tác xã hội là một khoa học mang tính liên ngành, chính vì vậy từ

ba góc nhìn trên, chúng tôi kết hợp lại để nghiên cứu truyền thông dưới góc

độ phát triển cộng đồng nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em tại địa bàn xã Ninh Sở- huyện Thường Tín- thành phố Hà Nội

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài đã cố gắng hệ thống hóa những khái niệm công cụ, những số liệu

về tai nạn thương tích trẻ em và phân loại các tai nạn thương tích trẻ em để phục

vụ cho quá trình nghiên cứu Ứng dụng một số lý thuyết về công tác xã hội và lý thuyết truyền thông dựa vào cộng đồng để xây dựng mô hình truyền thông phù hợp nhằm tìm ra các biện pháp phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em

4 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em

Trang 22

Giáo viên các khối trường thuộc địa bàn xã

Lãnh đạo và các đoàn thể xã hội của địa phương

Cán bộ làm công tác dân số, gia đình và trẻ em

Một số chủ doanh nghiệp đóng tại địa bàn xã

Sở Hạ, Xâm Dương 1, Xâm Dương 2, Xâm Dương 3

Thời gian: nghiên cứu được thực hiện từ tháng 12 năm 2013 đến 5 năm 2014 Giới hạn nghiên cứu về nội dung: Nghiên cứu nhu cầu của cộng đồng trong vấn đề truyền thông nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em, đánh giá các nguồn lực truyền thông của cộng đồng, mong muốn, năng lực tham gia vào truyền thông dựa vào cộng đồng, đánh giá của cộng đồng về hiệu quả thực tế của các biện pháp truyền thông hiện nay ở địa phương, từ đó đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu rút ra những thiếu hụt còn tồn tại trong công tác truyền thông của địa phương Trên những cơ sở đó, triển khai xây dựng mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em phù hợp với nhu cầu và thức tiễn cộng đồng

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng các biện pháp truyền thông nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em, các nguồn lực truyền thông trong cộng đồng về phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em để từ đó xây dựng các biện pháp truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em tại

xã Ninh Sở- huyện Thường Tín- thành phố Hà Nội

Trang 23

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đánh giá các biện pháp truyền thông hiện nay tại địa phương nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em để từ đó rút ra những thiếu hụt cần phải

6 Câu hỏi nghiên cứu

Thực trạng đánh giá của người dân xã Ninh Sở hiện nay về hiệu quả của các biện pháp truyền thông nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ

7 Giả thuyết nghiên cứu

Cộng đồng còn tồn tại tình trạng nhiều trẻ em bị tai nạn thương tích Cộng đồng có nhu cầu, nguồn lực và tâm thế sẵn sàng tham gia vào truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm phòng ngừa tai nan thương tich trẻ em

Việc xây dựng mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em đóng vai trò to lớn trong việc giảm thiểu, ngăn ngừa những rủi ro từ tai nạn thương tích cho trẻ em

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Trang 24

Ứng dụng cách tiếp cận từ dưới lên dựa vào cộng đồng làm nền tảng cho quá trình nghiên cứu

Tiếp cận từ dưới lên là tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân, tìm hiểu nội lực của người dân, để người dân tự mình tham gia và quyết định các hoạt động của chính họ

Cách tiếp cận từ dưới lên chỉ ra rằng trong khi có những khác biệt trong cách thay đổi đời sống của một cộng đồng, chúng không hoàn toàn dị biệt và khác nhau Mặc dù có sự khác biệt, tất cả các cách tiếp cận tập trung vào: củng cố nguồn lực trong một cộng đồng, phát triển sự liên quan và tiếp cận nguồn lực cho các thành viên cộng đồng, phát triển năng lực của các thành viên cộng đồng để sử dụng các nguồn lực

Ứng dụng cách tiếp cận “bottom-up” theo Angelika Kruger (2009) vào

đề tài với mục đích:

Tìm hiểu nhu cầu và nguồn lực của người dân đối với hoạt động truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em Cách tiếp cận này tập trung hướng tới tìm hiểu thực tế địa phương, đánh giá nhu cầu và nhận diện vấn đề, đánh giá các nguồn lực tại địa phương đó là tất cả các tiểu hệ thống trong cộng đồng, tìm ra điểm mạnh của các tiểu hệ thống đó, đánh giá và liên kết các nguồn lực lại với nhau nhằm xây dựng một mô hình truyền thông phòng ngừa hiệu quả nhất

Ưu điểm của cách tiếp cận này là bám sát tình hình thực tế cộng đồng, tìm hiểu nhu cầu và nguồn lực dựa trên tình hình thực tế, văn hóa, tôn giáo của cộng đồng, liên kết được tất cả các thành viên trong cộng đồng lại thành nguồn sức mạnh tổng hợp, từ đó đạt được mục tiêu đề ra

8.2 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin

8.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Sử dụng phương pháp này, chúng tôi tiến hành thu thập và phân tích tổng hợp các báo cáo về tai nạn thương tích trẻ em, các nghiên cứu về truyền

Trang 25

thông nói chung nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em và đặc biệt là các nghiên cứu về truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em Những báo cáo nghiên cứu về tai nạn thương tích trẻ em

sẽ cung cấp cho chúng tôi những thông tin về những hệ quả xã hội, về quyền con người, quyền trẻ em và chúng tôi sẽ sử dụng trong phần viết tổng quan,

và viết về tình hình tai nạn thương tích trẻ em của địa phương Những nghiên cứu về truyền thông và truyền thông dựa vào cộng đồng về tai nạn thương tích trẻ em chúng tôi sẽ sử dụng ở các phần đánh giá trong các chương hai và

ba của luận văn và đính kèm ở phần phụ lục

8.2.2 Phương pháp quan sát

Chúng tôi tiến hành quan sát trong cộng đồng những địa điểm, tình huống mà có thể gây ra những rủi ro, tai nạn thương tích cho trẻ em Những quan sát này không chỉ cung cấp cho chúng tôi một thực trạng về những rủi ro

ấy mà còn cung cấp cho chúng tôi một nhu cầu hiển nhiên trong cộng đồng về

sự cần thiết phải xây dựng hệ thống phòng ngừa trong đó có hệ thống phòng ngừa bằng truyền thông Các dữ liệu này sẽ được trình bày lồng ghép bằng các hình ảnh ở phần phụ lục

Trong quá trình quan sát chúng tôi cũng tiến hành quan sát những sự kiện lớn trong cộng đồng để qua đó tìm hiểu mức độ và tần suất số người tham gia vào các sự kiện đó, từ đó sẽ đối chiếu với thông tin thu được từ phỏng vấn sâu, nhằm tìm ra những sự kiện phù hợp nhất để tiến hành mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng

Trang 26

01 người là phó chủ tịch xã phụ trách mảng văn hóa xã hội

01 giáo viên nhà trường

Đây là những đối tượng thuộc về các tiểu hệ thống đại diện cho cộng đồng, được nhìn nhận như là một hệ thống

Chúng tôi tiến hành phỏng vấn với nội dung sau:

Thứ nhất: đánh giá của họ về sự tồn tại và hiệu quả của các biện pháp truyền thông hiện nay trong cộng đồng

Thứ hai: nhu cầu của đối tượng đó trong việc tham gia truyền thông phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em, mức độ sẵn sàng tham gia, các nguồn lực của họ, cũng như các biện pháp kết nối nguồn lực

Thứ ba: đánh giá của họ về những nguồn lực trong cộng đồng mà từ đó

có thể dựa vào đó để truyền thông

Những thông tin thu được, chúng tôi sử dụng trong chương 2 và chương 3 của luận văn

8.2.4 Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi

Sử dụng bảng hỏi cầm tay, tiến hành khảo sát 200 đối tượng là người dân địa phương, mục đích:

Tìm hiểu nhận thức của người dân về sự tồn tại của các biện pháp truyền thông mà cộng đồng sử dụng

Tìm hiểu về hoạt động truyền thông qua các kênh truyền thông

Trang 27

Nhu cầu về việc người dân có cần thiết tham gia hoạt động truyền thông

Đánh giá mức độ sẵn sàng tham gia của người dân khi tiến hành truyền thông

Chúng tôi tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi cầm tay, những nội dung này chúng tôi dùng ở chương 2 và chương 3 trong luận văn này

8.3 Mẫu nghiên cứu

Chúng tôi chọn mẫu nghiên cứu từ danh sách các hộ gia đình của 7 thôn để chọn ra 200 hộ gia đình

9 Kết cấu luận văn

Luận văn gồm phần Mở đầu, nội dung chính, kết luận, và phụ lục Trong đó nội dung chính bao gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Thực trạng các biện pháp phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ

em và công tác truyền thông nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em tại địa bàn xã Ninh Sở- huyện Thường Tín- thành phố Hà Nội

Chương 3: Xây dựng mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em tại xã Ninh Sở- huyện Thường Tín- thành phố Hà Nội

Trang 28

NỘI DUNG CHÍNH Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

1.1 Một số khái niệm công cụ

1.1.1 “Truyền thông”

Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người với nhau để gia tăng hiểu biết lẫn nhau và hiểu biết về môi trường xung quanh nhằm thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, hoặc của cộng đồng xã hội nói chung, bảo đảm

sự phát triển bền vững [11,tr 17]

* “Nguồn lực truyền thông”

Phát triển cộng đồng dựa vào tài sản và nguồn lực trong cộng đồng khởi điểm các tài sản và sức mạnh hiện có của cộng đồng, đặc biệt sức mạnh vốn có trong các hội, nhóm cộng đồng và mạng lưới xã hội trong cộng đồng Nguồn lực cộng đồng được xem như là một trong những lựa chọn các phương pháp tiếp cận dựa vào nhu cầu để phát triển

Vậy nguồn lực truyền thông tham gia vào phát triển cộng đồng đó là toàn bộ nguồn lực vật chất và tinh thần, nhân lực và vật lực tham gia vào quá trình truyền thông

* “Kênh truyền thông”

Muốn truyền tải các thông điệp/thông tin về phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em từ nguồn phát đến người nhận phải có các kênh truyền thông trung gian

Kênh truyền thông chính là các phương tiện kỹ thuật và phương thức truyền tải thông tin tương ứng, trong đó, những phương thức truyền tải thông tin phụ thuộc rất nhiều vào đối tượng tiếp nhận thông tin bằng các giác quan nào

Các nhà nghiên cứu về truyền thông cho biết, phần lớn (83%) thông tin được tiếp nhận qua thị giác, còn lại là thính giác (11%), khứu giác (3%) và vị

Trang 29

giác (1%) Như vậy, từ cơ sở khoa học này, trong công tác truyền thông dựa vào cộng đồng trong phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em có thể vận dụng vào thực tiễn nhằm mang lại hiệu quả cao nhất

1.1.2 Cộng đồng

Cộng đồng là một tập hợp xã hội trong đó các thành viên của nó chia sẻ các giá trị và có các mối liên hệ thuộc tính chặt chẽ với nhau Đồng thời tất cả các cá nhân đều có những liên hệ chặt chẽ với tổng thể cộng đồng, tức là họ

có cảm giác thuộc về tập hợp xã hội đó [26, tr 88]

1.1.3 “Dựa vào cộng đồng”

Dựa vào cộng đồng là khởi điểm từ các nguồn lực và sức mạnh hiện có của cộng đồng, đặc biệt sức mạnh vốn có trong các hội, nhóm cộng đồng và mạng lưới xã hội trong cộng đồng Dựa vào cộng đồng được xem như là một trong những lựa chọn các phương pháp tiếp cận dựa vào nhu cầu để phát triển Chìa khóa của phát triển cộng đồng là chỉ dựa vào sự kết nối cộng đồng (cá nhân, tổ chức, hội, …) chứ không phải được thúc đẩy bới những ảnh hưởng bên ngoài [19, tr11]

Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới: Dựa vào cộng đồng là lấy cộng đồng làm định hướng trao quyền kiểm soát việc quyết định nguồn lực cho các nhóm cộng đồng Những nhóm này thường hợp tác dưới hình thức đối tác với các tổ chức cung cấp, hỗ trợ căn cứ theo yêu cầu và các bên cung cấp dịch vụ trong đó gồm chính quyền địa phương, khu vực tu nhân, các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan nhà nước cấp Trung ương

Vận dụng vào đề tài nghiên cứu truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em tại xã ninh Sở- huyện Thường Tín- thành phố Hà Nội, tôi lựa chọn khái niệm thứ nhất vì nó hoàn toàn phù hợp với thực tiễn xã Ninh Sở, vì để tiến hành truyền thông dựa vào cộng đồng hiệu quả cần dựa trên nhu cầu, nguồn lực và sức mạnh hiện có của chính các

Trang 30

hệ thống trong cộng đồng, từ đó liên kết nguồn lực các tiểu hệ thống đó lại với nhau

1.1.4 “Truyền thông dựa vào cộng đồng”

Căn cứ vào khái niệm truyền thông và khái niệm dựa vào cộng đồng, chúng tôi đề xuất khái niệm truyền thông dựa vào cộng đồng như sau:

Truyền thông dựa vào cộng đồng là quá trình truyền thông khởi điểm từ sức mạnh nội lực và nguồn lực của cộng đồng để tăng cường và phát huy vai trò của cộng đồng; chìa khóa của phát triển cộng đồng là dựa trên sự kết nối cộng đồng, thông qua các nguồn lực tồn tại từ các tiểu hệ thống trong cộng đồng; tiến hành kết nối các nguồn lực trong cộng đồng thông qua vai trò của người làm đầu mối kết nối và các tình huống để kết nối

Truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em là quá trình truyền thông khởi điểm từ sức mạnh nội lực và nguồn lực của cộng đồng để tăng cường và phát huy vai trò của cộng đồng trong việc phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em; chìa khóa của truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em là dựa trên sự kết nối cộng đồng, thông qua các nguồn lực tồn tại từ các tiểu hệ thống trong cộng đồng; tiến hành kết nối các nguồn lực trong cộng đồng thông qua vai trò của người làm đầu mối kết nối và các tình huống để kết nối nguồn lực

1.1.5 “Trẻ em”

Theo Công ước về Quyền trẻ em của Liên hợp quốc thì “Trẻ em được xác định là người dưới 18 tuổi, trừ khi Luật pháp quốc gia quy định tuổi thành niên sớm hơn” [4]

Ở Việt Nam do nhận thức được tầm quan trọng của sự nghiệp chăm sóc

và giáo dục trẻ em trong Dân số học thường lấy mốc 15 tuổi để phân biệt trẻ

em với tuổi trưởng thành Theo Điều 1 của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã được nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày

Trang 31

12/8/1991 quy định như sau: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”

Với việc xác định rõ ranh giới lứa tuổi giành cho trẻ em ở nước ta đã tạo đà cho việc bảo vệ chăm sóc trẻ em trong các lĩnh vực học tập, vui chơi, giải trí.Vậy dựa trên tinh thần của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, khi đề cập đến khái niệm trẻ em trong luận văn này bao gồm những công dân Việt Nam dưới 16 tuổi

1.1.6 “Tai nạn thương tích trẻ em”

Tai nạn là một sự kiện không định trước gây ra thương tích có thể nhận thấy được [28]

Thương tích: là tổn thương thực thể do có sự va đập mạnh, hoặc cọ xát, hoặc bị các vật sắc nhọn đâm gây hậu quả cho cơ thể của một người qua vết bầm tím, bong gân, cẳng, gãy xương

Thương tích không phải là tai nạn mà là tổn thương của cơ thể ở các mức độ khác nhau gây nên bởi tiếp xúc đột ngột với các nguồn năng lượng (có thể là các tác động cơ học, nhiệt, hóa chất ) quá ngưỡng chịu đựng của

cơ thể hoặc do cơ thể thiếu các yếu tố cần thiết cho sự sống như thiếu oxy, mất nhiệt Thương tích có thể lý giải được và có thể phòng tránh được

Tuy nhiên khó có thể phân định rõ ràng giữa hai khái niệm tai nạn và thương tích, do vậy hiện nay trong các văn bản, tài liệu của Việt Nam người

ta dùng chung thuật ngữ “tai nạn thương tích”

Tai nạn thương tích là thương tổn:

Trang 32

Cần đến sự chăm sóc y tế, phải nghỉ học hoặc hạn chế sinh hoạt ít nhất một ngày

1.1.7 “Phòng ngừa tai nạn thương tích”

* Khái niệm “rủi ro”

Rủi ro là những nguy hiểm ít nhiều dự báo được gắn với một tình huống hoặc một hoạt động [28]

* Khái niệm “Phòng ngừa”

“Phòng ngừa” là đề phòng, ngăn ngừa trước không để cho cái xấu, cái không hay nào đó xảy ra [28]

Tuy nhiên khái niệm trên còn chưa đầy đủ, toàn diện Trong đề tài, khái niệm phòng ngừa được hiểu là việc áp dụng tổng hợp các biện pháp để loại trừ, ngăn chặn những điều xấu, những điều không hay xảy ra

* Khái niệm “Phòng ngừa tai nạn thương tích”

“Phòng ngừa tai nạn thương tích” là việc áp dụng tổng hợp các biện pháp để loại trừ những nguyên nhân và điều kiện gây ra tai nạn thương tích nhằm chủ động ngăn ngừa, hạn chế tới mức thấp nhất hậu quả do tai nạn thương tích gây ra

Mục đích của việc phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em là bảo vệ sức khỏe của trẻ; đảm bảo cho trẻ em được sống, được chăm sóc trong một môi trường an toàn, lành mạnh; đảm bảo cho sự phát triển bình thường của trẻ; đảm bảo tiết kiệm chi phí không cần thiết cho việc khắc phục hậu quả nghiêm trọng do tai nạn thương tích gây ra cho trẻ em

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1.2.1 Lý thuyết hệ thống

Lý thuyết hệ thống là một lý thuyết sinh học cho rằng mọi tổ chức hữu

cơ đều là những hệ thống, được tạo nên từ các tiểu hệ thống và ngược lại cũng

là một phần của hệ thống lớn hơn Thuyết hệ thống được hiểu rộng ra là mọi

sự vật, hiện tượng, cá nhân, tổ chức, quần thể trong giới tự nhiên, xã hội hay

Trang 33

trong chính bản than một con người đều là những chỉnh thể được cấu trúc bởi

hệ thống và hình thanh nên hệ thống nhiều tầng lớp, thang bậc quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau, tồn tại tất yếu khách quan [17, tr 23]

Thuyết hệ thống nhấn mạnh vào mối tương tác giữa con người với con người và với môi trường xã hội Trong phát triển cộng đồng thuyết hệ thống được sử dụng nhằm giúp cho chúng ta hiểu và xác định được cộng đồng là một hệ thống cung cấp các yếu tố tương tác với nhau Thuyết hệ thống cung cấp một mô hình, lý thuyết để giúp hiểu biết và phương cách đáp ứng nhu cầu, giải quyết vấn đề của con người trong xã hội Thuyết hệ thống giúp hiểu sâu sắc hơn về các thể chế, mối tương tác của con người với nhau, với hoàn cảnh và các thể chế có tác động đến con người

Trong luận văn của mình, chúng tôi sử dụng lý thuyết hệ thống để nhìn nhận cộng đồng xã Ninh Sở với tư cách là một hệ thống, được cấu thành từ các tiểu hệ thống như chính quyền, các tổ chức đoàn thể, nhà trường, doanh nghiệp, thành phần tôn giáo và toàn thể người dân sinh sống trong xã Ninh

Sở Trên những cơ sở đó chúng tôi nghiên cứu, đánh giá các nguồn lực của từng tiểu hệ thống trên và cách thức liên kết các tiểu hệ thống lại với nhau trong cộng đồng để tìm ra biện pháp, cách thức phù hợp nhất tiến hành truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em

1.2.2 Lý thuyết nhu cầu của Maslow

Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc: Nhu cầu

cơ bản, nhu cầu về an toàn, nhu cầu về xã hội, nhu cầu về được quý trọng, tôn trọng, nhu cầu được thể hiện mình [18, tr 27]

Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý như thức ăn, nước uống, ngủ nghỉ và các yếu tố tâm lý như cảm xúc, cảm giác an toàn, lòng tự tôn Những nhu cầu cơ bản này cũng được gọi là các nhu cầu thiếu hụt vì nếu con

Trang 34

người không có đủ những nhu cầu này, họ sẽ đấu tranh để có được nó, bù đắp bằng được sự thiếu hụt

Các nhu cầu cao hơn được gọi là nhu cầu bậc cao hay nhu cầu hiện hành (nhu cầu phát triển) Những nhu cầu này bao gồm sự công bằng, lòng tốt, vẻ đẹp, thứ bậc, sự đồng lòng nhất trí, v.v… Các nhu cầu cơ bản thông thường bao giờ cũng được ưu tiên hơn những nhu cầu phát triển này Ví dụ, một người nếu thiếu thức ăn hay nước uống sẽ không quan tâm đến các nhu cầu về sự công bằng hay vẻ đẹp

Maslow cho rằng con người muốn và luôn đấu tranh để thoả mãn những nhu cầu khác nhau Xuất phát từ việc những mức nhu cầu bậc thấp bao giờ cũng cấp thiết và quan trọng hơn, nên chúng sẽ đóng vai trò như nguồn và định hướng của một mục tiêu cá nhân nếu những nhu cầu này không được thoả mãn

Sau khi những nhu cầu bậc thấp được thoả mãn, những nhu cầu cao hơn sẽ là động cơ hành động Những nhu cầu chưa được thỏa mãn ở bậc dưới

sẽ lấn át những nhu cầu chưa được thỏa mãn ở bậc cao hơn, và chúng cần được thỏa mãn trước khi một cá nhân tiến lên các bậc cao hơn của tháp nhu cầu

Trong luận văn của mình, chúng tôi sử dụng lý thuyết nhu cầu để nghiên cứu các loại nhu cầu của cộng đồng xã Ninh Sở:

Nhu cầu về cộng đồng có cần tìm hiểu các biện pháp để phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em hay không

Nhu cầu tham gia: cộng đồng có nhu cầu được tham gia truyền thông dựa vào cộng đồng hay không, nhu cầu của từng tiểu hệ thống như thế nào, từ đó chúng tôi sẽ đưa ra những đánh giá, phân tích khách quan nhất về cộng đồng

1.2.3 Lý thuyết thuyết phục

Để có khả năng thuyết phục trong hoạt động truyền thông (bao gồm nhiều loại hình truyền thông khác nhau), từ đó đối tượng thay đổi nhận thức,

Trang 35

thái độ và hành vi, theo quan điểm của William McGuire, cần phải trải qua nhiều bước khác nhau [20, tr 11] Các bước này là:

Bước 1: Tiếp cận thông điệp

Lúc này, nhà truyền thông bằng các phương tiện và các kênh truyền thông, tạo một môi trường truyền thông trong đó công chúng/ đối tượng có khả năng tiếp cận với thông điệp đã thiết kế Nói cách khác, đây là bước giới thiệu để tăng khả năng tiếp cận thông điệp trong các hoạt động truyền thông

Bước 2: Chú ý tới thông điệp

Sẽ mất khả năng tác động nếu công chúng tiếp cận thông điệp, nhưng

vì thông điệp kém hấp dấn nên họ bỏ qua Khả năng thuyết phục trong truyền thông chỉ có được khi nhà truyền thông có khả năng thu hút công chúng/ đối tượng để họ chú ý đến thông điệp

Bước 3: Có mối quan tâm hoặc mối liên hệ của cá nhân với thông điệp Nếu công chúng/đối tượng tìm thấy mối quan tâm hoặc liên quan đến nhu cầu, lợi ích, sở thích, thói quen… của họ, họ sẽ tiếp tục bị “dẫn dắt” để chịu tác động của truyền thông

Bước 4: Hiểu thông điệp

Đây là giai đoạn trong đó đối tượng/ công chúng nhận thức để hiểu thông điệp Bước 5: Cá nhân hóa điều chỉnh hành vi phù hợp với đời sống

Các đối tượng tiếp nhận suy nghĩ kỹ hơn về thông điệp Họ liên hệ với những vấn đề liên quan đến đời sống của chính họ Khi đó, nội dung thông điệp đã bắt đầu có tác dụng điều chỉnh suy nghĩ và định hướng hành vi của từng cá nhân

Bước 6: Chấp nhận thay đổi

Chấp nhận thay đổi (nhận thức và hành vi, thái độ) là một bước ngoặt quan trọng trong kết quả của chiến dịch truyền thông Nhà truyền thông cần

Trang 36

chủ động chú ý theo dõi, quan sát và chọn thời điểm “bấm nút” cho bước chuyển đổi này thì hiệu lực, hiệu quả truyền thông sẽ cao hơn

Bước 7: Ghi nhớ thông điệp và không ngừng ủng hộ thông điệp

Khi đối tượng/ công chúng đã chấp nhận sự thay đổi hành vi, tiếp theo

mà nhà truyền thông cần làm để thuyết phục được họ là phải làm cho họ ghi nhớ thông điệp và không ngừng ủng hộ thông điệp Các nhóm tài liệu, các hoạt động truyền thông trong giai đoạn này cần đa dạng, phong phú, độc đáo,

cụ thể, phù hợp với từng nhóm đối tượng

Bước 8: Có khả năng tư duy về thông điệp

Việc chuyển đổi tận gốc thái độ và hành vi liên quan đến lĩnh vực truyền thông phụ thuộc vào việc đối tượng/ công chúng tư duy về thông điệp như thế nào

Các tài liệu, các sản phẩm truyền thông, thông qua các kênh truyền thông khác nhau, phải chú ý khuyến khích, kích thích khả năng tư duy về thông điệp cho đối tượng/ công chúng, định hướng quá trình tư duy về thông điệp

Bước 9: Ra quyết định trên cơ sở tiếp thu thông điệp

Trên cơ sở tiếp thu thông điệp, chuyển đổi tận gốc thái độ (dựa trên cơ

sở hiểu biết và tư duy thông điệp), đối tượng/công chúng là người ra quyết định cho chính họ về việc chuyển đổi hành vi gì, mức độ nào và như thế nào

Bước 10: Tích cực củng cố hành vi và chấp nhận hành vi trong đời sống Hành vi của đối tượng/ công chúng đã biến đổi, nhưng nếu không được củng cố, nhất là không được dư luận xã hội hỗ trợ, củng cố thì nó chỉ thay đổi vài lần rồi dừng lại Truyền thông trong giai đoạn này hướng vào việc khẳng định tính đúng đắn của hành vi, nêu kết quả tích cực, các mô hình, điển hình

có thực hiện các hành vi mong muốn thay đổi, từ đó, tác động đến đối tượng/

Trang 37

công chúng, giúp cho họ thường xuyên duy trì và củng cố hành vi, là cơ sở cho sự biến đổi hành vi có tính bền vững

1.2.4 Mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng

1.2.4.1 Đặc điểm của mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng

Dựa trên những khái niệm đã nghiên cứu, chúng tôi xây dựng một mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng như sau:

Truyền thông dựa vào cộng đồng trong phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em được thực hiện dựa trên sự liên kết các nguồn lực, các thành phần,

tổ chức tham gia truyền thông trong cộng đồng Đó là chính quyền địa phương, các đoàn thể, tổ chức, nhà trường, doanh nghiệp, nhà thờ và toàn

thể người dân trong cộng đồng

Truyền thông dựa vào cộng đồng thực hiện dựa trên sinh hoạt lồng ghép với họp cộng đồng Đó là hình thức truyền thông lồng ghép nội dung huy động sự tham gia của gia đình - nhà trường - cộng đồng vào các cuộc họp định kỳ, các sự kiện, lễ hội lớn của cộng đồng

Truyền thông dựa vào cộng đồng lấy người dân là mục tiêu tổng quan nhất của mô hình, đó là những người dân sinh sống tại địa phương Họ không chỉ là người tham gia các hoạt động truyền thông mà còn có quyền quyết định các hình thức vận động truyền thông, xây dựng nguồn lực truyền thông Người dân không chỉ phải có trách nhiệm trong các hoạt động truyền thông mình đảm nhận mà còn có quyền đưa ra các quyết định quan trọng nhằm phát triển các hoạt động truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em địa phương nhưng cũng là cho chính con em của họ Điều này có tác động định hướng cho cách thức hoạt động của mô hình

Mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng trong phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em không tạo ra những tổ chức, cơ quan mới nhưng dựa trên

cơ cấu hiện hành để tồn tại Xã là một đơn vị hành chính thấp nhất, là tập hợp

Trang 38

một cộng đồng người được thừa nhận là cùng chung sống trên một khu vực cụ thể và có quyền bầu ra cơ quan hành chính làm đại diện cho quyền lợi của cộng đồng để quán lý điều hành công việc chung Uỷ ban nhân dân xã đóng vai trò quan trọng, tích cực và có khả năng để vận hành mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng, các đoàn thể trực thuộc ủy ban tham gia vào mô hình truyền thông, đóng vai trò nguồn lực tích cực, bền vững Đó là việc truyền thông dựa vào cộng đồng được thực hiện thông qua sự liên hệ và thống nhất

kế hoạch với trưởng thôn, những người đứng đầu các tổ chức xã hội trong cộng đồng để xác định cụ thể thời gian, địa điểm của mỗi sự kiện và lựa chọn nội dung phù hợp với yêu cầu của sự kiện đó

Liên hệ với nhà trường, hội phụ huynh, hội khuyến học và cán bộ làm công tác truyền thông của địa phương để nắm bắt thông tin chung về nội dung, phương thức truyền thông, những nguồn lực chính tham gia vào quá trình truyền thông

Tiến hành phân công công việc cụ thể cho nhóm tuyên truyền viên:

Ai làm tổ chức, ai điều hành buổi sinh hoạt, ai chuẩn bị phương tiện, tài liệu truyền thông, ai chịu trách nhiệm văn nghệ giải trí…

Truyền thông dựa vào cộng đồng trong phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em có thể tóm tắt theo sơ đồ như sau:

Người truyền thông

Người làm đầu mối liên kết

Thông điệp truyền thông

Cộng đồng thu nhận Tình huống truyền thông

Trang 39

1.2.4.2 Nguyên tắc của truyền thông dựa vào cộng đồng

Nguyên tắc người truyền thông

Người truyền thông là những người nổi bật từ các tiểu hệ thống trong

cộng đồng, có kiến thức, thái độ, kỹ năng, yếu tố xã hội và văn hóa,

Đặc điểm là truyền thông dựa vào cộng đồng, do vậy, người truyền thông ngoài những kĩ năng cần thiết trên, cần là người hòa đồng, thân thiện, nhạy bén trước các tình huống, phải là người hiểu dân, gần dân, biết lắng nghe và chia sẻ để có sự trao đổi thông tin hai chiều Là người có tiếng nói quyết định, thông thường có thể lựa chọn họ từ những đảng viên ưu tú, cựu chiến binh, các trưởng họ, trưởng thôn, trưởng các hội đoàn thể… trong cộng đồng Họ đều là những cá nhân, người đứng đầu của một tổ chức, do đó để tập hợp thành một khối liên kết cần đến vai trò của một người làm đầu mối, đảm đương trách nhiệm tổ chức, điều hành, giao việc chung

Nguyên tắc người làm đầu mối liên kết

Người làm đầu mối liên kết của truyền thông dựa vào cộng đồng là người

có uy tín trong cộng đồng, được cộng đồng thừa nhận và ủng hộ, là người đại diện cho cộng đồng trong việc quyết định các công việc mang tính cộng đồng

Thông qua người làm đầu mối liên kết để thu hút, tập hợp các tổ chức chính trị, xã hội trong cộng đồng, tạo thành mối liên kết vững chắc trong việc truyền thông, đảm bảo được tính tổ chức, tính thống nhất và tính đoàn kết cao

Nguyên tắc thông điệp truyền thông

Thông điệp: là nội dung thông tin được chia sẻ, trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Thông điệp chính là những thông tin, kiến thức, dữ liệu, tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức, khoa học, kỹ thuật được mã hóa theo một hệ thống ký hiệu nào đó Hệ thống này phải được cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và cùng có chung cách hiểu- tức là có khả năng giải mã Tiếng nói, chữ viết, hệ

Trang 40

thống biển báo, hình ảnh,cử chỉ biểu đạt của con người được sử dụng để chuyển tải thông điệp

Trong truyền thông dựa vào cộng đồng, đựa trên những nguyên tắc trên, thông điệp truyền thông phải cần rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ đề cập đến nội dung chính cần truyền thông, tránh lan man, phân tán sự chú ý của người tiếp nhận Mặt khác, phải loại bỏ những từ thừa và lặp lại, không liên quan đến nội dung truyền thông; đi đúng vào vấn đề mà cộng đồng đang quan tâm, đang hướng tới, đem đến lợi ích thực sự cho cộng đồng

Trong truyền thông dựa vào cộng đồng, thông điệp truyền thông phải luôn ở thể chủ động và luôn phải phát biểu vấn đề theo hướng tích cực, phải

có sự sáng tạo, hiểu rõ và phù hợp với đối tượng người nghe, hiểu rõ nhu cầu của họ, đặc biệt phải phù hợp với văn hóa của cộng đồng

Nguyên tắc tình huống truyền thông

Tình huống truyền thông là địa điểm nơi diễn ra hoạt động truyền thông dựa vào cộng đồng Bằng việc thông qua các sự kiện lớn trong cộng đồng, phối hợp liên kết các tổ chức, đoàn thể để xây dựng nên tình huống truyền thông phù hợp với nhận thức, văn hóa của cộng đồng tiếp nhận

Nguyên tắc cộng đồng thu nhận

Cộng đồng thu nhận thông điệp truyền thông là các cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông Hiệu quả của truyền thông được xem xét trên cơ sở những biến đổi về nhận thức, thái độ, hành vi của đối tượng tiếp nhận cùng những hiệu ứng xã hội do truyền thông đem lại

Truyền thông dựa vào cộng đồng không phải là truyền thông giữa hai

cá nhân, mà truyền thông mục đích để cộng đồng nghe nhiều nhất, hiểu, tiếp nhận và hành động theo nhiều nhất, hiệu quả nhất cho nên đối tượng phải là toàn dân trong cộng đồng do đó chúng tôi phải tổ chức truyền thông trong các

sự kiện lớn

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w