Mức độ bạo lực là thước đo về sự bất bình đẳng xã hội và là một trong những chí số quan trọng về địa vị của người phụ nữ trong gia đình và xã Theo số liệu của nhiều nước, bạo lực trong g
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VÃN
TRỊNH THỊ VÂN ANH
THÁI ĐỘ CỦA PHỤ N ữ TRƯỚC HÀNH VI
Chuyên ngành: TÂM LÝ HỢC
MÃ SỐ: 5.06.02
LUẬN VẢN THẠC s ĩ KHOA HỌC TÂM LÝ
Người hướng dẫn khoa học: PÍỈS.TS Lẻ Đức Piiúc
HÀ NỘI - 2006
Trang 2Em xin chán thành cấm ơn Phó giáo sư, Tiến sĩ Lè Đức Phúc đã tận
tình chỉ háo và hướng dân em tronịỉ suốt quá trình lủm Luận văn.
Em cùng xin bày tỏ lờtiịi biết ơn sâu sắc tới các thầy rô ỊỊÌáo trong
K hoa Tâm lý học - Trường Đ ại học K h oa học x ã hội và nhân văn - Đ ại học Quốc gio Hà N ội đ ã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cm trong suốt nua
trình học tập và làm Luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chăn thành cảm ơn các ch ị ph ụ nữ, các đồn g ch í cảnh sát khu vực phường N h ân chính và phư ờng K ìiu tm g M ai thuộc quận Thanh Xuân, Thành phô Hà Nội; Các đồng chí trong tí ộ môn Khoa học Chính trị - X ã hội, Trường T ru n g học Cảnh sá t nhân dân ỉ đ ã giúp d ỡ tôi hoàn thành ban Luận văn này.
Hà Nội, 2006
Tác giá
Trịnh Thị VAn Anh
t
Trang 4Trang
PHẨN MỞ ĐẨU
CHƯƠNG 1 C ơ SỞ LÝ LUẬN
CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u
Trang 53.2.1 Nguyôn nhân chủ quan 94
Trang 61 Lý do chọn để tài
Bạo lực đối với phụ nữ là một hiện tượng xảy ra ứ hầu khắp các nơi trên thế giới, trong mọi nền văn hoá, ở mọi đẳng cấp xã hội Trong tất cả các dạng bạo lực đối với phụ nữ thì bạo lực gia đình có tính chất nhạy cảm hơn cả Đây
là một hành vi vi phạm quyền con người Nó gây đau khổ cho nhiều phụ nữ, ánh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển và là một cản trở lớn đối với sự tiến
bộ của xã hội Mức độ bạo lực là thước đo về sự bất bình đẳng xã hội và là một trong những chí số quan trọng về địa vị của người phụ nữ trong gia đình và xã
Theo số liệu của nhiều nước, bạo lực trong gia đình chiếm một tỷ lệ tương đối cao trong tất cả các loại bạo lực chống lại phụ nữ Các nghiên cứu định tính
và định lượng từ 35 nước đã chứng minh rằng có khoảng từ 20% đến trên 50% phụ nữ ở các nước này đã bị chổng đánh đập (Hesei, Pitanguy và Germain, 1994) Ở Mỹ, trên 6 triệu phụ nữ cho biết họ là nạn nhân của bạo lực trong gia đình (John, 1995) ở Peru có khoảng 70% tội phạm được báo cho cảnh sát là chồng đánh đập vợ (Whittaker, 1995) ở Nhật Ban, 59% trong số phụ nữ được phỏng vấn đã khai là bị chồng đánh đập (M.Whittaker, 1995) Là một quốc gia Hồi giáo, Malaixia đã ban hành luật phòng chống bạo lực phụ nữ trong gia đình (1994) Tuy nhiên, cũng như ở nhiều nước, số lượng bạo lực phụ nữ chưa giảm và đa số nạn nhân không đến báo cáo canh sát Tại Canada, tuy là một đất nước rất phát triển, song gia đình chưa hẳn đã là nơi thực sự an toàn cho phụ nữ
và trỏ em Có 25% phụ nữ bị bạo lực do chính người chồng hiện tại hay đã ly dị gây ra Năm 1991, ở Canada có 85 nam giết vợ, nhưng ước tính chỉ có 30% số
vụ vi phạm được báo cáo với cảnh sát (Tài liệu của Hội thảo quốc gia “Đại bicu dân cử và chính sách xoá bỏ bạo lực với phụ nữ” của Quốc hội 2/2002)
Tổ chức Y tế thế giới(WHO) ước tính cứ 5 phụ nữ thì có ít nhất 1 người phải trải qua một dạng bạo lực giới nào đó trong đời họ và bạo lực giới là nguyên nhân thứ 10 gây ra lử vong của người phụ nữ ở độ tuổi từ 15 - 44 Sự gia tăng và mức độ nghiêm trọng của bạo lực đối với phụ nữ đã khiến nhiều tổ
Trang 7chức quốc tế đang đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ quan tâm, lo lắng Các
tổ chức phụ nữ trên thế giới coi bạo lực đối với phụ nữ như một vấn đề ưu tiên, cán xem xét trong thập kỷ quốc tế phụ nữ được bắt đầu từ 1975
ở Việt Nam, bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình đang xảy ra khá phổ biến
ở khắp các tính, thành trong cá nước Nó diễn ra ở mọi vùng, cả ở đô thị lẫn nông
thôn và ở trong các gia đình thuộc mọi mức thu nhập khác nhau.
Là một chủ đề rất nhạy cảm, liên quan đến những nỗi đau thầm kín trong cuộc sống ricng tư của người phụ nữ, bạo lực giới, đặc biệt là bạo lực trong gia đình dường như bị che giấu và chỉ mới được đề cập đến gần đây một cách công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam Cũng như các nước khác trên thế giới, Việt Nam chưa có số liệu đầy đủ về bạo lực giới Tuy nhiên,
từ các nguồn số liệu khác nhau có thể nói ngược đãi phụ nữ có xu hướng tăng lên Người phụ nữ thuộc mọi tầng lớp xã hội đều có thể là nạn nhân của những dạng bạo lực khác nhau như: Thể chất, tinh thần, tình dục, kinh tế và xã hội trong những khoảng thời gian tương đối dài của cuộc sống hôn nhân của họ (Hội đồng dân số 2000)
Theo thống kê của Toà án nhân dân tối cao thì hiện tượng này ngày càng gia tăng Trước năm 1986, số vụ giết người là 1000 thì giết người do bạo lực trong gia đình chiếm 5 - 7% Từ sau năm 1987, tình trạng này trở nên đáng lo ngại hơn Chí tính riêng năm 2001, trong số 11000 vụ giết người thì có tới 16%
số vụ do bạo lực gia đình
Mặc dù không muốn, phụ nữ đã phải tìm đến ly hôn như một giải pháp trốn chạy Số liệu toà án tối cao cho thấy tỷ lệ ly hôn do phụ nữ bị ngược đãi chiếm gần 60% trong tổng số vụ ly hôn và có xu hướng ngày càng tăng Số liệu của một tung tâm tư vấn tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy chủ đề liên quan đến bạo lực trong gia đình chiếm khoang gần 30% các cuộc gọi đến tư vấn Tỷ
lệ này ở đường dây tư vấn tâm lý tình cảm của Hà Nội chiếm khoảng 1/4 số các cuộc gọi đến (Hội đồng dân số, 2000)
Hình thức bạo lực gia đình phổ biến nhất là bạo lực của chồng đối với vợ bao gồm các hành vi đánh đập, chửi mắng, cấm đoán, cưỡng ép quan hệ tình dục hoặc cưỡng ép đẻ thêm con Kết quá nghiên cứu của Hội Licn hiệp phụ
Trang 8lữ Việt Nam đẩu năm 2001, tại Thái Bình, Lạng Sơn và Tiền Giang cho thấy
;ó tới hơn 40% phụ nữ trong mẫu khảo sát đã từng bị chồng đánh đập hay chửi nắng Đặc biệ4 theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới do các chuyên gia
;ủa Viện Xã hội học tiến hành tháng 11/1999 thì tỷ lệ phần trăm những phụ nữ
T o n g mẫu đ ã t ừ n g chịu s ự ngược đ ã i trong 1 2 t h á n g trước t h ờ i điểm điều t r a
chiếm hơn 80% Số phụ nữ bị chồng mắng chửi trong năm 1999 là gần 70%, bị chồng cấm đoán là gần 10%, bị chồng đánh là gần 15% và bị chồng cưỡng ép
âm tình là gần 20% (Báo cáo của Vũ Mạnh Lợi "Ai có nguy cơ bị chổng ngược
lãi ”, Hội thảo truyền thông, giáo dục phòng chống bạo lực đối với phụ nữ, Hà
Vộ/ ngày 28/12/2000).
Mới đây nhất, theo Tạp chí “Gia đình - Hạnh phúc - Lứa đôi” (số 23, năm 1005), chỉ tính từ tháng 06/2002 đến 05/2005 ở huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội đã xảy ra 185 trường hợp bị bạo lực trong gia đình Trong đó có 185 nạn ihân bị bạo lực về tinh thần, 184 nạn nhân bị bạo lực về thể xác, 35 nạn nhân
\Ị bạo lực về tình dục Kẻ gây ra bạo lực là người chồng chiếm 90,3% Người
ụ bạo lực nhiều nhất là nữ nông dân (37%) Có trường hợp chị Mai Thị Lý, 47 tiổi, bị chồng ngược đãi suốt 22 năm trời với 4 lần chồng đánh gẫy chân Lần cuối tháng 07/2004, chồng đã nhốt chị trong nhà đánh đập liên tiếp, không cho
ìn uống Rất may, chị đã được bệnh viện cấp cứu kịp thời
Hay tại Hội thảo bạo lực gia đình - kinh nghiệm và giải pháp do tổ chức Action Aid kết hợp với Trung tâm nghiên cứu giới và phát triển tổ chức, chị Hoàng Thị Sen(Thái Bình) đã bộc bạch: Chồng chị là người có học thức, có địa
\Ị xã hội Sau đám cưới chồng chị bắt nghỉ làm lo chuyện gia đình, anh không
tiễn ra ngoài cuộc sống vì không được đọc báo, không được tiếp xúc với nhiều Igười Suốt 19 năm, tôi cam chịu cuộc sống mất quyền làm người và nín nhịn tước những trận đòn vô cớ để mong có một cuộc sống gia đình bình yênlTôi kiông muốn ông xã mang tiếng bạo ngược mà ánh hưởng đến địa vị Trong
nột lần cáu giận ờ cơ quan, chồng tôi về nhà mắng mỏ vợ, tôi cãi lại Chồng tôi
r3i khùng đã khoá cổng và lôi tôi vào trong nhà đánh đập Anh ấy đánh tôi dã nan đốn mức đáu tôi bị vỡ cháy bê bốt máu, đuôi mắt bị rách và gẫy cột sống
Trang 9Không chịu nổi, tôi đã cố lê lết trốn về nhà ngoại và sống ly thân 2 năm nay Hôm nay, lần đầu tiên sau 19 năm tôi được ra ngoài xã hội, đưực tiếp xúc với nhiều người Tôi mong các cơ quan, tổ chức hãy giúp tôi được ly hôn và cứu
giúp những người phụ nữ bị ngược đãi như tôi ”
Tất cả các tình trạng trcn do nhiều nguyên nhân gáy ra, nhưng nguồn gốc vẫn là vì thiếu hiểu biết, hiểu lệch lạc về giới và bình đẳng giới, cũng như vai trò, chức năng, cách xử sự trong giao tiếp giữa người vợ và người chồng; tư tưởng trọng nam khinh nữ vãn đang tồn tại trong xã hội; do truyền thống, đạo
lý và các vụ xâm phạm thân thể cũng như hành vi của họ ngược đãi vợ trong gia đình thường được che giấu Ở một số nơi, chính quyền địa phương, cơ quan pháp luật Nhà nước còn cho rằng bạo lực với phụ nữ trong gia đình chỉ là việc dân sự, không phải là hình sự, để cho các cặp vợ chồng tự giải quyết hoặc nếu
có, chỉ được họ hoà giải v.v
Hiến pháp mới của nước ta đã quy định: “Mọi công dân đều có quyền bình đẳng trước pháp luật” (Điều 52), “Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối
xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ” (Điều 63), “Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân” (Điều 70) Những quy định này của Hiến pháp đã được cụ thể hoá thành nhiều điều trong các Bộ luật Hình sự, Dân sự, Tố tụng hình sự, Lao động, Luật hôn nhân và gia đình, Pháp luật xử phạt vi phạm hành chính và nhiều văn bản pháp luật khác Điều đó đã tạo ra công cụ pháp lý đủ mạnh và nghiêm khắc để xoá nạn bạo lực phụ nữ Như vậy, pháp luật đã góp phần xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong các vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình trên cơ sở binh đẳng nam nữ
Song trên thực tế, ở nơi này hay nơi khác, tinh trạng vi phạm các quyền của phụ nữ và trẻ cm vẫn chưa giảm Trong gia đình cũng như ngoài xã hội đã
có không ít các vi phạm, luật pháp nói chung cũng như Luật hôn nhân và gia đình nói riêng chưa có sự điều chỉnh hợp lý, kịp thời Vì vậy, nó chưa thực sự là tấm lá chắn báo vệ thiết thực cho những phụ nữ lâm nạn Hầu hết các trường hợp bạo lực gia đình vẫn bị coi là vấn đề riêng của gia đình, cá nhân và chỉ được pháp luật can thiệp khi hành vi đó cứ lặp đi lặp lại và kết thúc bằng việc
Trang 10ly hôn hay trở thành vụ án hình sự Mặt khác, nhận thức và hành vi của người dân nói chung, của phụ nữ nói riêng về bạo lực đối với phụ nữ vẫn là một vấn
đề thời sự Hiện nay, mặc dù bạo lực giới bắt đầu được nhận thức như một vấn
đề xã hội và thu hút được sự quan tâm của các cấp chính quycn, tổ chức quần chúng nhung vẫn còn ít các tổ chức tham gia vào cuộc đấu tranh để giải quyết vấn đề này Sự can thiệp chủ yếu vẫn chỉ diẻn ra ở góc độ tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng Tuy các hoạt động này mới chỉ ở giai đoạn bắt đầu nhưng cũng đã cho thấy thiếu sự phối hợp giữa các ban ngành có liên quan Đặc biệt cho đến nay, trôn lĩnh vực Tâm lý học mới chỉ có một vài luận văn nghiên cứu về nhận thức, thái độ của thanh niên, sinh viên trước tình trạng bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình Song, chúng tôi muốn tìm hiểu chính thái độ của những người trong cuộc - những người mà trực tiếp bị đối xử bằng những hành vi bạo lực
Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn và tầm quan trọng của vấn đề đó, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là “Thái độ của phụ nữ trước hành vi bạo lực đối với
phụ nữ trong gia đình”.
2 Mục đích nghiên cứu
Điều tra thực trạng thái độ của chính phụ nữ trước hành vi bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình hiện nay
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tií(mg nghiên cứu: Thái độ của phụ nữ trước hành vi bạo lực đối
với phụ nữ trong gia đình
3.2 Khách th ể nghiên cứu: Nghiên cứu trên một mẫu gồm 200 phụ nữ
của một số phường thuộc quận Thanh Xuân, Hà Nội, phỏng vấn trực tiếp 6 cán
bộ tư vấn, 10 khách hàng gọi điện tư vấn trực tiếp và có hồ sơ được lun tại Trung tâm
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và phương pháp có liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu thái độ của phụ nữ trước hành vi bạo lực đối với phụ nữ
trons, aia đình và phân tích nguyên nhàn của thực trạng đó.
Trang 11- Đề xuất kiến nghị góp phần hình thành thúi độ đúng đắn, tích cực ỏ phụ
nữ đối với tình trạng bạo lực hiện nay
5 Giả thuyết khoa học
- Phụ nữ chưa thực sự có thái độ đúng mức và kịp thời trước hành vi bạolực của chồng đối với vợ trong gia đình
- Nếu nghiên cứu và biết được nguyên nhân của thực trạng trên thì sẽ đưa
ra được những kiến nghị về biện pháp phòng ngừa và khắc phục tình trạng bạo
lực.
6 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng thái độ của phụ nữ trước hành vi bạo lực của chồng
A
7 Phưưng pháp nghiên cứu:
7.1 Phương pháp nghiên cứu vãn bản, tài liệu.
- Mục đích: Tham khảo để xây dựng cơ sở lý luận và phương pháp nghiêncứu đề tài
- Cách tiến hành: Sưu tầm và đọc những nguồn tài liệu nghiên cứu về thái
độ, bạo lực, bạo lực đối với phụ nữ, bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình Kết hợp đọc một số luận văn đã bảo vệ trước đó về vấn đề trên để tham khảo thêm
về phương pháp nghiên cứu, thấy được mặt ưu và mặt hạn chế của các luận văn, trcn cư sở đó bổ sung cho đề tài của mình
- Nguyên tắc: Quan sát tự nhiên
7.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (phương pháp chính).
- Mục đích: Nghiên cứu thực trạng thái độ của phụ nữ về hành vi bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình
- Việc thiết kế bảng hỏi dựa vào các chí báo, thang đo thái độ đã dược sử dụng trong nghicn cứu thái độ ở trong và ngoài nước thông qua các dấu hiệu về
Trang 12nhận thức, xúc cảm, hành vi Bảng hỏi bao gồm các câu hỏi đóng, mớ và kết hợp giữa hai loại trên.
7.4 Phương pháp trờ chuyện, phóng ván, đàm thoại.
- Mục đích: Tim hiểu rõ hơn về thái độ của phụ nữ trước hành vi bạo lực
dối với phụ nữ trong gia đình hiện nay, đồng thời thu thập thêm thông tin để hỗ trợ cho các phương pháp nghiên cứu khác
- Cách tiến hành: Tiếp xúc trao đổi tự nhiên dựa trên nội dung của bảng hỏi Trong khi trò chuyện, phỏng vấn, đàm thoại, nắm bắt và ghi lại các biểu hiện, càu trả lời của phụ nữ
7.5 Nghiên cứu hồ sơ khách hàng.
Thông qua hồ sơ khách hàng tại Trung tâm tư vấn Hạnh phúc Gia đinh để tìm hiểu thái độ của phụ nữ gọi điện đến có liên quan đến bạo lực đối với họ trong gia đình
7.6 Phương pháp thông kẻ toán học.
Sử dụng phương pháp này để xử lý phiếu điều tra nhằm thu thập một số tài liệu về mặt định lượng cho những biểu hiện định tính qua phiếu điều tra thực trạng thái độ của phụ nữ trước hành vi bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình
Trang 13đã đưa ra nhận định: Thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với một giá trị nào đó.
Từ công trình khởi đầu này, nhiều nghiên cứu về thái độ đã bùng nổ P.N.Sikhirev, nhà tàm lý học xã hội Liên Xô(cũ) đã chia lịch sử nghiên cứu thái
độ ở phương Tây ra làm ba thời kỳ chính(5:174,175):
hai Ớ giai đoạn này, các công trinh nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nghiên cứu định nghĩa, cấu trúc, chức năng của thái độ và mối quan hệ của nó với hành vi Công trình nghiên cứu thực nghiệm gây chú ý trong giai đoạn này là
sự phát hiện ra “nghịch lý La Piere”, biểu thị sự không nhất quán giữa phản ứng bằng lời nói tỏ thái độ và hành vi
- Thời kỳ thứ hai kéo dài từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến cuối
những năm 1950 Thời kỳ này, các nghicn cứu về thái độ tập trung chủ yếu tìm hiểu, lý giải những hoài nghi về vai trò của thái độ trong việc chi phối hành vi
Vì nhiều lý do chủ quan và khách quan như do chiến tranh, do bế tắc trong việc ]ý giải các nghịch lý nảy sinh trong quá trình nghiên cứu, nên số lượng các công trình nghicn cứu về thái độ ở thời kỳ này có sự giảm sút một cách đáng
kể Tuy nhiên, trong giai đoạn nghiên cứu này cũng đã nổi lên những tên tuổi như R.A Likert, Sank, G.w.Allport, Crechphend, J.Bruner, v.v
- Thời kỳ t h ứ ba (ừ cuối những năm 1950 đến nay Có thể nói đây là thời
kỳ bùng nổ của những nghicn cứu về thái độ ở phương Tây Trong tâm lý học
Trang 14xã hội vấn ítc thái độ có một vị trí xứng đáng Vấn đề thường được đé cập trong các nghiên cứu ở giai đoạn này là những quan niệm mới về định nghĩa thái độ, cấu trúc và chức năng của nó Cũng ở thời kỳ này, nhiều thuyết đã được hình thành làm cơ sở lý luận đê lý giải quan hệ như thuyết bất đồng nhận thức giữa thái độ và hành vi(Leon Festinger), thuyết “tự thê hiện”, thuyết tự tri giác(Parye Beny); các phương pháp nghiên cứu sự hình thành và thay đổi thái
độ như: thang đo thái độ(The F scale - thang đo F) đo các quan điểm phátxít, thang đo quan điểm giáo điều(The Dogmatism Scale); phương pháp đo thái độ gián tiếp qua các chỉ số sinh lý như phương pháp điện cơ mặt và các kỹ thuật nghiên cứu thái độ như kỹ thuật “Đường ống giả vờ”( the bogus pipeline) hay
kỷ thuật lấn từng bước(foot in the door) v.v
Nhìn chung, xu thế trong các nghiên cứu về thái độ ở phương Tây là nhằm giải quyết những vấn đề trong thực tiễn như: vận động tranh cử, bầu cử, tiếp thị, tuyên truyền, bảo vệ môi trường, chữa bệnh v.v cũng như việc nghiên cứu các dạng thái độ đã định hình sẵn để có thể dự báo hành vi của cá nhân khi họ vấp phải các trở ngại, khó khăn
1.1.1.2 Ở Liên Xô trước đây
Vấn đề thái độ được nghiên cứu khá sớm ở Liên Xô Người đầu tiên đặt
ra vấn đề thái độ khi nghiên cứu tính cách là A Ph Lazuski Ông nêu ra quan niệm về thái độ trong các nghiên cứu như: Bài viết về năng lực (1909); Công trình nghiên cứu nhân cách trong quan hệ với môi trường (1912); Phân loại nhân cách (1917 - 1924); Bút ký khoa học về tính cách (1916) Theo ông, thái
độ là khía cạnh quan trọng của nhân cách (13:489)
Tiếp theo đó, dựa trcn các nghiên cứu của A.Ph Lazuski và lập trường của tâm lý học mácxít, V.N.Miasixev (1892 - 1973) đã xây dựng “Học thuyết thái
độ nhàn cách” Trong học thuyết này, ông không chỉ nghiên cứu khái niệm, phân loại thái độ mà còn đưa ra thông số đo thúi độ với các chỉ số khác nhau, đồng thời khẳng định cư sở sinh lý học của thái độ có ý thức của con người là phán xạ có điều kiện Ông là một trong những người đặt nền móng cho tâm lý học thái độ theo quan điểm mác xít
Trang 15Thuyết “tâm thế xã hội ” của D.N Uznadze cũng đã góp phần tích cực vào việc nghiên cứu thái độ của các nhà tâm lý học Liên Xô Theo Uznadze, thái độ (tâm thế) là trạng thái vô thức xuất hiện khi có sự gặp gỡ của nhu cầu và hoàn cảnh thoả mãn nhu cầu, quy định xu hướng biểu hiện của tâm lý và hành vi của con người, giúp con người thích ứng với điều kiện bên ngoài Từ đây, có thể khẳng định tâm thế xã hội là một yếu tố hình thành hành vi xã hội của nhân cách, được thể hiện dưới hình thức thái độ của nhân cách với các điều kiện hoạt động của nó.
Chính cách tiếp cận, xem xét khái niệm tâm thế theo D N Uznadze đã giúp cho việc xác định nghiên cứu tâm thế xã hội - thái độ trong tâm lý học xã hội ở Liên Xô trước đây được đặt trong bối cảnh khả quan
Trong những năm cuối của thế kỷ XX, khi nghiên cứu nhân cách như là một phạm trù cơ bản của tâm lý học, B Ph Lomov đã đề cập đến khái niệm thái độ chủ quan của nhân cách Khái niệm này gần giống như các khái niệm
“tâm thể”, “ý cá nhân”, “attitude” Thái độ chủ quan có tính chất nhiều chiều, nhiều tầng và cơ động Thái độ chủ quan tuy là thuộc tính tương đối ổn định, phản ánh lập trường của cá nhân với hiện thực khách quan nhưng cũng có thay đổi Sự thay đổi vị trí khách quan của mỗi cá nhân trong xã hội đòi hỏi phải có
sự đổi mới thái độ chủ quan của nó Cơ sở khoa học của thái độ chủ quan là các quan hệ xã hội, phương thức hình thành là thông qua hoạt động và giao tiếp.Một số nghiên cứu về thái độ đã được các nhà tâm lý học Liên Xô tiến hành dưới dạng thực nghiệm như: (5:174)
- Sự tác động qua lại của thái độ của các cá nhân trong nhóm, nhân cách
Trang 16chỉnh hành vi xã hội và hoạt động cá nhân.
1.1.1.3 Ở Việt Nam
Những năm gần đây, vấn đề thái độ được quan tâm nghiên cứu nhiều Các nghiên cứu này phẩn lớn dựa trên hệ thống lí luận về thái độ của tâm lí học Liên Xô Có thể kể đến một số đề tài nghiên cứu mang tính thực tiễn như:
- Nghiên cứu thái độ học tập của Thanh niên đại học An ninh nhân dân - Nguyễn Đức Hưởng(Luận văn Thạc sĩ tâm lí hoc ; 1998)
- Nghiên cứu sự tự đánh giá phù hợp về thái độ hoc toán của sinh viên Cao đẳng sư phạm Hà Nội - Đào Lan Hương( Luận án Tiến sĩ Tâm lí học; 1999 )
- Thái độ đối với việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên Cao đắng sư phạm mầm non Thanh Hoá - Nguyễn Thị Hoa(Luận văn Thạc sĩ íâm lí học; 1999)
- Những điều kiện tâm lí - sư phạm của việc hình thành thái độ trách nhiệm ở học sinh thiếu niên trong hoạt động học tập và hoạt động ngoài giờ lên lớp - Nghiêm Thị Phiến( Luận án Tiến sĩ Tâm lí học; 2001)
- Thái độ học tập của cán bộ Trường đào tạo cán bộ thương mại TW - Nguyễn Thu Hà( Luận văn Thạc sĩ Tam lí học; 2002)
-Thái độ đối với quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên Học viện ngân hàng TPHCM - Lê Thị Linh Trang(Luận văn Thạc sĩ Tâm lí học;2002)
- Thái độ của sinh viên Trường đại học Luật đối với vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên - Chu Liên Anh(Luận văn Thạc sĩ Tâm lí học; 2003)
- Thái độ của thanh niên trước tình trạng baọ lực đối với phụ nữ trong gia dinh - Lý Thị Minh Hằng(Luận văn Thạc sĩ Tâm lí học; 2003)
- Thái độ của thanh niên sinh viên với vấn đề phòng chống ma tuý hiện nay - Lê Thu Hà(Luận văn Thạc sĩ Tâm lí học; 2004)
- Thái độ học tập của sinh viên Trường Đại học sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên - Lc Ngọc Phương(luận văn Thạc sĩ Tâm lí học; 2005)
- Thái độ kỳ thị của cán bộ làm công tác tuycn truycn đối với những người nhiễm HIV/A1DS - Đỗ Thị Thanh Hà(Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học; 2005)
Trang 17Ngoài ra còn nhiều luận văn, luận án tâm ií học cũng nghicn cứu về thái
độ Các tác giả này đã đóng góp đáng kể cho mảng đề tài về thái độ nói chung cũng như sự phong phú về đối tượng Tuy vậy, phần lớn các nghiên cứu này mới chí dừng lại ở quy mô nhỏ dưới dạng các luận án, luận văn và tập trung chủ yếu vào thái độ của học sinh, sinh vicn mà thôi
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu về BLPNGĐ
1.1.2.1.Trẽn thê giới
Vấn đề BLPNGĐ bắt đầu được nghiên cứu từ năm 1975, khi được coi như một vấn đề ưu tiên cần xem xét Gần ba thập kỷ qua, nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy tình trạng phụ nữ bị bạo lực trong gia đình ngày càng tăng Hầu hết các nghiên cứu này dựa trên sự phân tích số liệu từ các phòng cấp cứu bệnh viện hoặc sử dụng các kỹ thuật phân tích định tính để xem xét nguy cơ và bản chất của loại bạo lực này Cụ thể là một số nghiên cứu sau (Theo 7:9):
- Smith(Canađa;1987) điều tra ngẫu nhiên qua điện thoại phát hiện thấy trong số 604 phụ nữ độ tuổi 18->50 đã có chồng, có 36,4% bị hành hạ về thể chất
- Schei và Bakketeig(Na Uy; 1989) điều tra 150 phu nữ từ 20 đến 49 tuổi ở Trondheim thì có 25% bị chồng hành hạ về thể xác và tình dục
- Profami Lia(Colombia; 1990) nghiên cứu trên 3272 phụ nữ thành thị và
2118 phụ nữ nông thôn, thấy có 20% bị hành hạ về thể xác, 33% về tinh thần
và 10% về tình dục
- Shrader và Valdez Santiago(Mexico; 1992), nghiên cứu 342 phụ nữ có 33% sống trong mối quan hệ bạo lực và 6% bị hiếp trong hôn nhân Trong số những người bị hành hạ có 66% về thể xác, 76% về tâm lí và 21% về tinh dục
- Kim và Cho(Hàn Quốc; 1992) điều tra 707 phụ nữ, phát hiện có 37,5% phụ nữ bị chồng đánh trong đó 12,4% bị đánh nghiêm trọng
- Rao(Ân Độ; 1993) trong số 170 phụ nữ ở tuổi sinh con ở vùng nông thôn miền Nam Karnataka có 22% phụ nữ bị hành hạ về thể chất, số bị chồng đánh trung bình 2,65 lần/ tháng chiếm 12%
Trang 18- Năm 1993, một nhóm nghiên cứu bạo lực gia đình ở Nhật đã điều tra
thần là 65,7% và về tình dục là 59,4%
Nếu như trước 1993, phần lớn các chính phủ coi BLPNGĐ là vấn đề riêng tư(United Nation 1996) thì ngày nay, các nghiên cứu quốc tế đã cho thấy BLPNGĐ là hiện tượng có tính chất toàn thế giới, tác động trong khoảng 20% đến 50% số phụ nữ trên thế giới(WHO,1998)
BLPNGĐ đã trở thành một nội dung quan trọng trong Tuyên bố hành động của Hội phụ nữ thố giới lần thứ IV tại Bắc Kinh, 1995 và trong các văn bản của tổ chức Liên hiệp quốc
Từ ngày 4 đến 6 tháng 12/2001, tại Phnômpênh(Campuchia) đã diễn ra Hội nghị về Luật pháp chống BLPNGĐ ở vùng tiểu Mê Kông, Campuchia, Lào, Thái Lan, Việt Nam Hội nghị được tổ chức và tài trợ bởi một số tổ chức quốc tế lớn như: Diễn đàn Châu Á(Forum Asia) về quyền con người và phát triển; Diễn đàn Châu Á - Thái Bình Dương về phụ nữ; Luật pháp và phát trien(APWLD); Quỹ phát triển của Liên hiệp quoc(UNIFEM); Đại sứ quán Hà Lan tại Băng Côc
Hội nghị đã diễn ra với 5 mục tiêu sau:
- Tăng cường sự cải thiện về luật pháp cho sự tiến bộ về quyền con người của phụ nữ ở các nước Thái Lan, Lào, Campuchia,Việt Nam
- Xây dựng những hiểu biết chung về vấn đề bạo lực gia đình và khả năng của tùng nước trong việc phát triển các chiến lược kiểm soát bạo lực gia đình
- Xây dựng dự thảo khung pháp lí quốc gia về vấn đề bạo lực gia đình ở 4 nước
- Chia sẻ kinh nghiệm từ các tổ chức phi chính phủ ở một số nước đã đạt được các thành tích trong việc hỗ trợ pháp luật cho vấn đề bạo lực gia đình
- Thành lập mạng lưới thông tin giữa các cơ quan quốc hội, phòng, ban, cấp, ngành, các đoàn luật sư và các tổ chức phi chính phủ
- Hội nghị đã ne,he trình bày và thảo luận về các chủ đề như: Vấn đề khái niệm về bạo lực gia đình, vai trò của văn hoá và tôn giáo trong việc phòng chống bạo lực gia đình, hình thức, nguycn nhân của bạo lực gia đình, những
Trang 19thứ thách và chiến lược trong công tác phòng chống bạo lực gia đình, xây dựng
Hội nghị đã thống nhất trên một số vấn đề như:
- Bạo lực gia đình không phải là chuyện riêng của gia đình;
- Phụ nữ đang bị coi là phụ thuộc vào nam giới trên phạm vi toàn cầu
Hiện nay, ở nhiều nước Châu Á không chỉ văn hoá và tôn giáo đang tiếp tay
cho việc củng cố tình trạng bất bình đẳng nam nữ và khuyến khích bạo lực gia đình mà còn một số chính phủ, cảnh sát chưa có hoạt động tích cực ngăn chặn bạo lực gia đình vì coi đây là việc riêng của gia đình
Mặc dù vấn đề BLPNGĐ mới được đề cập đến và xem xét trong vài thập
kỷ gần đây nhưng cũng đã thu hút được sự quan tâm và nghiên cứu của nhiều
tổ chức cũng như cá nhân của nhiều nước trên thế giới Các kết quả nghiên cứu
đã chứng tỏ tính chất nghiêm trọng của tệ nạn này, đồng thời cho thấy các nguyên nhân, hình thức bạo lực khác nhau và sự ảnh hưởng của chúng đến sức khoẻ thể chất, tinh thần, tình dục Việc nghiên cứu đã góp phần giúp cho các nhà hoạch định chính sách, các thể chế xã hội ở mỗi nước có biện pháp giải quyết tình trạng này
1.1.2.2 Ở Việt Nam
Từ cuối những năm 1980, vấn đề binh đẳng giới đã được đề cập tới tại Việt Nam và nhanh chóng được các tổ chức xã hội quan tâm Đảng và Pháp luật luôn coi trọng vấn đề bình đẳng giới và hướng đến việc thúc đẩy sự phát triển của công tác này, cam kết một cách mạnh mẽ về công bằng xã hội, trong
đó có bình đẳng giới, với cộng đồng thế giới, góp phần tạo điều kiện cho phụ
nữ phát huy tốt vai trò xã hội của họ
Gần đây, BLPNGĐ ngày càng được rất nhiều người quan tâm Song, những công trình nghiên cứu về vấn đề này thì còn rất ít Có thể kể đến một số nghiên cứu như sau:
- Năm 1997 Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiến hành nghiên cứu về bạo lực gia đình Trong đó, các nhà nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp lấy từ báo chí và các cơ quan khác nhau tại 3 tinh Hà Nội, Hà Tây và Thái Bình làm cơ sở cho phân tích của họ Kết quá nghiên cứu cho thấy BLPNGĐ là khá phổ biến
Trang 20- Năm 1998 Hội đồng dân số Mỹ đã đưa ra báo cáo nghiên cứu trong khu vực Đỏng và Nam Á của Lê Thị Phương Mai - Cán bộ nghiên cứu về “Bạo lực
tập trung tìm hiểu về nguycn nhân và loại bạo lực, chủ yếu dựa vào các phỏng vấn phụ nữ đến tư vấn tại Trung tâm tư vấn ở Thành phố Hồ Chí Minh Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy BLPNGĐ có thể xẩy ra trong mọi gia đình và ở mọi tầng lớp xã hội.( 17)
Quý đã xác định 4 nguyên nhân của bạo lực với phụ nữ trong gia đình: Kinh tế, học vấn, các thói quen văn hoá xã hội và bệnh thần kinh của người có hành vi bạo lực Đồng thời, tác giả còn nêu rõ các hậu quả của nạn bạo lực (21)
học đã tiến hành nghiên cứu “Bạo lực trên cơ sở giới - trường hợp ở Việt Nam” Kết quả nghiên cứu cho rằng BLPNGĐ là một quá trình phức tạp, chịu ánh hưởng của nhiều yếu tố Tính nghiêm trọng và tần số của bạo lực là rất khó
- Năm 2005, Đỗ Hoàng - Trung tâm nghiên cứu về phụ nữ - Đại học quốc gia Hà Nội đã thực hiện đề tài “Lý thuyết giới phân tích từ góc độ tâm lý học
xã hội” Nghiên cứu này cũng có bàn về sự bất bình đẳng giới, nguyên nhân của sự bất bình đẳng, việc đấu tranh cho quyền lợi và sự công bằng của phụ nữ, xoá bỏ tình trạng bạo lực
Ngoài ra, còn một số nghiên cứu, báo cáo khác về vấn đề Nhìn chung, mỗi công trình đều phát hiện được những khía cạnh nhất định của tệ nạn này, góp phần làm rõ hơn tình trạng bạo lực và đưa ra các biện pháp giải quyết cụ thè Tuy nhiên, nghicn cứu về thái độ đối với BLPNGĐ chưa nhiều, đặc biệt là
Trang 21trong lĩnh vực tâm lý học Chưa có nghicn cứu nào được thực hiện trên lĩnh vực tâm lý học về thái độ của chính người phụ nữ - Người phái chịu sự bạo lực một cách trực tiếp.
1.2.1 Thái độ
1.2.1.1 Khái niệm “ Thái độ”
Có thể nói rằng, thái độ là thuật ngữ được sử dụng rất nhiều trong tâm lý học nói riêng và trong cuộc sống nói chung nhưng “khái niệm thái độ” thì tương đối phức tạp Thuật ngữ “thái độ”(attitude trong tiếng Anh) dùng để chỉ
tư thế hoặc dáng điệu của một người Từ trước đến nay có nhiều nhà tâm lý học nghiên cứu về thái độ, song định nghĩa về thái độ vẫn chưa được thống nhất
Theo D.N.Uznadze:HTiái độ là trạng thái sẵn sàng hướng tới một hoạt động nhất định, là cơ sở của tính tích cực có sự lựa chọn của chủ thể Theo ông, thái độ là phản ứng cơ bản đầu tiên của chủ thể đối với đối tượng tác động Thái độ là trạng thái toàn vẹn của ý thức cá nhân Thái độ chỉ xuất hiện khi có nhu cầu và hoàn cảnh thoả mãn nhu cầu
H.Fillmore: Thái độ là sự sẵn sàng phán ứng tích cực hay tiêu cực đối với đối tượng hay các ký hiệu trong môi trường Thái độ là sự định hướng của cá nhân đến các khía cạnh khác nhau của môi trường(Theo 4:17)
M.Vorwerg xác định: Thái độ là sự sẵn sàng bị quy định và có tính chất bắt buộc nào đó, nảy sinh trong những nhóm nhất định và trong những tình huống cụ thể v ề mặt lượng cũng như mặt nội dung, sự sẵn sàng này phụ thuộc không những vào chủ thể hữu quan mà trước hết là một hiện tượng tâm lý xã hội, phụ thuộc vào khuynh hướng của cá nhân gắn liền với những chuẩn mực của nhóm(7:15,16)
T.Newcomb: Thái độ của cá nhân đối với đối tượng nào đó là thiên hướng hành động, nhận thức,tư duy, cảm nhận của anh ta với khách thể liên quan Thiên hướng hành động thể hiện sự sẵn sàng phản ứng (8:319)
D.Myers: Thái độ là phản ứng mang tính đánh giá có thiện chí hay không có thiện chí về một điều gì đó, hay người nào đó được thể hiện trong niềm tin, xúc cảm hay hành vi có chủ định
Trang 22D.Krech và R.S.Crutchfield cho rằng: Việc xem xét thái độ bên trong không đơn giản vì chúng ta không thể trực tiếp thâm nhập vào phạm vi ý thức bèn trong của cá nhân mà chỉ có thể gián tiếp thông qua những biểu hiện bên
ngoài.
G.Clauss: Thái độ bên ngoài có thể quan sát được một cách trực tiếp thông qua những vận động, cử chỉ, hành động và những phát biểu bầng lời Còn thái độ bên trong là những thể nghiệm, chỉ có thể biết được thông qua thái độ bên ngoài hoặc một cách trực tiếp nhờ quan sát
V.N.Miasixev: Thái độ là hệ thống trọn vẹn các mối liên hệ cá nhân có chọn lọc, có ý thức của nhân cách với các khía cạnh khác nhau của hiện thực khách quan Hệ thống này xuất phát từ toàn bộ lịch sử phát triển của con người, thể hiện kinh nghiệm cá nhân, quy định hành động và các thể nghiệm của cá nhân từ bên trong Theo ông, thái độ bị quy định bởi các mối quan hệ xã hội
G.W.Allport đã nghiên cứu, tổng kết từ 17 định nghĩa khác nhau về thái
độ và đưa ra 5 đặc điểm chung của thái độ như sau(8:322- 333):
- Thái độ có ảnh hưởng đến định hướng và hoạt động
Hầu hết các định nghĩa trên cho ta thấy quan niệm chung: Thái độ là trạng thái sẵn sàng phản ứng và thuộc phạm vi bên trong cá nhân nhưng được biểu hiện và nhận thấy thông qua những hành vi, cử chỉ ở bên ngoài
Ở Việt Nam, một số định nghĩa cũng thể hiện quan điểm trên như: Thái
độ là dáng vẻ, cách, những biểu hiện bên ngoài của tình cảm, ý nghĩ của một người nào đó đối với công việc hay đối với người khác
Theo từ điển Tiếng Việt: Thái độ là tổng thể nói chung những biểu hiện
ra bèn ngoài(bằng net mặt, cử chỉ, lời nói, hành động) của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hoặc đối với sự việc nào đó hay thái độ là cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình(20:877)
I ỈRUNG TÀM THÕNG TIN THƯ VIỆN
Trang 23Trong từ điển Tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện định nghĩa: Thái độ là những phán ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, đồng tình hay chống đối như đã có sẵn những cơ cấu tâm lý tạo ra định hướng cho việc ứng phó.
Gần đây, có bài viết của Võ Thị Minh Chí về “Nghiên cứu thái độ trong nhân cách” Theo tác giả, thái độ là một thuộc tính tâm lý, một thành tố tích cực của ý thức cá thể, là mối quan hệ chủ quan với thế giới được phản ánh và được khách quan hoá bởi tâm vận động của con người khi nghiên cứu về con người, về nhân cách không thể không nghiên cứu thái độ của họ.(5:261- 264)Như vậy, qua tổng kết và phân tích các định nghĩa về thái độ, chúng tôi thấy nội dung của các định nghĩa đều thể hiện cho rằng, Nghiên cứu thai độ phải xem xét thái độ trong mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội và phải dựa trên các thành phần cơ bản là nhận thức, cảm xúc và hành vi Xuất phát từ các quan điểm đã phân tích, chúng tôi sử dụng khái niệm thái độ làm cơ sở cho
nghiên cứu này như sau: Thái độ là những phản ứng và sự đánh giá của cá nhân hay nhóm người đối với một đối tượng nào đó(người, sự vật, hiện tượng).
I.2.I.2 Cấu trú c của thái độ
Khi nghiên cứu về thái độ, phán lớn các nhà tâm lý học xã hội đều thống nhất với cấu trúc của thái độ gồm có 3 thành phần do M.Smith đưa ra 1942 là: Nhận thức, cảm xúc và hành vi, cụ thể: (Theo 4:18,19)
N hận thức: Là những hiểu biết của cá nhân về đối tượng của thái độ, cho
dù những hiểu biết đó là đúng, đầy đủ và sâu sắc hay không
Cẩm xúc: Là các xúc cảm và tình cảm tích cực(dương tính) hay tiêu
cực(âm tính) Nó thể hiện ở sự rung cảm, thích hay không thích, hài lòng hay không hài lòng, vui hay buồn, bình tĩnh hay giận giữ của cá nhân trước đối tượng của thái độ
H ành vi: Là những hành động của cá nhân đối với đối tượng của thái độ.
Rokeach(1968) và Fishbcin( 1975) đã khẳng định cả ba thành phần trên đểu liên kết chặt chẽ với nhau.Trong thành phần xúc cảm có cả yếu tố nhận thức, cũng như trong thành phần hành vi có yếu tố xúc cảm Đicu đó có nghĩa
là muốn tỏ thái độ đối với một đối tượng nào đó, con người nhất thiết phải nhận
Trang 24thức được đối tượng ấy Nếu không nhận thức được nó là cái gì, như thế nào thì khỏng thể có phản ứng trước nó Những phản ứng này chứa đựng xúc cảm và dược biểu hiện thông qua hành vi.
Đây là cơ sở cho việc xây dựng thang đo thái độ
1.2.1.3 Chức năng của thái độ
Trong cuộc sống, mỗi cá nhân lại thể hiện mình ra bcn ngoài thông qua phong cách và những hành động riêng Khả năng ứng xử theo một cách thức nhất định của cá nhân thực hiện được là nhờ thái độ có các chức năng sau* 7:18)
- Chức năng thích nghi: Nhằm đạt mục đích đã đề ra, trong nhiều trường
hợp, cá nhân thay đổi thái độ do tác động của môi trường như thái độ a dua, lựa chiều ý kiến số đông
- Chức năng tiết kiệm trí lực: Cá nhân tiết kiệm sức lực, năng lực thần
kinh, cơ bắp trong hoạt động nhờ các khuôn mẫu hành vi quen thuộc đã được hình thành
- Chức năng th ể hiện giá trị: Thông qua sự đánh giá một cách có chọn
lọc về đối tượng qua biểu lộ cảm xúc, hành động cũng như ý định hành động,
cá nhủn thể hiện giá trị nhan cách của mình
- Chức năng tự vệ: Trong tình huống có xung đột nội tâm, con người tìm
cách thay đổi thái độ như tự bào chữa, biện minh cho hành vi mâu thuẫn với thái độ, qua đó làm giảm căng thẳng, tạo cân bằng nội tâm
- Chức năng điều chỉnh hành vi và hoạt động: Thái độ đảm bảo sự tham
gia của cá nhân vào cuộc sống xã hội, quy định phương pháp hoạt động và mốiquan hệ của cá nhân với người khác Qua đó, quy định tính chất và mức độtham gia của họ vào sự phát triển các quan hệ xã hội
1.2.1.4 Cơ chê hình thành thái độ
Theo M.Vorwerg và H.Hiebsch(Đức), thái độ của cá nhân được hình thành thông qua 4 cơ chế tâm lý xã hội: bắt chước, đồng nhất hoá, giảng dạy và chỉ dẫn(40:129-150)
- Bắt chước: Là sự hình thành thái độ bằng con đường tự phát Nghĩa là cá
nhân học các phương thức hành vi hoặc phan ứng mà không cần sử dụng các kỹ
Trang 25thuật giáo dục theo một phương thức nào đó Theo Miller và Dollarđ thì có 4 nhóm người chính khiến cho ta thích bắt chước và dễ gây ảnh hưởng tới người khác là: Những người lớn tuổi; những người có địa vị xã hội hơn hẳn; những người có trí tuệ hơn hẳn; những người thành thạo hơn hẳn trong một lĩnh vựcnào đó.
- Đồng nhất hoá: Thực chất đây cũng là sự bắt chước nhưng bắt chước có
ý thức Trong quá trình này, chủ thể thống nhất bản thân mình với các cá nhân khác của nhóm này hay nhóm khác dựa trên sự nhận thức và mối liên hệ cảm
XIÍC, đ ồ n g thời ch u y ển những chuẩn m ực, những giá trị vào th ế giới nội tâm của
mình Đây là sự bắt chước một khuôn mẫu nào đó
- Giảng dạy: Là cách hình thành thái độ do người khác tác động vào cá
nhân một cách chủ động, có mục đích bằng con đường truyền thụ, thông báo tất cả những gì cần thiết
- C h ỉ dẩn: Là cách hình thành thái độ mà cá nhân phải tiến hành hành
động một cách tích cực theo sự hướng dẫn nhất định
I.2.I.5 Một sỏ phương pháp làm thay đổi thái độ
- Phương pháp giới thiệu thống điệp thuyết phục
Các nhà tâm lý học xã hội cho rằng một thông điệp thuyết phục phải có 3 đặc trung cơ bản là: Nguồn tin, nội dung thông điệp và người tiếp nhận thông điệp Cụ thể:
+ N guồn tin: Cá nhân hay tổ chức cung cấp thông điệp Đây là yếu tố
quan trọng trong việc thái độ có bị thay đổi hay không
Theo thuyết khuyến khích(Hovland): Nguồn tin phải có chuyên môn và
độ tin cậy cao thì mới có thể làm thay đổi thái độ Điều này cũng được Choo(1964); Watts và McGuire(1964); Kiesler^Collins và Miller(1969) khẳng định: Nguồn tin càng tin cậy bao nhiêu thi càng làm thay đổi thái độ bấy nhiêu Hay Eagly và Chaiken(1975) cho rằng sự lôi cuốn của nguồn tin sẽ thuyết phục mọi người nhiều hơn
Ví dụ: Nếu một ca sĩ nói rằng theo anh ta, aspirin là thuốc giảm đau hiệu quii nhất, có thể rất ít người tin Nếu anh ta cho biết có đến 9/10 bác sĩ vừa có
Trang 26chuycn môn, vừa có uy tín nói nlur vậy và trình bày ý kiến của họ thì có thể rất nhiéu người tin và sử dụng aspirin hưn.
Tuy nhiên, trong một sô nghicn cứu khác, Hovland và các đồng nghiệp đã tuycn bố rằng: Trong thời gian dài thì hiệu quả của uy tín giảm sút vì người nhận quên dần đi nguồn tin nhưng nhớ lại sự hài lòng về nó
Thuyết bất đổng(Festinger, Aronson ) cũng có quan điểm tương tự như thuyết khuyến khích Song, một số nghiên cứu của Aronson.Walster và Abrahams cho thấy khi tạo ra sự bất đồng giữa sự tin cậy của nguồn tin và động cơ thúc đẩy cho việc ủng hộ nguồn tin thì người nhận lại bị tác động bởi nguồn tin không đáng tin cậy hơn
+ N ội dung thông điệp thuyết phục
Theo Hovland, Anderson(1957), nếu nội dung thông điệp khác xa với quan điểm của người nhận thì thông điệp sẽ bị loại bỏ Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác của Insko(1967); Kiesler, Collins và Miller(1969) lại cho thấy rằng cách tiếp cận đó sẽ có hiệu quả hơn trong việc làm thay đổi thái độ
Festinger và Waltes(1962) quan niệm những thông điệp không phải thiết
kế để ảnh hưởng tới người nhận dường như sẽ thuyết phục mọi người nhiều hơn Nếu có nguồn tin tin cậy nhưng quan điểm của nguồn tin lại khác xa với quan điểm của người nhận thì sự thuyết phục sẽ giảm đi Nguồn tin tin cậy vừa phải nhưng quan điểm khác vừa phải thì sự thuyết phục sẽ nhiều nhất
Ví dụ, Aronson, Jurner và Carlsmith(1963) đã nghiên cứu về sự ảnh hưởng của nguồn tin tin cậy và khoảng cách giữa thông điệp với quan điểm người nhận trong việc làm thay đổi thái độ(32:187,188) Các tác giả yêu cầu sinh viên đánh giá một khổ thơ, sau đó đưa cho họ một bản đánh giá của T.s Eliot(nguồn tin tin cậy cao), rồi một bản của giáo viên (nguồn tin tin cậy vừa phải) Kết quả, nguồn tin Eliot có tác động nhiều hơn nguồn tin của giáo viên Khi quan điểm của Eliot khác xa với sinh viên thì sự tác động không còn nữa Nguồn tin của giáo viên làm thay đổi nhiều nhất khi quan điểm của cô ấy vừa phải Nhưng khi quan điểm của cô ấy khác xa với sinh viên thì sự thay đổi ý kiến bị hạ xuống đột ngột Các tác giá giải thích rằng quan điểm khác xa với sinh viên của Eliot đặt sinh vicn rơi vào sự mâu thuăn(bất đồng) Eliot rất đáng
Trang 27tin cậy nhưng lại có đánh giá khác xa với mình về khổ thơ Sinh viên nghĩ hoặc thay đổi ý kiến về khổ thư hoặc về Eliot Việc thay đổi ý kiến về Eliot dễ dàng hơn việc tự đưa ra sự đánh giá về khổ thơ Như vậy, nguồn tin tin cậy và sự mâu thuẫn từ chính người nhận với quan điểm của thông điệp sẽ làm thay đổi thái độ Nguồn tin tin cậy cao làm ý kiến thay đổi nhiều hơn nguồn tin tin cậy vừa phải với quan điểm khác xa người nhận.
Rosenberg, Verba và Conserve(1970) đưa ra lời tuyên bố trong cuốn sách hướng dẫn mọi người chống đối chiến tranh rằng: Nếu muốn thay đổi thái độ của một người đối với chiến tranh thì một quan điểm vừa phải sẽ có sự thay đổi lớn nhất
Thông điệp giới thiệu một quan điểm(một mặt) hay hai quan điểm trái ngược nhau(hai mặt) có tác dụng nhiều hơn v ề vấn đề này, các nhà nghiên cứu giải thích: Điều đó còn phụ thuộc vào người nhận Nếu người nhận ủng hộ quan điểm của bạn thì tốt nhất là giới thiệu quan điểm ủng hộ bạn(một mặt) Nếu người nhận không ủng hộ bạn thì tốt nhất là giới thiệu hai quan điểm(hai mặt) rồi bác lại những lập luận đối lập với quan điểm của bạn(Hovland, Lumdaine và Sheffield, 1949)
Vậy khi nào thì con người bị thuyết phục bởi những lập luận logic của thông điệp và khi nào thì họ bị thuyết phục bởi nguồn tin hay hình thức nguồn tin? Điều này đã được Shelly Chaiken(1987) và Richard Petty, John Cacioppo(1986) lí giải như sau: Trong điều kiện nhất định con người bị động
cơ thúc đẩy chú ý lắng nghe thông điệp Khi đó, họ sẽ bị thuyết phục bởi những lập luận logic của thông điệp - gọi là đường thuyết phục trung tâm Nếu không
có động cơ thúc đẩy họ lắng nghe thông điệp thì họ chuyển chú ý đến nguồn tin hay thời gian của thông điệp - gọi là đường thuyết phục ngoại vi(33:228- 263)
Như vậy, khi người nhận có khả năng và động cơ thúc đẩy chú ý lắng nghe thông điệp thì sẽ tạo ra đường thuyết phục trung tâm hơn Yếu tố quyết định đến động cơ chú ý lắng nghe là thông điệp có liên quan đến cá nhân người nhận Thông điệp càng liên quan đến cá nhàn người nhận thì họ càng sẵn lòng
Trang 28thuyết phục trung tâm Khi thông điệp ít liên quan đến cá nhân thì người nhận
sẽ thay sự chú ý lắng nghe lập luận bằng sự chú ý đến nguồn tin hay thời gian của thông điệp(Chaiken,1987; Chaiken, Liberman và Eagly,1989; Petty và Cacioppo, 1986)
Ngoài ra, động cơ chú ý lắng nghe còn phụ thuộc vào phẩm chất của người nhận Những người thích suy nghĩ, đánh giá vấn đề một cách cẩn thận hay nhận thức cao sẽ hết sức chú ý lắng nghe lập luận có liên quan Trong khi những người nhận thức thấp có thể dựa vào sự hấp dẫn hay uy tín của nguồn tin(Cacioppo, Petty, Feinstein và Jarvis, 1996) Nhiều khi người nhận không có khả năng để chú ý lắng nghe thông điệp vì có thể họ quá mệt mỏi, bị xao nhãng
vì tiếng ồn hay thông điệp quá phức tạp Khi đó người nhận thay đổi thái độ theo đường ngoại vi (Festinger và Maccoby, 1964; Petty và Brock, 1981)
Các nhà nghiên cứu khẳng định rằng sự thay đổi thái độ dựa vào đường thuyết phục trung tâm sẽ kéo dài hơn, có thể chịu đựng được sự thay đổi lâu hơn sự thay đổi thái độ dựa vào đường thuyết phục ngoại vi
Nếu chúng ta muốn sự thay đổi thái độ kéo dài hơn thì nên thiết kế thông điệp thuyết phục không chỉ có những lập luận chặt chẽ mà nội dung của nó có thể khêu gợi những cảm xúc lo lắng, sợ hãi, thèm khát vì cảm xúc là yếu tố ảnh hưởng rất lớn tới con đường dẫn tới sự thuyết phục
Hovland và các đồng nghiệp(1953) cho rằng nếu thông điệp khơi gợi sự sợ hãi, sau đó làm giảm sự sợ hãi thì sẽ tạo ra sự thay đổi thái độ Điều này được Levcnthal, Watts và Pagano(1967) chứng minh với 3 nhóm cùng hút thuốc lá
Họ cho nhóm 1 xem một bộ phim sinh động miêu tả căn bệnh ung thư phổi và một cuốn sách hướng dẫn cách cai thuốc, nhóm 2 chỉ xem phim và nhóm 3 chỉ đọc sách Kết quả, các thành viên nhóm 1 đã giảm hút thuốc nhiều hơn nhóm 2
và nhóm 3 Như vậy, việc xem phim làm mọi người hoảng sợ nhưng đọc sách lại giúp họ giảm sự sợ hãi Chính sự sợ hãi làm họ đọc sách một cách cẩn thận(động cơ thúc đẩy chú ý lắng nghe) Còn việc chỉ đọc sách sẽ không có động cơ thúc đẩy họ đọc sách kỹ hay chí xem phim gây ra sự sợ hãi nhưng lại không có cách nào làm giảm sự sợ hãi đó
Trang 29Thco Janis và Feshbach,(1953), Jepsen và Chaikcn( 1990), Liberman và Chaiken(1992), nếu khơi gợi quá mạnh sự sợ hãi thì sự thuyết phục của thông điệp sẽ thất bại Sự hoảng sợ quá mạnh sẽ làm mọi người có cảm giác bị đe doạ, họ quay ra tự vệ, phủ nhận sự quan trọng của việc đe doạ và chẳng còn tâm trạng đâu để lí giải thông điệp.
Theo thuyết phan ứng(Reactance theory) con người không thích có cảm giác là tự do hay suy nghĩ của họ bị đe doạ Họ sẽ có cảm giác đấy nếu hành động của họ bị ngăn cấm mạnh mẽ Khi đó, họ sẽ phản ứng lại bằng cách chống đối lại sự đe doạ đó Thường họ sẽ thực hiện những hành vi bị cấm nhiều hơn và có thể gày gổ cả với người đã cấm
Ví dụ: Nghiên cứu về vấn đề này, James Pennebake và Deborah Sanders(1976) đã làm một thực nghiệm như sau: Đưa ra thông điệp “Không được viết bậy lên tường trong bất cứ hoàn cảnh nào” ở một phòng vệ sinh và
“Xin đừng viết lên các bức tường đó” ở một phòng vệ sinh khác của trường học Kết quả, sau hai tuần quan sát thấy việc viết, vẽ bậy đã xuất hiện rất nhiều
từ sau khi họ dán thông điệp Phòng có thông điệp “Không được” bị viết nhiều hơn đáng kể so với phòng có thông điệp “Xin đừng”
Tương tự, nếu người nhận nhận được những lời cảnh báo quá mạnh mẽ chống lại việc hút thuốc hay sử dụng ma tuý thì có khả năng họ sẽ thực hiện những hành vi đó nhiều hơn để lấy lại sự tự do cá nhân hay tự do lựa chọn Tất nhiên, điều đó còn phụ thuộc vào ý thức của từng người.(33:251)
+ Người tiếp nhận thông tin
Theo thuyết khuyến khích của Hovland, người tiếp nhận phải nghe, hiểu nội dung và tin rằng quan điểm của họ sẽ được ủng hộ Người nhận có thể tin là nếu thay đổi thái độ, họ sẽ có thể nhận được phần thưởng hay sự khích lệ
Như vậy, để thay đổi thái độ thì người nhận phải được nghe, hiểu, nhớ và thông điệp cần được thiết kế logic, hấp dẫn, phù hợp với họ Song, với phương pháp này, người nhận tiếp nhận sự thuyết phục một cách thụ động Khi người nhận tham gia tích cực vào quá trình thuyết phục thì sự thay đổi thái độ sẽ cao hơn
Trang 30- Phương pháp tổ chức cho người nhận tích cực tham gia vào quá trình thuyết phục
Nghiên cứu của Kurt Lewin(1947) diễn ra như sau: Chia những người tham gia thực nghiệm thành 2 nhóm trong đó, cho nhóm 1 nhận thông điệp thuyết phục biện luận cho sự thú vị khi ăn tim , cật bò Nhóm 2 tham gia tích cực vào quá trinh làm thay đổi thái độ Họ thảo luận về việc làm như thế nào để thuyết phục những người khác thay đổi thói quen ăn uống của gia đình mình Kết quả, có 3% số người ở nhóm 1 đã làm cho gia đình họ ăn sau đó, còn ở nhóm 2 là 32%
Việc tham gia tích cực của người nhận vào quá trình thuyết phục sẽ làm thay đổi thái độ Nếu muốn thay đổi thái độ của A đối với việc hút thuốc thì bạn có thể thành công bằng cách làm cho A đưa ra những lời nói phản đối việc hút thuốc(thuyết bất đồng) Thuyết khuyến khích cũng đổng ý đây là một phương pháp làm thay đổi thái độ rất nhanh Tuy nhiên, họ lại lí giải khác nhau (32:192)
Ví dụ: Trong Hội nghị các nhà tâm lí học ở trường học của bạn Khi tiếp xúc với họ, bạn và A nhận ra ông Bonker (tác giả của cuốn sách giáo khoa tâm
lí học mà bạn có) Nếu ông Bonker biết được bạn đã sử dụng cuốn sách đó thì ông ấy sẽ rất xúc động Và ông tin rằng, ý kiến của sinh viên sẽ tăng cơ may đề bạt giáo sư của ông ấy, nên ông ấy yêu cầu bạn ca ngợi cuốn sách trước Uỷ ban đánh giá bằng việc tặng bạn 1$ và A 50$ cho sự chấp thuận Cả hai đồng ý
Theo thuyết bất đồng, 1 trong 2 bạn có thể thay đổi ý kiến của mình nếu như biết đến sự bất đồng Sự bất đồng sẽ xảy ra nếu như hành vi quan trọng( Aronson, 1969 và Festinger, 1957) Ở ví dụ trên, hành vi của bạn là quan trọng vì nó có thể tác động đến ý kiến của những người khác Bạn bắt đầu xem xét cả hai loại hối lộ và so sánh 1$ của bạn với 50$ của A Bạn thấy mình nhận quá ít phần thưởng và không biện giải cho cách ứng xử của mình Vì thế, theo Festinger và đồng nghiệp thì bạn có thể thay đổi ý kiến ricng của bạn để tương xứng với hành vi bên ngoài(giải quyết sự bất đồng) Bạn sẽ quyết định rằng bạn thực sự không thích cuốn sách Nếu bạn thay đổi thái độ của mình thì bạn
Trang 31không còn ở trong sự bất đồng Vì vậy, họ cho rằng phần thướng nhỏ cũng có thể làm thay đổi thái độ rất lớn.
Theo thuyết khuyến khích: Phần thưởng lớn sẽ thúc đẩy con người làm việc tốt hơn phần thưởng nhỏ Họ đồng ý rằng 50$ sẽ làm A thay đổi thái độ nhiều hơn Cho ncn phần thưởng càng lớn thì thái độ thay đổi càng nhiều
Về vân đề này, Carl Smith, Collins và Helmseich(1966) giải thích như sau: Khi cách ứng xử là không quan trọng với con người thì phần thưởng càng lớn, thái độ thay đổi càng nhiều(dự đoán của thuyết khuyến khích) Nhưng khi cách ứng xử là quan trọng thì không có phần thưởng, thái độ vẫn thay đổi nhiều(dự đoán của thuyết bất đồng) Như thế, biến số quyết định là sự quan trọng của cách ứng xử
Vì vậy, việc tham gia tích cực vào quá trình thuyết phục sẽ làm thay đổi thái độ của người nhận Song, phương pháp này không thể thực hiện với một số đông khách thể
Tóm lại, mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm nhất định Cho nên, các nhà nghiên cứu đều đồng ý rằng cách tốt nhất để thay đổi thái độ là cần có sự kết hợp của cả hai phương pháp thuyết phục và tổ chức cho người nhận tích cực tham gia vào quá trình thuyết phục
1.2.2 Bạo lực
I.2.2.I Khái niệm bạo lực
Có những cách hiểu khác nhau về bạo lực Ví dụ:
Trong Từ điển Tiếng Việt: Bạo lực là sức mạnh dùng để cưỡng bức, trấn
Theo từ điển Anh - Việt “aggression” có nghĩa là hành hung
Trong tâm lý học có quan điểm cũng sử dụng thuật ngữ “aggression” khi nói đến bạo lực
Trang 32Như vậy, các quan điểm trên mới chỉ thể hiện được phần nào nội hàm của khái niệm bạo lực Đó là những hành động mang tính chất chiếm đoạt làm tổn thương đến người khác và bị pháp luật trừng phạt Nói cách khác, đó chỉ là khái niệm được hiểu theo nghĩa hẹp của bạo lực mà thôi Ngày nay, quan điểm về bạo lực không chỉ giới hạn ở những hành động làm tổn thương đến thể chất mà còn xét cả những hành động làm tổn thương đến tinh thần của người khác trong gia đình và ngoài xã hội.
Từ việc tổng hợp lịch sử nghiên cứu về bạo lực và tham khảo một số định nghĩa về bạo lực khác nhau, chúng tôi xin được trinh bày cách hiểu của mình
về bạo lực như sau: Bạo lực là dùng sức mạnh, quyền lực hay các hành
động đê cưỡng bức, trấn áp, đe doạ, hành hung Iàm tổn thương đến thê chất, tinh thần của người khác và không có sự chấp nhận của người đó.
Vì thế, theo Norbert W.H.Geib(41: 410-421), các nhà tâm lý học cho rằng một quan niệm như thế vừa khắc phục được sự thu hẹp “bạo lực ” theo nghĩa xâm hại(aggression),ivừa chú ý đến sự đa dạng, ngày càng tinh vi hơn, nhất là trong các xã hội hiện đại, của mục đích và phương tiện
1.2.2.2 Khái niệm bạo lực đối với phụ nữ
Theo Tuyên bố về loại trừ bạo lực đối với phụ nữ được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua năm 1993, bất kỳ hành động nào gây ra hoặc có thể gây ra hậu quả làm tổn thương đến thể chất, tinh thần, tình dục hay tâm lý của phụ nữ,
kể cả những hành động đe doạ, ép buộc hoặc tự ý tước đoạt quyền tự do của họ,
dù xảy ra ở nơi công cộng hay đời sống riêng tư đều bị coi là bạo lực đối với phụ nữ( 14:10,11)
Với định nghĩa này, chúng ta hiểu: Bạo lực đối với phụ nữ là những
hành động gây tổn thương cho phụ nữ về thê chất, tình dục và tâm lí xảy
ra trong gia đình hay ở ngoài cộng đồng.
Bạo lực với phụ nữ bao gồm rất nhiều dạng khác nhau như bạo lực trong gia đình chống lại phụ nữ (đánh đập vợ con, xúc phạm, thờ ơ, vô trách nhiệm với vợ con, cp vợ đỏ thêm con trai ), ngoài cộng đồng ( buôn bán phụ nữ, cưỡng ép tình dục, hiếp dâm phụ nữ và trẻ cm gái, quấy rối tinh dục v.v )
Bạo lực đối với phụ nữ thường thể hiện ở những hình thức sau:
Trang 33- Đe doạ: Là sử dụng lời nói để mắng chửi, doạ nạt, khống chế gây đau
khổ và làm tổn thương về tinh thần của phụ nữ
- Đánh đập: Là sử dụng những hành động bằng chân tay, gậy gộc hoặc
phương tiện nào đó làm đau đớn, tổn thương về thể chất của phụ nữ
- Cưỡng ép tình dục: Là hành động bắt buộc, gạ gẫm, đe doạ hoặc dùng
kinh tế để quan hệ tình dục trái với ý muốn của họ
- Tấn công tình dục: Là hành động dùng sức mạnh để cưỡng ép quan hệ
tình dục bao gồm cả hiếp dâm trong hôn nhân, hiếp dâm trẻ em, vị thành niên
cơ thể hoặc có hành động gián tiếp như lời nói thô tục, phơi bày thân hình phụ
nữ trcn tranh ảnh Những biểu hiện này thường gặp nhiều trong các cơ quan, công sở, nhà máy, xí nghiệp như các hành động của thủ trưởng, ông chủ đối với nhân viên, đổng nghiệp nam đối với đồng nghiệp nữ .và ảnh hưởng nghiêm trọng tới tâm lí người phụ nữ
- Cắt bộ phận sinh dục nữ: Là hành động ngăn cản phụ nữ hưởng cuộc
sống tình dục ở một số nước chủ, yêú ở Đông và Tây Phi Hiện có khoảng 80 triệu người trên thế giới là nạn nhân của tập tục này
- Buôn bán phụ nữ: Năm 1994, Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc định
nghĩa nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em như sau: Buôn bán con người là hoạt động bí mật và bất chính đưa người phần lớn từ các nước đang phát triển và một số nước đang chuyển đổi kinh tế qua biên giới nhằm mục tiêu cuối cùng là
ép buộc phụ nữ và các em gái hoạt động tình dục hoặc bóc lột về kinh tế, cưỡng bức lao động, ép buộc làm vợ, bắt làm những nghề nghiệp không minh bạch và làm con nuôi bất hợp pháp
Ớ Việt Nam, trong những năm gần đây, nạn buôn bán phụ nữ qua biên giới Trung Quốc và Campuchia đang gia tăng Nó diễn ra rất phức tạp,đe doạ tính mạng, sức khoe, danh dự và quyền con người của phụ nữ và trẻ em, cũng là bạn đồng hành của HIV/AIDS mà người chịu hậu quả trực tiếp và trước tiên chinh là phụ nữ và trẻ em
Trang 34Bạo lực với phụ nữ dù diễn ra dưới hình thức nào hay xét ớ khía cạnh nào thì cũng không thể chấp nhận dược Đó là sự vi phạm nhân quyển, làm cản trở
sự phát triển, tiến bộ của phụ nữ và sự phát triển chung của toàn xã hội
1.3 Chức năng và đặc điểm tâm lý của phụ nữ trong gia đình
1.3.1 Chức năng của phụ nữ trong gia đình
Từ xưa đến nay, gia đình vẫn được coi là tế bào của xã hội, là cầu nối giữa
cá nhân và xã hội Mỗi con người trong xã hội đều là một thành viên của gia đình, sinh ra và trưởng thành từ một gia đình nhất định Sự tồn tại và phát triển của xã hội được phản ánh vào sự tồn tại và phát triển của gia đình Vì vậy, ta có thể xem gia đình chính là hình ánh thu nhỏ của xã hội
Trong gia đình, phụ nữ có vai trò hết sức quan trọng Điều đó được thể hiện ở một số chức năng như: Chức năng tái sản xuất ra con người, chức năng giáo dục con cái, chức năng kinh tế, chức năng xây dựng hạnh phúc gia đình, chức năng chăm sóc sức khoẻ người già Cụ thể là:
1.3.1.1 Chức năng tái sản xuất ra con người
Sau khi kết hôn, người phụ nữ bắt đầu bước sang một giai đoạn mới Chức năng làm vợ, làm mẹ bắt đẩu trở thành hiện thực đối với họ Việc sinh con đẻ cái không chí là sự duy trì nòi giống của gia đình, của dòng họ mà còn vì sự tồn tại, phát triển của cả dân tộc, đất nước Đây là chức năng đặc thù nhất, phổ biến nhất, phức tạp nhất và cao quý nhất của người phụ nữ trong gia đình
1.3.1.2 Chức năng giáo dục con cái
G.Bốcli nói rằng: “Có một thực tế lạ lùng là phần lớn những thiên tài đều
có những bà mẹ tuyệt vời và họ nhận được ở người mẹ nhiều hơn là ở người
cha”(9:17,18 )
Có thể nói người mẹ là người thầy đầu tiên của con cái, là linh hồn của một gia đình, là người tạo dựng nền tảng tâm hồn và nhân cách cho con người ngay từ thuở lọt lòng cho đến khi trưởng thành Quan hệ tình cảm mẹ con đặt nền tảng cho mối quan hệ tình cảm với gia đình, với cộng đồng xã hội Đặc biệt, khi đứa trẻ còn bé thì vai trò của người mẹ là vô cùng quan trọng I.u A-da- rôp nói rằng “Trong 3 năm đầu đối với đứa trẻ, người mẹ vừa là sức khoe, vừa
Trang 35là trường Đại học, vừa là sự phát triển mọi mặt, là nhóm giao tiếp đầu tiên của
Theo Macarcnco, “Những gì mà bố mẹ đã làm được cho con trước lúc 5 tuổi - đó là 90% kết quả của tất cả quá trình giáo dục”
1.3.1.3 Chức năng kinh tế đảm bảo sự tồn tại và phát triển của gia đình
Trong xã hội ngày nay, người phụ nữ không chỉ làm những công việctrong gia đình như nội trợ, quản lý chi tiêu, lo toan tính toán Bên cạnh đó, họ còn trực tiếp tham gia vào các ngành, nghề lao động sản xuất, trực tiếp tạo ra của cải vật chất để thoả mãn nhu cầu ăn, ở, mặc của bản thân, gia đình, thậm chí góp phần phát triển nền kinh tế đất nước Đặc biệt, lao động nữ trong nông nghiệp chiếm 60 - 70%, ở nông thôn chủ hộ là nữ chiếm từ 20 đến 30% Người phụ nữ ở nông thôn cực kỳ vất vả, vì là lao động chính, phải lo từ cày bừa, giống vốn, kỹ thuật và toàn bộ các khâu chăm sóc, ngoài ra còn chăn nuôi lợn, gà để tăng thu nhập cho gia đinh Thời gian lao động trong ngày thường là đến 12 giờ trong một ngày
1.3.1.4 Chức năng xây dimg hạnh phúc gia đình
Nhân dân ta có câu “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm” "‘Tổ ấm gia đình” là một khái niệm đời thường, xa xưa nhưng nó chứa đựng một nội dung tình cảm rõ nét Nơi đây, mọi thành viên được thoả mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần ở mức tối đa, cảm giác an toàn được đảm bảo và là không gian thuộc quyền sở hữu riêng của các thành viên trong gia đình, đổng thời ý thức con người được hình thành và phát triển Đổ có được những điều ý nghĩa này thì người phụ nữ có vai trò vô cùng quan trọng Họ là sợi dây kết nối, chia sẻ tình cam giữa các thành viên trong gia đình, là người tạo dựng lên tình yêu con người đầu tiên và sự an toàn cho con trẻ Thậm chí có những người còn có nhu
Trang 36Cầu “ấp ủ nơi lòng mẹ” để cảm giác an toàn được xuất hiện mãi sau này mà chúng ta gọi là tình mẫu tử.
Đối với trẻ em từ lọt lòng đến 6 tuổi không có gì chấn động mạnh trong đời sống tâm lý sau này bằng sự chia ly của cha mẹ, bằng sự tách rẽ sống xa gia đình
Do vậy, nuôi dưỡng tình yêu, làm cho “cây tình yêu” nở hoa kết trái đem lại hoa thơm, qua ngọt cho mọi người trong gia đình là một trong những chức năng chính của người phụ nữ trong gia đình Đây là một chức năng quyết định
sự bcn vững và phát triển của gia đình Hạnh phúc hay bất hạnh cũng do chức năng này đem lại một phán lớn
Nhà tâm lý học L.Ia.Godman xem tinh yêu là điều kiện đầu tiên của sự tồn tại một gia đình(9:27)
1.3.1.5 Chức năng chăm sóc sức khoẻ người già
Bên cạnh những chức năng làm vợ, làm mẹ, giáo dục con cá i ,người phụ
nữ còn có một vai trò to lớn nữa là nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe của ông bà, cha mẹ bên chồng Sự chăm sóc này thể hiện lòng hiếu thảo, tôn kính của con cái đối với ông bà, cha mẹ; thể hiện những phẩm hạnh của người phụ nữ Đây cũng là truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn ” của người Việt Nam từ xưa đến nay
Như vậy với những chức năng trên, chúng ta thấy không thể thiếu người phụ nữ trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình và phát triển xã hội.Song trong thực tế, phụ nữ lại là người chịu thiệt thòi nhiều nhất Dưới chế độ phong kiến,
họ bị các hủ tục lạc hậu và lễ giáo phong kiến trói buộc Họ phải làm việc cực nhọc, ít được học hành, phải chịu cảnh tảo hôn, bị mẹ chồng và các em chồng bắt ne, bắt nét, thậm chí ngay cả người chồng cũng đối xử với họ theo quan hệ
“chồng chúa vợ tôi”
Cho đến nay mặc dù Đảng và Nhà nước luôn quan tâm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ nhưng những hệ tư tưởng phong kiến không phải dễ thay đổi, và hành vi ngược đãi phụ nữ vần xảy ra trong cuộc sống hàng ngày
1.3.2 Đạc điểm tâm lý của phụ nữ trong gia đình
Trang 37Thế giới lâm hồn của người phụ nữ vô cùng phong phú, phức tạp và thầm kín hơn hẳn người đàn ông Song nhìn chung, đời sống tâm lí của người phụ nữ
có một số đặc điểm sau:
1.3.2.1 Về mặt trí tuệ
Ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội, trình độ học vấn của con người nói chung và của phụ nữ nói ricng đã được nâng cao Họ có cơ hội thể hiện mọi khả năng, năng lực của của minh, đồng thời luôn trau dồi kiến thức để tầm hoạt động được mở rộng Nhiều phụ nữ đã đảm nhiệm những công việc mà trước đây được coi như thuộc về nam giới, nhiều lĩnh vực phụ nữ được đánh giá là làm còn tốt hơn nam giới
Nếu trước đây, phụ nữ luôn quên minh để lo cho đại gia đình mà không đòi hỏi chút gì cho bản thân thì ngày nay, phụ nữ đã nhận rõ tinh trạng còn bất công với nữ giới trong xã hội Họ đã ý thức và thấy được những lý do làm trì trệ bước tiến của phụ nữ: Đó là sự lệ thuộc về tài chính, sự bất lực khi mình tự kiếm sống mà không có tay nghề, lệ thuộc tình cảm vào chồng hay nương tựa vào sự đùm bọc của chồng
Ngày nay, phụ nữ đã biết không nên chấp nhận, đồng loã với những tình huống khinh rẻ nữ giới, lên tiếng để bênh vực quyến của phụ nữ, theo dõi những tiến bộ trên thế giới Họ cũng đã thay đổi tình cảm đối với con, tình cảm đối với con trai, con gái là ngang nhau, chia sẻ những công việc trong nhà không phân biệt giới tính
1.3.2.2 Về mặt tình cảm
Bản chất của phụ nữ là giàu tình cảm, dịu dàng và có sự nhạy cảm, tinh tế Trong gia đinh người phụ nữ rất mực yêu thương chồng con, hy sinh vì những người thân ycu ruột thịt là nét đẹp của phụ nữ trong gia đình Việt Nam truyền thống Đức hy sinh thường biểu hiện ở phụ nữ là tinh thần hy sinh cho tương lai của con cái và cho sự nghiệp của chồng Họ thường rất quan tâm đến diễn biến tình cảm, việc làm của chổng, con Trons; gia đình, phụ nữ luôn thu xếp ổn thoả những mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa cúc thành viên bằng tình thương, những lời lẽ thuyết phục Họ ân cần chăm sóc chồng con trong sinh hoạt, ăn uống, may mặc, lúc ốm đau khi vui buồn nên dỗ dàng chiếm được lòng tin ycu của
Trang 38gia đình Cùng với tình ycu thương và đức hy sinh, người phụ nữ trong gia đình luôn có sự rộng lưựng, khoan dung Họ sẩn sàng tha thứ cho những sai lầm của chồng, con vì hạnh phúc của mái ấm gia đình Sư lo lắng cho chồng, con là lâm trạng thường xuycn của phụ nữ.
1.3.2.3 Vê mặt xã hội
Ngày nay, sự hoạt động cũng như nũng lực sáng kiến của phụ nữ không chỉ được thu hẹp trong phạm vi bếp núc, nội trợ, mà được mớ rộng ra rất nhiều các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Họ tích cực, năng động và thích tham gia vào nhiều những công việc có ích cho xã hội, các hoạt động xã hội Trong nghé nghiệp, họ luôn muốn cô' gắng để kháng định vị trí cũng như khả năng của mình so với nam giới, được học hỏi thêm và nâng cao kiến thức Bên cạnh
đó, phụ nữ luôn mong muốn được chồng, con chăm sóc, yêu mến, chia sẻ và tôn trọng
Đồng thời, phụ nữ có nhu cầu rất lớn về sự trao đổi thông tin, tình cảm, tâm tình với người khác Họ không muốn sống im lặng, thích nói chuyện, viết thư để trao đổi, tâm sự với người khác về chuyện nhà cửa, chuyện chồng con, cách giáo dục con cái
Trên đây là một số đặc điểm nổi bật trong đời sống tâm lý của phụ nữ gia đình và cũng là ưu điểm của họ Tuy nhiên, bên cạnh đó, phụ nữ cũng có những đặc điểm tâm lý còn hạn chế như(30):
S ự ghen tuông quá đáng Thực chất, ghen là đúng và cần thiết để bảo vệ hạnh phúc Song, sự ghen tuông của một số phụ nữ nhiều khi vô lý Họ thường ghen bóng, ghen gió chỉ vì những dư luận không lành mạnh của những sự gán ghép, trêu đùa của những người xung quanh Phụ nữ hay tự mình làm khổ mình bởi tính đa sầu, đa cảm, sự lo lắng dằn vặt vô cớ
Mặt khác, tật nói nhiều, tính thích tàm sự, chuyện trò của phụ n ữ là
một bản tính của họ Vì vậy, bất cứ chuyện vui, buồn, to, nhỏ trong gia đình,
ngõ xóm, phố phường, làng bán họ cũng thích đi kể lể và nghe lại từ người khác Hơn nữa, phụ nữ cũng hay ghanh tị, ghen ghét khi thấy mình thua kém người khác Điều này dễ gây ra sự đố kỵ, báu không khí mất đoàn kết, dễ đôi
co và đi đến mâu thuẫn
Trang 39Chính những đặc điểm tâm lý này có thế sẽ là một trong những nguyên nhân chủ quan khiến phụ nữ bị bạo lực.
1.4 Bạo lực với phụ nữ trong gia đình
1.4.1 Định nghĩa bạo lực với phụ nữ trong gia đình
Có một vài định nghĩa khác nhau về bạo lực với phụ nữ trong gia đình Theo Domestic Violence( 1993): Bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình là hành
vi tấn công của một người thường là đàn ông đối với phụ nữ, có quan hệ tình cảm với họ bằng cách dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực để kiểm soát về tài chính và các quan hệ xã hội của người phụ nữ đó
Tuy nhicn, trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng định nghĩa bạo lực với phụ nữ trong gia đình của Hội đồng dân số Mỳ như sau: “Bạo lực
đôi với phụ nữ trong gia đình là thuật ngữ được sử dụng để mô tả một
dạng bạo lực và ngược đãi xảy ra của người chồng đôi với vợ” Đây là dạng bạo lực phổ biến nhất
Thực chất, với hai định nghĩa đã nêu, rõ ràng bạo lực với phụ nữ trong gia đình cũng chính là sự đe doạ và có những hành động gây đau đớn về thân thể, tổn thương về tinh thần, tình dục của phụ nữ như các hành vi đánh đập, chửi máng, hạ nhục, đe doạ, khống chế, ép buộc mà cụ thể ở đây chính là hành vi của người chồng đối với người vợ Bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một trong những biểu hiện của phân biệt, đối xử, bất bình đẳng giới
1.4.2 Phân loại bạo lực vói phụ nữ trong gia đình
Có nhiều cách phân loại bạo lực khác nhau Song, dựa vào tính chất và hậu quả của các hành vi bạo lực, có thể chia hạo lực với phụ nữ trong gia đình thành 3 loại phổ biến là: Bạo lực về thể chất, bạo lực về tinh thần và bạo lực về tình dục:
- Bạo lực về th ể chất: Bao gồm các hành động đấm, đá, xô đẩy, tát, ném
đồ vật vào phụ nữ hoặc nhốt trong nhà, sứ dụng hoặc đe doạ sử dụng vũ khí đánh phụ nữ thậm chí giết người
- Bạo lực vé tinh thần: bao gồm các hành động chửi bới, làm nhục phụ
nữ, bỏ rơi trong thời gian dài, vô trách nhiệm, cấm đoán không cho vợ đi chơi
Trang 40với hạn bò, kiếm soát và quyết định mọi việc trong nhà Nhiều phụ nữ cho rằng loại bạo lực này còn tồi tệ hơn cả bị hành hạ về thể xác.
- Bạo lực về tình dục: bao gồm hành động cưỡng ép vợ quan hệ tình dục,
không nói cho vợ biết là mình bị bệnh lây nhiễm qua đường tình dục hoặc từ chối dùng các biện pháp tránh thai Ngoài ra, bạo lực tinh dục ngoài hôn nhân cũng có xu hướng ngày càng gia tăng mù nạn nhủn là người giúp việc, con riêng của vợ, con dâu hay ngay cả con cháu của chính kẻ gây án Điều này làm băng hoại nền tảng đạo đức truyền thống của gia đình Việt Nam
Theo kết quả nghiôn cứu “bạo lực trên cơ sở giới” ở Việl Nam, tháng 11/1999 có: 15% các bà vợ bị chồng đánh đập, gần 80% bị chồng mắng chửi, hơn 70% bị chồng bỏ mặc, gần 10% bị chồng không quan hệ tình dục, gần 20% bị chồng ép quan hệ tình dục
Ngoài ba loại bạo lực trên, một vài tài liệu còn đề cập đến một loại bạo lực
nữa, đó là bạo lực kinh tế Bạo lực kinh tế xảy ra khi người chồng nắm nguồn
tài chính của gia đình Người chồng lấy quyền của mình không chịu chi tiền cho vợ để sắm sửa vật dụng trong nhà hay chi tiêu những khoản cần thiết nhất
Có khi người chồng lại không chịu đóng góp thu nhập của mình, thậm chí còn lá'y tiền bạc tài sản của gia đình để tiêu xài hay đập phá, huỷ hoại tài sản của gia đình cũng được coi là bạo lực kinh tế
1.4.3 Những nguyên nhân gây ra bạo lực với phụ nữ trong gia đình
Muốn phòng tránh và khắc phục tình trạng bạo lực với phụ nữ trong gia đình chúng ta cần phải biết những nguyên nhân của nó Kinh nghiệm thường ngày và việc nghiên cứu khoa học đã cho thấy một số nguyên nhân cơ bản cần được xem xét:
1.4.3.1 Các nguyên nhân khách quan
- Quan niệm lạc hậu trong những môi trường kém phát triển
Từ ngàn xưa, sự ảnh hưởng của nén văn hoá phong kiến, tư tưởng trọng rum khinh nữ đã trở thành phổ biến ở Việt Nam Quan niệm “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” đã khiến người đàn ông luôn cho mình có quyền thống trị trong gia đình cũng như ngoài xã hội, có quyền “dạy con từ thuứ còn thơ, dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về” Và người phụ nữ bị phụ thuộc, trở