1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nhu cầu đối với hoạt động công tác xã hội trong việc nâng cao kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên ở nông thôn (nghiên cứu trường hợp xã lam điền, huyện chương mỹ, thành phố hà nội)

155 390 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------ ĐẶNG THÙY LINH NHU CẦU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC NÂNG CAO KIẾN THỨC CHĂM SÓC SỨC KHỎE S

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

ĐẶNG THÙY LINH

NHU CẦU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC NÂNG CAO KIẾN THỨC CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN Ở NÔNG THÔN

( Nghiên cứu trường hợp xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ,

thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

ĐẶNG THÙY LINH

NHU CẦU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC NÂNG CAO KIẾN THỨC CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN Ở NÔNG THÔN

( Nghiên cứu trường hợp xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ,

thành phố Hà Nội)

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60900101

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu khảo sát và dữ liệu là trung thực Các số liệu và tài liệu khác được trích dẫn nguồn tham khảo rõ ràng

Tác giả Đặng Thùy Linh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này đánh dấu sự trưởng thành của tôi sau quá trình hai năm học tập và nghiên cứu chương trình cao học tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Để có được thành quả này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của gia đình, thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp

Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới quý thầy cô trong và ngoài khoa Xã hội học, trường Đại học KHXH&NV – Đại học Quốc gia Hà Nội

đã truyền tải đến tôi rất nhiều kiến thức trong suốt quá trình tôi học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình tôi đã luôn ở bên tôi, cổ vũ, giúp đỡ

và thông cảm cho tôi Sự cổ vũ, động viên của mọi người là nguồn động lực

để tôi vượt qua mọi khó khăn trong quá trình học tập và làm việc

Các đồng nghiệp ở cơ quan đã luôn tạo điều kiện để tôi có thời gian học tập và nghiên cứu, bạn bè, những người tôi yêu thương đã luôn ở bên cạnh tôi, khích lệ, động viên và đưa ra những lời khuyên hữu ích về học tập cho tôi Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các bạn, các đồng nghiệp của tôi

Tôi sẽ không thể hoàn thành luận văn này nếu không nhận được sự giúp đỡ của lãnh đạo xã Lam Điền, các anh chị cán bộ chuyên trách dân số, Đoàn thanh niên, cán bộ y tế xã Lam Điền, các anh chị giáo viên trường THCS Lam Điền, THPT Chương Mỹ A đã cung cấp cho tôi những thông tin cần thiết để xây dựng nội dung của luận văn Vì vậy tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới các anh chị

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 6

MỤC LỤC

Trang bìa chính

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Danh mục từ viết tắt

Mục lục

Danh mục bảng, biểu

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 7

3 Phạm vi nghiên cứu 7

4 Mục tiêu nghiên cứu 7

5 Câu hỏi nghiên cứu 7

6 Giả thuyết nghiên cứu 8

7 Phương pháp nghiên cứu 8

8 Ý nghĩa của nghiên cứu 9

9 Cấu trúc luận văn 10

NỘI DUNG 11

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 11

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 11

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 11

1.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 13

1.2 Các khái niệm công cụ 18

1.2.1 Khái niệm nhu cầu 18

1.2.2 Khái niệm “sức khoẻ sinh sản” 20

1.2.3 Khái niệm vị thành niên 21

1.2.4 Khái niệm “Sức khoẻ sinh sản vị thành niên” 21

Trang 7

1.2.5 Khái niệm về “ Chăm sóc sức khoẻ sinh sản” 22

1.2.6 Công tác xã hội 22

1.3 Các lý thuyết ứng dụng 24

1.3.1 Lý thuyết phát triển nhận thức 24

1.3.2 Lý thuyết vai trò 26

1.4 Các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về chăm sóc SKSS VTN 27

1.5 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 29

1.5.1.Vị trí địa lý 29

1.5.2 Tình hình kinh tế xã hội 29

Chương 2: THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ CÁC KÊNH THÔNG TIN TRANG BỊ KIẾN THỨC VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN XÃ LAM ĐIỀN 31

2.1 Thực trạng kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của vị thành niên 31

2.1.1 Kiến thức về tuổi dậy thì, tình bạn khác giới, tình yêu 31

2.1.2 Kiến thức về bệnh lây truyền qua đường tình dục, tình dục an toàn 37

2.1.3 Kiến thức về các biện pháp tránh thai 43

2.1.4 Vấn đề kết hôn sớm ở trẻ vị thành niên 50

2.2 Các kênh thông tin trẻ vị thành niên tiếp cận để tìm hiểu kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản 54

2.2.1 Tiếp nhận thông tin từ gia đình 54

2.2.2 Tiếp nhận thông tin từ nhà trường 58

2.2.3 Tiếp cận thông tin từ bạn bè 60

2.1.4 Tiếp nhận thông tin từ các tổ chức xã hội, dịch vụ xã hội 62

2.1.5 Tiếp nhận thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng 65

Tiểu kết 68

Trang 8

Chương 3: NHU CẦU CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN VỀ CÁC HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC CHĂM SÓC SỨC

KHỎE SINH SẢN 70

3.1 Nhu cầu về hoạt động CTXH hỗ trợ trang bị các kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên 70

3.1.1 Hoạt động CTXH hỗ trợ trang bị kiến thức về tâm sinh lý tuổi dậy thì 70

3.1.2 Hoạt động CTXH hỗ trợ trang bị kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường tình dục và cách phòng tránh 74

3.1.3 Hoạt động CTXH hỗ trợ trang bị kiến thức về các biện pháp tránh thai 77

3.1.4 Một số nội dung khác 79

3.2 Nhu cầu về các hoạt động CTXH hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ xã hội về chăm sóc VTN 82

3.2.1 Nhu cầu về hoạt động tư vấn từ phía nhân viên công tác xã hội 82

3.2.2 Nhu cầu hoạt động CTXH hỗ trợ thăm khám định kỳ về sức khỏe sinh sản 85

Tiểu kết 88

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG - BIỂU

Bảng 2.1 : Sự hiểu biết của vị thành niên xã Lam Điền về các bệnh lây

truyền qua đường tình dục 42 Bảng 2.2: Mức độ thường xuyên tiếp nhận thông tin chăm sóc sức

khỏe sinh sản từ gia đình của vị thành niên xã Lam Điền 55 Bảng 2.3: Mức độ thường xuyên tiếp nhận thông tin chăm sóc sức

khỏe sinh sản từ các dịch vụ, tổ chức xã hội của vị thành niên xã Lam Điền 63 Bảng 2.4: Mức độ thường xuyên tiếp nhận thông tin chăm sóc sức

khỏe sinh sản từ các dịch vụ, tổ chức xã hội của vị thành niên xã Lam Điền 66

BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Quan điểm của vị thành niên về việc quan hệ tình dục trong độ

tuổi vị thành niên 38 Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ biết đến các biện pháp phòng tránh thai của vị thành niên

xã Lam Điền 44 Biểu đồ 23 Tỷ lệ lựa chọn các biện pháp tránh thai ở trẻ vị thành niên xã

Lam Điền 46

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, kinh tế - xã hội Việt Nam có những bước phát triển mới, vấn đề sức khoẻ cũng có những đặc điểm riêng, nhiều loại bệnh tật liên quan đến sức khỏe sinh sản Với lối sống hiện nay, số vị thành niên quan hệ tình dục trước hôn nhân tăng, tình trạng nạo phá thai tăng, hiện tượng lạm dụng tình dục trẻ em cũng có xu hướng tăng cao…Những vấn đề này đe dọa trực tiếp đến sức khoẻ sinh sản vị thành niên

Theo tổ chức Y tế thế giới , vị thành niên là nhóm người ở lứa tuổi từ

10 đến 19 tuổi, chiếm 1/5 dân số thế giới Trong số gần 1,2 tỷ vị thành niên thì có hơn 900 triệu người sống ở các nước đang phát triển như Việt Nam Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản

ở vị thành niên như: quan hệ tình dục trước hôn nhân, có thai ngoài ý muốn, tình trạng nạo phá thai có chiều hướng gia tăng, tình hình lây nhiễm HIV ở mức báo động, khoảng một nửa số người nhiễm HIV/AIDS ở lứa tuổi vị thành niên Các điều tra gần đây trên đối tượng vị thành niên cho thấy họ còn thiếu hiểu biết về chăm sóc sức khỏe sinh sản, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là HIV/AIDS, các nguy cơ có thai ở tuổi vị thành niên do

quan hệ tình dục trước hôn nhân…[4] Số liệu thống kê vừa được công bố

năm 2008 của Hội kế hoạch hoá gia đình, Việt Nam là một trong ba nước có

tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới Trong đó, 20% là lứa tuổi vị thành niên Các chuyên gia trong lĩnh vực kế hoạch hóa gia đình cho biết, sự đến sớm của tuổi dậy thì do điều kiện sống cải thiện cùng với quan niệm dễ dãi về tình dục

là những nguyên nhân hàng đầu dẫn tới tỉ lệ nạo phá thai ở trẻ Việt Nam tăng cao Trên phạm vi cả nước có 5% em gái sinh con trước 18 tuổi, 15% sinh con trước tuổi 20 Số trẻ em dưới 15 tuổi mắc các bệnh lây qua đường tình dục chiếm 1,16% (bệnh lậu) và 1,5% với các bệnh hoa liễu khác Đó là chưa kể

Trang 11

tới số lượng những người đi nạo phá thai và chữa các bệnh phụ khoa tại các

cơ sở tư nhân[42]

Năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 Chiến lược đã đề ra nhiều mục tiêu trong đó có mục tiêu số 8 với nội dung: "Cải thiện sức khỏe sinh sản của người chưa thành niên và thanh niên.Tăng tỷ lệ điểm cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản thân thiện với người chưa thành niên và thanh niên lên 50% tổng số điểm cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản vào năm 2015 và 75% vào năm 2020 Giảm 20% số người chưa thành niên có thai ngoài ý muốn vào năm 2015 và giảm 50% vào năm 2020[44] Mặc dù đã có

sự quan tâm tuy nhiên nội dung nhắc tới nhiều nhất vẫn là không lựa chọn giới tính khi sinh từ đó giảm mất cân bằng giới tính Có lẽ vì thế nên mục tiêu hướng đến ở các địa phương khi thực hiện chính sách dân số vẫn là giảm tỷ lệ sinh con thứ ba, không lựa chọn giới tính dưới mọi hình thức

Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục giới tính chưa được các bậc cha mẹ cũng như các nhà giáo dục, các nhà quản lý xã hội quan tâm đúng mức Điều đó dẫn đến khi có những băn khoăn về sự thay đổi của cơ thể, về mối quan hệ với một người khác giới các em không biết chia sẻ cùng ai Đặc biệt, ở khu vực nông thôn, điều kiệp tiếp xúc với kiến thức của các em còn hạn chế Đồng thời do quan niệm lạc hậu ở vùng nông thôn nên thanh thiếu niên hầu như không có được những kiến thức về sức khỏe sinh sản do người lớn hướng dẫn, hoặc chính bản thân người trưởng thành cũng không có hiểu biết về vấn

đề này Đó là một nguyên nhân lớn dẫn đến tình trạng nạo phá thai ở tuổi vị thành niên, sinh con khi còn quá trẻ hay phải bỏ học để lập gia đình khi trót

có thai

Chính vì những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài luận văn là Nhu cầu đối

với hoạt động công tác xã hội trong việc nâng cao kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên ở nông thôn (Nghiên cứu trường hợp xã Lam

Trang 12

Điền, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội) Nghiên cứu kỳ vọng đánh giá

thực tế hiểu biết về kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên ở nông thôn mà cụ thể là trường hợp xã Lam Điền, đồng thời xác định nguồn tiếp cận thông tin của các em từ đó xác định nhu cầu của các em trong việc nâng cao kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên

2 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

* Đối tƣợng nghiên cứu

Nhu cầu đối với hoạt động công tác xã hội trong việc nâng cao kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên

* Khách thể nghiên cứu

Nhóm trẻ vị thành niên tại xã Lam Điền – Chương Mỹ - Hà Nội

3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi thời gian: Từ tháng 03 năm 2016 đến tháng 10 năm 2016

- Phạm vi không gian: xã Lam Điền – huyện Chương Mỹ - TP Hà Nội

4 Mục tiêu nghiên cứu

- Làm rõ thực trạng kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên xã Lam Điền

- Chỉ ra những nguồn cung cấp kiến thức cho vị thành niên xã Lam Điền

- Làm rõ nhu cầu tìm hiểu kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của vị thành niên

- Đưa ra những giải pháp để nâng cao kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên tại xã Lam Điền

5 Câu hỏi nghiên cứu

- Vị thành niên xã Lam Điền hiện nay có hiểu biết như thế nào về chăm sóc sức khỏe sinh sản?

- Nguồn cung cấp kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên là những đối tượng nào? Chất lượng nguồn cung cấp ra sao?

- Nhu cầu tìm hiểu kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành

Trang 13

niên hiện nay ra sao?

- Có thể đưa ra những biện pháp gì để nâng cao kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên xã Lam Điền?

6 Giả thuyết nghiên cứu

- Vị thành niên xã Lam Điền chưa có nhiều kiến thức, hiểu biết về chăm sóc sức khỏe sinh sản

- Nguồn cung cấp kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản chủ yếu cho các em là gia đình, thầy cô, các phương tiện thông tin đại chúng

- Vị thành niên xã Lam Điền có nhu cầu tìm hiểu về những kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản và có nhu cầu tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản

- Gia đình, nhà trường, các cơ quan quản lý cần tăng cường việc giáo dục nâng cao kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Trong nghiên cứu này tác giả tìm hiểu những nghiên cứu và số liệu sẵn

có từ các bài báo khoa học, các luận văn, luận án, các trang web của các tổ chức, các viện nghiên cứu và các trường đại học Qua đó, làm nổi bật các vấn

đề có liên quan đến đề tài: khái niệm công cụ, đặc điểm, nguyên nhân, các chính sách của Đảng, của nhà nước trong việc nâng cao kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên Từ những tài liệu đã có để có cái nhìn tổng quan về những vấn đề của chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên trong cả nước như mang thai trong tuổi vị thành niên, kết hôn sớm, bệnh lây truyền qua đường tình dục…

Tác giả cũng dựa trên các nghiên cứu, các báo cáo có sẵn tại địa phương để nắm bắt được đặc điểm tình hình tại xã Lam Điền cũng như đánh giá được thực trạng kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên tại xã Lam Điền Đặc biệt, luận văn có sử dụng các số liệu từ báo cáo điều tra tình hình hiểu biết về kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên do ban

Trang 14

dân số kế hoạch hóa gia đình xã Lam Điền thực hiện năm 2015

7.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Tiến hành phỏng vấn sâu:

Phỏng vấn sâu 1 cán bộ trong Ban Chấp hành Đoàn thanh niên xã, 1 cán bộ cán bộ chuyên trách dân số, 1 cán bộ cán bộ y tế xã để nắm bắt các hoạt động về chăm sóc sức khỏe sinh sản địa phương tổ chức cho thanh thiếu niên, tình hình chung về thanh thiếu niên ở xã

Phỏng vấn 1 giáo viên dạy sinh học của trường THCS, 1 giáo viên sinh học của trường THPT để biết được hoạt động cung cấp kiến thức cho các em trong trường học được diễn ra như thế nào? Với nội dung, hình thức nào? Từ

đó đánh giá mức độ hiệu quả của việc trang bị kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên

Phỏng vấn sâu với 06 em thanh thiếu niên ở địa phương để biết thêm

về những nhu cầu được trang bị kiến thức liên quan đến SKSS VTN và những đánh giá sơ bộ của các em về vấn đề này

Phỏng vấn sâu 01 phụ huynh có con em đang ở độ tuổi VTN nhằm xem xét mức độ trao đổi thông tin giữa các bậc phụ huynh với các em để tìm hiểu thêm nhu cầu của các bậc phụ huynh về việc dậy con em mình kiến thức sâu cho vấn đề SKSS

8 Ý nghĩa của nghiên cứu

Từ góc nhìn công tác xã hội, nghiên cứu góp phần mở rộng sự hiểu biết đối với thực trạng kiến thức sức khỏe sinh sản của nhóm vị thành niên ở một địa phương cụ thể Nghiên cứu cũng đánh giá được nhu cầu của nhóm trẻ vị thành niên đối với hoạt động công tác xã hội trong việc nâng cao kiến thức sức khỏe sinh sản cho họ

Về mặt thực tiễn, nghiên cứu này cung cấp dữ liện làm cơ sở cho hoạt động nâng cao kiến thức sức khỏe sinh sản của vị thành niên Thêm nữa, cần nhấn mạnh rằng trên cơ sở hiểu biết về thực trạng kiến thức và nhu cầu của vị thành niên về kiến thức cho nhóm xã hội này

Trang 15

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khuyến nghị, Luận văn gồm có

03 chương chính:

Chương 1: của luận văn bao gồm các khái niệm công cụ, các lý thuyết

vận dụng trong quá trình nghiên cứu, các quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính sách của Nhà nước có liên quan đến chăm sóc SKSS vị thành niên Nêu sơ lược đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội xã Lam Điền - huyện Chương Mỹ - thành phố Hà Nội

Chương 2: của luận văn tác giải đi sâu vào nghiên cứu thực trạng kiến

thức chăm sóc SKSS vị thành niên của vị thành niên xã Lam Điền bao gồm các kiến thức về tuổi dậy thì, tình bạn khác giới, tình yêu; kiến thức về tình dục an toàn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục; kiến thức về các biện pháp phòng tránh thai… Thêm vào đó, tác giả phân tích các nguồn trang bị kiến thức về chăm sóc SKSS cho vị thành niên xã Lam Điền như gia đình, bạn bè, thầy cô, các phương thiện thông tin đại chúng…

Chương 3: của luận văn đi sâu vào đánh giá nhu cầu của vị thành niên

xã Lam Điền trong việc nâng cao kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản và nhu cầu tiếp cận các dịch vụ có liên quan đến chăm sóc SKSS vị thành niên

Trang 16

NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Ở trên thế giới, nghiên cứu về SKSS vị thành niên xuất hiện rất sớm và thường được gọi với cái tên giáo dục giới tính Giáo dục giới tính là một thuật ngữ rộng miêu tả việc giáo dục, giải phẫu sinh học, sinh sản, quan hệ tình dục sức khoẻ sinh sản, các quan hệ tình cảm, quyền sinh sản và các trách nhiệm, tránh thai, và các khía cạnh khác của thái độ tình dục loài người

Nghiên cứu của Primary Care về Can thiệp giảm mang thai ngoài ý muốn trong thanh thiếu niên: tổng quan hệ thống các thử nghiệm ngẫu nhiên

có kiểm soát (Interventions to reduce unintended pregnancies among

adolescents: systematic review of randomised controlled trials) đã đánh giá chương trình phòng ngừa mang thai bao gồm các lớp học tình dục học, trạm y

tế có trụ sở trường học, phòng khám kế hoạch hóa gia đình, và các chương trình dựa vào cộng đồng Nghiên cứu cũng đánh giá sự chậm trễ trong đầu quan hệ tình dục, sử dụng bao ngừa thai, hoặc tránh mang thai ngoài ý muốn Tất cả các nghiên cứu đã diễn ra ở Bắc Mỹ, Úc, New Zealand, hay Châu Âu (trừ Đông Âu)[40]

Nghiên cứu đánh giá chương trình phòng ngừa được cung cấp trong các trường cao đẳng hoặc trường đại học, những người đánh giá các can thiệp được thiết kế để ngăn chặn mang thai thứ hai, và những đánh giá chỉ kiến thức

và thái độ; đồng thời loại trừ các nghiên cứu đo chỉ sử dụng bao cao su vì người tham gia nghiên cứu có thể đã được sử dụng các phương pháp khác về kiểm soát sinh và nghiên cứu đo chỉ sinh vì họ bỏ qua việc phá thai Qua

Trang 17

nghiên cứu kết quả cho thấy các hoạt động ngừa thai không hiệu quả, người

sử dụng không chủ động sử dụng biện pháp ngừ thai trong mỗi lần quan hệ

Do vậy, phân tích số liệu cho thấy không giảm trong vấn đề thai ở các phụ nữ trẻ và người nghèo thường có chất lượng tránh thai thấp Nghiên cứu cũng chỉ

ra ít chương trình can thiệp sức khoẻ tình dục được thiết kế với mục tiêu dành cho thanh niên Thanh niên đã cho thấy giáo dục giới tính cần phải trở nên nhạy cảm hơn và ít nhấn mạnh vào giải phẫu và những sự e ngại; nó cần tập trung trên các kỹ năng đàm phán trong quan hệ tình dục và trao đổi; và các chi tiết về các bệnh viện chăm sóc sức khoẻ sinh sản phải được quảng cáo tại các nơi thanh niên thường lui tới [40]

Đồng thời, có một số bằng chứng rằng các chương trình ngăn chặn có thể gần bắt đầu sớm hơn nhiều so với hiện tại Trong một cuộc xem xét tổng quan có hệ thống về tám cuộc thử nghiệm chăm sóc ban ngày cho trẻ em thiệt thòi dưới 5 tuổi, quá trình theo dõi lâu dài cho thấy tỷ lệ mang thai thấp hơn trong số thanh niên Từ đó cho thấy cần điều tra các yếu tố quyết định xã hội về mang thai ngoài ý muốn ở thanh niên thông qua những cuộc nghiên cứu rộng theo chiều dọc bắt đầu từ đầu đời và sử dụng các kết quả phân tích

đa dạng để hướng dẫn việc thiết kế biện pháp ngăn chặn can thiệp Cần phải xem xét thận trọng các quốc gia có tỷ lệ mang thai thanh niên thấp Ví dụ, Hà Lan là một trong những nước có tỷ lệ thấp nhất thế giới (8.1 trên 1000 phụ nữ

trẻ trong độ tuổi 15 tới 19)[41]

Nghiên cứu của Kirby, Douglas về "Kết quả nghiên cứu về chương trình để Giảm trẻ vị thành niên mang thai" (Emerging Answers: Research Findings on Programs to Reduce Teen Pregnancy) nằm trong Chiến dịch Quốc gia để ngăn chặn vị thành niên mang thai đã tóm tắt ba cơ quan nghiên cứu về mang thai và các chương trình thiếu niên để giảm nguy cơ mang thai tuổi vị thành niên Nghiên cứu đã sử dụng một thiết kế thí nghiệm hoặc bán

Trang 18

thực nghiệm, đã có một kích thước mẫu của ít nhất 100 trong nhóm điều trị và kiểm soát kết hợp, và đo tác động đến tình dục hoặc tránh thai hành vi, mang thai, hoặc sinh đẻ Sáu chương của nghiên cứu tập trung vào việc đưa ra luận

cứ cho các nỗ lực phòng chống: Hành vi nguy cơ vị thành niên và hậu quả của nó; Các tiền đề của hành vi tình dục vị thành niên; Các yếu tố ảnh hưởng đến

sự ảnh hưởng mạnh của kết quả nghiên cứu; Các hành vi tác động của các chương trình để giảm vị thành niên tình dục rủi ro; rút ra kết luận về Nhà nước nghiên cứu và tính hiệu quả của chương trình; cuối cùng là áp dụng những kết quả nghiên cứu trong cộng đồng [46]

1.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, những nội dung giáo dục SKSS đã được nhiều cấp, nhiều ngành quan tâm chỉ đạo và tổ chức triển khai các hoạt động cụ thể SKSS đã từng bước trở thành nội dung quan trọng của hầu hết các hoạt động dân số; các mục tiêu SKSS cũng là những mục tiêu cần đạt được của

kế hoạch hoá gia đình Theo Tổng quan các nội dung nghiên cứu về sức khoẻ,

sức khoẻ sinh sản vị thành niên ở Việt Nam từ năm 1995 đến năm 2003, đã có

tổng số 146 tài liệu nghiên cứu, khảo sát về chủ đề này Trong đó có 82/146 (56,1%) tài liệu nghiên cứu về thực trạng tình hình sức khoẻ, SKSSVTN Việt Nam; 18/146 (12,4%) tài liệu nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ, SKSSVTN Việt Nam; 46/146 (31,5%) tài liệu đề cập đến các yếu tố, giải pháp, biện pháp tác động nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, SKSSVTN Các kết quả này cho thấy, những nghiên cứu về các vấn đề

có liên quan đến SKSSVTN đã được khá nhiều các nhà khoa học xã hội và khoa học tự nhiên quan tâm tìm hiểu ở nhiều góc độ khác nhau Mảng nghiên cứu về nhu cầu giáo dục giới tính - SKSSVTN của học sinh THPT đã được một số tác giả tìm tòi với những phát hiện mới mẻ và thú vị, mặc dù những khảo cứu về vấn đề này còn chưa nhiều [1,tr.11] Trong khuôn khổ nghiên cứu

Trang 19

của đề tài tác giả xin trình bày một số đề tài nghiên cứu tiêu biểu

Từ năm 1985, những công trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính,

về tình yêu, hôn nhân gia đình đã bắt đầu được công bố Các tác giả Đặng Xuân Hoài, Trần Trọng Thuỷ, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Tho, Bùi Ngọc Oánh, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức… đã nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh chi tiết của giới tính và giáo dục giới tính sức khỏe sinh sản Đặc biệt từ năm 1988, một đề án với quy mô lớn nghiên cứu về giáo dục đời sống gia đình và giới tính cho học sinh (gọi tắt là Giáo dục đời sống gia đình) có kí hiệu VIE/88/P09 (gọi tắt là đề án P09) đã được Hội cán bộnh phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thực hiện với sự tài trợ của UNFPA và UNESCO khu vực Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giáo sư Trần Trọng Thuỷ và Giáo sư Đặng Xuân Hoài, đề án đã được tiến hành rất thận trọng và khoa học, nghiên cứu khá sâu rộng nhiều vấn đề như: quan niệm về tình bạn, tình yêu, hôn nhân; nhận thức về giới tính và giáo dục giới tính của giáo viên, học sinh, phụ huynh… ở nhiều nơi trong cả nước, để chuẩn bị tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông từ lớp 9 đến lớp12

Từ khoảng năm 1990 đến nay, ở Việt Nam đã có nhiều dự án Quốc gia, nhiều đề tài liên kết với các nước, các tổ chức quốc tế nghiên cứu về giới tính

và những vấn đề có liên quan như: Giáo dục sức khoẻ sinh sản; Giáo dục về tình yêu trong thanh niên, học sinh; Giáo dục đời sống gia đình; Giáo dục giới tính cho học sinh… Việc nghiên cứu giới tính và giáo dục giới tính đã được

sự quan tâm nhiều của Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, các nhà khoa học và các bậc phụ huynh [7,tr.7-34]

Đầu năm 1998, dự án "Hỗ trợ tăng cường sức khoẻ sinh sản vị thành

niên - VIE/97/P12" do Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh

chủ trì đã được triển khai Các đợt truyền thông rộng rãi được tổ chức nhằm

Trang 20

tuyên truyền cho VTN về SKSSVTN, về các biện pháp tránh thai và quan hệ tình dục lành mạnh, an toàn, phòng chống bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là HIV/AIDS, giúp cho VTN có nhận thức đúng và tự điều chỉnh hành vi của mình, góp phần hạ thấp tỷ lệ nạo phá thai và có con ngoài ý muốn trước 18 tuổi

Năm 2002, nhóm tác giả Đoàn Kim Thắng, Nguyễn Thị Văn, Phan Quốc

Thắng (Viện Xã hội học) đã thực hiện nghiên cứu “Nhu cầu giáo dục giới tính,

sức khoẻ sinh sản của học sinh phổ thông trung học: nghiên cứu tại 4 trường phổ thông trong nội thành Hà Nội” Nghiên cứu này đã khẳng định việc tìm

hiểu nhu cầu của học sinh THPT về giáo dục giới tính và SKSS là việc làm có

ý nghĩa để tìm ra đuợc một điều kiện thích hợp nhất cho việc đáp ứng nhu cầu tiếp thu các kiến thức về giáo dục giới tính và SKSS của VTN nói chung, học sinh THPT nói riêng Nhóm tác giả đã chỉ ra những nhu cầu của học sinh THPT nội thành Hà Nội về kiến thức và sự hỗ trợ của xã hội chủ yếu thông qua các phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm học sinh Tuy nhiên, số liệu định lượng trong nghiên cứu này mới tập trung vào đánh giá thực trạng nhận thức của học sinh THPT về mội số nội dung liên quan đến SKSS Những sự khác biệt về giới tính, độ tuổi, khu vực theo học và thực trạng yêu của học sinh THPTchưa được khai thác nhiều trong nghiên cứu nhu cầu Ngoài ra, một số nội dung liên quan tới nhu cầu giáo dục SKSSVTN của học sinh từ phía nhà trường chưa được nghiên cứu làm rõ [31,tr59 – 70] Mặc dù vậy, đây có thể coi là một tài liệu quan trọng đối với đề tài trong quá trình nghiên cứu, phân tích

Nghiên cứu của nhóm tác giả Đoàn Kim Thắng, Dương Chí Thiện về

“Giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên” đăng trên Tạp chí

Khoa học Phụ nữ số 3 (46), tháng 5/2001 cho thấy, các kiến thức về giáo dục giới tính và SKSS mà các em lứa tuổi VTN đã có được khá đa dạng phong phú, nó có nhiều hơn những gì mà người lớn chúng ta thường hay đánh giá

Trang 21

quá nặng nề hoặc quá xem nhẹ Song những kiến thức này chưa thể nói là đầy

đủ và hệ thống được Sự hiểu biết ở các em mới chỉ dừng lại phần lớn trên lý thuyết và sách vở, còn trên thực tế của cuộc sống hàng ngày, những kiến thức

đó chưa đủ để các em có thể tự tin mà có những ứng xử và hành động đúng trong tất cả các trường hợp cụ thể Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, bản thân các em đã thể hiện sự quan tâm và mong muốn được học tập, được hiểu biết nhiều hơn nữa những nội dung của lĩnh vực SKSSVTN Điều này hết sức cần thiết và bổ ích rất nhiều cho các em trong cuộc sống hiện tại và tương lai [30,tr.46]

Tình hình thực hiện chiến lược dân số Việt Nam và chiến lược Quốc gia

về sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001- 2010 nêu rõ: “Tạo sự chuyển đổi hành vi

bền vững về dân số, SKSS, kế hoạch hóa gia đình trên cơ sở cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin với nội dung và hình thức phù hợp với từng vùng, từng khu vực và từng nhóm đối tượng Chú trọng hình thức tư vấn, đối thoại, vận động trực tiếp các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, nam giới, thanh niên và những người chưa thành niên”.Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai

đoạn 2011-2020 Dự án VIE/97/P13 của Bộ giáo dục - đào tạo đã sản xuất tài

liệu: Phương pháp giảng dạy các chủ đề nhạy cảm về “SKSS”(2000) và bộ tài

liệu tự học dành cho giáo viên “giáo dục SKSSVTN”(2001) Năm 2004, Ủy ban

dân số gia đình và trẻ em triển khai đề án:“Mô hình cung cấp thông tin và dịch

vụ SKSS/ kế hoạc hóa gia đình cho VTN và thanh niên” tại 10 tỉnh thành phố

Năm 2006 mở rộng ra 28 tỉnh thành phố Mục tiêu chính của đề án nhằm nâng cao nhận thức về SKSS/ Kế hoạch hóa gia đình, bao gồm các vấn đề liên quan

về giới, giới tính, tình dục an toàn, bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS góp phần làm giảm các hành vi gây tác hại đến SKSSVTN [5,tr.6]

Sức khỏe sinh sản không chỉ dừng bởi các công trình nghiên cứu mà nó

còn được xuất hiện rất nhiều trên tạp chí:“Tình bạn, tình yêu, tình dục tuổi vị

Trang 22

thành niên”-Nguyễn Linh Khiếu, tạp chí Khoa học về phụ nữ, số 3/2000- Bài

viết là kết quả nghiên cứu khía cạnh tình bạn, tình yêu trong một dự án về

SKSS vị thành niên năm 1998.“Vị thành niên và các vấn đề Sức khỏe sinh

sản”- Nguyễn Phương Thảo, tạp chí Khoa học về Phụ nữ số 3/2003: phân tích

hiểu biết của VTN về những nội dung cơ bản: tuổi dậy thì, tình dục, mang

thai ngoài ý muốn, các biện pháp tránh thai.“Giáo dục giới tính và SKSS

VTN”- Đoàn Kim Thắng và Dương Chí Thiện, tạp chí Khoa học về Phụ nữ số

3/2001bài viết đã đưa ra thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi trẻ em VTN đối với giáo dục SKSS và giáo dục giới tính

Ngoài sự đóng góp của các công trình nghiên cứu và tạp chí nêu trên, chúng ta không thể không nhắc đến những đóng góp của các luận văn Thạc sĩ

dưới góc độ xã hội học: “Giáo dục giới tính cho con cái trong gia đình hiện

nay” (1997) của tác giả Phạm Thị Kim Xuyến đã chỉ ra được thực trạng nhận

thức của các em học sinh THPT về giáo dục giới tính cũng như tình trạng dạy

và học giáo dục giới tính hiện nay “Tìm hiểu nhận thức và hành vi chăm sóc

SKSS của VTN Việt Nam hiện nay” (2002) của tác giả Bùi Thu Hương “Vai trò của cha mẹ trong việc Giáo dục SKSS VTN trong các gia đình công nhân viên chức ở thị xã Tam Điệp, Ninh Bình hiện nay” (2005) của tác giả Nguyễn

Thanh Hương “Nhu cầu SKSSVTN tại các trường trung học cơ sở trên địa

bàn Quận Tây Hồ” (2007) của tác giả Trương Thị Kim Hoa Trong luận văn

của mình, thạc sĩ Nguyễn Thị Phương Dung cũng đã đưa ra những nhận định

rõ nét“Nhận thức về SKSS của học sinh” (2008) khi tiến hành nghiên cứu

trường hợp Quận Hoàng Mai nhằm trả lời cho câu hỏi về kiến thức hiểu biết, tâm thế hành vi và xu hướng biến đổi nhận thức về SKSS của học sinh THPT

quận Hoàng Mai “Thực trạng nhận thức hành vi về tình dục và các biện pháp

tránh thai của sinh viên các trường Đại học ở Việt Nam hiện nay”(2009) của

tác giả Trương Thị Thúy Hạnh Công trình này đã đóng góp một cái nhìn toàn

Trang 23

cảnh về thực trạng nhận thức của sinh viên các trường Đại học ở Việt Nam về hành vi tình dục và các biện pháp tránh thai[ 22,tr.7]

Nhìn chung các đề tài nghiên cứu thường tập trung đi sâu vào tìm hiểu thực trạng hiểu biết về SKSS và thái độ hành vi của thanh thiếu niên về các kiến thức sức khỏe sinh sản tại các Thành phố lớn, các trường học THCS, THPT Những thống kê nêu trên cho thấy vấn đề giáo dục chăm sóc sức khỏe sinh sản đóng vai trò rất quan trong trong mục tiêu phát triển con người Việt Nam, mà tập trung vào thế hệ trẻ, tương lai của đất nước Trên cơ sở những

nền tảng của nghiên cứu đi trước, tác giả tiếp tục phát triển đề tài: “Nhu cầu

đối với hoạt động công tác xã hội trong việc nâng cao kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên ở nông thôn (Nghiên cứu trường hợp xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội)” để nghiên cứu Điểm mới của

luận văn so với các công trình nghiên cứu đi trước chính là nghiên cứu trên địa bàn nông thôn dưới góc nhìn công tác xã hội Không dừng ở việc nghiên cứu thực trạng hiểu biết của VTN đối với vấn đề chăm sóc SKSS , nhận định

về nhu cầu giáo dục kiến thức SKSS của vị thành niên, bên cạnh đó tác giả còn đưa ra một số khuyến nghị phù hợp để phát triển công tác nâng cao kiến thức chăm sóc SKSS VTN ở nông thôn Việt Nam nói chung và xã Lam Điền nói riêng

1.2 Các khái niệm công cụ

1.2.1 Khái niệm nhu cầu

Nhu cầu là khái niệm được nhiều ngành khoa học nghiên cứu và ứng dụng vào các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống Có nhiều công trình nghiên cứu về nhu cầu và cùng đi đến một nhận định: “Nhu cầu là một trong những nguồn gốc nội tại sinh ra tính tích cực của con người” [1,tr17]

A Maslow cho rằng, ở con người, ngay từ khi mới ra đời đã có các lớp nhu cầu phân loại một cách nhất quán, tính lôgíc nhất quán chứng tỏ một trật

Trang 24

tự xuất hiện các nhu cầu trong quá trình phát triển cá thể Tuy nhiên, hệ thống nhu cầu có tính chất thứ bậc này lại hết sức linh hoạt và biến động Căn cứ vào các đặc trưng cơ bản của nhu cầu, A Maslow đã phân chia nhu cầu từ cấp thấp đến cấp cao theo một hệ thống 5 bậc và sắp xếp nó theo thứ tự hình tháp được gọi là tháp nhu cầu [19,tr.54-56]

- Nhóm nhu cầu cấp thấp bao gồm:

+ Nhu cầu sinh lý: Nhu cầu tối thiểu cần thiết cho quá trình phát triển

tự nhiên của con người: ăn, mặc, ngủ, nghỉ, chơi

+ Nhu cầu an toàn: Nhu cầu được bảo vệ bản thân, bảo vệ tài sản, được sống yên ổn, ví dụ như bảo hiểm, uống nước sạch, không khí để tồn tại - Nhóm nhu cầu cấp cao bao gồm:

+ Nhu cầu xã hội: Nhu cầu được yêu thương, nhu cầu lệ thuộc, mong muốn có quan hệ với người khác, sự quan tâm, sự phối hợp hoạt động

+ Nhu cầu được kính trọng về các giá trị bản thân, sự độc lập, sự công nhận thành quả và tôn trọng từ người khác

+ Nhu cầu tự khẳng định mình: phát triển nhân cách, tự hoàn thiện, phát huy những tiềm năng của mình

Theo A Maslow, nhu cầu được sắp xếp theo thứ tự phân cấp các mức

độ quan trọng với nguyên tắc nhu cầu ở cấp độ nào thấp hơn phải được thỏa mãn thì mới nảy sinh các nhu cầu cao hơn Tuy nhiên, không nhất thiết phải thoả mãn hoàn toàn một nhu cầu nào đó như quan điểm của A Maslow mà chỉ cần thoả mãn một phần nhu cầu cấp dưới nào đó con nguời đã muốn thực hiện nhu cầu cấp cao hơn Tóm lại, việc sắp xếp thứ bậc các nhu cầu như trên chỉ mang tính tương đối Tuy nhiên, việc vận dụng thang nhu cầu của A Maslow vào việc nghiên cứu nhu cầu giáo dục SKSSVTN của vị thành niên hiện nay có một ý nghĩa đáng kể, bởi việc biết rõ vị thành niên đang ở bậc thang nhu cầu nào, các hoạt động chăm sóc SKSSVTN sẽ có thể hướng tới

Trang 25

việc thoả mãn nhu cầu đó Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nhu cầu nâng cao kiến thức chăm sóc SKSSVTN của được giới hạn ở ba nội dung: nhu cầu được tiếp nhận các kênh thông tin có liên quan đến SKSSVTN, nhu cầu về các nội dung kiến thức SKSSVTN, nhu cầu về sự hỗ trợ của xã hội

1.2.2 Khái niệm “sức khoẻ sinh sản”

Sức khỏe sinh sản là trạng thái khỏe mạnh hoàn toàn hài hòa về mặt xã hội, tinh thần và thể chất trong tất cả những vấn đề có liên quan đến hệ thống sinh sản, chức năng và quá trình hoạt động của nó Nó có nghĩa là con người có khả năng sinh sản và được tự do quyết định có hay không, khi nào, bao lâu và như thế nào trong việc này Điều này cũng có ý nghĩa là quyền của phụ nữ và nam giới được thông tin và tiếp cận các biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn, hiệu quả, dễ dàng và thích hợp nhằm điều hòa việc sinh đẻ không trái với pháp luật; quyền được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thích hợp giúp cho người phụ nữ trải qua thai nghén và sinh đẻ an toàn, tạo cho những cặp vợ chồng những điều kiện tốt nhất để có đứa con khỏe mạnh [4,tr.12]

Từ định nghĩa này có thể khẳng định rằng việc chăm sóc SKSS là một tổng thể các biện pháp kỹ thuật và dịch vụ góp phần nâng cao sức khỏe và hạnh phúc bằng cách phòng ngừa hậu quả và giải quyết các vấn đề về SKSS

Nó cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục với mục đích là đề cao cuộc sống và các mối quan hệ riêng tư, chứ không chỉ là việc tư vấn và chăm sóc liên quan đến sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục SKSS không chỉ là trạng thái không có bệnh tật hoặc các vấn đề sức khỏe khác, mà SKSS phải được hiểu trong khuôn khổ của các mối quan hệ giữa sự thực hiện và rủi ro,

cơ hội có đứa con mong muốn hoặc ngược lại, tránh mang thai ngoài ý muốn

và không an toàn SKSS góp phần rất lớn cho nguồn an ủi về thể chất và tâm sinh lý xã hội và sự gần gũi, sự trưởng thành cá nhân và xã hội SKSS kém đi

có thể gắn liền với bệnh tật, lạm dụng, mang thai ngoài ý muốn và tử vong

Trang 26

[4,tr12 – 13]

Ở Việt Nam có 7 nội dung SKSS ưu tiên gồm có: Quyền sinh sản; kế hoạch hóa gia đình; làm mẹ an toàn; phòng tránh phá thai, phá thai an toàn; phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục trong đó có HIV/AIDS; chăm sóc SKSS vị thành niên [4,tr.13]

1.2.3 Khái niệm vị thành niên

Theo tổ chức y tế thế giới, Vị thành niên là những em đang ở giai đoạn chuyển tiếp từ ấu thơ sang trưởng thành trong độ tuổi từ 10 đến 19 tuổi Tại Việt Nam vị thành niên là lứa tuổi từ 10 đến 19 tuổi Thanh niên là từ 19 -

24 tuổi Trẻ em được luật pháp bảo vệ chăm sóc giáo dục là dưới 16 tuổi Về mặt luật pháp vị thành niên là dưới 18 tuổi [4,tr.9]

Tuổi VTN là thời kì phát triển đặc biệt – thời kì xảy ra đồng thời hàng loạt những biến đổi nhanh chóng cả về cơ thể cũng như sự biến đổi tâm lí và các mối quan hệ xã hội, bước đầu hình thành nhân cách nên làm nảy sinh nhiều rối nhiễu về tâm lý nhất so với các lứa tuổi khác Tuổi VTN được chia

ra làm 3 giai đoạn : VTN sớm: từ 10-13 tuổi, VTN giữa: từ 14-16 tuổi, VTN muộn: từ 17-19 tuổi Sự phân chia các nhóm như vậy là dựa trên sự phát triển thể chất, tâm lý, xã hội của từng thời ký, sự phân chia này chỉ có tính chất tương đối vì trên thực tế yếu tố tâm lý, phát triển thể lực của mỗi em có những

đặc điểm riêng biệt không hoàn toàn theo đúng như sự phân định [4,tr.9]

1.2.4 Khái niệm “Sức khoẻ sinh sản vị thành niên”

SKSS vị thành niên là những nội dung về SKSS liên quan, tương ứng với lứa tuổi vị thành niên, đó là tình trạng khỏe mạnh của vị thành niên về thể chất, tinh thần và xã hội trong mọi vấn đề liên quan đến hệ thống sinh sản, chức năng và quá trình hoạt động của nó Tất cả những vấn đề về sức khỏe trong thời kỳ VTN đều liên quan đến sự phát triển tự nhiên của thể chất và

Trang 27

tinh thần, về giới tính, nó tác động một cách cực kỳ sâu sắc và mạnh mẽ tới sự phát triển của cá thể trong giai đoạn tiếp theo hình thành một con người hoàn thiện của các chức năng đầy đủ đặc biệt là cacsc chắc năng về tình dục, sinh sản và các lĩnh vực tâm lý [4,tr.13]

1.2.5 Khái niệm về “ Chăm sóc sức khoẻ sinh sản”

Chăm sóc SKSS là một tập hợp các phương pháp, kỹ thuật và dịch vụ nhằm giúp cho con người có tình trạng SKSS khỏe mạnh thông qua việc phòng chống và giải quyết những vấn đề liên quan đến SKSS Điều này cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục với mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống và mối quan hệ giữa con người với con người mà không chỉ dừng lại ở chăm sóc

y tế và tư vấn một cách đơn thuần cho việc sinh sản và những nhiễm trùng

qua đường tình dục [47]

1.2.6 Nhu cầu hoạt động công tác xã hội

* Khái niệm Công tác xã hội:

Theo Hiệp hội Quốc gia nhân viên công tác xã hội (NASW): Công tác

xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ Công tác xã hội tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc sống [25,tr.18]

Tại nghiên cứu này, tác giả hướng tới các hoạt động công tác xã hội bán chuyên nghiệp có sẵn tại địa phương như tổ chức Đoàn thanh niên, ban dân số kế hoạch hóa gia đình Cũng từ những kết quả nghiên cứu thu được để đưa ra các biện pháp phát triển có hiệu quả hơn nữa các hoạt động này theo nhu cầu của trẻ VTN

* Chức năng của công tác xã hội

Trang 28

- Chức năng phòng ngừa:Với quan điểm tiếp cận phòng hơn chữa, chức

năng đầu tiên của công tác xã hội là phòng ngừa, ngăn chặn cá nhân, gia đình

và cộng đồng rơi vào tình huống khó khăn chứ không phải để đối tượng rơi vào hoàn cảnh khó khăn rồi mới giúp đỡ Chức năng phòng ngừa của công tác

xã hội thể thiện qua các hoạt động giáo dục, phổ biến tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cá nhân, gia đình và cộng đồng về luật pháp, chính sách xã hội

và những vấn đề xã hội Thông qua các hoạt động giáo dục như vậy, công tác

xã hội đã giúp ngăn ngừa các vấn đề xã hội có thể xảy ra với cá nhân, gia đình

và cộng đồng Bên cạnh đó chức năng phòng ngừa còn thể hiện thông qua các hoạt động xây dựng văn bản, chính sách xã hội góp phần cải thiện và nâng cao đời sống, ngăn chặn gia tăng đối tượng rơi vào hoàn cảnh khó khăn [25,tr20]

- Chức năng can thiệp: Chức năng can thiệp (còn được gọi là chức năng

chữa trị hay trị liệu) nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết vấn đề khó khăn họ đang phải đối mặt Với từng vấn đề và với mỗi đối tượng khác nhau, nhân viên công tác xã hội sẽ có phương pháp can thiệp hỗ trợ riêng biệt Với những vấn đề cần phức tạp, cần nhiều nguồn lực, nhân viên công tác xã hội cần tìm kiếm, điều phối và kết nối các dịch vụ, nguồn lực đến với đối tượng [25,tr20]

- Chức năng phục hồi:Chức năng phục hồi của công tác xã hội thể hiện

ở việc giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng khôi phục lại chức năng tâm lý, xã hội đã bị suy giảm lấy lại trạng thái cân bằng trong cuộc sống Thông qua các hoạt động phục hồi, nhân viên công tác xã hội giúp cho đối tượng trở lại cuộc sống bình thường, hoà nhập cộng đồng[25,tr21]

- Chức năng phát triển:Công tác xã hội thực hiện chức năng phát triển

thông qua các hoạt động xây dựng luật pháp, các chính sách, chương trình

Trang 29

dịch vụ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng phát triển khả năng của mình đóng góp cho sự phát triển của xã hội Chức năng phát triển còn giúp đối tượng tăng năng lực và tăng khả năng ứng phó với các tình huống và có nguy

cơ cao dẫn đến những vấn đề khó khăn cho cá nhân, gia đình và cộng đồng [25,tr21]

* Nhu cầu hoạt động công tác xã hội

Qua những chức năng của công tác xã hội có thể xác định nhu cầu hoạt động công tác xã hội của nhóm trẻ VTN về chăm sóc SKSS gồm những nhu cầu sau:

- Nhu cầu được trang bị các kiến thức về chăm sóc SKSS cho nhóm trẻ VTN Từ việc có được những kiến thức đó các em sẽ phòng tránh được những rủi ro như ảnh hưởng tâm lý khi dậy thì, chủ động phòng tránh bệnh lây truyền qua đường tình dục, phòng tránh không mang thai ngoài ý muốn…

- Nhu cầu được hỗ trợ, thăm khám SKSS

- Nhu cầu được tư vấn, hỗ trợ khi gặp phải vấn đề về tâm sinh lý tuổi VTN

1.3 Các lý thuyết ứng dụng

1.3.1 Lý thuyết phát triển nhận thức

Một trong những tác giả tiêu biểu của thuyết này là Jean Piaget (1896 - 1980) Phần lớn quan điểm của ông đều tập trung vào nhận thức của con người - quá trình tư duy và hiểu biết của con người Ông đã phát triển lý thuyết cho rằng trẻ em sắp xếp thế giới riêng của chúng theo những cách đặc trưng tương ứng với độ tuổi Ông cho rằng sự phát triển của con người là kết quả của cả hai sự trưởng thành sinh học và gia tăng kinh nghiệm xã hội [24,tr.109]

Ông khẳng định rằng có bốn giai đoạn phát triển chính: vận động cảm

Trang 30

giác, tiền hoạt động, hoạt động cụ thể và hoạt động chính thức Giai đoạn đầu tiên trong sự phát triển của con người theo mô hình của Piaget là giai đoạn vận động cảm giác - mức độ phát triển của con nguời trong đó thế giới được hiểu chỉ bằng các giác quan theo nghĩa tiếp xúc cụ thể (tương ứng với khoảng thời gian hai năm đầu tiên của đời sống) [24,tr.110]

Giai đoạn tiền suy tính (tiền hoạt động) ám chỉ mức độ phát triển của con người trong đó ngôn ngữ và các ký hiệu khác được sử dụng lần đầu tiên, trẻ có thể nhận thức một vấn đề gì đó không cần phải tiếp xúc trực tiếp (thông thường bắt đầu khi lên hai và kéo dài đến khi bảy tuổi)

Giai đoạn thứ ba trong mô hình của Piaget là giai đoạn suy tính cụ thể (hoạt động cụ thể), chỉ mức độ phát triển của con người biểu thị đặc điểm bằng việc sử dụng tính lôgíc để hiểu đồ vật hay sự kiện, nhưng không phải theo nghĩa trừu tượng, trẻ thể hiện sự tiến bộ đáng kể trong khả năng hiểu biết

và khai thác môi trường, trẻ có thể nhận thức một tình huống từ quan điểm của người khác (tương ứng với độ tuổi từ 7 đến 11)

Giai đoạn thứ tư là giai đoạn suy tính hình thức (hoạt động chính thức),

là mức độ phát triển của con người được biểu thị đặc điểm bằng khả năng tư duy trừu tượng cao và khả năng tưởng tượng những điều thay thế cho hiện tại (bắt đầu ở tuổi 12) Piaget tin rằng con người trong mỗi nền văn hoá tiến bộ liên tục qua bốn giai đoạn trên Nhưng ông cũng lưu ý độ tuổi chính xác đạt đến từng giai đoạn lại khác nhau ở mọi người, tuỳ thuộc khả năng tâm thần bẩm sinh và cường độ hiểu biết xã hội

Thuyết phát triển nhận thức của Piaget nhấn mạnh tầm quan trong của kinh nghiệm xã hội trong sự phát triển nhân cách Con người không có khả năng sáng tạo và tư duy tưởng tượng cao thì không thể phát triển khả năng ở chính mình

Vận dụng thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget, đề tài đặt nhu

Trang 31

cầu nâng cao kiến thức SKSSVTN vị thành niên trong sự phát triển nhận thức tương ứng với lứa tuổi VTN VTN có quan điểm, sự nhìn nhận, đánh giá riêng về các vấn đề tình bạn, tình yêu, môi trường sống cùng với sự trưởng thành của bản thân trước sự tác động tổng hợp của các yếu tố kinh tế - xã hội

Từ đó, VTN có nhu cầu được GD về SKSS Ở đây, quá trình xã hội hoá cá nhân là kết quả của sự trưởng thành sinh học - phát triển tâm sinh lý lứa tuổi dậy thì và những kinh nghiệm xã hội mà VTN tích luỹ dần trong quá trình học tập, lao động và tham gia các tương tác xã hội

1.3.2 Lý thuyết vai trò

Vai trò là những khuôn mẫu ứng xử khác nhau do xã hội áp đặt cho mỗi chức vị của con người trong xã hội đó Thí dụ bố phải thương con, mẹ phải hiền, chồng phải biết chăm sóc vợ, vợ phải đảm đang, con cái phải nghe lời bố mẹ, trò phải chăm chỉ, thầy phải nghiêm túc… Có hai loại vai trò khác nhau: vai trò hiện và vai trò ẩn Vai trò hiện là vai trò bên ngoài mọi người đều có thể thấy được Vai trò ẩn là vai trò không biểu lộ ra bên ngoài mà có khi chính người đóng vai trò đó cũng không biết [20,tr.87]

Theo Ralph Linton, vai trò là một quan điểm cơ bản trong lý thuyết xã hội học nó đánh giá cao những mong đợi xã hội gắn với những vị thế cụ thể

và phân tích thực hiện những mong đợi Mỗi tổ chức/ cá nhân có một loại vai trò được đem lại từ những hình mẫu xã hội khác nhau mà anh ta tham dự Trong tiến trình cuộc đời của mỗi cá nhân thực hiện một số những vai trò khác nhau lần lượt hoặc đồng thời và tổng hợp tất cả các vai trò xã hội của anh ta được thực hiện từ khi sinh ra cho đến lúc chết tạo thành nhân cách xã hội của anh ta Ralph Linton nói chúng ta giữ địa vị nhưng chúng ta đóng các vai trò Vai trò và địa vị không thể tách rời nhau Không thể có vai trò mà không có địa vị hoặc ngược lại Vai trò trở thành tập hợp các quyền và nghĩa

vụ đã được thể chế hoá có nghĩa là với vị trí mà các cá nhân xã hội hay tổ

Trang 32

chức nắm giữ thì chủ thể xã hội đó cần thực hiện tốt những mong đợi, bổn phận, trách nhiệm ở vị trí đó [20,tr88- tr89]

Việc giáo dục đạo đức nhân cách cho thế hệ trẻ là một quá trình lâu dài liên tục, diễn ra ở nhiều môi trường với nhiều vai trò khác nhau, liên quan rất nhiều đến các mối quan hệ xã hội phức tạp Vì thế, việc giáo dục nói chung và giáo dục kiến thức SKSS cho trẻ em nói riêng luôn luôn đòi hỏi có sự phối hợp, kết hợp của nhiều lực lượng đoàn thể xã hội và nhất là đòi hỏi sự quan tâm thực sự sâu sắc của mọi người trong xã hội

Ứng dụng lý thuyết vai trò vào việc nghiên cứu nhu cầu giáo dục SKSS của vị thành niên ở nông thôn, chúng ta thấy có 3 nhân tố chính trong nhiệm

vụ giáo dục các em đó là: gia đình, nhà trường và xã hội Mỗi nhân tố đều mang 1 vai trò riêng nhất định:

+ Gia đình : là tế bào của xã hội, là nền tảng của mỗi quốc gia và là chỗ dựa vững chắc về mặt tinh thần, đồng thời cũng là kim chỉ nam để tránh những nhận thức lệch lạc từ phía học sinh

+ Nhà trường : là môi trường giáo dục chuyên nghiệp, không chỉ phát triển về kiến thức mà còn phải truyền tải cho học sinh những giá trị chuẩn mực của xã hội để các em trở thành những con người trí thức thật sự có đời sống tinh thần phong phú bên cạnh cuộc sống gia đình

+ Xã hội : là môi trường thực tế, giúp học sinh hoàn thiện một số kĩ năng cuộc sống, chi phối một phần rất lớn trong suy nghĩ và hành động của học sinh

Vì vậy, sự phối hợp của ba nhân tố trên là việc làm hết sức cần thiết để nâng cao kiến thức SKSS cho học sinh khi bước vào tuổi VTN

1.4 Các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về chăm sóc SKSS VTN

Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến các yếu tố con người trong đó có chất lượng đặt lên hàng đầu, vì vậy luôn dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ

Trang 33

em Chương trình SKSS VTN là một nội dung quan trọng trong chiến lược chăm sóc SKSS quốc gia, giai đoạn 2001 – 2010 được Thủ tướng Chính Phủ

ký tại quyết định số 136/ QĐ – TTg ngày 28/11/2000 và Quyết định số 01/2006/ QĐ – DSGĐTE nagỳ 17/3/2006 của Bộ trưởng Chủ nhiệm Uỷ ban Dân số, gia đình và trẻ em ban hành chiến lược truyền thông giáo dục chuyển đổi hành vi về dân số, SKSS/KHHGĐ giai đoạn 2006 – 2010

Bao gồm các chỉ tiêu phấn đấu cho giai đoạn này:

Mục tiêu 1: Nâng cao hiểu biết, kiến thức và kĩ năng sống cơ bản về

SKSS, SKSS/KHHGĐ, tình dục an toàn, phòng chống HIV/AIDS, ma tuý, mại dâm nhằm góp phần tạo hành vi đúng đắn, có lợi cho SKSS VTN, thanh niên, kể cả thanh niên đã kết hôn

Chỉ tiêu đặt ra là :95% VTN, thanh niên, kể cả thanh niên đã kết hôn nêu được những kiến thức, kĩ năng sống cơ bản liên quan đến chăm sóc SKSS VTN, thanh niên, giới, giới tính và tình dục an toàn 90% VTN, thanh niên, kể

cả thanh niên đã kết hôn chấp nhận thực hiện các hành vi có lợi về chăm sóc SKSS VTN, thanh niên, giới, HIV/AIDS, tình dục và tình dục an toàn Góp phần giảm tỉ lệ VTN, thanh niên mang thai ngoài ý muốn, sinh con ở tuổi VTN Góp phần giảm tỉ lệ VTN, thanh niên mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS

Ngoài Bộ y tế xây dựng kế hoạch tổng thể Quốc gia về bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khoẻ của VTN, thanh niên Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010

và định hướng đến 2020

Mục tiêu 2: Nâng cao kiến thức, kĩ năng và hành vi của VTN, thanh

niên trong việc tự bảo vệ và nâng cao sức khoẻ bản thân liên quan đến SKSS/SKTD, HIV/AIDS, tai nạn thương tích, sử dụng chất gây nghiện và sức khoẻ tâm thần

Các chỉ tiêu đặt ra là: 80% VTN, thanh niên hiểu biết về thời điểm dễ

Trang 34

có thai và 90% hiểu biết về biện pháp tránh thai 80% VTN, thanh niên thành thị và 70% VTN, thanh niên nông thôn biết cách giữ gìn, vệ sinh đường sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục 80% VTN, thanh niên thành thị và 70% VTN, thanh niên nông thôn biết về nơi cung cấp và có thể tiếp cận dịch vụ, tư vấn cho những vấn đề tâm sinh lí của lứa tuổi

1.5 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

1.5.1.Vị trí địa lý

Xã Lam Điền – huyện Chương Mỹ là xã thuần nông, cách trung tâm huyện 5 km về phía Đông Nam, cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 25km, xã có diện tích đất tự nhiên là 811,09ha, trong đó đất nông nghiệp là 524,1ha

Về địa giới hành chính: phía Bắc giáp xã Thụy Hương, phía Đông giáp

xã Thanh Cao, Cao Viên của huyện Thanh Oai, phía Nam giáp xã Hoàng Diệu, phía Tây giáp xã Đại Yên và Hợp Đồng

1.5.2 Tình hình kinh tế xã hội

Tổng giá trị kinh tế xã Lam Điền năm 2015 đạt 348 tỷ 617 triệu đồng, bình quân thu nhập đầu người là 29.020.000 đồng/người/năm Trong đó tổng giá trị trồng trọt đạt 65 tỷ 035 triệu đồng chiếm 18.66% tổng giá trị kinh tế toàn xã.Tổng giá trị ngành chăn nuôi đạt 51 tỷ 260 triệu đồng đạt 14,7% so với tổng kinh tế toàn xã Tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ đem lại nguồn thu lớn với tổng giá trị đạt 232 tỷ 322 triệu đồng, chiếm 66,9% tổng giá trị kinh tế toàn xã [39,tr1 - tr2]

Toàn xã có 2784 hộ với 11626 nhân khẩu, được phân bố theo địa bàn 5 thôn Trong đó độ tuổi vị thành niên trong độ tuổi từ 10 – 19 tuổi có 1312 em Trong đó có 638 em nam và nữ là 674 em Đa số các em hiện tại đang theo học tại trường Tiểu học và Trung học cơ sở ở xã Một số ít theo học các trường khác như Tiểu học Thị trấn Chúc Sơn, Trung học cơ sở Ngô Sỹ Liên

Số học sinh học cấp 3 đa phần theo học tại trường Trung học phổ thông

Trang 35

Chương Mỹ A, một số lượng nhỏ học sinh theo học các trường Trung học phổ thông Chương Mỹ B, Trung học phổ thông Đặng Tiến Đông và Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Chương Mỹ Có một bộ phận nhỏ các em trong

độ tuổi đi học ở nhà lao động sản xuất [2]

Công tác giáo dục của xã luôn được quan tâm, duy trì tốt hoạt động của hội khuyến học xã và tổ chức huy động cán bộ công chức và nhân dân tham gia Trong năm 2015, công tác giáo dục xã Lam Điền đã đạt được nhiều thành tích: số học sinh giỏi cấp huyện là 222 em ( 10 em mẫu giáo, 89 em của trường tiểu học

và 123 em của trường Trung học cơ sở), có 2 giáo viên được công nhận là giáo viên giỏi cấp thành phố, 20 giáo viên được công nhận là giáo viên giỏi cấp huyện Các buổi lễ kỷ niệm được quan tâm tổ chức [39,tr.7]

Về công tác y tế cũng được toàn xã quan tâm trú trọng Những nhiệm

vụ trọng tâm năm 2015 được làm tốt như tiêm chủng mở rộng và uống vitamin cho trẻ em, phòng chống các dịch bệnh, duy trì tốt khám chữa bệnh cho toàn thể nhân dân Trong năm 2015 đã tổ chức khám cho 6855 lượt người trong đó điều trị nội trú tại trạm y tế xã là 585 lượt người, ngoại trú là 5088 lượt người Công tác dân số cơ bản đảm bảo giảm tổng số sinh và sinh con thứ ba [39,tr.8]

Công tác văn hóa được thực hiện Bên cạnh việc tuyên truyền chính sách, việc xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, thực hiện nếp sống văn minh trong nhân dân được coi là nhiệm vụ hàng đầu của việc phát triển văn hóa tại địa phương [39,tr.9]

Trang 36

Chương 2

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ CÁC KÊNH THÔNG TIN TRANG

BỊ KIẾN THỨC VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ

THÀNH NIÊN XÃ LAM ĐIỀN

2.1 Thực trạng kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của vị thành niên

2.1.1 Kiến thức về tuổi dậy thì, tình bạn khác giới, tình yêu

Tuổi vị thành niên hay còn gọi là tuổi dậy thì là một giai đoạn khiến trẻ thay đổi cả về tâm sinh lí và ngoại hình Hiện nay do ảnh hưởng nhiều yếu tố

xã hội, trẻ bước vào tuổi dậy thì sớm hơn (theo tổ chức Y tế Thế giới WHO trẻ vị thành niên bắt đầu từ 10-19 tuổi), và các em sống ở thành thị thường dậy thì sớm hơn các em ở nông thôn, miền núi

Ở độ tuổi dậy thì, cùng với những thay đổi về cơ thể thì các em cũng có những thay đổi về mặt tâm lý, tình cảm, các em ý thức được mình không còn

là trẻ con nữa Các em muốn thử sức mình và muốn khám phá những điều mới lạ Các em thường quan tâm đến sự thay đổi của cơ thể nhất là các em gái

dễ băn khoăn, lo lắng về những nhược điểm cơ thể Các em rất quan tâm đến những đặc điểm ngoại hình Tuy nhiên, những nhận thức hay sự hiểu biết về tuổi dậy thì của các em còn chưa được đầy đủ và khái quát

Trường hợp của em Nguyễn Thị H

Em H năm nay 13 tuổi Bố em là một cán bộ công chức nhà nước, mẹ

em ở nhà buôn bán tạp hóa Em H có một người em gái năm nay 8 tuổi Do gia đình tương đối khá giả nên hai chị em H được bố mẹ chăm lo rất tốt từ điều kiện ăn ở lẫn học tập Nhà có hai chị em gái, bố mẹ lại thường xuyên dạy bảo đạo đức lối sống nên hai chị em đều rất ngoan hiền, học giỏi, được bố

mẹ, thầy cô, bạn bè kỳ vọng và quý mến

Năm 2013, khi em H được 10 tuổi em bắt đầu xuất hiện chu kỳ kinh

Trang 37

nguyệt đầu tiên Hôm đó em đang đi học, em thấy mệt nên xin về nhà nghỉ sớm Về nhà em vào phòng nghỉ thì phát hiện ra mình có kinh nguyệt Do trước đây chưa được bất cứ ai giải thích về vấn đề này nên khi đó em rất hoảng sợ Em đóng chặt cửa trong phòng không chịu ra ngoài Bố mẹ em rất

lo lắng và sau khi trấn tĩnh lại em mới dám nói với mẹ Mẹ H khá bất ngờ khi con mình mới 10 tuổi đã có kinh nguyệt Bà nói với H rằng con gái lớn thì sẽ

có kinh nguyệt là chuyện bình thường và hướng dẫn H vệ sinh cá nhân hàng ngày Mặc dù vậy, do chưa từng có bất cứ khái niệm nào về chuyện kinh nguyệt nên H vẫn rất hoang mang và không tự tin Em tránh các hoạt động thể thao và cũng khép kín hơn khi tiếp xúc với bạn bè Em có tâm sự với bạn gái thân của mình nhưng do các em đều chưa có kinh nguyệt nên cũng hoang mang như H Dần dần H rơi vào trạng thái trầm cảm, ngại tiếp xúc vì nghĩ rằng mình khác biệt với mọi người Kết quả học tập của em cũng kém đi khiến

bố mẹ em rất buồn và thấy phiền lòng

Trước đây H có mấy người bạn nam chơi cùng khá thân (do cùng họ hàng và ở gần nhà lại học cùng một lớp), các em thường đi học cùng nhau và

rủ nhau tham gia các hoạt động của trường Tuy nhiên, từ sau khi em trở thành "con gái" thì mẹ em thường hạn chế không cho em đi cùng các bạn nam hoặc nếu có thì mẹ em thường kiểm soát rất kỹ giờ đi giờ về của con gái Khi

em thắc mắc hỏi thì mẹ em trả lời thẳng rằng con gái thì không được gần gũi với con trai, con phải hạn chế giao tiếp với những người bạn đó H cảm thấy rất khó hiểu và mơ hồ với những ý kiến vô lý của mẹ em

Năm 13 tuổi, H có thích một bạn trai cùng lớp Hai bạn thường xuyên học nhóm cùng nhau, cùng tham gia các hoạt động Đội của nhà trường và thỉnh thoảng cùng nhau đi uống nước Không được bao lâu mẹ H biết được

và đã khuyên nhủ thậm chí cấm không cho H đi cùng hay nói chuyện với bạn trai đó nữa H rất buồn và khi hỏi mẹ tại sao thì mẹ H giải thích rằng muốn

Trang 38

con tập trung vào việc học không muốn con "yêu đương linh tinh" khi còn quá sớm H đã phản ứng và không làm theo những gì mẹ em muốn Hai mẹ con thường xuyên xảy ra những mâu thuẫn khiến H mệt mỏi, em nghĩ rằng mẹ quá

áp đặt và không tôn trọng cảm xúc của em

Trường hợp của em Nguyễn Thị H cho chúng ta thấy nhiều vấn đề cụ thể sau đây:

Thứ nhất, về độ tuổi dậy thì: Em H là gia đình bậc trung, có điều kiện

ăn uống rất tốt, năm 10 tuổi em đã có kinh nguyệt Nếu như trước đây, trẻ nữ thường có kinh nguyệt ở độ tuổi 13, 14 thì ngày nay, với điều kiện dinh dưỡng được đáp ứng đầy đủ, tuổi dậy thì của các em được đẩy về sớm hơn khi các em còn trong tuổi học sinh tiểu học rất ngây thơ, trong sáng, khả năng

tự phân tích, đánh giá còn rất hạn chế

Thứ hai, về thái độ và kiến thức về tuổi dậy thì: Em H đã rất hoảng sợ,

lo lắng khi có kinh nguyệt lần đầu tiên Điều này cho thấy em hoàn toàn bị động và không có một chút kiến thức nào về tuổi dậy thì Mặc dù ngay sau đó

em có được mẹ em giải thích tuy nhiên cũng không khiến em thấy thoải mái hơn đặc biệt là các bạn của em chưa có ai có kinh nguyệt như em khiến em rất

lo lắng Như vậy có thể thấy tuổi dậy thì giai đoạn đầu khi mới có những dấu hiệu đầu tiên khiến em rất bối rối Ở độ tuổi này các em thường quan tâm đến những thay đổi đặc biệt về thể chất của bản thân, những biến đổi của cơ thể Các em dễ lo lắng khi mình có những thứ khác biệt với các bạn cùng giới khác Điều này khiến các em ngại giao tiếp, ngại tâm sự với mọi người vì sợ bạn bè chê cười hay kỳ thị

Thứ ba, H có một số người bạn khác giới chơi thân từ nhỏ Nếu như cách đây 10 năm đổ về trước, tình bạn khác giới tuổi học trò là chuyện hiếm khi xảy ra vì Việt Nam là một nước phương Đông có quan điểm nam nữ thụ thụ bất thân nên các em nam và các em nữ thường không chơi với nhau Các

Trang 39

em duy trì tình bạn đồng giới tốt và khi có tình bạn khác giới các em thường

bị bố mẹ ngăn cản và bạn bè trêu trọc Tuy nhiên hiện nay, khi nền văn hóa đã cởi mở hơn rất nhiều trong quan niệm nam nữ thì bên cạnh những bạn cùng giới các em vẫn có nhiều người bạn khác giới Những tình cảm bạn bè này đa phần rất trong sáng và vô tư, thậm chí nếu giữ gìn được tình bạn tốt đẹp đó sẽ đem lại nhiều tích cực đối với việc học tập cũng như cuộc sống của các em

Thứ tư, năm 13 tuổi H có thích một bạn trai cùng lớp, hai em thường xuyên tham gia các hoạt động cùng nhau, "hẹn hò" nhau đi uống nước và trò truyện Từ đó có thể thấy đây là tình cảm thương mến xuất phát từ hai phía Tình cảm này rất trong sáng khi mới chỉ dừng lại ở việc hẹn nhau uống nước, cùng nhau học nhóm, tham gia các hoạt động lành mạnh của trường, của Đội

Có thể thấy khác với các thế hệ trước thường ngại ngần trong việc bày tỏ tình cảm do vậy có nhiều cặp đôi đến với nhau do “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, chưa được tìm hiểu về nhau Ngày nay vấn đề này đã thoáng hơn rất nhiều, các em có tình yêu học trò khá sớm ngay từ khi học cấp 2 Mặc dù các bậc phụ huynh đa số không đồng tình tuy nhiên xã hội không quá khắt khe với vấn đề này nên ngày càng có nhiều những tình yêu tuổi học trò Nếu như trước đây, tình yêu tuổi học trò thường chỉ nảy nở vào những lớp cuối cấp học phổ thông Phần nhiều những mối tình ho ̣c trò thường hồn nhiên trong sáng thì ngày nay, cùng với những thay đổi về môi trường xã hội , về tâm sinh lý của lớp học sinh mới , cùng với đó là sự “t iếp sức” của các phương tiê ̣n công nghê ̣, kỹ thuật hiện đại như : internet, điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng…, lứa tuổi bước vào

"yêu đương" của thế hệ sau này ngày càng trẻ hơn các thế hệ trước Qua câu

chuyện của H, ngoài sự phản đối của mẹ em thì bạn bè, thầy cô không được

đề cập tới mặc dù chuyện hai em thích nhau rất công khai Có thể thấy mối quan hệ tình cảm thương mến lúc học trò đã không quá xa lạ trong thời buổi hiện nay tại các trường học cấp 2, cấp 3

Trang 40

Thứ năm, khi bị mẹ phản đối việc mình thích bạn trai đó H đã hỏi mẹ

và phản ứng gay gắt, mâu thuẫn với mẹ khi mẹ không giải thích hợp lý, em cho rằng mẹ đã "áp đặt" và "không tôn trọng cảm xúc" của mình Phải nhắc lại H là một cô bé được gia đình giáo dục khá kỹ lưỡng, thành phần gia đình khá căn bản, em là một cô bé ngoan hiền học giỏi Vậy tại sao H không nghe lời mẹ mà lại phản ứng gay gắt như vậy? Thứ nhất là do mẹ em đã không giải thích cặn kẽ lý do mẹ em không muốn em tiếp tục quen bạn trai Thứ hai là do lứa tuổi dậy thì của H ảnh hưởng đến tâm lý của em rất nhiều Ở lứa tuổi này, đời sống tâm sinh lý của các em có những biến đổi sâu sắc Những thay đổi chủ yếu nhất của lứa tuổi này là thái độ cư xử với bạn khác giới, tính cách độc lập, nhu cầu có bạn bè và sự tự khẳng định mình Khi mẹ không cho em một

lý do "chính đáng", em cảm thấy cái tôi của mình bị tổn thương, mình bị áp đặt nên đã phản ứng gay gắt để thể hiện cái tôi của mình

Bên cạnh câu chuyện của em Nguyễn Thị H, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu một số trường hợp ở các độ tuổi khác nhau để cho cái nhìn rõ hơn về kiến thức về tuổi dậy thì cũng như quan điểm về tình bạn khác giới, tình yêu tuổi vị thành niên

Trả lời cho câu hỏi: “tuổi dậy thì thường có biểu hiện như thế nào?”, một em nữ 13 tuổi trả lời “Em không biết rõ lắm Theo em thì dậy thì là lớn

lên và chú ý đến những bạn khác giới, có mụn ở mặt” Một em nữ khác 16

tuổi thì có trả lời rõ ràng, đầy đủ hơn: “Tuổi dậy thì là nữ xuất hiện kinh

nguyệt và nam thì có khả năng xuất tinh Tuổi dậy thì thường dẫn tới phát triển chiều cao, ngực to hơn, các bạn nam thì mọc râu” Như vậy có thể nhận

thấy các em mặc dù đã có hiểu biết về tuổi dậy thì nhưng còn nặng về quan sát, thu thập thông tin hay do kinh nghiệm chính bản thân mình trải qua Các

em chưa có một cái nhìn toàn diện về độ tuổi của mình cả về sự phát triển thể chất cho đến phát triển tâm sinh lý Hầu hết các em chỉ tập trung vào những

Ngày đăng: 25/08/2017, 23:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w