ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌCKHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- --- ---NGUYỄN THU TRANG TRUYỀN THÔNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA PHỤ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
-NGUYỄN THU TRANG
TRUYỀN THÔNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA PHỤNỮ(Tại thịtrấn Phong Châu, huyện
Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ) LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số: 60.90.01.01
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Trịnh Văn Tùng
Hà Nội –2016
MỤC LỤC
Trang 2PHẦN MỞĐẦU 2
1 Lý do chọn đềtài 2
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu 13
4 Đối tượng, khách thểvà phạm vi nghiên cứu 14
5 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụnghiên cứu 15
6 Câu hỏi nghiên cứu 16
7 Giảthuyết nghiên cứu 16
8 Phương pháp nghiên cứu 17
9 Kết cấu của luận văn 22
NỘI DUNG 23
CHƯƠNG 1 CƠ SỞLÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU 23
1.1 Một sốkhái niệm công cụ 23
1.1.1 Truyền thông 23 1.1.2 Cộng đồng Error! Bookmark not defined 1.1.3 Dựa vào cộng đồng Error! Bookmark not defined 1.1.4 Truyền thông dựa vào cộng đồng Error! Bookmark not defined 1.1.5 Phụnữ Error! Bookmark not defined 1.1.6 Sức khỏe sinh sản Error! Bookmark not defined 1.1.7 Chăm sóc sức khỏe sinh sản Error! Bookmark not defined 1.1.8 Nhận thức vềchăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữ Error! Bookmark not defined
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu.Error! Bookmark not defined
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của Maslow Error! Bookmark not defined 1.2.2 Lý thuyết hệthống Error! Bookmark not defined
Trang 31.2.3 Mô hình truyền thông dựa vào cộng đồngError! Bookmark not
defined
1.3 Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về truyền thông nâng cao nhận thức chăm sóc sứckhỏe sinh sản cho phụ nữ Error! Bookmark not defined
1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (Thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh PhúThọ) Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VÀ CÔNG TÁC TRUYỀN
THÔNG NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨCVỀCHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA PHỤNỮTẠI THỊTRẤN PHONG CHÂU, HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ Error! Bookmark not defined
.2.1 Thực trạng sức khỏe và nhận thức vềchăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữtạithịtrấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ Error! Bookmark not
defined
2.1.1 Nhận thức của phụ nữ về phòng tránh thai an toànError! Bookmark not defined
2.1.2 Nhận thức của phụ nữ về các bệnh lây truyền qua đường tình
dục Error! Bookmark not defined.2.1.3 Nhận thức của phụ nữ về làm mẹ an toànError! Bookmark not
Thọ Error! Bookmark not defined
2.2.1 Thực trạng công tác truyền thông hiện nay qua kênh truyền thông đại
chúng Error! Bookmark not defined
Trang 42.2.2 Thực trạng công tác truyền thông hiện nay qua kênh truyền thông trực tiếp Error! Bookmark not defined.
2.2.3 Thực trạng công tác truyền thông hiện nay qua hoạt động đoàn thểxã
hội Error! Bookmark not defined
2.3 Nguyên nhân của kết quảtruyền thông nâng cao nhận thức vềchăm sóc sức khỏe sinh sản hiệu quảcòn thấp Error! Bookmark not defined
Tiểu kết chương Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨCCHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA PHỤ NỮ(TẠI THỊ TRẤN PHONG CHÂU, HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ)Error! Bookmark not defined
3.1 Nhu cầu tìm hiểu và tham gia mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức vềchăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữtại thịtrấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ Error! Bookmark not defined.3.2 Những nguồn lực truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức vềchăm sóc khỏe sinh sản của phụnữtại thịtrấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ Error! Bookmark not defined
3.2.1 Đánh giá vềnguồn lực đặc trưng từsinh hoạt cộng đồng Error!
Bookmark not defined
3.2.2 Đánh giá nguồn lực truyền thông Error! Bookmark not defined
3.3 Đềxuất mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữtại thịtrấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ Error! Bookmark not defined
3.3.1 Xác định đối tượng đích của truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chắm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữ Error! Bookmark not defined
3.3.2 Tình huống truyền thông dựa vào cộng đồngError! Bookmark not defined
Trang 53.3.3 Thiết kếthông điệp truyền thông dựa vào cộng đồngError! Bookmark not defined.
3.3.4 Biện pháp tiến hành truyền thông dựa vào cộng đồng Error! Bookmark not defined
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined.KHUYẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined.DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 25PHỤLỤC Error! Bookmark not defined
Trang 6PHẦN MỞĐẦU
1.Lý do chọn đềtàiChăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữđang là một vấn đềrất được quan tâm và chú ý hiện nay Trong giai đoạn đất nước phát triển hiện nay, mỗi ngày trên thếgiới có khoảng hơn 3000 phụnữtửvong cũng như đang gặp phải các vấn đềdo sức khỏe sinh sản Tính riêng tại Việt Nam bình quan mỗi ngày có khoảng 20 đến 25 phụnữđang phải chung sống với các vấn đềvềsức khỏe sinh sản cũng như mắc mới Các nguyên nhân hàng đầu khiến các con sốcao như vậy
là do: chịem còn thiếu kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản, ngại nói ra hay đến các cơ sởy tếkhám chữa bệnh vì là vấn đềtệnhị, do hạn chếvềđiều kiện kinh tế, địa hình sinh sống nên chưa thểtiếp cận các dịch vụy tếvà công tác truyền thông cung cấp kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản, [4, tr 26].Đặc biệt là trong vấn
đềnhận thức và công tác truyền thôngchăm sóc sức khỏe cho người dân vẫn còn nhiều hạn chếdẫn đến những hậu quảtiêu cực cần khắc phục Đểkhắc phụnhững hạn chếtrên thì trước tiên phải nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao sức
khoẻcủa người dân nhằm tạo ra một lực lượng khoẻmạnh vềthểchất, tinh thần và được trang bịnhững tri thức phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội.Đây có thểnói là mối quan tâm hàng đầu, là mục tiêu quan trọng trong chính sách phát triển kinh tếxã hội của đất nước[13, tr 33].Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụnữvùng sâu vùng xa luôn là vấn đềquan tâm của những nhà hoạch định chính sách, nhà xã hội học, nhà dân sốhọc, nhà quản lý xã hội, y tế.Tăng cường chăm sóc sức khỏe cho phụnữvà trẻem cảnước nói chung, cho miền núi, hải đảo, vùng sâu vùng xa nói riêng đang là một vấn đềưu tiên trong chiến lược chăm sóc sức khỏe cộng đồng Những nỗlực trong việc triển khai các chiến lược quốc gia cũng như các chương trình y tếđã đem lại những cơ hội khảquan cho việcchăm sóc sức khỏe cho phụnữ Tuy nhiên trong thực tế,sựphát triểnlại khôngđồng đều giữa các vùng: miền xuôi và miền núi, nông thôn và thành thị, hải đảo và đất liền.Chăm sóc sức khỏe sinh sản là một trong những mục tiêu và là nội dung công tác quan trọng của Uỷban Dân sốGia đình và Trẻem, hiện nay là chức năng của Tổng cục Dân số-Kếhoạch hóa gia đình -(BộY tế) Đối với chiến lược Dân số-Kếhoạch hóa gia đình,
chăm sóc sức khỏe sinh sản là một bộphận tối quan trọng Nó có vai trò quyết định tới sựthành công hay thất bại của chiến lược quốc gia này [3, tr 57].Ởnước ta hiện
Trang 7nay công tác truyền thông đang từng bước mởrộng tầm ảnh hưởng tới quần
chúng Các thông tin xã hội có định hướng, trong đó các vấn đềliên quan đến chămsócsức khỏe sinh sản của phụnữđược truyền tải nhiều hơn tới người dân đặc biệt
là chịem phụnữcảvềsốlượng và chất lượng Nhận thức của của người phụnữvềcác vấn đềliên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản không ngừng được cải thiện Mặc dù vậy vẫn còn một khoảng cách khá lớn vềnhận thức của người dân trongcông tác nâng cao nhận thưc chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữ Nhiều hoạt động truyền thông vẫn chưa thựsựcó hiệu quảtrong việc tham gia, khuyến khích cộng đồng chung tay nâng cao nhận thứcchăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữ
Đó là những thiếu hụt nghiêm trọng trong nhận thức và hành động thực tiến của đại bộphân chịem nhất là những vùng nông thôn còn chưa phát triển Tìm hiểu vấn đềtruyền thông vềchăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữsẽgóp phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, khắc phục những thiếu hụt kiến thức cũng như phòng ngừa những nguy cơ liến quan đến các vấn đềsức khỏe sinh sản của chịem phụnữ.Trong những năm qua, thịtrấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọđã thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nướcđã từng bước tăng trưởng kinh tếbền vững, các dịch vụy tế, chất lượng cuộc sống của người dân đã từng bước được nâng cao Bên cạnh đó các nhu cầu và nguyện vọng của người dân đã được quan tâm và chú trọng hơn[46] Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được không thểkhông nhắc đến những điểm hạn chếvẫn còn tồn tại nhưhạn chếtrong công tác thăm khám, bảo vệsức khỏe sinh sản của phụnữđịa phương
và truyền thông nâng cao nhận thức chăm sóc sức khóe sinh sản của phụnữ Trong vòng 5 năm trởlại đây, thực trạng chịem phụnữthiết hụt kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản dẫn đến những hậu quảđáng tiếc vẫn còn tồn tại[33] Mặc dù các cấp chính quyền cùng các cơ quan đoàn thể, tổchức xã hội đã có những biện phápnhằm ngăn ngừa và giảm thiểu tình trạng trên nhưng trong thức tếthì hiệu
quảvẫn chưa cao Tại thịtrấn Phong Châu, qua quá trình thực tiễn chúng tôi thấy rằng nhận thức của chịem phụnữvềvấnđềchăm sóc sức khỏe sinh sản còn thấp, cònnhiều thiếu hụt kiến thức vềchăm sóc sức khỏe sinh sản của chính bản thân mình Từthực tếđóchứng minh cho chúng ta thấy sựcần thiết phải có một nghiên cứu thực tiễn đểtìm ra một mô hình truyền thông hiệu quảnhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữ.Nhận thức được tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của vấn đềxã hội trên, tôi chọn đềtài“Truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữtạithi trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ”làm đềtài luận văn tốt nghiệp của mình với mong muốn tìm hiểu thực trạng nhận thức và công tác truyền thông
Trang 8chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữtại địa phương, kèm theo đó là xác định những nguyên nhân thựctrạng đó và cuối cùng là đánh giá các nguồn lực trong công tác truyền đểtừđó đềxuất kiến tạo một mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữ, cải thiện
và nâng cao đời sống sức khỏe nhân dân địa phương nói chung và chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụnữnông thôn nói riêng 2.Tổng quan tình hình nghiên
cứuVấn đềchăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữhiện nay đang là một trong nhữngmối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu xã hội học và ngành y tếkhông chỉởViệt Nam mà còn cảtrên thếgiới Phụnữlà nhóm xã hội đặc biệt luôn chiếm được sựquan tâm rất lớn của Đảng, Chính Phủvà các tổchức xã hội, do đó có rất nhiều công trình lấy đối tượng nghiên cứu làphụnữvà các vấn đềliên quan đến chămsóc sức khỏe sinh sản của phụnữ Trong phần tổng quan nghiên cứu này, tác giảtiến hành nghiên cứu vềchăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữtheo các góc độ: Nhận thức vềchăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữ, truyền thông nâng cao nhận thức và truyền thông dựa vào cộng đồng2.1.Nghiên cứu dưới góc độxã hội
họcChăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữđang là một vấn đềđáng được quan tâm
và chú trọng hiện nay không chỉởViệt Nam mà còn trên toàn thếgiới Xãhội càng phát triển, nhu cầu chăm sóc, tìm hiểu, nâng cao kiến thức vềsức khỏe đặc biệt là sức khỏe sinh sản của chịem phụnữngày càng tăng và cần thiết hơn bao giờhết bởi phụnữlà một nửa thếgiới, là người mẹ, người bà, là người có vịtrí vô cùng quan trọng trong gia đình và xã hội
Theo một nghiên cứu cho thấy, từnhững năm 1970, tình trạng bệnh tật và sức khỏe sinh sản của phụnữđã được các nước có thu nhập cao, các nước phát triển quan tâm và giảm thiểu tỉlệmắc bệnh nhờnhững nỗlực tuyên truyền, phòng ngừa và quan tâm bằng nhiều phương thức khác nhau Trong khi đó thì tại các nước có thunhập thấp, các nước đang phát triển và chậm phát triển thì gánh nặng vềbệnh tật ngày càng tăng do nhiều nguyên nhân môi trường, chính sách, các nguồn bệnh mới đây là mối quan ngại vô cùng lớn đối với toàn xã hội, với cuộc sống của con người nên sức khỏe sinh sản của phụnữchỉlà một vấn đềrất nhỏvà chưa được quantâm Một sốnghiên cứu tại Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam cho thấy các vấn đềvềsức khỏe sinh sản đặc biệt là các bệnh lây truyền qua đường tình dục như HIV là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tỉlệtửvong ởphụnữcòn hơn cảbệnh ung thư Nghiên cứu cho thấy, trong khi các nước phát triển chỉcó khoảng 140
phụnữtửvong do các bệnh vềsức khỏe sinh sản trên 100.000 dân thì ởcác nước chậm pháttriểnhay các nước đang phát triển ởkhu vực Đông Nam Á thì con sốnày lại cao hơn rất nhiều lên đến 1000 phụnữ Bện cạnh đó nghiên cứu cũng chỉra rằng
Trang 9không chỉtỉlệphụnữtửvong vì các vấn đềliên quan đến sức khỏe sinh sản cao mà những phụnữhiệnvẫn đang chung sống cùng bệnh tật đường sinh sản cũng là rất lớn với con sốlà 25.000 phụnữtrên 100.000 thậm chí có trường hợp đã thăm khám nhưng chưa khỏivà có cảnhững trường hợp không có sựcan thiệp vềy tếdo nhiều yếu tốtác động khác nhau [19, tr 42].Mỗi ngày, trên khắp thếgiới cuộc sống của người phụnữluôn phải đối mặt với rất khó khăn và yếu tốtác động đến hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của bản thân Vấn đềtrên đã được đềcập đến rất nhiều trong các nghiên cứu khoa học hay như hiện nay nó còn được nâng cao thành một môn học trong trường đại học vơi tên gọi hết sức cụthểvà khoa học là “Nhân học
y tế” Không như những y, bác sĩ, các nhà nhân học y tếkhông nhất thiết phải hiểu các kiến thức vềy khoa, mà được đào tạđểbiết cách áp dụng những kiến thức khoa học xã hội vào việc giúp hiểu rõ hơn vềcác vấn đềsức khỏe của mọi người cũng như cách thức mọi người tiếp nhận và xửtrí các vấn đềsức khỏe của họ Nhân học
y tếlà một chuyên ngành nghiên cứu đến cảhai khía cạnh sinh học và vănhóa –xã hội của hành vi, nhận thức của loài người, đặc biệt nghiên cứu những cách thức
mà hai khía cạnh này tương tác với nhau trong suốt quá trình giải quyết các vấn đềliên quan đến nhận thức, hành vi của
con người Trong đó nó cũng nhấn mạnh đến nhữngtác động gây ảnh hưởng đến những thói quen của con người đặc biệt là người phụnữtrong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản của bản thân như tập tục sinh hoạt, kiến thức của bản thân và người trong gia đình, [2, tr 135].Chỉ số nhân khẩu học và chỉ số kinh tếđã nói lên thành công của Việt Nam, tuy nhiên quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng và mức độ
di chuyển dân cư ra thành thị tăng đang dần làm thay đổi cơ cấu và chức năng của
xã hội Hậu quả là hiện đang tồn tại sự khác biệt lớn giữa tình trạng sức khỏe của
bà mẹ ở nông thôn và thành thị, với 44% phụ nữ nông thôn vẫn sinh con tại nhà, trong khi đó con số này chỉ có 7% ở khu vực thành thị[18, tr 48] Sự phát triển của
xã hội cũng đồng thời tạo ra những thách thức, đặc biệt trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS) Thanh niên vị thành niên được coi là đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong xã hội đã trở thành nhóm mục tiêu của các hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông (IEC) về SKSS ở Việt Nam Thanh niên Việt Nam ngàynay đã có sự thay đổi về tập quán và văn hóa, như lập gia đình ở độ tuổi muộn hơn
và gia tăng quan hệ tình dục trước hôn nhân Thiếu số liệu điều tra về các trường hợp viêm nhiễm lây truyền qua đường tình dục (STIs) đã gây khó khăncho việc lập báo cáo chính xác Tuy nhiên trong mộtnghiên cứu được thực hiện vào năm
1997 đã ước tính rằng sự lây lan của các viêm nhiễm lây truyền qua đường tình dục đã tăng lên 10 lần trong thập kỷ qua[32, tr 58] Dường như tình trạng này đã
Trang 10không được cải thiện, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay khi mà số công nhân lao động nhập cư sống xa nhà, xa người thân đang làm tăng nguy cơ lây nhiễm
nhiềuhơn so với trước đây.Vấn đề HIV/AIDS tại Việt Nam thực sự đáng lo ngại,
số ca nhiễm HIV/AIDS theo báo cáo hiện nay thấp hơn so với số thực tế Thêm vào đó,rất nhiều phương tiện thông tin đại chúng thường đề cập đến HIV/AIDS cùng với các tệ nạn xã hội như nghiện hút hay mại dâm, đã là nguyên nhân gây ra
kỳ thị của xã hội đối với những người bị nhiễm bệnh Một thực tế đáng chú ý là
“nạn dịch” này có nguy cơ sẽ lây sang rất nhiều người khác thông qua những khách hàng là gái mại dâm, đặc biệt cho đối tượng là công nhân lao động xa nhà Kết quả là, chị em phụ nữ có quan hệ tình dục, có nguy cơ lây nhiễm HIV và từ đó
có khả năng lây truyền cho con nếu có mang
Tuynhiên, thách thức lớn nhất mà Việt Nam đang phải đối mặt trong lĩnh vực SKSS là vấn đề nạo phá thai Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai thấp được phản ánh bằng tỷ lệ nạo phá thai cao và tỷ lệ này đang tiếp tục gia tăng ở Việt Nam Với tỷ lệ nạo phá thai cao nhất ở Đông Nam Á và là một trong những nước
có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, trung bình mỗi phụ nữ Việt Nam nạo phá thai 2.5 lần trong đời (2002) Đáng ngại là trong khi thông tin, giáo dục, truyền thông đã nỗ lực nâng cao nhận thức của người dân nhưng rõ ràng họ chưa thực sựthay đổi được hành vi của mình Nhiều bạn gái trẻ thiếu kiến thức cơ bản về tình dục hoặc không tin tưởng vào việc dùng bao cao su hay không yêu cầu bạn tình sử dụng bao cao su Hơn nữa, sự nhìn nhận một cách tiêu cực về nạo phá thai đã gây nên tình trạng nhiều phụ nữ tiến hành nạo phá thai ở nơi bí mật và bất hợp pháp Ở Việt Nam mỗi tuần có 1 phụ nữ tử vong vì nạo phá thai không an toàn[19, tr
83].Quỹ dân số liên hợp quốc (UNFPA) đã nêu ra các vấn đề chủ yếu sau trong lĩnhvực sức khỏe sinh sản ở Việt Nam:Tỷ lệ tránh thai phổ biến cao (75%), trong
đó đa số chị em phụ nữ sử dụng vòng tránh thai (IUDs) và các biện pháp tránh thai
tự nhiên Việc tiếp cận các biện pháp tránh thai hiện đại còn nhiều hạn chế Tỷ lệ
sử dụng biệnpháp tránh thai hiện đại là 52,6%[30, tr 39] Không phải tất cả người dân Việt Nam đều dễ dàng tiếp cận các thông tin và dịch vụ về sức khỏe sinh sản
Vị thành niên, thanh niên chưa lập gia đình, và những người dân sống ở vùng sâu, vùng xa, đặc biệt đối mặt với những khó khăn trong việc tìm kiếm và tiếp cận các thông tin và dịch vụ sức khỏe sinh sản có chất lượng.Tỷ lệ phụ nữ ở độ tuổi sinh sản mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản (20%) và nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục cao (25%) Nhữngđóng góp của y tế công đã góp phần làm giảm tỷ lệ tử vong mẹ và con, tuy nhiên tử vong mẹ vẫn còn ở mức cao
(29,9/1000), đặc biệt ở miền trung cao nguyên và các tỉnh miền núi phía bắc [30,
Trang 11tr 78]Trong cuốn “Nhân học -một quan điểm vềtình trạng nhân sinh” của Amily
A và Robert H đã luôn có một cách nhìn hết sức bao quát vềcon người từxưa đếnnay cảvềthểchất và những đòi hỏi vềtinh thần trong cuộc sống Con người luôn
có những nhu cầu thiết yếu vềchăm sóc sức khỏe cho bản thân và những người xung quanh nhằm
nâng cao chất lượng cuộc sống của chính bản thân họ Trong nghiên cứu và đánhgiá của cảhai tác giảđã cùng nhận thấy yếu tốxã hội hay văn hóa tập tục của con người trong môi trường sống luôn có sựảnh hưởng không hềnhỏđến mức độnhận thứchay các hành vi sinh hoạt thường ngày của người dân Chính vì vậy tamuốn thay đổi bất cứmột điều gì của bản thân con người thì luôn phải chú ý và quan tâm đến những nhân tốảnh hưởng đến họđểđưa ra những phương thức giải quyết hiệu quảnhất[1, tr 48].Theo nghiên cứu y học và xã hội của Đức –2000 thì cho thấy rằng khi bước sang thế kỉ 21 bản thân người phụ nữ đã có những sự hiểu biết và nhận thức đúng đắn hơn rất nhiều trong việc bảo vê sức khỏe của bản thân được thể hiện qua tỉ lệ số phụ nữ biết cáchsử dụng các biện pháp tránh thai an toàn
đã tăng cao (từ 25,6 % lên 64,1%) Đây có thể nói là một con số đáng mừng để hướng tới một cuộc sống có chất lượng tốt hơn và sức khỏe sinh sản củangười phụ nữ được nâng cao hơn[32, tr 68].Nghiên cứu của tác giảĐỗ Mai Hoa,
J.S.Hirsch và R.Martorell trong cuốn “Các phương thức chăm sóc sức khỏe phụ nữ
bị mắc bệnh phụ khoa tại nhà” thì lại đề cập và đi sâu vào lí giải các yếu tố tác động cũng như cách thức chăm sóc hiệu quả nhất cho các chị em phụ nữ bị mắc bệnh phụ khoa tại nhà Cuốn sách đã cung cấp những kiến thức có thể nói là vô cùng quan trọng và thiết yếu nhất cho phụ nữ trong vấn đề sức khỏe sinh sản để tự bản thân họ thấy được tầm nguy hiểm khi mắc bệnh phụ khoa để từ đó có cách phòng tránh và điều trị, chăm sóc hiệu quả nhất[6, tr 152].2.2.Nghiên cứu dưới góc
độ y họcTheo tổchức Y tếthếgiới thì sốliệu thông kê strong những năm gần đấy cho thấy tỉlệcác bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục không hềgiảm mà còn có
xu hướng tăng đặc biệt là ởcác nước Châu Phi, Nam Á và Đông Nam Á.Vềsức khỏe sinh sản của phụnữ, hiện nay trên toàn thếgiới đang là vấn đềy tếcông cộng
và là vấn đềcủa sựphát triển Ước tính mỗi năm trên thếgiới có khoảng 830.000 phụnữtửvong trong đó có hơn một nửa là do các vấn đềliên quan đến sức khỏe sinhsản, tương đương với khoảng hơn 1.000 phụnữtửvong trong một ngày Nguyên nhân gây tửvong hàng đầu do sức khỏe sinh sản thường do các baajnh lấy truyền qua đường tình dục đặc biệt là HIV (260.000 trường hơp /năm), cáctai biến sản khoa (175.0000 trường hơp/ năm), các trường hợp không được tiếpcận dịch vụy tếkịp thời
Trang 12(92.000 trường hợp/ năm)[4, tr 84] Tuy nhiên thực trạng cáccon sốtỉlệtửvong của phụnữdo nguyên nhân liên quan đến sức khỏe sinh sản chỉlà một phần nổi củatảng băng gánh nặng bệnh tật do vềsức khỏe sinh sản của phụnữchưa được quan tâm đúng mức vì hiện nay vẫn còn rất trường hợp đã có điều trịvềy tếnhưng vẫn phải sống chung với bệnh tật cảđời hoặc là đểlại những hậu quảnghiêm trọng cảvềsức khỏe và tâm lí cho người phụnữ Theo các báo cáo của Tổng cục dân số-kếhoạch hóa gia đình(Bộy tế), trong quý I năm 2010 vềtình trạng sức khỏe sinh sản của phụnữcủa 53 tỉnh thành và báo cáo của 57 bệnh viện , có 286.380 trường hợp phụnữnhập viện trong đó có 125.340 trường hợp bệnh nhân có liên quan đến vấn đềsức khỏe sinh sản Các trường hợp này có rất nhiều nguyên nhân khác nhau: Các bệnh phụkhoa, nạo phá thai, áp dụng các biện pháp tránh thai, tai biến sản khoa, các bất thường trong quá trình thai sản Đểkhắc phục thực trạng trên, Bộy tếđã cho xây dựng hệthống giám sat vềmắc và tửvong do các vấn đềliênquan đến sức khỏe sinh sản được thiết lập trên phạm vi toàn quốc[33, tr 25].Hiện nay Bộy tếđã có rất nhiều hỗtrợtrong việc giảm thiểu tỉlệtửvong hay mắc bệnh liên quan đến sức khỏe sinh sản của phụnữnhưviệc liên tục ban hành các chương trình quốc gia vềnâng cao sức khỏe sinh sản của phụnữvới thời gian 10 năm/
chương trình Bổsung, cung cấp các thiết bịy tếđến tận tuyến y tếđịa phương (364 máy siêu âm/ năm, 120 xe chuyên dụng, 150 máy nội soi), khuyến khích và bổsungđội ngũ y bác sĩ có chuyên môn vềtuyến y tếđịa phương [28, tr 65].Bên cạnhđó Bộy tếcũng đã chủđộng phối hợp với các địa phương tổchức tập huấn phổbiến kiến thức, kĩ năng xửtrí với các ván đềliến quan đến sức khỏe sinh sản của
phụnữcho các cán bộtrực tiếp liên tại các tuyến cơ sở, tập trung bồi dưỡng đội ngũ cán bộy tế, lồng ghép trong chương trình xây dựng chuẩn quốc gia vềy tếhuyện, xã
và xây dựng nông thôn mới Bên cạnh đó công tác truyền thông , giáo dục sức khỏe sinh sản được thực hiện thường xuyên, liên tục thông qua các phương tiện thông tin đại chúng , khẩu hiệu, tờrơi, tài liệu cầm tay, cộng tác viên tuyên truyền tại địa phương, xây dựng các mô hình mẫu an toàn, khỏe mạnh, hạnh phúc nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất các nguy cơ mắc và tửvong do bệnh liên quan đến sức khỏe sinh sản ởphụnữ
Mặc dù đã đạt được những kết quảnhất định, song công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữtại cộng đồng Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn và thách thức Vì vậy giai đoạn 2010 –2020 ngành y tếcần tập trung giải quyết các vấn đềnhư kiện toàn các chính sách, chươngtrình hỗtrợcác dịch vụy tếđới với chịem phụnữ, triển khai các mô hình cộng đồng an toàn, khỏe mạnh, truyền thông nâng cao nhận thưc chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữ