ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LƯU THU HIỀN NHU CẦU HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TỪ GÓC ĐỘ CÔNG TÁC XÃ HỘI Nghiên cứu trư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LƯU THU HIỀN
NHU CẦU HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TỪ GÓC ĐỘ CÔNG TÁC XÃ HỘI
(Nghiên cứu trường hợp xã Tiến Thịnh, huyện Mê Linh,
thành phố Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LƯU THU HIỀN
NHU CẦU HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TỪ GÓC ĐỘ CÔNG TÁC XÃ HỘI
(Nghiên cứu trường hợp xã Tiến Thịnh, huyện Mê Linh,
thành phố Hà Nội)
Chuyên ngành Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: GS TS LÊ THỊ QUÝ
Hà Nội – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
Lưu Thu Hiền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội với
đề tài:“Nhu cầu hỗ trợ chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ nông thôn từ góc độ
công tác xã hội (Nghiên cứu trường hợp xã Tiến Thịnh, huyện Mê Linh, thành phố
Hà Nội)”, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ,
hướng dẫn tận tình, tâm huyết của các thầy cô và bạn bè
Để hoàn thành nghiên cứu này, trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Xã hội học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS TS Lê Thị Quý, người đã tâm huyết chỉ dạy thêm cho tôi những tri thức khoa học, nhiệt tình hướng dẫn, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ tận tình của lãnh đạo, cán bộ
xã, phụ nữ và người dân xã Tiến Thịnh trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu tại địa phương
Mặc dù bản thân tôi đã có sự cố gắng, nhưng do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế, nên trong luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đánh giá, góp ý, bổ sung của các thầy cô giáo và các bạn để nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn./
Tác giả
Lưu Thu Hiền
Trang 5MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ iii
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 11
3.1 Mục đích nghiên cứu 11
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 12
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 12
4.1 Ý nghĩa khoa học 12
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 12
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 13
5.1 Đối tượng nghiên cứu 13
5.2 Khách thể nghiên cứu 13
5.3 Phạm vi nghiên cứu 13
6 Câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu 13
6.1 Câu hỏi nghiên cứu 13
6.2 Giả thuyết nghiên cứu 13
7 Khung phân tích 14
8 Phương pháp nghiên cứu 14
8.1 Nguyên tắc nghiên cứu 14
8.2 Phương pháp phân tích tài liệu 15
8.3 Phương pháp quan sát 15
8.4 Khảo sát xã hội học 15
8.5 Phương pháp công tác xã hội nhóm 17
9 Cấu trúc luận văn 17
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 18
Chương 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 18
1.1 Các khái niệm công cụ 18
1.1.1 Nhu cầu 18
1.1.2 Sức khỏe 18
1.1.3 Sức khỏe sinh sản 19
1.1.4 Chăm sóc sức khỏe sinh sản 21
1.1.5 Công tác xã hội 22
1.1.6 Công tác xã hội nhóm 23
1.1.7 Tham vấn 25
1.1.8 Kết nối 25
1.1.9 Hỗ trợ 26
1.1.10 Phụ nữ nông thôn 26
Trang 61.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 26
1.2.1 Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow 26
1.2.2 Thuyết nữ quyền 30
1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 32
1.3.1 Khái quát đặc điểm xã Tiến Thịnh 32
1.3.2 Một số thông tin chung về phụ nữ xã Tiến Thịnh 34
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 37
Chương 2 THỰC TRẠNG NHU CẦU CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN 38
CỦA PHỤ NỮ XÃ TIẾN THỊNH, MÊ LINH, HÀ NỘI 38
2.1 Nhận thức, hành vi của phụ nữ xã Tiến Thịnh về CSSKSS 38
2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu CSSKSS của phụ nữ xã Tiến Thịnh 51
2.3 Nhu cầu và mức độ đáp ứng nhu cầu về CSSKSS của phụ nữ xã Tiến Thịnh 54
2.3.1 Nhu cầu hỗ trợ kiến thức CSSKSS 54
2.3.2 Nhu cầu hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ CSSKSS 57
2.3.3 Nhu cầu truyền thông CSSKSS cho các thành viên trong gia đình 59
2.3.4 Mức độ đáp ứng nhu cầu về CSSKSS của phụ nữ 61
2.4 Một số vấn đề đặt ra đối với việc CSSKSS của phụ nữ xã Tiến Thịnh 63
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 65
Chương 3 ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG VIỆC HỖ TRỢ CÁC NHU CẦU CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA PHỤ NỮ 66
3.1 Thành lập nhóm 66
3.1.1 Lý do sử dụng phương pháp CTXH nhóm 66
3.1.2 Mô tả về nhóm 66
3.1.3 Mục đích và mục tiêu sinh hoạt nhóm 68
3.1.4 Kế hoạch hoạt động 69
3.2 Triển khai hoạt động nhóm 73
3.2.1 Thảo luận 73
3.2.2 Giáo dục, cung cấp thông tin, kiến thức 77
3.2.3 Giao bài tập về nhà sau mỗi buổi sinh hoạt 79
3.2.4 Thành viên nhóm giao lưu, giúp đỡ nhau 80
3.2.5 Các hoạt động tạo bầu không khí nhóm 81
3.3 Đánh giá kết quả hoạt động nhóm 82
3.4 Một số kỹ năng, vai trò của nhân viên công tác xã hội đã thực hiện trong hoạt động nhóm 84
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 87
PHẦN III KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 98
Trang 7(Công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ)
CSSKSS Chăm sóc sức khỏe sinh sản
CTXH Công tác xã hội
DS KHHGĐ Dân số kế hoạch hóa gia đình
ĐVT Đơn vị tính
GDI Chỉ số phát triển giới
KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
ICRW Trung tâm quốc tế nghiên cứu về phụ nữ
ICDP International Conference on Population and Development
(Hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển)
NVCTXH Nhân viên công tác xã hội
PVS Phỏng vấn sâu
SKSS Sức khỏe sinh sản
UNFPA United Nations Fund for Population Activities
(Quỹ Dân số Liên hợp quốc)
UNICEF United Nations Children's Fund
(Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc)
Trang 8ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phụ nữ có chồng 25 – 35 tuổi theo nghề nghiệp 34 Bảng 1.2 Phụ nữ có chồng 25 – 35 tuổi theo trình độ học vấn cao
Bảng 1.3 Phụ nữ có chồng 25 – 35 tuổi theo số con hiện có 36 Bảng 2.1 Các nguồn cung cấp thông tin về CSSKSS 39 Bảng 2.2 Số phụ nữ đang sử dụng biện pháp phòng, tránh thai 41 Bảng 2.3 Lý do chọn biện pháp phòng, tránh thai 42 Bảng 2.4 Bệnh phụ khoa phụ nữ Tiến Thịnh biết 48 Bảng 2.5 Kiến thức CSSKSS phụ nữ cần được hỗ trợ 55 Bảng 2.6 Dịch vụ CSSKSS phụ nữ cần được hỗ trợ 58 Bảng 2.7 Đối tượng trong gia đình, người thân của phụ nữ cần
Bảng 3.1 Đặc điểm riêng của thành viên nhóm 67 Bảng 3.2 Kế hoạch hoạt động hỗ trợ kiến thức CSSKSS của nhóm
Trang 9iii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Các hoạt động CSSKSS phụ nữ Tiến Thịnh biết 38
Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ người quyết định sử dụng hay không sử dụng
biện pháp phòng, tránh thai trong gia đình 43 Biểu đồ 2.3 Phụ nữ được nghỉ ngơi hoàn toàn sau khi sinh con 46
Biểu đồ 2.4 Thời gian phụ nữ nên đi kiểm tra sứ
Biểu đồ 2.5 Hình thức hỗ trợ kiến thức CSKSS cho phụ nữ 56
Biểu đồ 2.6 Nhu cầu được hỗ trợ về CSSKSS của phụ nữ xã Tiến
Biểu đồ 2.7 Chất lượng các dịch vụ CSSKSS tại xã Tiến Thịnh 62
Trang 101
PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhắc đến sức khỏe sinh sản là nói đến một giai đoạn quan trọng trong
cả cuộc đời con người, vì nó ảnh hưởng tới toàn bộ sức khỏe và cuộc sống của họ Sức khỏe sinh sản tốt là sự phát triển hài hòa của mỗi con người về thể lực, tinh thần; là khả năng tái sinh sản, hòa hợp cộng đồng, không có bệnh tật, ốm đau hoặc không tàn phế của bộ phận sinh dục Sự hoạt động hài hòa của hệ thống cơ thể và hệ thống sinh sản với mục đích sinh sản hay không sinh sản đều nhằm thực hiện quyền sinh sản của mỗi con người
Phụ nữ là lực lượng chính được đề cập trong CSSKSS vì họ phải mang thai, sinh đẻ và chăm sóc con nhỏ Bởi vậy, một trong những hướng phát triển quan trọng của Đảng và Nhà nước Việt Nam là các chính sách và chiến lược phát triển con người, trong đó có các quyền của phụ nữ và trẻ em Đối với người phụ nữ, thiên chức làm mẹ thật thiêng liêng, cao quý Quá trình thai nghén và sinh đẻ của phụ nữ là chức năng sinh học nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro tác động đến sự sống và sức khỏe của cả người mẹ và thai nhi Chính vì vậy, chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ là một yếu tố rất quan trọng nhằm đảm bảo cho sức khỏe bà mẹ cũng như những đứa trẻ được sinh ra khỏe mạnh, bình thường
Tăng cường CSSKSS cho phụ nữ cả nước nói chung và cho phụ nữ nông thôn nói riêng đang trở thành một vấn đề ưu tiên của chiến lược chăm sóc sức khỏe cộng đồng và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong những năm qua; đặc biệt công tác CSSKSS luôn được chú trọng lồng ghép với truyền thông kế hoạch hoá gia đình Kết quả những hoạt động đó đã làm thay đổi nhận thức của người dân trong việc bảo vệ sức khoẻ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho phụ nữ Tuy nhiên, có sự chênh lệch giữa nông thôn và
Trang 112
thành thị, do sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội tại khu vực nông thôn vẫn còn thấp, mức sống của người dân chưa cao và sự hạn chế trong tiếp cận thông tin của họ khiến cho tình trạng khó tiếp cận dịch vụ cũng như thiếu kiến thức về CSSKSS cho phụ nữ nông thôn còn ở mức cao trong khi họ có nhu cầu chính đáng được hỗ trợ về CSSKSS
Công tác xã hội là một nghề nghiệp mang tính chuyên môn và thực tiễn cao, đã góp phần thúc đẩy việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội, các dự
án, hoạt động với cá nhân, nhóm, cộng đồng, hướng tới phục vụ thân chủ và làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn Một phần quan trọng của CTXH và nhân viên CTXH là đóng vai trò trong hỗ trợ các nhu cầu về CSSKSS của phụ
nữ nông thôn bằng các hoạt động chuyên môn của mình
Xã Tiến Thịnh là địa bàn nông thôn, đời sống người dân còn nhiều khó khăn, vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ còn chưa thực sự được quan tâm đúng mức trong khi phụ nữ Tiến Thịnh có các nhu cầu được hỗ trợ CSSKSS
Nhận thức được tầm quan trọng và nghĩa của vấn đề xã hội trên, đồng thời ý thức được vai trò của hoạt động CTXH trong đáp ứng nhu cầu về
CSSKSS của phụ nữ nông thôn, tôi chọn đề tài “Nhu cầu hỗ trợ chăm sóc sức
khỏe sinh sản của phụ nữ nông thôn từ góc độ công tác xã hội (Nghiên cứu trường hợp xã Tiến Thịnh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội) để làm luận
văn tốt nghiệp Nội dung nghiên cứu bao gồm việc tìm hiểu, đánh giá thực
trạng và xác định nhu cầu CSSKSS của phụ nữ có chồng tại xã Tiến Thịnh
Từ đó, tôi sẽ liên kết, ứng dụng các hoạt động CTXH với nhóm phụ nữ để đáp ứng nhu cầu CSSKSS của họ Nghiên cứu giúp tôi có điều kiện để nêu một số khuyến nghị với địa phương nhằm cải thiện, nâng cao sức khỏe cho nhân dân nói chung và CSSKSS cho phụ nữ nói riêng
Trang 123
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Các nghiên cứu về sức khỏe sinh sản của phụ nữ nói chung và phụ nữ nông thôn nói riêng đã được thực hiện từ rất sớm trên thế giới cũng như ở Việt Nam từ các góc độ xã hội học, dân số học
Trong nhiều năm qua, sức khỏe người phụ nữ được quan tâm và đưa lên hàng đầu trong nhiều diễn đàn quốc tế và quốc gia Một trong những dấu mốc quan trọng đánh dấu sự quan tâm nghiên cứu về SKSS là từ Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) tại Cai-rô, Ai Cập (4/1994) Sau khi định nghĩa chính thức về sức khỏe sinh sản tại hội nghị này được thông qua
và được thống nhất phổ biến đến các quốc gia trên thế giới thì mối quan tâm của các nhà quản lý xã hội, các nhà khoa học, các nhà giáo dục và toàn xã hội đối với vấn đề SKSS cũng được nâng lên
Quyền con người trong lĩnh vực tình dục và SKSS được phản ánh trong
“Báo cáo Hội thảo” tại Hội nghị Quốc tế về Nhân quyền ICPD năm 2014
được tổ chức bởi Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), Văn phòng Cao ủy Nhân quyền và Chính phủ Hà Lan Bản báo cáo Hội thảo đã thể hiện tóm tắt những thành tựu và kết quả thực hiện các thỏa thuận về quyền con người của Chương trình hành động - Hội nghị Quốc tế về Dân số và phát triển trong
vòng 20 năm qua (từ 1994 – 2014) Hội nghị xác định ba chủ đề: bình đẳng,
chất lượng và trách nhiệm là nền tảng để thực hiện các quyền con người trong
lĩnh vực tình dục và sức khỏe sinh sản Đối tượng phải chịu bất bình đẳng trong CSSKSS là phụ nữ, trẻ em gái, trẻ vị thành niên, người nghèo, người khuyết tật; do những rào cản trong tiếp cận thông tin về sức khỏe tình dục, sinh sản và dịch vụ như: chi phí cao, các yêu cầu pháp lý và rào cản địa
lý Hội nghị tái khẳng định rằng các quyền y tế, nhu cầu được giáo dục, cung cấp thông tin và các dịch vụ CSSKSS cần phải có sẵn, dễ tiếp cận và có chất lượng tốt, mà không có sự phân biệt đối xử, cưỡng ép hoặc bạo lực. (63)
Trang 134
Quyền đối với sức khỏe sinh sản của phụ nữ cũng được đề cập đến trong bài tham luận của Tiến sĩ Carmel Shalev (thành viên chuyên gia, công
ước CEDAW) “Quyền đối với tình dục và sức khoẻ sinh sản - theo Hội nghị
quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) và Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ”, được trình bày vào tháng 3/1998, tại Hội nghị
quốc tế về sức khỏe sinh sản, Mumbai (Ấn Độ) Theo bài viết, cuộc đấu tranh
về quyền của phụ nữ đối với sức khỏe tình dục và sinh sản đã thúc đẩy quyền con người của phụ nữ nói chung Phụ nữ cần được hưởng quyền đối với tình dục và SKSS để hành động như một người trưởng thành độc lập với đầy đủ năng lực pháp lý để tham gia vào xã hội dân sự Các nhà hoạch định chính sách, các nhà thiết kế chương trình, và các nhà cung cấp dịch vụ cần tiếp cận đối với sức khỏe tình dục và sinh sản lấy "phụ nữ làm trung tâm", bởi sức khỏe sinh sản không chỉ liên quan đến các hoạt động sinh học của tử cung của người phụ nữ mà nó là tổng thể, là sự hài hòa về mặt sinh học và xã hội của con người. (59)
Nhiều hội nghị của Liên hiệp quốc kêu gọi tạo nhiều cơ hội hơn cho phụ nữ, nhiều chính phủ công nhận sự tiến bộ cho phụ nữ là chìa khóa để đạt được các mục tiêu về sức khỏe và phát triển của xã hội, bởi phụ nữ là nguồn trực tiếp tái sản xuất ra con người – nguồn nhân lực cho tương lai của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới Tuy nhiên, hiện nay còn nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia nghèo vẫn chưa thực sự quan tâm đúng mức đến CSSKSS giúp người phụ nữ thực hiện chức năng sinh sản một cách an toàn, tạo điều kiện cho họ được chăm sóc tốt hơn trong khi sinh con và có cơ hội tiếp cận nhiều hơn tới dịch vụ CSSKSS, có khả năng làm giảm tử vong sản phụ
Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới đã coi các nội dung về chăm sóc SKSS là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển đất
Trang 145
nước Bộ y tế đã ban hành, triển khai thực hiện Chiến lược Quốc gia về
CSSKSS giai đoạn 2001 – 2010, giai đoạn 2011 – 2020
Một trong những nội dung của CSSKSS là việc sử dụng các biện pháp
phòng tránh thai để kiểm soát số con cũng như đảm bảo quan hệ tình dục an
toàn cho cả phụ nữ và nam giới
Cuộc điều tra của UNFPA tại Việt Nam về “Thực trạng cung cấp và sử
dụng dịch vụ chăm sóc SKSS tại 12 tỉnh, thành phố” vào năm 2003 cho thấy
các biện pháp dành cho nam giới như triệt sản và dùng bao cao su chiếm khoảng 22% tổng số những người sử dụng các biện pháp tránh thai trong hộ gia đình (48) Sự chia sẻ này thể hiện vai trò, trách nhiệm của nam giới cũng như sự tôn trọng quyền của phụ nữ trong chăm sóc SKSS và đó cũng thể hiện
sự bình đẳng giới trong chăm sóc SKSS Tuy nhiên, tỷ lệ nam giới trực tiếp
sử dụng các biện pháp tránh thai để chia sẻ trách nhiệm với phụ nữ vẫn còn thấp Họ thường không muốn sử dụng các biện pháp tránh thai như bao cao
su, xuất tinh ngoài âm đạo hay triệt sản nam… Hậu quả là làm tăng nguy cơ lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục và có thai ngoài ý muốn
Theo kết quả cuộc “Điều tra biến động dân số và KHHGĐ 01/4/2011:
các kết quả chủ yếu”, tỷ lệ sử dụng BPPTT bất kỳ ở khu vực nông thôn cao
hơn thành thị 6,8% (70,6% so với 63,8%); còn tỷ lệ sử dụng BPPTT truyền thống ở khu vực nông thôn thấp hơn thành thị 2,5% (8,9% so với 11,4%) Điều này chứng minh các chương trình KHHGĐ đã được Nhà nước đầu tư và tập trung thực hiện có trọng điểm đặc biệt ở khu vực nông thôn, góp phần làm giảm mức sinh ở khu vực nông thôn, qua đó làm giảm mức sinh chung của cả nước trong những năm qua(6) Cuộc điều tra cho kết quả BPPTT được sử dụng rộng rãi nhất ở Việt Nam là vòng tránh thai Tỷ lệ sử dụng các biện pháp có hiệu quả tránh thai cao hơn như thuốc tránh thai, bao cao su có xu hướng tăng nhưng không đáng kể
Trang 156
Việc quyết định sử dụng BPPTT của vợ/chồng được tác giả Trần Thị
Thắm đề cập đến trong nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành về CSSKSS
của phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ, nghiên cứu tại tỉnh Cao Bằng”
Theo đó, sự thống nhất giữa hai vợ chồng chiếm tỷ lệ cao nhất (68,8%) Bản thân người phụ nữ cũng đã có quyền quyết định sử dụng BPPTT (30%), chỉ
có 1,2% phụ nữ trả lời rằng chồng là người quyết định sử dụng BPPTT Người phụ nữ đã ít nhiều có quyền quyết định trong việc sử dụng BPPTT, nhưng nếu họ được tự quyết định nhiều hơn họ sẽ chủ động hơn trong KHHGĐ cũng như chăm sóc sức khỏe bản thân.(35)
Làm mẹ an toàn cũng là một trong những nội dung của CSSKSS phụ
nữ Mục tiêu của làm mẹ an toàn là làm giảm tỷ lệ tử vong và bệnh tật của bà
mẹ và trẻ sơ sinh Trong quá trình phụ nữ mang thai và sinh con, cơ hội được tiếp cận với dịch vụ CSSKSS nhiều hơn có thể làm giảm tử vong và các biến chứng khác một cách đáng kể Phần lớn các tai biến liên quan đến thai sản đều có thể phòng tránh nếu có được sự quan tâm của cá nhân người mẹ mang thai đối với sức khỏe bản thân và thai nhi Làm mẹ an toàn là vấn đề đòi hỏi
sự đầu tư, ưu tiên quan tâm từ cấp độ vĩ mô (chính sách) đến vi mô (ý thức bản thân người mẹ và cộng đồng) Qua đó giảm thiểu được tai biến sản khoa, giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ và tử vong sơ sinh
“Chiến lược Quốc gia về CSSKSS 2011 – 2020” của Bộ Y tế là một nội
dung quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội Chiến lược đã đề ra 01 mục tiêu tổng quát, 11 mục tiêu cụ thể, trong đó đề ra một số mục tiêu và chỉ tiêu liên quan trực tiếp đến SKSS của phụ nữ như: Nâng cao sức khỏe bà mẹ, thu hẹp đáng kể sự khác biệt về các chỉ báo sức khỏe bà mẹ giữa các vùng, miền; Giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản; Giảm tỷ lệ phá thai, cơ bản
Trang 167
loại trừ phá thai không an toàn; Giảm nhiễm khuẩn đường sinh sản, nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục; chủ động phòng ngừa, phát hiện và điều trị sớm ung thư đường sinh sản, chú trọng sàng lọc ung thư đường sinh sản ở phụ nữ trong độ tuổi 30 - 54 tuổi (4) Các mục tiêu, chỉ tiêu trong Chiến lược đưa ra ở mức khái quát và cần nhiều biện pháp cụ thể để thực hiện
Phụ nữ nông thôn là một cộng đồng người phong phú, đa dạng gồm những dân tộc, tôn giáo, lứa tuổi, trình độ học vấn khác nhau, sinh sống và làm việc ở những vùng nông thôn khác nhau Cùng với nam giới, phụ nữ là một trong hai chủ thể kinh tế quan trọng nhất mang lại thu nhập cho các hộ
gia đình Nghị quyết số 11-NQ/TW “về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của Bộ Chính trị (ngày 27/04/2007)
đã nêu quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác phụ nữ trong giai đoạn hiện nay Chính phụ nữ là lực lượng đông đảo góp phần quan trọng làm thay đổi diện mạo bộ mặt xã hội và xây dựng đời sống mới thông qua việc triển khai thực hiện các phong trào thi đua yêu nước (2) Họ là người đảm bảo cuộc sống gia đình ấm no, hạnh phúc, bền vững và an toàn cho mọi thành viên trong gia đình
Xem xét về vai trò, địa vị của phụ nữ, nghiên cứu “Địa vị phụ nữ và
SKSS nghiên cứu so sánh giữa hai dân tộc Thái và Ê – đê” của các tác giả
Đoàn Kim Thắng, Nguyễn Lan Phương cho thấy sự chuyển đổi vai trò và địa
vị người phụ nữ các dân tộc trong tiến trình phát triển chung của đất nước là hết sức có ý nghĩa, đặc biệt trong lĩnh vực SKSS và KHHGĐ Nghiên cứu đã phân tích các chỉ báo về trình độ học vấn của người phụ nữ, vai trò của người phụ nữ trong các quyết định gia đình, sự độc lập về kinh tế và gánh nặng công việc hàng ngày, sự tham gia CTXH; vấn đề SKSS và áp dụng các biện pháp KHHGĐ.(36)
Trang 178
CSSKSS hiện nay liên quan mật thiết đến việc thực hiện bình đẳng giới Theo chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển, việc thay đổi về kiến thức, thái độ và hành vi của cả nam và nữ là điều kiện cần thiết để đạt được mối quan hệ hài hòa giữa nam và nữ
Khía cạnh giới và các bệnh lây qua đường tình dục được phản ánh
trong nghiên cứu "Yếu tố giới trong chương trình chăm sóc các bệnh viêm
nhiễm đường sinh sản", tác giả Nguyễn Thu Nam, đăng trên Tạp chí Dân số
và Phát triển, số 2/2005 Nghiên cứu này chỉ ra, có khoảng 25% phụ nữ mắc các bệnh lây theo đường tình dục như: lậu, giang mai, viêm gan do virus B, roi trùng, nấm, Cờlamiđia, Hécpét, u sùi…, và nguy hiểm nhất là HIV(27) Điều đó cho thấy phụ nữ thường bị động trong quan hệ tình dục và rất dễ bị tổn thương do HIV/AIDS do nam giới ít khi sử dụng bao cao su, hơn nữa phụ
nữ ít có quyền quyết định trong quan hệ tình dục và tình dục an toàn Nghiên cứu nêu ra vấn đề giới cũng có ảnh hưởng đến nhu cầu và chất lượng dịch vụ chăm sóc SKSS Theo đó, cần đưa nam giới, đặc biệt là nam giới trẻ, tham gia vào chương trình SKSS nói chung, phòng chống các bệnh lây qua đường tình dục nói riêng; tuy nhiên, kết quả thực tế chưa được nhiều.(27)
Theo nghiên cứu của tác giả Trần Thị Kim về “Ảnh hưởng của học vấn
đến sự tham gia và quyền ra quyết định của phụ nữ nông thôn tỉnh Quảng Ngãi trong thiết chế gia đình” thì trình độ học vấn có ảnh hưởng rất rõ đến sự
tham gia và quyền quyết định trong gia đình của phụ nữ nông thôn, trong khi
họ có rất nhiều khó khăn trong việc nâng cao học vấn của mình Họ ít được người chồng chia sẻ việc nhà Mọi thành viên trong gia đình chồng đều coi đây là thiên chức của phụ nữ Đặc biệt đối với nông thôn, phần đa người dân không chấp nhận việc người chồng chia sẻ công việc nội trợ cùng vợ.(22) Nam giới đóng vai trò chủ chốt để thực hiện sự bình đẳng giới, vì hầu như mọi mặt trong xã hội, đàn ông thường có quyền lực vượt trội ở hầu hết mọi khía cạnh
Trang 189
của cuộc sống, từ các quyết định cá nhân về quy tụ gia đình đến các quyết định về chính sách và chương trình ở các cấp chính phủ.(22)
“Nghiên cứu về Giới, Nam tính và sự ưa thích con trai ở Nepal và Việt
Nam” của Trung tâm quốc tế nghiên cứu về phụ nữ (ICRW) cho thấy, hầu hết
nam giới ở Việt Nam và Nepal tán thành việc đối xử công bằng với cả nam và
nữ và vai trò quan trọng nhất của phụ nữ chính là chăm sóc việc nhà và nấu
ăn cho gia đình Số đông nam giới ở hai nước cho biết họ tham gia chăm sóc con cái hàng ngày Khoảng 50% số nam giới cho biết họ đã đưa vợ/bạn tình của mình đi khám thai trong những lần mang thai gần đây, chủ yếu là nam giới trẻ tuổi sống ở khu vực thành thị, có trình độ học vấn và chuyên môn cao.(45)
Nam giới cần chia sẻ với phụ nữ trong công việc gia đình, nuôi dạy con cái, kế hoạch hoá gia đình cũng như các hành vi sinh sản Phụ nữ và nam giới đều có quyền được thông tin, lựa chọn và tiếp cận những biện pháp chăm sóc SKSS một cách an toàn và có hiệu quả nhất Nội dung này được nêu trong tác
phẩm “Những vấn đề thách thức trong sức khỏe sinh sản” của tác giả Vương
Tiến Hòa Các cặp vợ chồng được quyền quyết định thời điểm và khoảng cách sinh con hợp lý, quyền có được sức khoẻ sinh sản với chất lượng cao nhất Tuy nhiên, thực tế nam giới thường chi phối việc ra những quyết định trên và họ gần như chủ động hoàn toàn về tình dục Do đó, việc lôi cuốn nam giới vào chăm sóc SKSS là rất cần thiết thông qua các vai trò là bạn tình, là chồng, là cha, là thành viên trong gia đình…, nhằm thực thi quyền bình đẳng
về giới và sinh sản(18) Trong thực tiễn, vấn đề CSSKSS tại nông thôn thường được đề cập ở mức độ đơn giản như: tuyên truyền theo phong trào, theo đợt,… Nguyên nhân một phần do đội ngũ cán bộ được đào tạo chuyên sâu về vấn đề này còn rất hạn chế, cán bộ DS KHHGĐ ở địa phương có chế độ đãi
Trang 19Tác giả Trương Phi Hùng, Nguyễn Minh Hội, Tô Gia Kiên, Đinh Đỗ
Quyên và cộng sự đã có nghiên cứu “Nhu cầu chăm sóc sức khỏe của phụ nữ
từ 15 đến 49 tuổi tại thị trấn Lái Thiêu, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương, năm 2005” đăng trên Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả thăm
dò nhu cầu chăm sóc sức khỏe của phụ nữ từ 15 - 49 tuổi, những quan niệm của cộng đồng về nhu cầu chăm sóc sức khỏe của phụ nữ và khả năng chăm sóc hiện tại của địa phương cho thấy: phần lớn phụ nữ cần được y tế chăm sóc sức khỏe sinh sản, ngoài ra họ còn có nhu cầu về mặt xã hội và tinh thần Nghiên cứu cũng tìm biện pháp thích hợp để công tác chăm sóc sức khỏe thỏa mãn nhu cầu cho phụ nữ và mang lại hiệu quả tốt hơn.(20)
Tác giả Lương Thị Thanh Hà có công trình nghiên cứu “Nhu cầu hỗ trợ
chăm sóc sức khỏe ban đầu của phụ nữ nghèo tại xã Đồng Sơn – huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ” Kết quả nghiên cứu cho thấy phụ nữ nghèo tại địa bàn
nghiên cứu có nhu cầu lớn được hỗ trợ trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, mà quan trọng nhất là nhu cầu được cung cấp kiến thức cần thiết và cơ bản nhất trong lĩnh vực này như: kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản, chăm sóc khi mang thai, kiến thức về dinh dưỡng, vệ sinh môi trường,… Nghiên cứu cũng đề xuất một số biện pháp mang tính công tác xã hội phù hợp để hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho phụ nữ nghèo Trong đó thấy rõ vai trò cần thiết của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho phụ nữ nghèo tại địa bàn nghiên cứu.(13)
Trang 2011
Từ các nghiên cứu trên có thể nhận thấy, trong rất nhiều nhu cầu, con người có nhu cầu cần được hỗ trợ, trợ giúp từ bên ngoài khi gặp phải những vấn đề khó khăn và đã có nhiều nghiên cứu về các nhu cầu của con người được thực hiện Tuy nhiên, việc nghiên cứu về nhu cầu hỗ trợ CSSKSS của phụ nữ nông thôn còn chưa nhiều Đây cũng là một vấn đề khá mới mẻ mà tác giả đã và đang kế thừa, vận dụng để phục vụ cho nghiên cứu của mình
Như vậy, đã có rất nhiều nghiên cứu về nhu cầu, về CSSKSS đối với phụ nữ trên thế giới, cũng như ở Việt Nam từ các góc độ xã hội học, dân số học Những nghiên cứu này hầu hết đề cập đến thực trạng, nguyên nhân và các giải pháp ở tầng vĩ mô và vi mô, những nghiên cứu sâu tập trung vào các phương pháp tác động hỗ trợ nhu cầu CSSKSS của phụ nữ nông thôn đặc biệt
là những hoạt động thông qua CTXH nhóm còn khá mới mẻ Trong khi đó, nghiên cứu về nhu cầu hỗ trợ CSSKSS của phụ nữ nông thôn từ góc độ công tác xã hội không chỉ giúp mở rộng sự hiểu biết mà còn góp phần đề xuất những giải pháp nhằm cải thiện các hoạt động, dịch vụ CSSKSS cho phụ nữ nông thôn Do vậy, tác giả luận văn kế thừa kết quả những nghiên cứu trên,
vận dụng vào đề tài “Nhu cầu hỗ trợ chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ
nông thôn từ góc độ công tác xã hội (Nghiên cứu trường hợp xã Tiến Thịnh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội)” Đề tài tập trung tìm hiểu thực trạng, nhu
cầu hỗ trợ CSSKSS của phụ nữ nông thôn, đồng thời ứng dụng hoạt động
CTXH trong việc đáp ứng nhu cầu hỗ trợ CSSKSS cho nhóm thân chủ, góp phần vào hoạt động CSSKSS cho phụ nữ nói chung và nhóm phụ nữ nông thôn nói riêng cũng như góp phần thúc đẩy hoạt động công tác xã hội tại địa phương
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng về nhu cầu CSSKSS của phụ nữ xã Tiến Thịnh
Trang 2112
- Ứng dụng CTXH nhóm với nhóm phụ nữ xã Tiến Thịnh để đóng góp vào việc thực hiện nhu cầu CSSKSS của phụ nữ tại địa phương
- Khuyến nghị nhằm tăng cường hoạt động CSSKSS ở địa phương
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích các tài liệu có liên quan
- Điều tra xã hội học, tìm hiểu thực trạng nhu cầu CSSKSS của phụ nữ
xã Tiến Thịnh (sử dụng phương pháp định lượng, định tính (phỏng vấn sâu, phỏng vấn nhóm))
- Thực hành kỹ năng CTXH nhóm
- Đề xuất khuyến nghị đáp ứng nhu cầu hỗ trợ CSSKSS của phụ nữ
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần cung cấp thêm góc nhìn mới về hoạt động CSSKSS cho đối tượng phụ nữ nông thôn, thông qua sự vận dụng một số khái niệm, phương pháp nghiên cứu của xã hội học, tâm lý học, công tác xã hội và một
số lý thuyết như: thuyết nhu cầu, thuyết nữ quyền vào nghiên cứu
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu về nhu cầu hỗ trợ CSSKSS của phụ nữ nông thôn có ý nghĩa thiết thực Đề tài không chỉ làm sáng tỏ thực trạng về CSSKSS, nhu cầu được hỗ trợ CSSKSS của phụ nữ nông thôn, mà còn ứng dụng CTXH nhóm nhằm tìm ra giải pháp cho vấn đề CSSKSS nhóm đối tượng này Nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị hướng đến việc nâng cao SKSS và chất lượng cuộc sống cho nhóm phụ nữ tại xã Tiến Thịnh
Kết quả đề tài có thể là tài liệu tham khảo, tài liệu học tập phục vụ đào tạo, tập huấn trong các chương trình đào tạo, tập huấn Công tác xã hội tại địa phương và các địa bàn khác
Trang 2213
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhu cầu hỗ trợ chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ nông thôn từ góc độ công tác xã hội (Nghiên cứu trường hợp xã Tiến Thịnh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội)
5.2 Khách thể nghiên cứu
- Phụ nữ có chồng, độ tuổi 25 - 35, có nhu cầu hỗ trợ CSSKSS tại xã Tiến Thịnh
- Chồng của phụ nữ tại địa bàn; Cán bộ phụ nữ, cán bộ y tế, cán bộ dân
số - kế hoạch hóa gia đình, lãnh đạo chính quyền địa phương
5.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: xã Tiến Thịnh, Mê Linh, Hà Nội
- Phạm vi thời gian: năm 2015
- Nội dung nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng, nhu cầu hỗ trợ CSSKSS và vận dụng CTXH nhóm hỗ trợ nhu cầu CSSKSS cho nhóm phụ
nữ có chồng tại xã Tiến Thịnh
6 Câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Nhu cầu được hỗ trợ CSSKSS của phụ nữ có chồng tại xã Tiến Thịnh,
Mê Linh, Hà Nội là gì?
- Mức độ đáp ứng nhu cầu CSSKSS của phụ nữ tại xã Tiến Thịnh hiện nay như thế nào?
- Vai trò của CTXH giúp đỡ phụ nữ thực hiện nhu cầu CSSKSS của họ như thế nào?
6.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Phụ nữ xã Tiến Thịnh có nhu cầu CSSKSS rất đa dạng
- Nhu cầu CSSKSS của phụ nữ xã Tiến Thịnh chưa được đáp ứng
Trang 238 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nguyên tắc nghiên cứu
- Tiến hành phổ biến đầy đủ về mục đích, nội dung và phương pháp nghiên cứu cho các đối tượng tham gia
- Đảm bảo quyền tự nguyện tham gia của các đối tượng nghiên cứu
- Tên, các thông tin cá nhân của đối tượng tham gia trong nghiên cứu được đảm bảo bí mật
- Nghiên cứu ở giai đoạn ứng dụng CTXH nhóm có tính thử nghiệm nên hoạt động can thiệp chỉ được thực hiện ở một nhóm nhỏ
Điều kiện kinh tế - xã hội
Nhu cầu hỗ trợ
CSSKSS của phụ nữ nông thôn
Ứng dụng CTXH nhóm trong việc hỗ trợ nhu cầu CSSKSS của
phụ nữ
Các yếu tố ảnh hưởng: văn hóa, chính sách, gia đình, mối quan hệ trong cộng đồng
Trang 2415
8.2 Phương pháp phân tích tài liệu
Phân tích tài liệu là phương pháp thu thập thông tin thông qua những tài liệu đã có và đã phát hành Đây là phương pháp đầu tiên người nghiên cứu
sử dụng trong đề tài, nhằm nắm bắt được tổng quan vấn đề nghiên cứu và những thông tin liên quan đến thực trạng hiểu biết về CSSKSS của nhóm phụ
nữ nông thôn, qua đó thấy được tính cấp thiết của đề tài Trên cơ sở những thông tin thu được, người nghiên cứu tiến hành phân tích và xử lý để đưa ra kết quả chính xác phục vụ cho nghiên cứu
Nguồn tài liệu được sử dụng để phân tích là các Chiến lược quốc gia về CSSKSS; những bài nghiên cứu trên tạp chí, luận văn, tài liệu y học; các báo cáo, thống kê của địa phương có liên quan đến đề tài
8.3 Phương pháp quan sát
Tác giả quan sát và ghi chép lại những đặc điểm về địa bàn nghiên cứu; quan sát biểu hiện, thái độ của các đối tượng được phỏng vấn, qua đó nắm bắt được những thông tin cần thu thập và đánh giá được khái quát thực trạng vấn
đề nghiên cứu cũng như có những điều chỉnh phù hợp khi thực hành CTXH với nhóm
Khi tiến hành công tác xã hội nhóm với phụ nữ, người nghiên cứu quan sát toàn bộ tiến trình nhóm, thực hiện quan sát tham dự trong các buổi sinh hoạt nhóm để đánh giá sự phát triển của nhóm, sự thay đổi của các thành viên nhóm trước, trong và khi kết thúc hoạt động nhóm
Phương pháp quan sát được thực hiện kết hợp với các phương pháp khác như phân tích tài liệu, điều tra bằng phiếu hỏi,…
8.4 Khảo sát xã hội học
8.4.1 Phương pháp định lượng
Mẫu khảo sát gồm 120 phụ nữ Tiến Thịnh đã có chồng, trong độ tuổi từ
25 – 35 tuổi
Trang 2516
Người nghiên cứu xây dựng bảng hỏi đúng với vấn đề nghiên cứu, với
hệ thống câu hỏi đóng, câu hỏi mở, câu hỏi kết hợp Bảng hỏi gồm hai phần: thông tin của người trả lời và thực trạng hoạt động CSSKSS gồm 18 câu hỏi Nội dung các câu hỏi phù hợp với trình độ nhận thức của phụ nữ nông thôn, đơn giản, dễ hiểu để đối tượng có thể hiểu câu hỏi và đưa ra ý kiến một cách
dễ dàng
Điều tra xã hội học được thực hiện nhằm cung cấp những thông tin về thực trạng CSSKSS, nhu cầu hỗ trợ CSSKSS của nhóm phụ nữ có chồng trong độ tuổi 25 – 35 Các thông tin này có ý nghĩa quan trọng đối với việc vận dụng hoạt động CTXH nhóm với phụ nữ cũng như với lãnh đạo chính quyền địa phương trong việc định hướng và có giải pháp phù hợp để nâng cao hơn nữa sức khỏe nói chung và sức khỏe sinh sản nói riêng của người dân cũng như phát triển hoạt động CTXH tại địa phương
8.4.2 Phương pháp định tính
* Phỏng vấn sâu
Phương pháp thu thập thông tin bằng cách hỏi và trả lời trực tiếp giữa NVCTXH với đối tượng phụ nữ (12 người), chồng của phụ nữ Tiến Thịnh (04 người), các cán bộ địa phương (04 người) Qua đó thu thập thông tin về địa bàn nghiên cứu, về thực trạng nhu cầu hỗ trợ CSSKSS của phụ nữ xã Tiến Thịnh Những thông tin thu thập được dùng để phân tích, đánh giá, làm dữ kiện phục vụ mục đích nghiên cứu
* Thảo luận nhóm
NVCTXH sử dụng thảo luận nhóm bằng cách hỏi và trả lời trực tiếp
giữa NVCTXH với một nhóm nhỏ đối tượng phụ nữ
Mục đích nhằm tìm hiểu những yếu tố tác động đến hoạt động CSSKSS tại địa phương; những mong muốn được hỗ trợ CSSKSS và sự đề xuất giải pháp của họ để việc hỗ trợ CSSKSS cho phụ nữ đạt hiệu quả cao
Trang 2617
NVCTXH sử dụng kết hợp phương pháp định lượng và định tính trong khảo sát, điều tra xã hội học nhằm làm rõ hơn về thực trạng cũng như nhu cầu
hỗ trợ CSSKSS của nhóm phụ nữ xã Tiến Thịnh
8.5 Phương pháp công tác xã hội nhóm
Nghiên cứu sử dụng phương pháp CTXH nhóm, sử dụng mối quan hệ giữa các thành viên nhóm phụ nữ, chương trình sinh hoạt nhóm, bầu không khí nhóm như là công cụ để tác động vào mỗi thành viên, giúp họ nhận thức
rõ nhu cầu CSSKSS và họ biết cách đáp ứng nhu cầu của mình
Chương trình sinh hoạt nhóm chủ yếu với các hình thức sau: thảo luận
về nhu cầu CSSKSS, các thành viên chia sẻ kinh nghiệm bản thân, tổ chức văn nghệ,…
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài Lời cảm ơn, phần Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nghiên cứu được kết cấu thành ba phần chính như sau:
Phần I Mở đầu
Phần mở đầu trình bày các nội dung: Lý do chọn đề tài; tổng quan vấn
đề nghiên cứu; ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài; Mục đích nghiên cứu; đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu; câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu; khung phân tích; phương pháp nghiên cứu
Phần II Nội dung nghiên cứu
Gồm ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu
Chương 2 Thực trạng nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ
xã Tiến Thịnh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
Chương 3 Ứng dụng Công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ các nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ
Phần III Kết luận, khuyến nghị
Trang 2718
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU
1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Nhu cầu
Theo Đại từ điển Tiếng Việt: “Nhu cầu” là điều đòi hỏi, cần dùng.(56)Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý
của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con ngườ về vật chất
và tinh thần để tồn tại và phát triển Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác
Nhu cầu là đòi hỏi khách quan của con người trong những điều kiện nhất định đảm bảo cho sự sống và phát triển Nếu nhu cầu được thỏa mãn sẽ đem lại những yếu tố tích cực cho sự phát triển của con người, ngược lại, nếu nhu cầu không được đáp ứng sẽ gây ra những căng thẳng, mất cân bằng Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng cao
Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt cái gì đó mà con người cảm nhận được Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao
Trong nghiên cứu này, khái niệm “nhu cầu” được sử dụng với ý nghĩa là
những đòi hỏi (về kiến thức, kỹ năng, điều kiện sống và các dịch vụ) cần phải được đáp ứng nhằm đảm bảo việc CSSKSS cho phụ nữ
1.1.2 Sức khỏe
Theo định nghĩa về sức khoẻ của Tổ chức Y tế Thế Giới: “Sức khoẻ là
một trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ
Trang 2819
+ Hoàn toàn thoải mái về mặt thể chất là: hoạt động thể lực, hình dáng,
ăn, ngủ, tình dục,… tất cả các hoạt động sống trên đều ở trạng thái tốt nhất phù hợp với từng lứa tuổi Cơ sở của sự sảng khoái, thoải mái về thể chất là: sức lực, sự nhanh nhẹn, sự dẻo dai, khả năng chống được các yếu tố gây bệnh, khả năng chịu đựng các điều kiện khắc nghiệt của môi trường
+ Hoàn toàn thoải mái về mặt tâm thần: là bình an trong tâm hồn Biết cách chấp nhận và đương đầu với các căng thẳng trong cuộc sống Thể hiện ở
sự sảng khoái, ở cảm giác dễ chịu, cảm xúc vui tươi, thanh thản, ở những ý nghĩ lạc quan, yêu đời, ở những quan niệm sống tích cực, dũng cảm, chủ động; ở khả năng chống lại những quan niệm bi quan và lối sống không lành mạnh
+ Hoàn toàn thoải mái về mặt xã hội là: thể hiện ở sự được tán thành và chấp nhận của xã hội Càng hoà nhập với mọi người, được mọi người đồng cảm, yêu mến càng có sức khỏe xã hội tốt và ngược lại
+ Không có bệnh tật hay tàn phế là: không có bệnh về thể chất, bệnh tâm thần, bệnh liên quan đến xã hội và sự an toàn về mặt xã hội
Định nghĩa trên được xây dựng trên quan điểm dự phòng, sức khỏe là yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt, lao động, học tập của con người, ảnh hưởng tới đời sống sản xuất vật chất, tinh thần, sản xuất nòi giống của xã hội Theo định nghĩa trên, mỗi người chúng ta cần chủ động chăm sóc bản thân để có một sức khoẻ tốt Cần trang bị cho mình kiến thức về phòng bệnh và rèn luyện sức khoẻ, thực hành dinh dưỡng hợp lý, luyện tập thể dục thể thao phù hợp, an toàn lao động và khám bệnh định kỳ để chủ động trong việc phòng và chữa bệnh
1.1.3 Sức khỏe sinh sản
Sức khỏe sinh sản là một phần rất quan trọng của sức khỏe SKSS gắn với toàn bộ cuộc đời con người từ lúc bào thai đến khi tuổi già SKSS quan
Trang 2920
tâm đến các vấn đề của bộ máy sinh sản nam, nữ ở mọi lứa tuổi, đặc biệt chú trọng đến tuổi vị thành niên và độ tuổi sinh sản
Hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển họp tại Cai rô (Ai Cập) năm
1994 đã đưa ra định nghĩa về SKSS như sau: “Sức khỏe sinh sản là tình trạng
khỏe mạnh, hài hòa về thể chất, tinh thần và xã hội trong tất cả mọi khía cạnh liên quan đến hệ thống, chức năng của quá trình sinh sản chứ không phải chỉ
là không có bệnh tật hay tổn thương hệ thống sinh sản, những chức năng và quá trình của nó.”
Theo định nghĩa trên, SKSS bao gồm::
- Sức khỏe thể chất là cơ thể khỏe mạnh, các cơ quan sinh dục nam, nữ không bị tổn thương và đảm bảo cho việc thực hiện chức năng tình dục và sinh sản
- Sức khỏe tinh thần là mỗi cá nhân cảm thấy thoải mái với chính mình
về sức khỏe sinh sản và tình dục, biết thừa nhận những nhược điểm của mình, không tự ti
- Sức khỏe xã hội là việc đảm bảo sự an toàn cho xã hội, có mối quan hệ tốt với cộng đồng
Sức khoẻ sinh sản bao gồm nhiều khía cạnh, trong đó có cả khía cạnh liên quan đến bản năng sinh học của con người đối với quá trình sinh sản, đó
là sức khoẻ tình dục, hệ thống sinh sản, chức năng sinh sản và quá trình sinh sản của con người được hình thành, phát triển, và tồn tại trong suốt cuộc đời; khía cạnh thứ hai đề cập đến quyền được quyết định của con người đối với quá trình đó như: lựa chọn các BP PTT, quyền tiếp cận thông tin
Quá trình sinh sản và tình dục là một quá trình tương tác giữa hai cá thể,
nó bao hàm sự tự nguyện, tinh thần trách nhiệm và sự bình đẳng Do đó, sức khoẻ sinh sản có tầm quan trọng đặc biệt đối với cả nam giới và nữ giới
Trang 3021
Như vậy, sức khỏe sinh sản chỉ là một yếu tố trong toàn bộ sức khỏe con
người, song lại có vai trò rất lớn, không chỉ tác động tới thế hệ hiện tại mà tác
động tới cả thế hệ tương lai Các vấn đề về SKSS lại càng trở nên quan trọng đối với người phụ nữ, vì họ có vai trò rất quan trọng trong việc trực tiếp tái sản xuất xã hội (thai nghén và sinh con) Bởi vậy, việc chăm sóc sức khỏe sinh sản không những ảnh hưởng trực tiếp tới bản thân họ mà ảnh hưởng tới gia đình, xã hội và nòi giống tương lai
1.1.4 Chăm sóc sức khỏe sinh sản
Theo Chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển tại Cai – rô, Ai Cập năm 1994, sức khỏe sinh sản gồm các nội dung như:
+ Làm mẹ an toàn;
+ Kế hoạch hoá gia đình;
+ Nạo hút thai;
+ Phòng và điều trị vô sinh;
+ Phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS;
+ Phòng, chống khối u đường sinh dục
+ Sức khoẻ sinh sản vị thành niên;
+ Giáo dục giới tính, tình dục;
+ Chăm sóc sức khỏe trẻ em ;
+ Thông tin, giáo dục, truyền thông
Từ định nghĩa và các nội dung của SKSS cho thấy CSSKSS không chỉ tập trung chăm lo cấu trúc và chức năng của hệ thống sinh sản mà còn bao gồm việc giúp cho con người có được trạng thái tinh thần thoải mái và hòa hợp với xã hội Chăm sóc sức khỏe sinh sản không chỉ có nghĩa là giúp cho người bệnh khỏi được những căn bệnh thực thể mà còn có nghĩa là giúp họ
Trang 3122
thoát khỏi những bế tắc về mặt tinh thần và có được những mối quan hệ lành mạnh, bao gồm cả những mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội.(33)
Như vậy chăm sóc sức khỏe sinh sản là tổng thể các biện pháp, kỹ thuật
và dịch vụ góp phần nâng cao sức khỏe và hạnh phúc bằng cách phòng ngừa
và giải quyết những vấn đề về SKSS, nó bao gồm sức khỏe tình dục với mục đích đề cao cuộc sống và các mối quan hệ riêng tư; tư vấn, chăm sóc liên
1.1.5 Công tác xã hội
Có nhiều khái niệm về Công tác xã hội được đưa ra ở các góc độ khác nhau
- Theo Từ điển Bách khoa ngành CTXH (1995): “CTXH là một khoa học
ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội.”
- Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị
Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: “CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy
sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người,
sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của
họ ngày càng thoải mái và dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ”
- Tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng: “CTXH là hoạt động thực tiễn
mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương pháp hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề CTXH theo đuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội”
Từ những quan điểm trên, có thể thấy CTXH có một vài đặc điểm sau: + Trước hết, CTXH là một khoa học, một hoạt động chuyên môn bao gồm hệ thống kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ và quy điều đạo đức nghề
Trang 3223
+ Đối tượng của CTXH là cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và đặc biệt là nhóm người yếu thế trong xã hội như: trẻ em, người già, phụ nữ,… + Hướng trọng tâm của CTXH là tác động tới con người như một tổng thể; tác động tới con người trong môi trường xã hội của họ
+ Mục đích của CTXH nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng phục hồi, nâng cao năng lực, tiếp cận nguồn lực để tăng cường chức năng xã hội, thay đổi và nâng cao vị thế, vai trò
+ Vấn đề mà đối tượng của CTXH gặp phải có thể xuất phát từ yếu tố chủ quan (thể chất, sức khỏe, đói nghèo,…) hoặc từ yếu tố khách quan do môi trường sống mang lại
Như vậy, “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp
nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường
xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an
1.1.6 Công tác xã hội nhóm
Theo Toseland và Rivas (1998): “CTXH nhóm là hoạt động có mục đích
với các nhóm nhiệm vụ và trị liệu nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu tình cảm xã hội
và hoàn thành nhiệm vụ Hoạt động này hướng trực tiếp tới cá nhân các thành viên trong nhóm và tới toàn thể nhóm trong một hệ thống cung cấp dịch
Trang 3324
nhân thành viên giải tỏanhững vấn đề khó khăn Trong hoạt động CTXH nhóm, một nhóm thân chủ được thành lập, sinh hoạt thường kỳ dưới sự điều phối của người trưởng nhóm (có thể là nhân viên xã hội hoặc là thành viên của nhóm) và đặc biệt là sự trợ giúp, điều phối của nhân viên xã hội trong
trường hợp trưởng nhóm là thành viên nhóm
Phân loại nhóm: Có nhiều cách phân loại nhóm khác nhau Theo quan
điểm của Toseland và Rivas (1998), có thể phân chia thành hai loại hình
nhóm: nhóm can thiệp và nhóm nhiệm vụ
+ Nhóm nhiệm vụ mang sắc thái của các hoạt động vận động cho lợi ích của thân chủ phù hợp với những lợi ích, chương trình của tổ chức và cộng đồng Loại hình nhóm nhiệm vụ có 03 dạng: nhóm đáp ứng nhu cầu của thân chủ, nhóm đáp ứng nhu cầu của tổ chức và nhóm đáp ứng nhu cầu của cộng đồng
+ Nhóm can thiệp là nhóm có các hoạt động hỗ trợ/ trị liệu trực tiếp đối với thân chủ yếu thế Nhóm can thiệp bao gồm: nhóm hỗ trợ, nhóm giáo dục, nhóm phát triển, nhóm trị liệu và nhóm xã hội hóa
Trong phạm vi nghiên cứu, người nghiên cứu lựa chọn nhóm giáo dục vào việc hỗ trợ kiến thức về chăm sóc sức khoẻ sinh sản đối với nhóm phụ nữ nông thôn
Nhóm giáo dục là loại hình nhóm áp dụng trong CTXH với mục tiêu cung cấp những thông tin, nâng cao nhận thức, bồi dưỡng kiến thức kỹ năng về những chủ đề liên quan đến những vấn đề của thân chủ
Trong quá trình sinh hoạt nhóm, nhóm có thể mời các chuyên gia chuyên sâu đến trình bày và chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm (Đối với hoạt động của nhóm phụ nữ, có sự tham gia của cán bộ y tế và cán bộ dân số) Các thành viên trong nhóm có sự trao đổi, thảo luận chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm về
vấn đề của nhóm và các kinh nghiệm xã hội khác
Trang 3425
1.1.7 Tham vấn
Tham vấn là một hình thức trợ giúp tâm lý xuất hiện đã lâu ở Phương Tây, tuy nhiên ở Việt Nam vẫn còn mới mẻ và thường được gọi là tư vấn tâm lý hoặc
gọi chung là tư vấn Tuy nhiên tham vấn không phải là một hình thức tư vấn
thông thường Tham vấn là nói đến việc trợ giúp về mặt tâm lý chứ không đơn thuần là việc giải đáp thông tin, kiến thức
Hiện nay, còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “Tham vấn” Theo tài liệu tập huấn về công tác tham vấn cho trẻ em của UNICEF: “Tham vấn không giống như một cuộc nói chuyện Tham vấn là một mối quan hệ, một quá trình trong đó nhà tham vấn giúp thân chủ cải thiện cuộc sống của họ bằng cách khai thác, hiểu và nhìn nhận được nội dung, ý nghĩa, cảm giác và hành vi của họ Nhà tham vấn không giải quyết vấn đề cho thân chủ”
Từ những quan điểm trên, có thể rút ra khái niệm tham vấn như sau:
“Tham vấn là một quá trình trợ giúp tâm lý, trong đó nhà tham vấn sử dụng kiến thức, kỹ năng chuyên môn và thái độ nghề nghiệp để thiết lập mối quan hệ tương tác tích cực với thân chủ nhằm giúp họ nhận thức được hoàn cảnh vấn đề để thay đổi cảm xúc, suy nghĩ và hành vi và tìm kiếm giải pháp
1.1.8 Kết nối
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “kết nối” có nghĩa là gắn lại (56)
Kết nối có thể được hiểu là một khâu trung gian, gắn các đối tượng chưa
có sự liên kết lại với nhau để đạt được mục tiêu, kết quả nhất định
Kết nối là một trong số các vai trò mà nhân viêc công tác xã hội cần thực hiện để hỗ trợ thân chủ của mình NVCTXH cùng thân chủ xác định nan đề, nhu cầu của họ và kết nối họ với các nguồn lực, dịch vụ có thể giúp thân chủ giải quyết nan đề hoặc đáp ứng nhu cầu một cách tối ưu
Trang 3526
1.1.9 Hỗ trợ
Theo Đại từ điển Tiếng Việt (1999), “hỗ trợ” có nghĩa là giúp đỡ nhau,
Hỗ trợ có thể được hiểu là việc sử dụng nguồn lực chia sẻ với người thiếu nguồn lực đó, giúp họ giải quyết khó khăn
Hoạt động hỗ trợ được thực hiện trong CTXH thông qua việc NVCTXH tiếp cận thân chủ, sử dụng kiến thức, kỹ năng chuyên môn cùng thân chủ đánh giá hiện tại; xác định vấn đề, giúp thân chủ lựa chọn được giải pháp tối ưu cho vấn đề của họ; tìm ra nguồn lực, dịch vụ, kết nối với thân chủ Qua sự hỗ trợ của NVCTXH, thân chủ chính là người quyết định và tự giải quyết nan đề của mình
1.1.10 Phụ nữ nông thôn
Theo Đại từ điển Tiếng Việt (1999) (56):
- Phụ nữ là người thuộc giới nữ, thường dùng để chỉ người lớn tuổi
- Nông thôn là vùng tập trung dân cư làm nghề nông; phân biệt với thành thị, thành phố
Trong nghiên cứu này, khái niệm “phụ nữ nông thôn” được hiểu là
những người phụ nữ sinh sống, lao động ở nông thôn
Nhu cầu hỗ trợ CSSKSS của phụ nữ nông thôn là mong muốn được giúp
đỡ, tìm hiểu, tiếp cận các hoạt động, nội dung liên quan đến CSSKSS, nhằm nâng cao sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống của phụ nữ nông thôn
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Abraham Maslow (1908 - 1970), là một nhà tâm lý học người Mỹ Ông được thế giới biết đến qua mô hình “Tháp Nhu cầu” nổi tiếng và được coi là cha đẻ của tâm lý học nhân văn
Trang 3627
Theo thuyết nhu cầu của Abraham Maslow, nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau từ đáy lên tới đỉnh, phản ánh mức độ cơ bản của nó đối với sự tồn tại và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội Bậc thang nhu cầu của Maslow được chia thành 05 bậc Theo đó:
+ Các nhu cầu ở mức thấp: Nhu cầu sinh lý cơ bản; nhu cầu an toàn
+ Các nhu cầu ở mức cao: nhu cầu xã hội (yêu mến và phụ thuộc); nhu cầu được tôn trọng; nhu cầu tự thể hiện mình
Hình 1.1 Tháp Nhu cầu của Abraham Maslow
Theo Tháp Nhu cầu của Maslow:
(1) - Nhu cầu sinh lý cơ bản của con người như: ăn, uống, ngủ, thở, tình dục, Đây là nhu cầu cơ bản, mạnh nhất của con người Maslow cho rằng, những nhu cầu ở bậc cao hơn sẽ không xuất hiện nếu nhu cầu cơ bản không được đáp ứng
Các nhu cầu cần thiết để duy trì các yếu tố tạo ra con người gọi là nhu cầu cơ bản hay còn gọi là các nhu cầu để tồn tại và phát triển của con người
Trang 3728
Đối với người con người nói chung và phụ nữ nói riêng, trước hết, họ cần được đáp ứng những nhu cầu cơ bản: có ăn, có mặc, có sức khỏe, có hoạt động tình dục Khi cơ thể không khỏe mạnh, đói khát, bệnh tật thì những nhu cầu khác chỉ còn là thứ yếu
Với người phụ nữ, SKSS không được đảm bảo, dễ dẫn đến những bệnh tật phát sinh: ung thư, bệnh phụ khoa, hoặc đời sống tình dục gặp khó khăn, ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống tâm lý gia đình, công việc, tài chính của họ
Vì vậy, CSSKSS cho phụ nữ, nhất là phụ nữ ở nông thôn là rất cần thiết
(2) - Khi con người được đáp ứng những nhu cầu cơ bản, họ sẽ có những nhu cầu tiếp theo, trong đó có nhu cầu về an toàn Nhu cầu an toàn được thể hiện ngay trong thể chất và tinh thần
Người phụ nữ được trang bị những kiến thức về CSSKSS sẽ có vốn hiểu biết nhất định, hình thành nên những kỹ năng chăm sóc bản thân và gia đình khỏe mạnh; tạo được cảm giác an tâm và hài lòng với bản thân, với cuộc sống NVCTXH cần biết rõ tính chất, đặc điểm của thân chủ để có thể xử trí một cách thông minh trong quá trình hỗ trợ
(3) - Bậc thang thứ ba là nhu cầu về xã hội (yêu mến và phụ thuộc) Mọi người đều có nhu cầu tình cảm quan hệ bạn bè, hàng xóm, gia đình và xã hội Các nhu cầu này được xếp vào nhu cầu ở mức cao Nó bao hàm sự trao - nhận tình cảm và cảm giác là thành viên của gia đình, đoàn thể, xã hội Người không được đáp ứng về tình cảm, không có mối quan hệ bạn bè, xã hội
có cảm giác buồn tẻ và cô lập
Một người phụ nữ có kiến thức phong phú, có SKSS tốt sẽ có sức khỏe thể chất và tinh thần tốt, có được sự tự tin khi bước chân vào hôn nhân cũng như duy trì hạnh phúc gia đình hoặc tham gia hoạt động trong những nhóm tuyên truyền về CSSKSS, tham gia hội phụ nữ,… Do đó, NVCTXH cần xem xét nhu cầu này của thân chủ khi lập kế hoạch hỗ trợ họ
Trang 3829
(4) - Nhu cầu được tôn trọng (tự trọng) được thể hiện ở hai cấp độ: + Được người khác quý mến thông qua các thành quả của bản thân + Tự cảm nhận, quý trọng bản thân, có lòng tự trọng, tự tin
Sự tôn trọng tạo cho con người lòng tự tin và tính độc lập Khi sự tôn trọng không được đáp ứng người ta tin rằng họ không được người khác chấp nhận nên sinh ra cảm giác cô độc và tự ty Người phụ nữ có hiểu biết, được cung cấp kiến thức về CSSKSS cũng là người có khả năng đưa ra lời khuyên, kinh nghiệm cho những người xung quanh về vấn đề mà họ biết như: cách phòng tránh thai, dấu hiệu phát hiện bệnh phụ khoa sớm,… Đồng thời, họ biết cách tự chăm sóc bản thân, có thể chất và tình tốt, có tâm thế hoàn thành tốt các vai trò của mình Do đó, họ dễ dàng nhận được sự tôn trọng, quý mến của những người xung quanh Họ cũng cảm thấy bản tự tin, tự trọng, hài lòng và yêu quý bản thân mình NVCTXH đáp ứng nhu cầu này của thân chủ bằng thái độ thân mật, niềm nở và chú ý lắng nghe ý kiến của họ
(5) - Nhu cầu được thể hiện mình là nhu cầu được xếp ở tầng bậc thang cao nhất Nhu cầu này thể hiện ở việc, con người sử dụng, phát huy hết tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả trong xã hội Nhu cầu này diễn ra trong suốt cuộc đời mỗi con người, nó xuất hiện khi các nhu cầu dưới nó được đáp ứng trong những chừng mực nhất định
Những nhu cầu trước đó về việc có được kiến thức, kỹ năng CSSKSS được đáp ứng, có thể giúp đáp ứng nhu cầu tự thể hiện mình của người phụ
nữ nông thôn NVCTXH cần biết đánh giá đúng những nhu cầu, kinh nghiệm, kiến thức và thẩm mỹ của thân chủ để từ đó có sự quan tâm và lập kế hoạch
Trang 3930
của người phụ nữ thể hiện ở các thứ bậc nhu cầu Từ việc xác định đúng nhu cầu, NVCTXH có thể xác định nguồn lực, lên kế hoạch hỗ trợ nhu cầu CSSKSS cho nhóm thân chủ
1.2.2 Thuyết nữ quyền
Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, các phong trào nữ quyền ra đời ở nhiều nước phương Tây Nữ quyền là phong trào xã hội của phụ nữ nhằm đấu
tranh để bảo vệ và mở rộng các quyền của phụ nữ, nâng cao địa vị của phụ nữ
trong gia đình và xã hội và xóa bỏ chế độ phụ quyền trên phạm vi toàn cầu
Một số đại biểu tiêu biểu của thuyết nữ quyền: Ann Oakley (người Anh), Simone de Beauvoir (người Pháp), Betty Friedan (người Mỹ)(32)
Một số thuyết nữ quyền tiêu biểu là: thuyết nữ quyền tự do, nữ quyền cấp tiến, nữ quyền Macxits, nữ quyền xã hội chủ nghĩa, nữ quyền phân tâm học, nữ quyền hiện sinh, nữ quyền hậu hiện đại
Trong phạm vi đề tài, người nghiên cứu đi sâu vào phân tích về thuyết
nữ quyền xã hội chủ nghĩa Thuyết này xuất hiện vào những thập kỷ đầu của thế kỷ XIX tại Anh và Pháp Lý thuyết này cho rằng sự áp bức đối với phụ nữ
là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản và nó được củng cố bởi luật pháp bất bình đẳng
Các nhà nữ quyền xã hội chủ nghĩa đã tiếp cận theo hai cách:
Một là, lý thuyết “Hệ thống cặp đôi”: Quan điểm cơ bản của lý thuyết
này cho rằng, chế độ nam trị và chủ nghĩa tư bản là những hình thức quan hệ
xã hội và những hệ thống lợi ích khác nhau Khi chúng phối hợp với nhau, chúng sẽ áp bức phụ nữ toàn diện và sâu sắc Tác giả Juliet Michell trong tác phẩm “Woman’s Estate” (Đẳng cấp phụ nữ) đã cho rằng, điều kiện sống của phụ nữ bị áp lực quá nhiều bởi các cơ cấu xã hội; trong cuốn “Psychoanalysis and Feminism” (Phân tâm học và nữ quyền), bà cho rằng, thế giới nội tâm của
Trang 4031
phụ nữ cũng phải thay đổi, vì nếu chỉ có những thay đổi bên ngoài sẽ không giải phóng phụ nữ khỏi tư tưởng nam trị và sẽ làm mỏi mòn lòng tin của họ
Hai là, lý thuyết “Các hệ thống thống nhất” với quan điểm chủ nghĩa tư
bản và chế độ nam trị cùng chung một mục đích là áp bức phụ nữ giống như linh hồn không tách rời khỏi thể xác Tác giả Alison Jagga đã xác lập mối tương quan giữa các hình thức áp bức phụ nữ Bà dùng khái niệm “tha hóa”
để lý giải vì sao trong chủ nghĩa tư bản mọi thứ (công việc, tình dục, giải
trí, ) và mọi người (gia đình, bạn bè, ) là nguồn gốc để tạo điều kiện sống,
sự liên kết của phụ nữ với tư cách là một con người lại trở thành nguyên nhân làm họ bị phân thân
Theo chủ nghĩa Mac, một người làm công ăn lương bị tha hóa do họ bị tách khỏi sản phẩm mà họ làm ra Tương tự như vậy, một phụ nữ bị tha hóa khỏi sản phẩm chính là cơ thể của phụ nữ đó Phụ nữ có thể cho rằng việc ăn kiêng, làm đẹp là vì chính bản thân họ, nhưng thực tế là họ đang muốn mình trở nên hấp dẫn cho nam giới, làm vừa lòng nam giới Giống như tính dục, việc sinh con và làm mẹ cũng được coi là sự tha hóa đối với phụ nữ Một phụ
nữ tha hóa khỏi sản phẩm của lao động tái sinh sản của mình khi không được quyền quyết định đẻ bao nhiêu con và đẻ khi nào? Các tác giả khẳng định: cuộc sống của phụ nữ bị phụ thuộc bởi các yếu tố sinh học nhiều hơn nam giới Sự thống trị của nam giới là ở chỗ họ kiểm soát quá trình tái sản xuất của phụ nữ (cả hai dạng tái sản xuất sinh học và tái sản xuất sức lao động)
Nữ quyền xã hội chủ nghĩa cho rằng, sự áp bức phụ nữ phải được xem xét cả bên trong sự phân công lao động giới tính lẫn phân công lao động theo giới trong gia đình, xã hội Hệ thống áp bức này là do các mối quan hệ xã hội tạo nên chứ không phải yếu tố sinh học Theo thuyết này, để lật đổ sự thống trị của nam giới cần thay đổi nền tảng kinh tế của xã hội theo hướng xây dựng mối quan hệ bình đẳng giới Việc CSSKSS không phải chỉ thuộc về phụ nữ,