Theo định nghĩa trong giáo trình “Chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp”: Chiến lược kinh doanh của một công ty là tổng hợp các mục tiêu dài hạn, các chính sách và các giải ph
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
I KHÁI NIỆM VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
I.1 Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của chiến lược kinh doanh
Chiến lược là một thuật ngữ dùng để chỉ các kế hoạch lớn dài hạn được đưa ra trên cơ sở tin chắc được rằng những cái gì đối phương có thể làm, những cái gì đối phương có thể không làm Chiến lược được hiểu một cách đơn giản nhất là những kế hoạch được thiết lập hoặc những hành động được thực hiện trong nỗ lực nhằm đạt tới các mục đích của doanh nghiệp
Theo James B.Quinn, thuộc Đại học Dartmouth: "Chiến lược là một dạng thức hoặc một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các trình
tự hành động một tổng thể kết dính lại với nhau".
Khái niệm chiến lược kinh doanh được sử dụng khá phổ biến trong các doanh nghiệp ở các nước có nền kinh tế phát triển và ngày càng tỏ ra có vai trò
Trang 2hết sức quan trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp, nhất là trong nền kinh
tế thị trường biến động phức tạp như hiện nay Khoa học quản trị kinh doanh đã tồn tại rất nhiều khái niệm về chiến lược kinh doanh trong số đó có một số khái niệm được chấp nhận tương đối rộng rãi là:
Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là một chương trình hành động tổng quát hướng tới việc thực hiện những mục tiêu của doanh nghiệp Chiến lược không vạch ra một cách cụ thể để đạt được những mục tiêu vì đó là nhiệm
vụ của vô số chương trình hỗ trợ các chiến lược chức năng khác mà chiến lược chỉ tạo ra cái khung để hướng dẫn tư duy hành động.
Theo Alfred Chandler: Chiến lược kinh doanh bao hàm việc ấn định các mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, đồng thời lựa chọn các cách thức hoặc tiến trình hành động và phân bổ các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó.
Theo định nghĩa trong giáo trình “Chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp”: Chiến lược kinh doanh của một công ty là tổng hợp các mục tiêu dài hạn, các chính sách và các giải pháp lớn về sản xuất kinh doanh, về tài chính
và về giải quyết nhân tố con người nhằm đưa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lên một trạng thái mới cao hơn về chất.
Tuy nhiên hiện nay, chưa có khái niệm nào điễn tả được đầy đủ bản chất của chiến lược kinh doanh Tùy theo cách phân tích khách nhau, sẽ có những lý giải khác nhau về những vấn đề cơ bản của chiến lược, dù vẫn là việc tìm hiểu phân tích các điều kiện bên ngoài cũng như các nguồn lực bên trong của doanh nghiệp nhờ việc phân tích này mà các mặt mạnh mặt yếu của công ty sẽ được giải quyết để tranh thủ các cơ hội bên ngoài, doanh nghiệp sẽ có những quyết định, hướng đi chính xác và đúng đắn hơn so với các đối thủ cạnh tranh để từ đó tăng cường và củng cố và phát triển doanh nghiệp
Từ các khái niệm trên, ta cho chúng ta thấy một số đặc trưng cơ bản của chiến lược kinh doanh như sau:
- Chiến lược kinh doanh luôn mang tính định hướng
Bởi vì chiến lược kinh doanh bao gồm các mục tiêu dài hạn mà môi trường kinh doanh hiện đại luôn biến đổi không thể lường trước được nên chiến
Trang 3lược kinh doanh chỉ có tính định hướng chứ không thể cứng nhắc Vì vậy, bên cạnh các chỉ tiêu định lượng, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp còn chú trọng nhiều hơn đến các chỉ tiêu định tính Điều cần thiết là phải luôn theo dõi,
dự báo những thay đổi của môi trường kinh doanh để kịp thời điều chỉnh các hoạt động thực hiện chiến lược thậm chí điều chỉnh các mục tiêu chiến lược cho phù hợp.
- Chiến lược kinh doanh luôn tập trung về ban lãnh đạo công ty hoặc người đứng đầu công ty để quyết định những vấn đề lớn quan trọng nhất đối với công
ty
Chiến lược kinh doanh của công ty đề cập đến những vấn đề bao trùm, tổng quát nhất tới mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty như: các mục tiêu cơ bản của công ty là gì ? Công ty đang tham gia lĩnh vực kinh doanh nào?
và chiến lược kinh doanh phải được ban lãnh đạo cao nhất của công ty thông qua.
- Chiến lược kinh doanh luôn được xây dựng trên cơ sở lợi thế so sánh với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường
Vì kế hoạch hoá chiến lược mang bản chất động và tấn công, chủ động tận dụng thời cơ, điểm mạnh của mình để hạn chế các rủi ro và điểm yếu cho nên tất yếu phải xác định điểm mạnh của ta so với đối thủ cạnh tranh và tận dụng triệt
để điểm mạnh đó, phải “biết mình biết người” và luôn để sự đánh giá về công ty mình trong mối liên hệ với đối thủ cạnh tranh trên thị trường Nghĩa là giải đáp câu hỏi “Chúng ta đang ở đâu?”.
- Chiến lược kinh doanh luôn xây dựng cho những ngành nghề kinh doanh trong những lĩnh vực kinh doanh chuyên môn hoá truyền thống và thế mạnh của công
ty Phương án kinh doanh của công ty được kết hợp thực hiện trên cơ sở kết hợp chuyên môn hoá với đa dạng hoá sản xuất và kinh doanh tổng hợp.
I 2 Xác định nhiệm vụ của chiến lược kinh doanh
Xác định nhiệm vụ chiến lược chính là để trả lời cho câu hỏi công việc kinh doanh của doanh nghiệp chúng ta là gì? Đôi khi người ta gọi nhiệm vụ kinh doanh là nguyên tắc kinh doanh, nục đích kinh doanh triết lý kinh doanh, từ đó xác định lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp thông thường đó là loại sản
Trang 4phẩm cơ bản hoặc dịch vụ chính, các nhóm đối tượng khách hàng hàng đầu, nhu cầu thị trường tình hình công nghệ và một loạt các yếu tố khác
Chức năng nhiệm vụ thường nói về những mục đích dài hạn của doanh nghiệp, nó phân biệt doanh nghiệp với các công ty khác trong ngành, nó nói lên các nguyên tắc kinh doanh các quan điểm của doanh nghiệp, từ đó xác định lĩnh vực kinh doanh, loại sản phẩm, khách hàng và công nghệ sử dụng cũng như khuôn khổ hoạt động của doanh nghiệp Chức năng nhiệm vụ phải có giới hạn vừa đủ để loại trừ các rủi ro nhưng nó phải đủ rộng để đảm bảo tăng trưởng Khi xây dựng chức năng nhiệm vụ phải đảm bảo tính thống nhất về ý trí và phương hướng phát triển trong nội bộ doanh nghiệp, tạo cơ sở để huy động và phân bổ hợp lý nguồn lực của công ty đồng thời nó có vai trò làm điểm tụ cho mọi người đồng tình với phương hướng và mục đích của công ty.
I 3 Xác định mục tiêu chiến lược
Thuật ngữ " mục tiêu" được dùng để chỉ các đích hoặc các kết quả cụ thể mà doanh nghiệp muốn phấn đấu để đạt được Tuy nó được suy ra từ chức năng nhiệm vụ nhưng chúng cần phải cụ thể, rõ ràng hơn và lượng hoá được.
Mục tiêu dài hạn là kết quả mong muốn được đề ra trong một khoảng thời gian tương đối dài Số năm cụ thể khác nhau nhưng nhìn chung thường dài hơn một chu kỳ quyết định kinh doanh(Chu kỳ quyết định kinh doanh là khoảng thời gian cần thiết để thực hiện trọn vẹn một quyết định).
Các mục tiêu dài hạn thường đề cập đến 7 lĩnh vực chủ yếu:
Trang 5gắn liền với kế hoạch thực hiện.Nhìn chung các mục tiêu cụ thể khi đưa ra cần phải đảm bảo tính đúng đắn tức là phù hợp với tình hình sản xuất và năng lực của doanh nghiệp trên cơ sở đáp ứng đủ 6 tiêu thức:
Mọi tổ chức đểu phải hoạch định mục tiêu, bao gồm chức năng, nhiệm vụ, chỉ tiêu dài hạn và ngắn hạn Chức năng nhiệm vụ là nội bao quát, xác định lý
do tồn tại của tổ chức và luôn được đề ra trước nhất Sau khi đã đề ra chức năng nhiệm vụ làm định hướng phải tiến hành xác định các mục tiêu dài hạn và ngắn hạn.
I.4 Vai trò và sự cần thiết hoạch định chiến lược trong kinh doanh
Nền kinh tế thị trường tự do kinh doanh tạo điều kiện cho việc phát triển các loại hình doanh nghiệp Phạm vi phần thị trường của các doanh nghiệp luôn
có nguy cơ bị thu hẹp, trong hoàn cảnh khó khăn như vậy, việc định hướng chiến lược kinh doanh có vai trò rất quan trọng, nó quyết định sự tồn vong của cả một doanh nghiệp Nên việc đánh giá khả năng thích nghi và sự phù hợp của chiến lược kinh doanh là rất cần thiết để từ đó nhà lãnh đạo có biện pháp điều chỉnh theo những biến động của môi trường một cách có hiệu quả nhất Điều minh chứng cho thấy lợi ích và vai trò to lớn của việc hoạch định chiến lược đem lại cho doanh nghiệp là:
Trang 6- Giúp cho nhà quản trị thấy rõ mục đích và hướng đi của mình, biết được những kết quả mong muốn và việc sử dụng tài nguyên hợp lý, tối ưu, khuyến khích tinh thần trách nhiệm của mỗi thành viên.
- Giúp lãnh đạo công ty có điều kiện ra quyết định mang tính thống nhất phù hợp với các hoạt động nhịp nhàng, uyển chuyển, tạo ra sự đồng tâm nhất trí của toàn bộ lực lượng hoạt động trong công ty.
- Giúp lãnh đạo chủ động thích ứng trước những sự thay đổi của môi trường kinh doanh khai thác các cơ hội của môi trường và phát huy sức mạnh nội tại của doanh nghiệp khắc phục nhược điểm trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Bên cạnh đó ,các doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường thì có nghĩa là phải chấp nhận những khó khăn thách thức của môi trường, những biến động bất kỳ của nền kinh tế và sự cạnh tranh khốc liệt của quy luật kinh tế thị trường Mỗi doanh nghiệp để bắt đầu việc khởi sự kinh doanh của mình thì phải có những nguồn lực nhất định, và để tồn tại doanh nghiệp cần phải có chiến lược kinh doanh phù hợp với những nguồn lực của mình nhằm phát huy các tiềm lực: như tiềm lực về tài chính, về vốn, về công nghệ lao động vv… Để duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh buộc các doanh nghiệp phải phát huy triệt
để mọi tiềm lực này, mọi thế mạnh mà doanh nghiệp mình có Tức là với nguồn lực đó làm sao doanh nghiệp tạo được lợi thế hơn so với các doanh nghiệp khác trong việc thoả mãn đến mức cao nhất các đòi hỏi của thị trường Vậy trong doanh nghiệp thì công tác nào giúp cho doanh nghiệp thực hiện các hoạt động trên ? Đó chính là công tác quản trị chiến lược hay chính là sự cần thiết phải soạn thảo những chiến lược kinh doanh và triển khai chiến lược kinh doanh tối
ưu để đem lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp Từ đó cho thấy việc xây dựng chiến lược kinh doanh tốt là cơ sở quan trọng nhằm thực hiện có hiệu quả công tác quản trị doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình.
Hơn nữa, các doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường để tồn tại và phát triển phải thực hiện xây dựng và áp dụng các chiến lược kinh doanh để nâng cao khả năng cạnh tranh, song cũng phải tuân theo quy luật cạnh tranh Với các doanh nghiệp cạnh tranh luôn là con dao hai lưỡi, một mặt nó đào thải các doanh nghiệp không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường Mặt khác nó làm
Trang 7cho điều kiện cạnh tranh của các doanh nghiệp ngày càng khó khăn và khốc liệt hơn buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cố gắng nghiên cứu thị trường xây dựng những chiến lược kinh doanh đáp ứng với sự biến động của môi trường kinh doanh nhằm hoàn thiện hoạt động tổ chức sản xuất kinh doanh của mình để tồn tại và phát triển Đây là mục đích tự thân của doanh nghiệp
Một lý do khác các doanh nghiệp cần phải soạn thảo chiến lược kinh doanh trong điều kiện hiện nay đó là nhu cầu tiêu dùng hàng hoá của con người ngày càng cao, là rất đa dạng và phong phú Song có xu thế là thích tiêu dùng những sản phẩm hàng hoá dịch vụ có chất lượng tốt mà giá thành lại hợp lý Để thoả mãn nhu cầu của khác hàng đòi hỏi doanh nghiệp không được tự bằng lòng với chất lượng sản phẩm dịch vụ của mình, mà đòi hỏi doanh nghiệp không ngừng tăng cường hoạt động nghiên cứu thị trường, đánh giá đúng mình đúng người, xây dựng những chiến lược đầy tham vọng bởi vì sản phẩm ngày hôm nay được ưu dùng nhưng ngày mai có thể lỗi thời Trong giai đoạn hiện nay thì cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ đang phát triển rất mạnh với tốc
độ chóng mặt Nhiều công trình khoa học tiên tiến ra đời tạo ra các sản phẩm có chất lượng tốt mà giá cả hợp lý, đáp ứng mọi mặt nhu cầu của con người Nhưng nhu cầu của con người thì vô tận và sẽ tạo ra “khe hở thị trường“ nó đang chờ các doanh nghiệp tìm ra và thoả mãn Do vậy doanh nghiệp phải đi sâu vào nghiên cứu thị trường và phát hiện nhu cầu mới của khách hàng, qua đó lựa chọn phương án phù hợp với năng lực của mình để đáp ứng nhu cầu của khách hàng Và trong cuộc chạy đua doanh nghiệp năng động, nhạy bén hơn thì doanh nghiệp đó sẽ thành công, chính vì vậy các doanh nghiệp phải xây dựng chiến lược kinh doanh thích hợp trong từng điều kiện cụ thể của môi trường nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng và chiến thắng các đối thủ khác.
Tóm lại: Việc xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trong cơ
chế thị trường là cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, nó làm kim chỉ nam cho sự phát triển của doanh nghiệp, nhất là trong trong thị trường
có sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay.
I.5 Các loại hình chiến lược kinh doanh
* Căn cứ vào phạm vi chiến lược người ta chia chiến lược kinh doanh thành :
Trang 8- Chiến lược chung : thường đề cập đến những vấn đề quan trọng lâu dài quyết định sự sống còn của doanh nghiệp
- Chiến lược bộ phận : với doanh nghiệp thường là chiến lược phân phối, chiến lược sản phẩm, chiến lược giá chiến lược yểm trợ bán hàng
* Căn cứ và hướng tiếp cận chiến lược kinh doanh chia thành 4 loại
- Chiến lược tập trung và các yếu tố then chốt: Tư tưởng chỉ đạo của chiến lược này không dàn trải các nguồn lực mà tập trung cho những hoạt động có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của doanh nghiệp
- Chiến lược dựa trên các ưu thế tương đối: Vấn đề cơ bản của hoạch định chiến lược ở đây là bắt đầu từ việc phân tích so sánh sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp mình với các đối thủ cạnh tranh tìm ra các điểm mạnh điểm yếu của mình để từ đó có các biện pháp giải quyết cụ thể trong chiến lược kinh doanh
- Chiến lược sáng tạo tấn công: Việc xây dựng chiến lược là tiếp cận theo cách cơ bản là luôn luôn đặt câu hỏi là "tại sao" nhằm xem xét lại những điều kiện sảy ra từ đó trả lời cho những câu hỏi này Tổng hợp lại từ đó có những khám phá sáng tạo mới dành ưu thế cho doanh nghiệp mình
- Chiến lược khai thác các khả năng tiềm tàng: Dựa trên các sự phân tích
có hệ thống thông tin nhằm khai thác các khả năng có thể của tất cả các yếu tố ngoài yếu tố then chốt để hoạch định chiến lược tận dụng cơ hội kinh doanh.
* Căn cứ vào cấp quản lý chiến lược :
- Chiến lược cấp công ty (corporate – level strategy): còn gọi là chiến lược tổng thể bao trùm mọi hoạt động của công ty Nó xác định và vạch rõ mục tiêu, nục đích, các tiêu đích của công ty, xác định các hoạt động kinh doanh mà công
ty theo đuổi, Xác định ngành kinh doanh mà công ty đang hoặc sẽ tiến hành, mỗi ngành kinh doanh đều cần phải xác định rõ là kinh doanh như thế nào lĩnh vực hoạt động
- Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh (business – level strategy): dành cho từng lĩnh vực hoạt động riêng biệt của doanh nghiệp Mỗi lĩnh vực như thế được gọi là SBU hoặc đơn vị kinh doanh chiến lược Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh
là một bộ phận của chiến lược cấp công ty xác định rõ việc lựa chọn sản phẩm
Trang 9hoặc định dạng cụ thể thị trường cho hoạt động kinh doanh riêng trong nội bộ công ty nó xác định xem một công ty sẽ cạnh tranh như thế nào với hoạt động kinh doanh cùng với vị trí đã biết của bản thân công ty giữa những người cạnh tranh.
Chiến lược cấp kinh doanh còn phải xác định cách thức mỗi đơn vị kinh doanh sẽ cố gắng hoàn thành mục tiêu của nó để góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu cấp công ty Nếu công ty là đơn vị ngành thì chiến lược cấp đơn vị kinh doanh được coi là chiến lược cấp công ty.
- Chiến lược cấp chức năng (function – level strategy): áp dụng cho từng
bộ phận chức năng, đó là các phòng ban khối hoặc khu vực sản phẩm trên thị trường riêng biệt Chiến lược cấp bộ phận chức năng tập trung hỗ trợ vào việc bố trí của chiến lược kinh doanh, tập trung vào các lĩnh vực tác nghiệp, những công việc kinh doanh Dù ở mức độ nào các chiến lược cũng tuân theo quy trình cơ bản (sơ đồ I.2)
Phân tích môi trường
Xác định chức năng, nhiệm vụ mục tiêu
Phân tích v l à ựa chọn chiến lược
Thực hiện
Kiểm tra
Phân tích môi trường
Xác định chức năng, nhiệm vụ mục tiêu
Phân tích v l à ựa chọn chiến lược
Thực hiện
Kiểm tra
Phân tích môi trường
Xác định chức năng, nhiệm vụ mục tiêu
Phân tích v l à ựa chọn chiến lược
Trang 10
Sơ đồ I-1 Các cấp quản lý chiến lược
II NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
Quản trị chiến lược là tổng thể các hành động và các quyết định để tiến hành việc hoạch định, thực hiện và kiểm tra các chiến lược nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức; đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như tương lai Quản trị chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp là một nội dung cơ bản của quản trị doanh nghiệp.
Trang 11II.1 Hình thành chiến lược :
Hình thành chiến lược là phác thảo khung khổ cho các hoạt động kinh doanh dài hạn của doanh nghiệp trong tương lai, được dựa trên cơ sở xác định mục tiêu, thông tin thu thập được qua quá trình phân tích môi trường hoạt động của doanh nghiệp và phân tích các yếu tố nội tại trong doanh nghiệp Trong khi xây dựng chiến lược kinh doanh, thông qua phân tích tình hình nhà quản trị doanh nghiệp cần thiết phải dự báo được các tình hình biến động có thể xảy ra của các nhân tố liên quan nhằm xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp và có khả năng thành công nhất Những yêu cầu khi thiết lập chiến lược kinh doanh:
a ) Chiến lược kinh doanh phải đạt được mục đích tăng thế lực của doanh nghiệp và giành lợi thế cạnh tranh vì chiến lược kinh doanh chỉ thực sự cần thiết khi thị trường có sự cạnh tranh
b ) Chiến lược kinh doanh phải đảm bảo cho sự an toàn kinh doanh cho doanh nghiệp Kinh tế thị trường luôn chứa đựng trong đó những nguy cơ hiểm hoạ cho hoạt động của các doanh nghiệp "thương trường như chiến trường"; do vậy yếu tố an toàn trong kinh doanh là tiền đề quan trọng hàng đầu cho sự tồn tai và phát triển của doanh nghiệp.
c ) Chiến lược kinh doanh phải được xây dựng trên cơ sở xác định phạm vi kinh doanh, mục tiêu và những điều kiện cơ bản để thực hiện mục tiêu Việc xác định mục tiêu và những điều kiện cơ bản phải đảm bảo khắc phục được sự dàn trải nguồn lực và tránh tình trạng không sử dụng hết nguồn lực.
d ) Khi thiết lập chiến lược kinh doanh việc phân tích và dự báo biến động của môi trường kinh doanh là hết sức quan trọng, việc phân tích dự báo càng chính xác thì khả năng thành công khi triển khai chiến lược kinh doanh càng cao.
e ) Việc xây dựng chiến lược kinh doanh cần thiết phải nắm được thời cơ thực hiện và có tính linh động; tức là phải xây dựng chiến lược dự phòng, bởi lẽ những điều kiện trong tương lai luôn là những dự tính và không hoàn toàn chắc chắn
Trang 12II.2 Thực hiện chiến lược
Việc xây dựng chiến lược tốt chưa đủ đảm bảo cho thực hiện chiến lược thành công Thực hiện chiến lược luôn khó và phức tạp vì việc thực hiện chiến lược đòi hỏi sự phối hợp toàn diện của tất cả các bộ phận trong cơ cấu tổ chức của công ty, nó tác động đến tất cả các lĩnh vực kinh doanh của công ty.
Tổ chức thực hiện chiến lược được thực hiện thông qua các công tác chủ yếu sau:
- Kế hoạch hoá các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Hoạch định và thực thi các chính sách của doanh nghiệp.
- Phân phối các nguồn lực phục vụ kinh doanh.
- Thay đổi, điều chỉnh cơ cấu tổ chức hiện tại.
- Làm thích nghi với quá trình tác nghiệp khi thực hiện chiến lược.
- Thiết lập hệ thống thông tin,
Thực hiện chiến lược là giai đoạn gồm nhiều nội dung phức tạp Vì vậy, việc điều chỉnh tổ chức, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận phải được thiết lập rõ ràng và phải rà soát lại thường xuyên trong quá trình thực thi chiến lược.
II.3 Kiểm tra, đánh giá chiến lược kinh doanh
Hoạt động quản trị doanh nghiệp sẽ đem lại kết quả không như mong muốn nếu thiếu hoạt động kiểm tra Thực hiện chức năng kiểm tra, quản trị doanh nghiệp phải luôn so sánh giữa mục tiêu đặt ra với kết quả đạt được ở từng khoảng thời gian, đánh giá xem tại sao và bằng cách nào có thể thực hiện được các mục tiêu đã đề ra Tuỳ theo quy mô cũng như lĩnh vực hoạt động quản trị cụ thể mà hoạt động kiểm tra có nội dung cũng như đòi hỏi phải sử dụng các tiêu chuẩn, phương pháp và công cụ thích hợp Vì chiến lược kinh doanh luôn phải đối đầu với môi trường rất năng động, thay đổi nhanh chóng và khắc nghiệt nên kiểm tra đánh giá chiến lược luôn được coi là có tầm quan trọng lớn.
* Các yêu cầu đối với kiểm tra, đánh giá trong quản trị chiến lược.
- Hoạt động kiểm tra phải phù hợp với đối tượng kiểm tra và phải phù hợp với mọi giai đoạn quản trị chiến lược.
Trang 13Sự phù hợp với đối tượng kiểm tra thể hiện ở việc xác định nội dung, tiêu chuẩn và phương pháp đánh giá trên cơ sở đòi hỏi của đối tượng đánh giá Hoạt động kiểm tra đánh giá ở các doanh nghiệp có quy mô khác nhau, lĩnh vực kinh doanh khác nhau là không giống nhau Hoạt động kiểm tra đối với từng giai đoạn quản trị chiến lược cụ thể:
Trong giai đoạn hình thành chiến lược, đối tượng kiểm tra và đánh giá là môi trường kinh doanh với các nhân tố có giá trị định hướng vận động trong khoảng thời gian dài, các mục tiêu dài hạn
Trong giai đoạn thực thi chiến lược, hoạt động kiểm tra nhằm đánh giá doanh nghiệp đang ở đâu? Đang hướng tới đâu? Các mục tiêu của doanh nghiệp như thế nào? Để đạt được các mục tiêu đó doanh nghiệp có cần điều chỉnh các giải pháp hay không và nếu cần thì điều chỉnh như thế nào? Hình thức kiểm tra
và đánh giá các chương trình sản xuất, các kế hoạch trung hạn và ngắn hạn được đặt ra
Công tác kiểm tra đánh giá cũng phải phù hợp với việc kiểm tra các hoạt động tác nghiệp Để chính xác phải dựa trên quan điểm đánh giá đối tượng ở trạng thái động, xác định xu thế phát triển của đối tượng đánh giá có tính đến những biến động có thể có của môi trường.
- Hoạt động kiểm tra phải đảm bảo tính linh hoạt: doanh nghiệp cần biết kết hợp trong kế hoạch kiểm tra của mình cả hai hình thức kiểm tra định kỳ và kiểm tra bất thường Nếu môi trường kinh doanh thay đổi thì kiểm tra bất thường là rất cần thiết để doanh nghiệp có thể thay đổi kịp thời các mục tiêu hoặc giải pháp để để các mục tiêu đặt ra có tính khả thi hơn và có thể đạt được
- Kiểm tra phải đảm bảo tính lường trước Để đảm bảo hệ thống kiểm tra lường trước hoạt động có hiệu quả cần đáp ứng những yêu cầu sau:
+ Thực hiện phát triển toàn bộ và kỹ càng về hệ thống hình thành chiến lược, hệ thống xây dựng chiến lược cũng như hệ thống kiểm tra.
+ Đưa ra một mô hình của hệ thống
+ Quan sát đều đặn mô hình hệ thống
+ Thường xuyên thu thập dữ liệu liên quan đến mô hình
Trang 14+ Đánh giá sự khác biệt gữa các số liệu mới thu thập và các dữ liệu kế hoạch đánh giá sự ảnh hưởng của các thay đổi đó tới mục tiêu
+ Giải pháp tác động đến các biện pháp có liên quan
- Kiểm tra phải tập trung vào các điểm thiết yếu: Khi tiến hành kiểm tra đánh giá chiến lược hoặc các kế hoạch triển khai chiến lược, người làm công tác này cần phải hướng sự tập trung vào các nhân tố tác động mạnh mẽ đến chiến lược ( hoặc kế hoạch triển khai chiến lược ) cũng như những nhân tố có sự biến động chệch khỏi xu thế đã dự đoán đáng kể để chỉ cần tập trung vào những nhân
tố, những mục tiêu hoặc chỉ tiêu nào có khác biệt lớn Tuy nhiên, có những nhân
tố tuy sự biến đổi không nhiều so với phán đoán chiến lược nhưng vì những nhân tố này có tác động lớn đến các mục tiêu chiến lược hoặc chiến thuật nên không được phép bỏ qua khi tiến hành kiểm tra, đánh giá chiến lược kinh doanh
và phát triển doanh nghiệp
* Nội dung chủ yếu của kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh chiến lược kinh doanh:
- Xác định nội dung kiểm tra, đánh giá chiến lược: Nội dung kiểm tra đánh giá phải xuất phát từ sự phù hợp với nội dung của chiến lược cũng như các kế hoạch triển khai chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp.
- Xây dựng các tiêu chuẩn kiểm tra bao gồm các tiêu chuẩn định tính và định lượng: Trong thực tế, tuỳ từng đối tượng và nội dung kiểm tra có thể xác định các tiêu chuẩn định tính hay định lượng Việc xây dựng các tiêu chuẩn định tính
có thể và phải đảm bảo tính nhất quán, tính phù hợp và tính khả thi Tiêu chuẩn định lượng có thể là các phạm trù phản ánh số lượng và cũng có thể là tiêu chuẩn chất lượng.
- Quá trình đánh giá thực hiện chiến lược theo tiêu chuẩn đã xây dựng: Quá trình kiểm tra đánh giá chiến lược rất cần thiết cho toàn bộ quá trình hoạch định và triển khai thực hiện chiến lược Nó phải tuân thủ theo một quy trình nhất định đảm bảo tính khoa học bao gồm những nội dung chính như: đánh giá chiến lược; đánh giá các kế hoạch triển khai chiến lược và điều chỉnh chiến lược.
- Đảm bảo cơ sở thông tin để kiểm tra đánh giá chiến lược: Quá trình quản trị chiến lược sẽ được tạo điều kiện dễ dàng hơn nhiều khi doanh nghiệp thiết lập được hệ thống thông tin chính xác và hiệu quả Để có được những thông tin cần
Trang 15thiết, doanh nghiệp phải biết sử dụng những thông tin sẵn có như số liệu thống
kê hàng năm, số liệu công bố ở các cơ quan nghiên cứu, khai thác nguồn tin ngoài nước và tổ chức nghiên cứu, thu lượm những thông tin cần thiết khác Bên trong doanh nghiệp phải thiết kế hệ thống thu thập và xử lý, bảo quản thông tin khoa học, hiện đại.
III QUY TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TRONG CÔNG TY
Hoạch định chiến lược là phác thảo khung khổ cho các hoạt động kinh doanh dài hạn của doanh nghiệp trong tương lai dựa trên cơ sở các thông tin thu thập được qua các quá trình phân tích và dự báo Hiện nay, có rất nhiều quan điểm và cách thức khác nhau về các bước hoạch định một chiến lược kinh doanh trong một doanh nghiệp Mỗi quy trình có cách thức tiến hành tiến hành khác nhau nhưng nội dung về cơ bản là đồng nhất nhau
Tuy nhiên những quy trình này không phải là đã thực sự hoàn hảo mà ta cần phải nghiên cứu hoàn thiện hơn Quy trình tám bước đã được tổng kết từ kinh nghiệm của các công ty kinh doanh Nhật Bản và được khái quát theo 8 bước sau:
1: Xác định nhiệm vụ chiến lược và hệ thống mục tiêu của doanh nghiệp
2 Phân tích và dự báo về môi trường kinh doanh
3 Tổng hợp các kết quả và dự báo những thay đổi của môi trường
4 Phân tích nguồn lực trong doanh nghiệp
5 Tổng hợp và đánh giá kết quả phân tích
6 Nghiên cứu các quan điểm kinh doanh
7 Xây dựng và chọn lựa các phương án chiến lược thích nghi
8 Đánh giá và thực hiện phương án chiến lược kinh doanh
III.1: Xác định nhiệm vụ chiến lược và mục tiêu của doanh nghiệp
Xác định nhiệm vụ chiến lược và hệ thống mục tiêu là bước đầu tiên của tiến trình quản trị chiến lược làm nền tảng cho việc soạn thảo xây dựng chiến lược kinh doanh Để có thể xác lập được nhiệm vụ chiến lược và các mục tiêu
cụ thể cần theo đuổi, doanh nghiệp có thể vận dụng nghiên cứu theo nguyên tắc 3C ( cụ thể là Phân tích doanh nghiệp; Nghiên cứu khách hàng và Tìm hiểu
Trang 16đối thủ cạnh tranh ) nhằm thiết lập các phát biểu chức năng nhiệm vụ, tuyên
bố các chính sách và chiến lược kinh doanh trong quá trình hoạt động và giao dịch của công ty Nhiệm vụ chiến lược của công ty cần phải được triển khai và phác hoạ thành một loạt những mục tiêu cụ thể Mục tiêu là những thành quả hoặc kết quả mà chủ doanh nghiệp muốn đạt được trong tương lai cho doanh nghiệp mình, hay mục tiêu tức là những kết quả kỳ vọng của doanh nghiệp.
III.2: Phân tích và dự báo về môi trường kinh doanh
Các tác động của môi trường ảnh hưởng đến rất lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ các bước trong quá trình quản lý, triển khai chiến lược kinh doanh, hoạch định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là nhân tố quan trọng tác động đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Công tác hoạch định và xây dựng chiến lược càng đòi hỏi tính hiệu quả và chân thực thì am hiểu tường tận các điều kiệm môi trường mà doanh nghiệp đang hoạt động càng yêu cầu chính xác Do vậy việc lựa chọn chiến lược kinh doanh phải đảm bảo được hoạch định trên cơ sở dự kiến những biến đổi trong môi trường kinh doanh.
Như vậy, quá trình hoạch định chiến lược phân tích và dự báo môi trường kinh doanh là một công tác quan trọng nhằm thu thập thông tin một cách chính xác để nắm được cụ thể : Hiện nay doanh nghiệp đang hoạt động trong môi trường kinh doanh như thế nào? Triển vọng hay xu thế phát triển của loại hình hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai? Những thuận lợi khó khăn và thách thức của môi trường đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là gì? Doanh nghiệp cần nhận thức rõ các yếu tố môi trường có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của mình và đo lường chiều hướng, mức độ ảnh hưởng của chúng.
Nếu phân chia theo cấp độ môi trường thì ta có thể nghiên cứu môi trường kinh doanh theo hình thức sau:
Môi trường kinh doanh quốc tế Môi trường kinh tế quốc dân trong nước Môi trường cạnh tranh nội bộ ng nhà
DOANH NGHIỆP
Trang 17Sơ đồ I.3 Môi trường kinh doanh Thông thường các yếu tố môi trường phân thành 3 nhóm chủ yếu:
Các yếu tố môi trường bên ngoài còn gọi là môi trường vĩ mô
Các yếu tố nguồn lực bên trong doanh nghiệp (môi trường vi mô)
Các yếu tố môi trường tác nghiệp còn gọi là môi trường trong ngành Người quản trị phải nhận thức đầy đủ, chính xác các yếu tố môi trường để soạn thảo chiến lược kinh doanh Các yếu tố tác động đến việc xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp còn bao gồm các yếu tố tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc đáp ứng nhu cầu thị trường
và sự cạnh tranh đối với các doanh nghiệp khác.
III.2.1 Các yếu tố môi trường vĩ mô:
Môi trường kinh doanh vĩ mô bao hàm các yếu tố nằm bên ngoài doanh nghiệp định hường và có ảnh hưởng đến các môi trường tác nghiệp và môi trường nội bộ và tạo ra cơ hội và nguy cơ của doanh nghiệp.
a Yếu tố kinh tế :
Trong môi trường kinh doanh các yếu tố về mặt kinh tế dù ở bất kỳ một cấp
độ nào cũng có vai trò quan trọng và quyết định hàng đầu Nó là một yếu tố vô cùng quan trọng bởi nó tác động trực tiếp và năng động hơn so với một số yếu
tố khác Sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và các quốc gia nói riêng có khuynh hướng làm dịu bớt các tác động chính trị trong lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp vì nó làm tăng nhu cầu tiêu dùng của dân chúng
Trang 18Ngược lại, sự khủng hoảng kinh tế làm giảm nhu cầu tiêu dùng, tạo ra sự cạnh tranh về giá cả trong các ngành kinh doanh Các yếu tố phản ánh như: Mức phát triển kinh tế; Dân số ; Tổng sản phẩm quốc dân; Bình quân thu nhập tính theo đầu người; Hạ tầng cơ sở xã hội; Nguồn tài nguyên thiên nhiên; Khí hậu; Sự gia tăng khối kinh tế trong vùng ; Chính sách tài chính tiền tệ; Tính chất cạnh tranh;
Tỷ giá hối đoái; Hệ thống thuế; Lãi xuất ngân hàng; Mức lương tiền công;
Hệ thống kinh tế thế giới hiện nay đang vận động theo những xu hướng chính:
- Khu vực hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới Sự phát triển mang tính bùng nổ của khoa học công nghệ trên toàn cầu Nền kinh tế thế giới chuyển từ trạng thái lưỡng cực sang trạng thái đa cực với sự hình thành nhiều trung tâm kinh tế và các mối liên kết kinh tế mới Xu hướng đối thoại, hợp tác, thay thế cho
xu hướng đối đầu, biệt lập Cạnh tranh kinh tế ngày càng gay gắt hơn.
- Xu hướng về sự phát triển của vòng cung Châu á - Thái Bình Dương Các
xu hướng này tạo nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp có thể tự khẳng định mình không chỉ trong nước mà còn ở tầm cỡ quốc tế Đây là thách thức lớn đối với mọi doanh nghiệp Các chính sách kinh tế khác nhau và kết quả thực hiện ở các nước khác nhau sẽ ảnh hưởng đến tỷ giá cân bằng tương đương của đồng tiền nước đó Điều đó có thể tạo khó khăn hoặc thuận lợi cho các nhóm doanh nghiệp khác nhau.
Doanh nghiệp có thể nhận thức rõ những cơ hội và đe doạ của môi trường kinh tế bằng các phương pháp dự báo thích hợp như mô hình Wharton, phương pháp toán kinh tế, phương pháp Delphi Các nhân tố thuộc môi trường này tác động đến doanh nghiệp theo các hướng sau:
- Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân cao sẽ làm cho thu nhập và khả năng thanh toán của dân cư tăng lên, nhu cầu về số lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tăng lên về chủng loại chất lượng, thị hiếu dẫn đến tăng quy mô thị trường tạo ra cơ hội tốt cho các doanh nghiệp bởi sức mua hàng hoá và dịch vụ tăng sẽ tác động đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm bắt và đáp ứng lại nhu cầu của khách hàng Lúc này kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao tức là hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp cao, khả năng tích tụ và tập trung tư bản lớn, việc xác định chiến lược
Trang 19phát triển kinh doanh cho doanh nghiệp là hết sức quan trọng, doanh nghiệp cần đẩy mạnh sản xuất hay hạn chế sản phẩm hàng hoá dịch vụ gì, có thể đầu
tư phát triển sản phẩm, có cơ hội kinh doanh và tăng cường hiệu quả và phát huy tối đa nguồn lực doanh nghiệp.
- Lãi suất cho vay của ngân hàng cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến chính sách hoạch định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp thiếu vốn phải vay ngân hàng Nếu tỷ lệ lãi suất cao thì chi phí của các doanh nghiệp tăng lên do trả lãi tiền vay lớn làm cho mức lời của doanh nghiệp sẽ giảm đi từ đó làm ảnh hưởng tới việc soạn thảo các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp có nhu cầu huy động vốn trong những điều kiện thay đổi của môi trường và làm giảm tính cạnh tranh của doanh nghiệp, nhất là trong trường hợp các đối thủ cạnh tranh có tiềm lực về vốn Đồng thời khi lãi suất cao sẽ khuyến khích người dân sẽ gửi tiết kiệm nhiều và hạn chế tiêu dùng, dẫn đến làm giảm khả năng tiêu thụ hàng hoá của các doanh nghiệp nói chung.
- Xu hướng của tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng tiền quốc gia nói chung
và từng doanh nghiệp nói riêng nhất là trong điều kiện kinh tế mở như hiện nay có tác động trực tiếp tới việc hoạch định chiến lược kinh doanh nhất là trong khâu tiêu thụ sản phẩm và thu mua nguyên vật liệu Nếu đồng nội tệ lên giá thì các doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn trở ngại khi thực hiện các chiến lược kinh doanh ở thị trường nước ngoài vì khi đó giá bán của sản phẩm hàng hoá tính bằng ngoại tệ sẽ cao hơn đối thủ nước ngoài Đồng thời trong nước lúc này lại khuyến khích nhập khẩu vì giá hàng hoá nhập khẩu giảm và như vâỵ các sản phẩm trong nước so với hàng nhập khẩu sẽ gặp bất lợi ngay ở thị trường trong nước Ngược lại khi đồng nội tệ giảm khả năng thực hiện các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp sẽ gặp nhiều thuận lợi trong cả thị trường trong nước và ngoài nước.
- Xu hướng tăng giảm của thu nhập thực tế bình quân đầu người là yếu tố tác động trực tiếp đến quy mô và tính chất của thị trường trong tương lại Phản ứng của khách hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệp nói riêng và nhu cầu tiêu thụ của mỗi cá nhân có tính quyết định đến việc chon lựa các chiến lược phát triển hay thu hẹp khả sản xuất của các doanh nghiệp.