1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ sở lý LUẬN của đề tài tổ CHỨC dạy học môn GIÁO dục THỂ CHẤT THEO HƯỚNG tự CHỌN CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG

47 139 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 72,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Giáo dục thể chất” là thuật ngữ đi liền với thuật ngữ “thể thao”, giữa hai thuật ngữ này có một vài điểm khác biệt, “giáo dục thể chất” thường được biết đến và sử dụng như mộtchương trì

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT THEO HƯỚNG TỰ CHỌN CHO HỌC SINH

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Trang 2

Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu giáo dục thể chất và thể chất

Giáo dục thể chất là hoạt động luôn được quan tâmnghiên cứu tại tất cả các lứa tuổi từ lứa tuổi, bởi hiệu quả vềkhía cạnh sức khỏe cũng như các kỹ năng về xã hội Nhànghiên cứu Talbot khi nghiên cứu về giáo dục thể chất chorằng giáo dục thể chất giúp trẻ phát triển sự tôn trọng vớichính bản thân mình, với người xung quanh, phát triển sự tíchhợp của tâm trí và cơ thể, tăng cường sự tự tin và lòng tựtrọng, tăng cường sự phát triển xã hội và thành tích học tập[80, tr 30-50]

“Giáo dục thể chất” là thuật ngữ đi liền với thuật ngữ

“thể thao”, giữa hai thuật ngữ này có một vài điểm khác biệt,

“giáo dục thể chất” thường được biết đến và sử dụng như mộtchương trình học liên quan đến sự phát triển năng lực và sự tựtin của học sinh, khả năng sử dụng chúng để thực hiện mộtloạt các hoạt động [58], trong khi đó “thể thao” là một danh từđược đề cập đến với một loạt các hoạt động, quy trình, mốiquan hệ xã hội, các giả định kết quả về thể chất, tâm lý và kếtquả xã hội [57] UNESCO lại cho rằng “giáo dục thể chất và

Trang 3

thể thao” được sử dụng để miêu tả về các hoạt động thể chấttrong trường học và trong giờ học của trường [81].

Giáo dục thể chất trong các trường học chính là bộ mônchính thức được nhà trường tổ chức, phát triển các kỹ năngthể chất và cung cấp các hoạt động về thể chất cho các em họcsinh, trường học là môi trường gắn liền với hoạt động giáodục thể chất thông qua môn học, chương trình dạy thể chấthoặc các hoạt động sau giờ học [76, tr 1328-1334]

Trong nghiên cứu “Tác động của kinh tế đối với gia

đình và sự tham gia của những đứa trẻ trong các môn thể thao tại trường Trung học cơ sở” của nhóm tác giả Kirk D,

Carlson T, O’Connor T, Burke P, Davis K, Glover S về trẻ emcho thấy, hoạt động giáo dục thể chất được tổ chức trongtrường học sẽ có lợi thế hơn so với các hoạt động giáo dục thểchất bên ngoài trường học, bởi những trong trường học không

có nhiều áp lực về kinh tế, mặt khác các bậc phụ huynh chưaquan tâm đến thể chất của con em [65, tr 27-33], nghiên cứucũng cho thấy tỷ lệ tham gia các trò chơi, môn thể chất ngoài

trường cũng thấp hơn Trong nghiên cứu “Sự sợ hãi ở trẻ em

và thanh thiếu niên: độ tin cậy và khả năng tổng quát về giới tính, tuổi tác và quốc tịch” nhóm tác giả Ollendick T, King N,

Trang 4

Frary R cũng chỉ ra việc tham gia giáo dục thể chất trongtrường học là một lợi thế, một cơ hội với môi trường tốt, giáoviên có chuyên môn, cơ sở vật chất tốt và đa dạng môn học[71, tr.19-26.] Báo cáo tổng quan của Ban Sức khỏe và Dịch

vụ đã khẳng định giáo dục thể chất giúp học sinh hình thành

cơ bản về kỹ năng và kiến thức, điều này có vai trò quan trọngđối với quá trình phát triển của mỗi học sinh trong những giaiđoạn ban đầu [82] Nhóm tác giả Malina R, Bouchard C trong

nghiên cứu về “Tăng trưởng, trưởng thành và hoạt động thể

chất” nghiên cứu vai trò việc tham gia các môn giáo dục thể

chất với rất nhiều các tác động đến cơ thể bao gồm loại bỏbệnh tật, sống lâu hơn, hạn chế các căn bệnh nguy hiểm nhưtiểu đường, huyết áp, xương khớp, béo phì, cũng là nhữnghiệu quả tích cực của một cơ thể khỏe mạnh [82]

Mặt khác, việc giáo dục thể chất và tham gia hoạt độngthể thao sẽ là một nền tảng vô cùng vững chắc giúp trẻ tự tintrong cuộc sống, làm việc có tổ chức và gắn kết bạn bè Vìvậy, phát triển thể chất từ bộ môn giáo dục thể chất luôn làđiều vô cùng quan trọng đối với quá trình giáo dục của trẻ em

ở mọi lứa tuổi [63, tr 302-310]

Giáo dục thể chất là một trong những bộ môn yêu cầu có

Trang 5

sự đổi mới trong chương trình giáo dục sao cho phù hợp vớibối cảnh hiện nay Vì vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế

xã hội, Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn đề cao vai trò của giáodục thể chất đối với toàn dân nói chung và đối với thế hệ trẻnói riêng như trong Luật Thể dục, thể thao (2006), Nghị định số112/2007/NĐ-CP cụ thể hóa nội dung giáo dục thể chất, Nghịđịnh số 11/2015/NĐ-CP về các nội dung chương trình mônhọc, giáo viên, giảng viên, hoặc Thông tư Liên tịch18/2011/TTLT-BGDĐT-BYT quy đinh về diện tích sân tập,bãi tập, nhà tập luyện đa năng hoặc Nghị định số46/2017/NĐ-CP6 điều chỉnh việc thành lập, cho phép thànhlập, sáp nhập, chia, tách, giải thể, cho phép hoạt động giáodục đối với các cơ sở giáo dục và tổ chức, cá nhân đầu tưtrong lĩnh vực giáo dục, v.v Chỉ thị 36 của Ban chấp hành

Trung ương Đảng: “Hiệu quả giáo dục thể chất trong các

trường còn thấp, hai ngành Giáo dục – Đào tạo và Thể dục Thể thao phối hợp chỉ đạo cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên thể dục thể thao cho trường học các cấp, tạo điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế độ giáo dục thể chất ở tất cả các trường học” [6].

Trang 6

Về mặt lý luận, từ rất sớm đã có những nghiên cứu mangtính lý luận mối quan hệ giữa thể chất và phương pháp giáo

dục như tác giả Vũ Đức Thu (1995) với tác phẩm “Lý luận và

phương pháp”, Lê Bửu, Nguyễn Thế Truyền (1991) tác phẩm

“Lý luận và phương pháp thể thao trẻ”, Nguyễn Toán, Phạm

Danh Tốn (2000) về “Lý luận và phương pháp thể dục thể

thao”, các tác giả thể hiện quá trình phát triển của giáo dục

thể chất và thể dục thể thao thông qua các cách tiếp cận đachiều, quan điểm phong phú và các mối liên kết giữa giáo dụcthể chất, thể thao và xã hội, cũng như việc hình thành cácquan điểm, khái niệm cơ bản trong giáo dục thể chất và thểdục thể thao [19], [51], [48]

Ngoài ra, cũng có các nghiên cứu giáo dục thể chất đãphản ánh đúng được tình hình giáo dục thể chất của học sinhđặc biệt học sinh trung học phổ thông của nước ta như nghiên

cứu của Ngũ Duy Anh, Vũ Đức Thu (2003) về “Tình hình

phát triển thể chất của học sinh phổ thông ở nước ta trong những tập kỷ qua” hoặc tác giả Nguyễn Võ Kỳ Anh, Vũ Đức

Thu và cộng sự (1998) với nghiên cứu “Một số nhận xét về sự

phát triển chiều cao, cân nặng của học sinh phổ thông Việt Nam trong những năm qua” có thể thấy thực trạng chung về

Trang 7

thể chất của các em học sinh Việt Nam vẫn còn kém so vớicác nước trên thế giới, mặc dù đã có sự tiến bộ và thay đổiqua từng thời kỳ tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầucủa thời đại mới [3], [2] Có thể tham khảo thêm các nghiên

cứu của Tạ Hồng Hải (2000) trong tác phẩm “Nghiên cứu

nâng cao năng lực thể chất của học sinh phổ thông lứa tuổi

11 – 14” hoặc nghiên cứu gần dây của tác giả Lê Văn Lẫm,

Vũ Đức Thu (2000) về “Thực trạng phát triển thể chất của

học sinh, sinh viên trước thềm thế kỷ 21”, Trần Đình Long và

cộng sự (1998) với nghiên cứu“Nghiên cứu đặc điểm sự phát

triển cơ thể học sinh phổ thông lớp 1 - 12” [34,] [36].

- Nghiên cứu giáo dục thể chất và sự phát triển lối sống

Không chỉ có mối liên hệ với sức khỏe và giáo dục thểchất còn có mối liên hệ tác động to lớn đối với quá trìnhhình thành và phát triển lối sống của mỗi cá nhân, cácnghiên cứu của tác giả Kelder S, Perry C, Klepp K, Lytle L

về “Theo dõi theo chiều dọc của hành vi hút thuốc lá, hành

vi thể chất và hành vi lựa chọn thực phẩm” đã chỉ ra, một cá

nhân có hành vi liên quan thời thơ ấu về sức khỏe sẽ duytrình hành vi đó ở tuổi trưởng thành [64, tr 1121-1126],

Trang 8

mức độ duy trì có thể tăng hoặc giảm Tuy nhiên, các nghiêncứu cũng chỉ ra rõ ràng hơn, mối liên hệ về hoạt động thể chấtthời thơ ấu và dự báo về nghề nghiệp và sự hoạt bát của tuổitrẻ [83, tr 135-158] Giáo dục thể chất có thể đem lại cho cánhân sự hưởng thụ và trải nghiệm cuộc sống một cách tíchcực hơn [68, tr 326-334], đây là các quan điểm đã đượcnghiên cứu nhiều năm của nhóm tác giả McKenzie T, Sallis J,

Kolody B, Faucett F với công trình “Tác động lâu dài của

chương trình giáo dục thể chất và công việc phát triển nhân viên”, hoặc có thể tham khảo thêm nghiên cứu “Nghiên cứu tăng trưởng ở Amsterdam: Phân tích theo chiều dọc về sức khỏe, thể hình và lối sống” của tác giả Van Mechelen W,

vấn đề lý luận các tác giả cũng chỉ ra rằng việc giáo dục trẻ ở

lứa tuổi này rất phức tạp bởi không chỉ những thay đổi về thểchất mà còn cả sự phong phú và phức tạp trong nhân cách Vìvậy, cần có sự tiếp cận hợp lý để có tác động tích cực đối với

Trang 9

tâm lý của trẻ [4], [12].

- Nghiên cứu giáo dục thể chất và sự phát triển sự ảnh hưởng

Hassmen P, Koivula N, Uutela A trong tác phẩm “Tập

thể dục và tâm lý hạnh phúc: một nghiên cứu dân số ở Phần Lan” cho thấy rằng việc hoạt động thường xuyên sẽ có tác

động tích cực đến tâm lý hạnh phúc của trẻ em và thanh thiếunhiên, ngoài ra việc thường xuyên vận động cũng làm giảmcăng thẳng, lo lắng và trầm cảm [60, tr 17-25] Tương tự,

Harter S trong nghiên cứu “Các yếu tố quyết định và vai trò

trung gian của tự chủ toàn cầu ở trẻ em” cũng phân tích rõ cơ

thể và tâm sinh lý của trẻ sẽ đều bị tác động, ảnh hưởng bởigiáo dục thể chất, trong đó có vấn đề về lòng tự trọng, điều đóthể hiện rõ trong nghiên cứu về mối liên hệ giữa giáo dục thểchất, thể thao và thái độ của học sinh đối với trường học [59,

tr 219-242] Và có những tác động tích cực đối với học sinhnhư các em học sinh nữ có thể có tiến bộ với các môn giáodục thể chất, nữ học sinh có thể tham gia nhiều giống namhọc sinh trong các môn giáo dục thể chất [66], tuy nhiên vẫnxuất hiện những vấn đề tiêu cực bởi có những học sinh khôngđược hưởng các hoạt động như vậy, gây ra tăng sự bất mãn và

Trang 10

trốn học [74] Các vấn đề này đã được nhóm tác giả Kirk D,Fitzgerald H, Wang J, Biddle S trong báo cáo với nội dung

“Hướng tới Giáo dục thể chất thân thiện với cô gái: Các cô gái Nike / YST trong dự án đối tác thể thao” và nhóm tác giả

Sabo D, Miller K, Melnick M, Heywood L với nghiên cứu

mang tựa đề “Cuộc sống của cô phụ thuộc vào nó: Thể thao,

Hoạt động thể chất và sức khỏe và hạnh phúc của các cô gái Mỹ”.

- Nghiên cứu giáo dục thể chất và sự phát triển xã hội

Nghiên cứu về tác động giữa giáo dục thể chất và sựphát triển xã hội của các cá nhân luôn được các nhà khoa họcquan tâm, bởi sự tham gia giáo dục thể chất và một hành vi xãhội nhất thiết phải cải thiện như là kết quả của sự tham gia, có

thể trở nên tốt đẹp hơn hoặc xấu đi [72] Tác phẩm “Đạo đức

và người chơi trò chơi” của Reddiford G và tác phẩm “Hoạt động thể chất và hành vi xã hội trong thanh niên” của Morris

L, Sallybanks J, Willis K, Makkai T cho thấy những mối liênkết giữa cá nhân, giáo dục thể chất và xã hội, đặc biệt là tronglứa tuổi thanh niên Giáo dục thể chất và thể thao là một tácnhân đóng góp vào sự phát triển chung của tổng thể cá nhân,chống lại hành vi chống đối xã hội và hình sự trong thanh

Trang 11

niên [69].

Đặc biệt, các hoạt động giáo dục thể chất trong trườnghọc, không chỉ tạo ra một môi trường có giá trị phát triển xã hội

mà với rất nhiều lợi thế như tiếp cận được gần như với tất cả trẻ

em và không chịu áp lực bên ngoài, khả năng tích hợp giáo dục

xã hội với giảng dạy của nhà trường, đó là khẳng định của

nhóm nghiên cứu Caine D, Krebs E trong tác phẩm “Mục tiêu

phát triển đạo đức trong giáo dục thể chất: một nhiệm vụ mới”

[56, tr 197-201], cùng với tác phẩm của Romance T, Weiss M,

Bockoven J về “Một chương trình để thúc đẩy phát triển đạo

đức thông qua giáo dục thể chất của trường tiểu học” sự kết

hợp tạo ra một kết quả tích cực bao gồm cải thiện lý luận đạođức, sự công bằng, trách nhiệm cộng đồng và trách nhiêm cánhân tăng lên [73, tr 126-136]

Hellison D với nghiên cứu về “Giảng dạy trách nhiệm

trong giáo dục thể chất của trường” cho thấy các kỹ năng và

giá trị xã hội được nảy sinh dựa trên các tình huống, bối cảnh

tự nhiên trong các môn học, giờ học và được giải quyết quacác hoạt động và hành vi của trẻ [61]

- Nghiên cứu giáo dục thể chất và sự phát triển nhận

Trang 12

Theo tác giả Snyder E, Spreitzer E đã nghiên cứu về thể

trạng cơ thể trong tác phẩm “Giáo dục thể thao và trường

học”, các nhà nghiên cứu cho rằng một cơ thể khỏe mạnh sẽ

tạo ra một tâm trí lành mạnh và hoạt động thể chất có thể hỗtrợ việc phát triển trí tuệ ở các cá nhân [78, tr 119-146], cácnhà khoa học cũng đưa ra giải pháp về học tập là thay vì canthiệp vào việc học và thành tích của các em, hãy để giáo dụcthể chất và thể thao trong nhà trường giúp cải thiện việc họccủa các em bằng việc tăng cường giáo dục thể chất, giúp tănglưu lượng máu lên não, tăng cường tâm trạng, tăng sự tỉnhtáo, nâng cao lòng tự trọng [62, tr.4-6]

Các nhà nghiên cứu tại Pháp vào đầu những năm 1950

đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa giáo dục thể chất, thể thao

và kết quả học tập, các nhà nghiên cứu Sallis J, McKenzie J,Kolody B, Lewis M, Marshall S, Rosengard P với nghiên cứu

“Ảnh hưởng của giáo dục thể chất liên quan đến sức khỏe đến thành tích học tập” đã giảm chương trình học thuật, thời

gian bằng 26%, thay thế bằng giáo dục thể chất và thể thao[75, tr 127-134] Tuy nhiên, kết quả học tập của các em vẫnduy trì rất tốt, hơn nữa sự chú ý cao hơn, các em ít vắng mặt

Trang 13

và dần dần thành thích học tập của các em tốt hơn khi thờigian học giáo dục thể chất, thể thao tăng lên Tác giả

Shephard R trong nghiên cứu “Hoạt động thể chất ngoại

khóa và thành tích học tập”, bằng chứng nghiên cứu cho thấy

rằng tăng cường hoạt động thể chất ở trường, chẳng hạn nhưthông qua việc tăng thời gian dành cho giáo dục thể chất, thểthao không ảnh hưởng đến thành tích của học sinh ở các mônkhác (mặc dù thời gian dành cho các môn học này đã giảm)

và trong nhiều trường hợp được liên kết với hiệu suất học tậpđược cải thiện [77, tr 113-126]

Cùng với các chính sách đổi mới phương pháp giáo dụcthể chất tại các trường phổ thông, tác giả Nguyễn Viết Minh

(2006) với nghiên cứu “Đổi mới phương pháp giảng dạy môn

thể dục nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông”, tác giả Nguyễn Thị Kim Thục, Hồ Đắc

Sơn (2006), “Định hướng đổi mới phương pháp thực hiện

chương trình môn học thể dục nhằm tích cực hoá người học ở các trường THCS quận Cầu Giấy, Hà Nội”, đã chỉ ra việc đổi

mới phương pháp dạy và học trong các trường phổ thông là

vô cùng quan trọng và cấp thiết Để đào tạo được nguồn nhânlực chất lượng cao toàn diện thì cần nâng cao vai trò của giáo

Trang 14

dục thể chất điều mà giáo dục Việt Nam vẫn còn đang gặpnhiều hạn chế Quá trình đổi mới bắt đầu từ chính sách và cần

có sự chủ động, tích cực từ phía người dạy, người học và cảcộng đồng [39, tr 79-80], [50, tr 99-104]

Ngày 16/1/2010, đã diễn ra Hội nghị Giáo dục thể chất

và y tế trường học lần thứ V tại Trường Đại học Hàng Hải(Hải Phòng) Đã có trên 100 báo cáo khoa học có tính thựctiễn cao đề cập và đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiệnhơn nữa cả về nội dung, phương pháp về các điều kiện đảmbảo đồng bộ cho công tác giáo dục thể chất và y tế trườnghọc trong giai đoạn mới Kết luận của hội nghị nêu ra cácđịnh hướng nghiên cứu, trong đó định hướng thứ 2 là:Nghiên cứu khoa học giáo dục thể chất và y tế trường họcphải xuất phát từ nhu cầu người học, nhu cầu giáo dục vàthực tiễn xã hội (Kết luận Hội nghị khoa học giáo dục thểchất và y tế trường học lần thứ V – 2010)

- Một số khái niệm cơ bản

- Giáo dục thể chất

Giáo dục thể chất là hoạt động luôn được quan tâmnghiên cứu tại tất cả các lứa tuổi từ lứa tuổi, bởi hiệu quả về

Trang 15

khía cạnh sức khỏe cũng như các kỹ năng về xã hội Nhànghiên cứu Talbot (2001) khi nghiên cứu về giáo dục thể chấtcho rằng giáo dục thể chất giúp trẻ phát triển sự tôn trọng vớichính bản thân mình, với người xung quanh, phát triển sự tíchhợp của tâm trí và cơ thể, tăng cường sự tự tin và lòng tựtrọng, tăng cường sự phát triển xã hội và thành tích học tập[80, tr 30-50] Giáo dục thể chất và thể thao có thể được hiểutheo 5 yếu tố phát triển của trẻ bao gồm: (1) thể chất; (2) lốisống; (3) sự ảnh hưởng; (4) xã hội và (5) nhận thức [70].

Tác giả Stephen J.Virgilio (1997) cho rằng giáo dục

thể chất cũng được hiểu như các hình thức giáo dục khác,

bản chất là một quá trình sư phạm với đầy đủ những đặctrưng cơ bản của nó Sự khác biệt chủ yếu của giáo dục thểchất với các hình thức giáo dục khác ở chỗ là quá trìnhhướng đến việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động, pháttriển các tố chất thể lực, hoàn thiện về hình thái và chứcnăng của cơ thể, qua đó trang bị kiến thức và mối quan hệgiữa chúng Như vậy có thể thấy, giáo dục thể chất như mộthình thức độc lập tương đối của quá trình giáo dục toàndiện, có quan hệ khách quan với các hình thức giáo dụckhác như: Giáo dục đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ và lao động…

Trang 16

[79, tr 3-4].

Theo quan điểm của tác giả Trần Phúc Phong (1999)giáo dục thể chất là hoạt đồng mà tất cả mọi người đều có thểtham gia và giống như một quyền lợi chính đáng mà trẻ emđược nhận, trẻ em có quyền tham gia trong các hoạt động thểchất ở trường học, ở nhà hoặc trong cộng đồng xã hội môitrường an toàn và được bảo trợ [41, tr.19]

Tác giả Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn (2000) thì chorằng, giáo dục thể chất là một loại hình giáo dục mà nội dungchuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển cóchủ định các tố chất vận động của con người [51]

Theo tác giả Vũ Đức Thu (1995) giáo dục thể chất là quátrình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện

về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc và kéodài tuổi thọ [48]

Theo luật Thể dục (2006), điều 20 quy định: “Giáo dục

thể chất là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện” [42].

Trang 17

Như vậy, giáo dục thể chất bao gồm các hoạt động giáodục về các bộ môn thể dục, thể thao với quá trình dạy các kiếnthức và động tác cơ bản, trong hệ thống giáo dục trường học,giáo dục thể chất gắn liền với quan điểm văn – trí – thể - mỹ.Trong nghiên cứu luận văn này, tác giả đề cập đến quan điểm:Giáo dục thể chất là môn học chính khóa thuộc chương trìnhcủa Bộ giáo dục – Đào tạo dành cho các bậc học, cung cấpcác kiến thức và kỹ năng cơ bản về các môn học thể dục, thểthao được học dựa trên nhu cầu của học sinh nhằm mục tiêuphát triển toàn diện.

- Dạy học

Theo tác giả Lê Văn Hồng và cộng sự (1995) dạy học làmột hoạt động luôn gắn liền với chủ thể bao gồm quá trìnhchủ thể tác động vào đối tượng nhằm đạt mục đích nhất địnhvới nhiều phương pháp khác nhau [29, tr.80] Như vậy, có thểcoi dạy học là một hoạt động sự phạm bao gồm có hoạt độngcủa chủ thể, dạy học là giáo viên và đối tượng dạy học là họcsinh

Hoặc chú trọng đến hoạt động tổ chức giảng dạy củangười dạy học, như trong quan điểm của nhóm các tác giả Lê

Trang 18

Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thắng: “Hoạt độngdạy là hoạt động của người lớn tổ chức điều khiển hoạt độngcủa trẻ”.

Theo quan điểm lý thuyết về dạy học hiện đại, hoạt độngdạy học bao gồm hoạt động của thầy và trò Nhà tâm lý họcA.Mentriskaia viết: “Hai hoạt động của thầy và trò là hai mặtcủa một hoạt động” [1, tr 7]

Ở Việt Nam, nhận thức về hoạt động của người dạy họcnhư một hoạt động nghề nghiệp xuất phát từ tính đặc thù củahoạt động dạy học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có văn bảnquy định chuẩn nghề nghiệp dạy học Đây là yêu cầu chung

về hoạt động dạy học cho tất cả giáo viên trong dạy các mônhọc ở trường phổ thông [15] Về phía người học, căn cứ vàomục tiêu của chương trình giáo dục, có những yêu cầu, chuẩnđánh giá để người học đáp ứng theo các thang, bậc của nềngiáo dục, v.v

Theo Ben Jamin S.Bloom (1956) mục tiêu dạy học baogồm 3 loại: (1) kiến thức; (2) động cơ tâm lý hóa; (3) thái độ[55], cụ thể:

Đối với mục tiêu kiến thức cần đảm bảo: biết, hiểu, vận

Trang 19

dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá;

Đối với mục tiêu động cơ tâm lý hóa cầm đảm bảo: bắtchước có quan sát, làm lại theo cấu trúc nội tâm không có sựquan sát, chính xác hóa hoạt động cơ bắp, hoàn thiện thứ tựcác hoạt động, tự động hóa các hoạt động;

Đối với mục tiêu thái độ cầm đảm bảo: cảm xúc; phảnứng, tỏ thái độ, quan điểm, thế giới quan

- Dạy học tự chọn

Dạy học tự chọn là một hoạt động được Bộ giáo dục –Đào tạo ra công văn chỉ thị số 7092/BGDĐT-GDTrH đểhướng dẫn việc thực hiện dạy học tự chọn cấp trung học cơ sở

và trung học phổ thông bắt đầu từ năm học 2006 – 2007 Theo

đó có thể hiểu “Dạy học tự chọn là góp phần thực hiện dạy

học phân hoá, trên cơ sở bảo đảm một mặt bằng chuẩn kiến thức phổ thông thống nhất, thực hiện phân hoá nhằm đáp ứng nguyện vọng, phát triển năng lực và hướng nghiệp cho học sinh Dạy học phân hoá ở cấp Trung học cơ sở thực hiện bằng dạy học tự chọn, ở cấp Trung học phổ thông thực hiện bằng kết hợp phân ban với dạy học tự chọn”.

Trang 20

Hoạt động dạy học tự chọn bao gồm:

Hoạt động dạy với sự tham gia của các giáo viên trongtrường hoặc ngoài trường đều có trách nhiệm tham gia dạy

các môn học tự chọn, chủ đề tự chọn theo sự phân công củanhà trường

Hoạt động học với sự tham gia của học sinh được lựachọn môn học, chủ đề dưới sự hướng dẫn của giáo viên

Và cả hoạt động dạy và học tự chọn đều nhằm đạt đượcmục tiêu dạy học tự chọn, cần thực sự đổi mới phương phápdạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sángtạo, rèn luyện năng lực tự học, tự nghiên cứu, phân tích, suyluận, sát với từng loại đối tượng học sinh

hiện một mục tiêu nào đó [52, tr.5].

Trang 21

Triết học định nghĩa “Tổ chức, nói rộng là cơ cấu tồntại của sự vật Sự vật không thể tồn tại mà không có mộthình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung Tổchức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật” [37,tr.28] Tổ chức là thuộc tính của sự vật, nói cách khác sự vậtluôn tồn tại dưới dạng tổ chức nhất định;

Nhân loại học cho rằng từ khi xuất hiện loài người, tổchức xã hội loài người cũng đồng thời xuất hiện Tổ chức ấykhông ngừng hoàn thiện và phát triển cùng với sự phát triểncủa nhân loại Theo nghĩa hẹp đó, tổ chức là một tập thể củacon người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chunghoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó Nhưvậy, tổ chức là tập thể, có mục tiêu, nhiệm vụ chung [26]

Ngay trong những chuyên ngành khoa học có giao thoa vềđối tượng, phạm vi nghiên cứu cũng có những cách tiếp cận, cắtnghĩa khác nhau về “Tổ chức”, cụ thể như đối với ngành Luậthọc (khoa học luật dân sự) gọi tổ chức là pháp nhân để phân biệtvới thể nhân (con người) là các chủ thể của quan hệ pháp luậtdân sự Theo quy định tại Điều 84 Bộ luật Dân sự thì một tổchức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau:được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản

Trang 22

độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tàisản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cáchđộc lập Luật học nhấn mạnh đến các điều kiện thành lập tổ chức

và các yêu cầu đảm bảo hoạt động của tổ chức; Khoa học tổchức và quản lý định nghĩa tổ chức với ý nghĩa hẹp là “tập thểcủa con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chunghoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó” [32].Trong cuốn “Sổ tay nghiệp vụ cán bộ làm công tác tổ chức nhànước” định nghĩa: “Tổ chức là một đơn vị xã hội, được điều phốimột cách có ý thức, có phạm vi tương đối rõ ràng, hoạt độngnhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu chung (của tổ chức) [8]

Mỗi quan điểm lại có những yếu tố chung và riêng biệtkhác nhau Trong luận án này, tác giả đề cập đến quan điểm:

Tổ chức gắn với đời sống xã hội, vì vậy tổ chức là một chứcnăng lãnh đạo, quản lý Lãnh đạo, quản lý thể hiện ở việc thựchiện các chức năng nhất định, chủ yếu là xác định về mặt nộidung (làm gì), theo kế hoạch nào (ai làm và làm theo trình tựnào, làm như thế nào v.v ) và chỉ huy, phối hợp, giám sát vàkiểm tra

- Tổ chức dạy học môn giáo dục thể chất theo hướng

tự chọn

Trang 23

Việc tổ chức dạy học môn giáo dục thể chất theo hướng

tự chọn trong nghiên cứu này có thể được định nghĩa là toàn

bộ quá trình tổ chức từ giai đoạn lập kế hoạch đến quá trìnhthực hiện, triển khai và kiểm tra đánh giá của môn giáo dụcthể chất theo hướng tự chọn bao gồm có chủ thể dạy học làgiáo viên và đối tượng dạy học là học sinh trung học phổthông

- Quản lý

Quản lý được định nghĩa theo nhiều cách:

Quản lý là nghệ thuật đạt mục đích thông qua nỗ lực củanhững người khác [84]

Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích củachủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sửdụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, cơ hội của tổ chức đểđạt được mục tiêu trong điều kiện biến động của môi trường[64]

Quản lý là phối hợp có hiệu quả các hoạt động củanhững cộng sự khác nhau trong cùng một tổ chức [55]

Quản lý là một quá trình phối hợp các nguồn lực một

Ngày đăng: 25/03/2020, 20:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w