1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh Giá Hiệu Quả Hoạt Động FDI trên Địa Bàn TP.Hồ Chí Minh và Các Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài

75 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình đầu tư vào một số ngành cung vượt cầu, do đó cần đúc kết và đánh giá lại các nhân tố thuận lợi và không thuận lợi để từ đó đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện hơn việc thu hút và

Trang 1

NGUYỄN THỊ PHI PHƯỢNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2001

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU 1

1.1 Khái niệm và đặc điểm của ĐTQT 3

1.1.2Khái niệm và các đặc điểm của hình thức ĐTTTNN 3

1.2.3 Công Ty 100% vốn nước ngoài 5

1.2.4 Ba dạng đầu tư đặc thù khác 5

1.2.4.1 Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT) 5

1.2.4.2 Hình thức khu chế xuất (EPZ) 6

1.2.4.3 Hình thức phát triển khu công nghiệp (IZ) 6

1.3 Vai trò của ĐTQT đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam : 7

1.3.1.1 Đối với nước chủ đầu tư 7

1.3.1.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư 7

1.3.2 Cách đánh giá hiệu quả của Dự án Đầu tư 8

1.3.2.1 Hiệu quả kinh tế –xã hội 8

1.3.2.2 Hiệu quả doanh nghiệp 9

1.3.3 Tình hình đầu tư Việt Nam 11

CHƯƠNG 2 : ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐTTTNN TẠI TP.HCM TRONG THỜI

2.2 Tình hình thu hút vốn ĐTTTNN tại TP.HCM trong thời gian qua 21

2.2.1 Tình hình cấp giấy phép đầu tư 21

2.2.2 Tình hình dự án còn hiệu lực 25

2.2.3 Hình thức đầu tư của dự án 27

2.2.4 Quy mô và thời gian hoạt động của dự án 28

Trang 3

2.2.4.1 Quy mô của dự án 28

2.2.4.2 Thời gian hoạt động của dự án 29

2.2.5 Cơ cấu đầu tư : 29

2.2.5.1 Đầu tư theo ngành 29

2.2.5.2 Đầu tư theo đối tác 33

2.2.6 Tình hình ĐTTTNN vào các khu công nghiệp và khu chế xuất 36 2.3 Hoạt động quản lý ĐTTTNN tại TP.HCM trong thời gian qua : 39

2.3.1Các chính sách chi phối hoạt động FDI tại TP.HCM : 39

2.3.1.1 Các chính sách của chính phủ chi phối hoạt động FDI 39

2.3.1.2 Các chính sách của Thành phố đối với hoạt động FDI tại TP.HCM

2.3.2 Các chính sách đối với FDI vào KCX và KCN 41

2.4 Kết quả và hiệu quả vốn FDI trên địa bàn TP.HCM : 42

2.4.1 Tình hình góp vốn 42

2.4.2 Tình hình sử dụng và thu nhập của người lao động 44

2.4.2.1 Tình hình sử dụng lao động 44

2.4.2.2 Thu nhập của người lao động 46

2.4.3 Tình hình xuất nhập khẩu 47

2.4.3.1 Kim ngạch xuất khẩu 47

2.4.3.2 Kim ngạch nhập khẩu 47

2.4.4 Hiệu quả hoạt động đầu tư 47

2 4.5 Kết quả nộp ngân sách 50

2.5 Nhận xét chung : đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả dự án đầu tư FDI 52

2.5.1 Đánh giá 53

2.5.1.1 Thành tựu đạt được 53

2.5.1.2 Tồn tại 54

2.5.2Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả dự án đầu tư FDI 57

2.5.2.1 Nguyên nhân thuận lợi 57

2.5.2.2 Nguyên nhân không thuận lợi 57

CHƯƠNG 3 : NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ TĂNG CƯỜNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TP.HCM 3.1 Quan điểm và mục tiêu cụ thể của công tác thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của TP.HCM trong giai đoạn 2001 –2010 61

3.1.1 Quan điểm về FDI 61

Trang 4

3.1.2 Các quan điểm đề xuất giải pháp tăng cường thu hút và sử dụng hiệu quả FDI tại TP.HCM 61

3.2.1 Các giải pháp về thu hút , quản lý và sử dụng hiệu quả vốn FDI tại

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

I Ý NGHĨA VÀ TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI :

Kể từ khi luật đầu tư nước ngoài được ban hành (tháng 12/1987), thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đứng đầu trong cả nước về việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Nguồn vốn FDI đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế, đã góp phần đáng kể thay đổi bộ mặt của thành phố Đi liền với việc chuyển giao vốn, công nghệ, thị trường và các kinh nghiệm quản lý, còn tạo công ăn việc làm cho người lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp trở thành bộ phận hữu cơ của nền kinh tế , đóng góp tích cực vào công nghiêïp hóa, hiện đại hóa đất nước

Tuy nhiên, trong những năm gần đây khu vực đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố có dấu hiệu giảm sút, hiện tượng không bình thường như tình trạng thua lỗ kéo dài, một số doanh nghiệp liên doanh chuyển sang hình thức 100% vốn nước ngoài Tình hình đầu tư vào một số ngành cung vượt cầu, do đó cần đúc kết và đánh giá lại các nhân tố thuận lợi và không thuận lợi để từ đó đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện hơn việc thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố

Từ những nguyên nhân trên , tôi đã chọn đề tài :” Đánh giá hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài”

II MỤC ĐÍCH , ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:

1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :

Nghiên cứu hiệu quả hoạt động và kết quả thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua

2 Mục tiêu của đề tài là giải quyết các vấn đề cơ bản :

- Nghiên cứu tình hình hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Nghiên cứu các nhân tố giảm sút và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp FDI

- Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Tp HCM

3 Phương pháp nghiên cứu :

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài này là:

Trang 6

• Phương pháp phân tích thống kê

• Phương pháp khảo sát – phỏng vấn thực tế (phương pháp chuyên gia)

• Phương pháp lôgích –quy nạp - biện chứng,

4 Số liệu sử dụng :

Chủ yếu sử dụng các số liệu từ các tài liệu thống kê, báo cáo của Sở Kế hoạch

& đầu tư, Cục thuế Thành phố, Cục thống kê Thành phố, Sở lao động thương binh xã hội, Ban quản lý khu chế xuất –khu công nghiệp và các tạp chí, sách báo, luận văn có liên quan đến đề tài

IV NỘI DUNG ĐỀ TÀI

Đề tài có 71 trang , 24 biểu bảng và 4 đồ thị được chia làm ba chương :

CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI :

Những vấn đề về đánh giá hiệu quả đầu tư :

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài và vai trò của đầu tư quốc tế

- Tình hình hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TP.HCM TRONG THỜI GIAN QUA

Chương này nhằm đánh giá toàn diện tình hình hoạt động của các doanh nghiệp có vốn FDI :tình hình cấp phép, dự án còn hiệu lực, hình thức đầu tư , quy mô và thời gian hoạt động của dự án, cơ cấu đầu tư, kết quả và hiệu quả thu hút vốn FDI

CHƯƠNG III :NHỮNG GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TP.HCM

Từ những hiệu quả, kết quả đạt được ở chương II, chương này nhằm đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nói chung cũng như thành phố Hồ Chi Minh nói riêng

Vì thời gian có hạn, cho nên nội dung đề tài không tránh khỏi khiếm khuyết và toàn diện, mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn để đề tài này được hoàn thiện hơn

Trang 7

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1/KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ QUỐC TẾ :

1.1.1Khái niệm và đặc điểm của đầu tư quốc tế :

+ Đối với các chính phủ : Muốn tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài phải tạo ra được môi trường kinh doanh hấp dẫn, tạo lợi nhuận tối đa cho các nhà đầu tư kiếm lời, phải đặc biệt quan tâm đến việc loại bỏ những rào cản tác động xấu đến khả năng thu hút vốn đầu tư

1.1.2 Khái niệm và các đặc điểm của hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài :

- Khái niệm :

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu tư

- Đặc điểm :

+ Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu hoặc tối đa tuỳ theo quy định của luật đầu tư từng nước ( Luật đầu tư Việt Nam quy định “ số vốn đóng góp tối thiểu của phía nước ngoài phải bằng 30% vốn pháp định của dự án”) + Quyền hành quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn, nếu đóng góp 100% vốn thì xí nghiệp hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành

+ Lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của xí nghiệp Lời và lỗ được chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định sau khi đã thực hiện các khoản nộp theo luật định cho nước chủ nhà

1.2 /CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI :

Pháp luật Việt Nam chưa cho phép đầu tư nước ngoài gián tiếp vào Việt Nam Luật FDI và nghị định 24/CP ban hành ngày 31/7/2000 quy định ở Việt Nam có 3 hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài và ba dạng đầu tư đặc biệt khác :

Trang 8

1.2.1 Hợp đồng hợp tác kinh doanh (A business Co-operation contract) :

- Khái niệm :

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam mà không thành lập pháp nhân mới

- Đặc điểm :

+ Các bên Việt Nam và nước ngoài hợp tác với nhau để tiến hành kinh doanh sản xuất và dịch vụ tại Việt Nam trên cơ sở văn bản hợp đồng đã ký giữa hai hoặc nhiều bên, trong hợp đồng quy định rõ nghĩa vụ, quyền lợi và trách nhiệm của mỗi bên tham gia

+ Các bên tiến hành hoạt động kinh doanh mà không cần lập ra một pháp nhân

mới, tức không cho ra đời Công ty, xí nghiệp mới

1.2.2 Công ty liên doanh

+ Phần đóng góp của bên phía nước ngoài không thấp hơn 30% vốn pháp định trừ trường hợp đặc biệt có thể cho phép thấp đến 20%

Thời gian đầu tư cho phép không quá 50 năm, trường hợp đặc biệt có thể kéo dài đến 70 năm

Tuỳ theo quy mô của vốn đầu tư và lĩnh vực đầu tư mà nhà nước quy định thời hạn đầu tư khác nhau

+ Tổng giám đốc điều hành liên doanh có thể là người nước ngoài trong trường hợp đó Phó tổng giám đốc thứ nhất là người Việt Nam, thường trú tại Việt Nam

+ Hội đồng quản trị , là cơ quan lãnh đạo của doanh nghiệp liên doanh Số thành viên hội đồng quản trị do các bên quyết định, mỗi bên cử người của mình tham gia vào hội đồng quản trị ứng với phần vốn đóng góp trong vốn pháp định

+ Lời lỗ được chia cho mỗi bên căn cứ vào tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định

Trang 9

1.2.3 Công ty 100% vốn nước ngoài :

- Khái niệm :

Là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài lập tại Việt Nam, tự tổ chức quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của mình

+ Trong quá trình hoạt động không được giảm vốn pháp định, tăng vốn pháp định phải xin phép

1.2.4 Ba dạng đầu tư đặc thù khác :

1.2.4.1 Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (Build – Operate- Transfer) -BOT:

Là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nhà nước Việt Nam

Hợp dồng này có thêm hai hình thức :

- Hình thức xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO)

- Hình thức xây dựng – chuyển giao (BT)

Các hình thức này có đặc điểm sau :

- Chỉ được ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

- Đầu tư vào hạ tầng cơ sở của Việt Nam : xây dựng đường , cầu, cảng, sân bay, các công trình điện, nước v.v…

- Được hưởng nhiều ưu đãi của chính phủ Việt Nam về tiền thuê đất, thuế các loại, thời gian đầu tư dài tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thu hồi vốn và có lời hợp lý

- Hết thời hạn hoạt động của giấy phép chủ đầu tư phải chuyển giao không bồi hoàn công trình cho chính phủ Việt Nam trong tình trạng hoạt động bình thường

1.2.4.2 : Hình thức khu chế xuất – Export processing Zone :

- Khái niệm :

Trang 10

Là một khu vực lãnh thổ được nhà nước quy hoạch riêng nhằm thu hút các nhà đầu tư trong nước và quốc tế vào hoạt động để chế biến ra hàng công nghiệp phục vụ cho xuất khẩu

- Đặc điểm :

+ Đơn vị tổ chức khai thác khu chế xuất là doanh nghiệp bỏ vốn kinh doanh hạ tầng cơ sở và các dịch vụ phục vụ cho các nhà máy xí nghiệp hoạt động trong khu chế xuất

+ Khu chế xuất được quy hoạch tách khỏi phần nội địa bởi môi trường rào bao bọc

+ Hàng hoá nhập khẩu phục vụ sản xuất kinh doanh của khu chế xuất hoặc hàng hoá của khu chế xuất xuất khẩu ra nước ngoài được miễn thuế nhập khẩu hoặc xuất khẩu

+ Hàng hóa ra vào khu chế xuất, kể cả lưu thông với nội địa phải chịu sự kiểm soát của hải quan

+ Trong khu chế xuất không có hoạt động sản xuất nông nghiệp và không có dân

+ Hàng hoá nhập khẩu vào khu công nghiệp và từ đây xuất khẩu ra nước ngoài

phải nộp thuế xuất nhập khẩu theo luật hiện hành

1.3/ VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ QUỐC TẾ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM :

1.3.1 Vai trò của đầu tư quốc tế :

Đầu tư quốc tế ngày càng có vai trò to lớn đối với việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế và thương mại ở các nước đi đầu tư lẫn các nước tiếp nhận đầu tư Đặc biệt đối với các nước chậm và đang phát triển như Việt Nam

Trang 11

1.3.1.1 Đối với nước chủ đầu tư :

- Cho phép chủ đầu tư vừa khai thác lợi thế so sánh của nước tiếp nhận đầu tư để giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

- Chủ đầu tư tận dụng sản phẩm, thông qua việc chuyển giao công nghệ, họ sẽ

di chuyển những máy móc thiết bị lạc hậu sang các nước kém phát triển hơn để tiếp tục sử dụng, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm Đồng thời tạo sự liên kết ngang

- Tạo được phát triển cung cấp nguyên liệu ổn định với giá cả phải chăng, qua đó các công ty siêu quốc gia ở nước chủ đầu tư hình thành sự liên kết dọc Do đó họ có thể sở hữu luôn mạng lưới phân phối sản phẩm và buôn bán ở nước ngoài

- Việc đầu tư trực tiếp nước ngoài còn nhằm tránh hàng rào bảo hộ mậu dịch ở các nước nhận đầu tư, đồng thời tận dụng lợi thế so sánh của chủ đầu tư như ưu đãi về thuế tại các nước tiếp nhận đầu tư, thế mạnh về công nghệ, tiềm lực tài chính của bên chủ đầu tư

- Giúp các công ty thâm nhập phát triển dễ dàng, nhờ đó phát triển thị phần

- Giúp các nhà tư bản giảm chi phí sản xuất, nhờ lao động tương đối rẽ, tiết kiệm chi phí vận tải, giảm chi phí bảo vệ môi trường,

- Biêän pháp để thực hiện công cuộc cải tổ cơ cấu sản xuất ở nước chủ đầu tư theo hướng thích nghi hơn với sự phân công lao động quốc tế

- Giúp chủ đầu tư phân tán rủi ro, một trong những biện pháp ổn định nền kinh tế chính quốc, chống lại mầm mống lạm phát cao, tăng thâm hụt cán cân thanh toán quốc gia

- Bành trướng về sức mạnh kinh tế, tạo điều kiện nâng cao uy tín chính trị, thực hiện ý đồ của chính quyền Thông qua việc xây dựng nhà máy, chuyển giao công nghệ, phát triển tiêu thụ ở nước ngoài , các chủ đầu tư dễ buộc các nước tiếp nhận đầu

tư phụ thuộc một phần nhất định vào mình

1.3.1.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư :

- Phát triển hạ tầng cơ sở vật chất về giao thông, vận tải, các phương tiện công nghiệp, thương mại…

- Giải quyết vấn đề thiếu vốn cho các nước đang phát triển

- Sự ra đời của hàng loạt công ty, xí nghiệp với nhiều ngành nghề đã thu hút một lực lượng lao động lớn Góp phần giải quyết nạn thất nghiệp và cải thiện mức sống của người dân

- Làm quen phương thức quản lý mới, học hỏi kinh nghiệm quản lý kinh doanh trong kinh tế thị trường của các thương gia nước ngoài

- Tiếp cận với những kỹ thuật công nghệ tiến tiến

Trang 12

- Mở rộng thị trường tiêu thụ, làm quen với thị trường quốc tế, gia tăng xuất khẩu đem khối lượng ngoại tệ lớn về cho đất nước, thúc đẩy ngoại thương phát triển; nhờ đó cải thiện cán cân thanh toán, cán cân thương mại quốc gia

- Sẽ kết hợp được tài nguyên và sức lao động để tạo ra sản phẩm, hay họ sẽ khai thác được tiềm lực của mình

- Góp phần thay đổi nhanh chóng cơ cấu kinh tế quốc dân, cơ cấu xã hội, theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo điều kiện cho các nước đang phát triển tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế trên cơ sở tận dụng lợi thế so sánh của quốc gia mình

1.3.2 Cách đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư :

1.3.2.1 Hiệu quả kinh tế – xã hội :

Sự gia tăng liên tục và ổn định của dòng vốn FDI vào Việt Nam đã tạo ra những năng lực sản xuất mới, góp phần giải quyết vấn đề công ăn việc làm và thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng cụ thể :

Thúc đẩy sự phát triển của kinh tế địa phương :

Hoạt động của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài góp phần biến những vùng đất nghèo, cư dân thưa thớt thành những vùng kinh tế trù phú, dân cư đông đúc, thực hiện chiến lược phân bổ lại lao động trong cả nước và chính sách thành thị hóa nông thôn, phát triển cơ sở hạ tầng , mạng lưới viễn thông… cho địa phương

Thúc đẩy phát triển kinh tế ngành và liên ngành (tạo ảnh hưởng dây chuyền thúc đẩy sự phát triển các ngành nghề khác có liên quan):

Hoạt động đầu tư không những mang lại những lợi ích cho các chủ đầu tư mà còn tạo điều kiện thúc đẩy đến sự hoạt động của các ngành nghề khác Như đầu tư vào khách sạn , nhà hàng kéo theo các hoạt động dịch vụ, thương mại… ngoài ra các ngành dịch vụ y tế và văn hoá cũng phát triển theo Bên cạnh, cũng có một số dự án khi đi vào hoạt động cũng gây ảnh hưởng đến các ngành khác như cạnh tranh sản phẩm cùng loại trên thị trường hoặc gây ô nhiểm môi trường

Những ảnh hưởng kinh tế xã hội khác :

Như ảnh hưởng của dự án đến môi sinh, môi trường, xử lý chất thải, tiếng ồn, mỹ quan trong khu vực, góp phần nâng cao dân trí và sức khỏe của người dân …

1.3.2.2 Hiệu quả doanh nghiệp :

Bất cứ một dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài nào được thực hiện tại một địa phương hoặc vùng lãnh thổ nào đó, thì nhà đầu tư cũng như nước tiếp nhận đầu tư đều mong muốn mang lại hiệu quả nghĩa là lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội cho địa

Trang 13

phương vùng lãnh thổ đó Nước đi đầu tư sẽ khai thác những lợi thế so sánh của nước tiếp nhận đầu tư như tài nguyên, tận dụng lao động và những ưu thếá sẵn có của địa phương để thực hiện dự án Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước đi đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư thường sử dụng các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế của vốn đầu tư

Đối với nhà đầu tư :

Lợi nhuận ròng của dự án : đây là chỉ tiêu đơn giản để tính toán hiệu quả của

một dự án mà doanh nghiệp đó thực hiện : là tổng số lợi nhuận thu được trong thời gian hoạt động của dự án bằng cách lấy tổng doanh thu trừ đi tổng chi phí dự kiến ( đã tính thuế lợi tức)

LN = Σ D - Σ C - Σ T

Σ D : Tổng doanh thu thuần (hoạt động chính và phụ của dự án)

Σ C : Tổng chi phí liên quan đến sản xuất kinh doanh dịch vụ

Σ T : Thuế lợi tức phải nộp

Dự án chỉ có lời khi LN > 0 và lỗ khi LN < 0

Chỉ tiêu này được dùng để đánh giá hiệu quả của những dự án đầu tư ngắn hạn, môi trường kinh doanh và đồng tiền thanh toán ổn định

Đối với những dự án dài hạn, lạm phát và đồng tiền mất giá nhanh, dùng chỉ tiêu lợi nhuận ròng để đánh giá hiệu quả của dự án không còn chính xác nữa vì sức mua của đồng tiền giảm

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư :

Là tỷ số giữa lợi nhuận bình quân của một năm và tổng vốn đầu tư của dự án

Nhược điểm của chỉ tiêu này là đánh giá hiệu quả đầu tư không chính xác do khó để xác định một năm lợi nhuận điển hình đại diện cho các năm hoạt động của quá trình đầu tư Mặc khác , tuổi thọ của dự án và nhân tố thời gian của lưu lượng tiền thu được không được tính đến

Hệ số bình quân hiệu quả sử dụng vốn đầu tư:

Là hệ số được xác định giữa lợi nhuận ròng bình quân thu được hàng năm và số vốn đầu tư bình quân hàng năm Nhược điểm của chỉ tiêu này chưa tính đến số lợi nhuận ròng thu được ở thời điểm khác nhau trong tương lai của dự án

Hiện giá thuần – Net present value (NPV):

Chỉ tiêu hiện giá thuần thể hiện khả năng tích lũy thực sự của dự án Gọi: PV là hiện giá của các khoản tiền T của các năm trong tương lai

T1,T2,….Tn là các khoản thu nhập ròng ở cuối các năm trong tương lai

B1, B2,……, Bn là thu nhập của dự án qua các năm

Trang 14

C1, C2,… Cn là các khoản chi của dự án qua các năm

R : là tỷ suất chiết khấu của nền kinh tế (chi phí cơ hội và vốn đầu tư)

Thì PV 1 của khoản tiền T 1 nhận được ở năm thứ nhất với suất chiết khấu là :

1+i (1+i)2 (1+I)n

Hiện giá thuần (NPV) :

Được tính bằng hiệu số giữa tổng hiện giá nguồn thu và tổng hiện giá các khoản chi qua các năm của dự án :

NPV = ΣPB - ΣPC

NPV : Hiện giá thuần

PB : Hiện giá nguồn thu

PC : Hiện giá các khoản chi

Khi NPV >0 có nghĩa là dự án mang lại hiệu quả kinh tế

Tỷ suất doanh lợi nội bộ( Internal Rate of return – IRR) :

Là tỷ suất (lãi suất) mà tại đó tổng hiện giá nguồn thu bằng tổng hiện giá các khoản chi, hay là tỷ suất chiết khấu tại điểm NPV =0

Nếu IRR < lãi suất vay vốn thì dự án không mang lại hiệu quả kinh tế

Đối với nước tiếp nhận đầu tư :

Hiệu quả kinh tế của vốn đầu tư :

Thông qua chỉ tiêu này xác định giá trị sản lượng mà một đơn vị đầu tư (đồng

Việt Nam hay USD) của dự án đem lại cho nền kinh tế Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế được xác định bằng chỉ số lãi gộp trên tổng vốn đầu tư (Ia) và chỉ số tổng vốn đầu tư trên doanh thu hàng năm (Ib) của dự án :

Ia = Lãi gộp

Tổng vốn đầu tư cố định

Trang 15

Hoặc Ib = Tổng vốn đầu tư (kể cả vốn lưu động )

Doanh thu hàng năm của dự án

Tùy theo mỗi ngành mà quy định mức tối thiểu Ia và Ib khác nhau Nếu dự án đạt Ia và Ib dưới mức tối thiểu thì có nghĩa vốn đầu tư vào ngành đó kém hiệu quả kinh tế

Chỉ tiêu thu lợi bằng ngoại tệ :

Chỉ tiêu này được xác định qua các chỉ số :

- Số ngoại tệ thu được hàng năm hoặc tổng số ngoại tệ tiết kiệm được (do thay

thế bằng nhập khẩu)

- Hoặc chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu trên tổng vốn đầu tư

Ic = Tổng kim ngạch xuất khẩu của hoạt động đầu tư

Tổng số vốn đầu tư

Chỉ tiêu phản ánh đóng góp của dự án vào ngân sách nhà nước :

Được xác định thông qua các chỉ số tương đối và tuyệt đối :

- Tuyệt đối : các khoản thu thuế như tiền cho thuê mặt đất, nước , mặt biển, tiền dịch vụ và các khoản lệ phí khác v.v…

- Tương đối : được xác định bằng tỷ số giữa chỉ số tuyệt đối về mức đóng góp vào ngân sách và tổng số vốn đầu tư Chỉ số này càng lớn thì lợi ích kinh tế xã hội của dự án càng cao

Kể từ khi luật đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở Việt Nam được ban hành (12/1987) đến 30/6/2001 đã thu hút được 3.341 dự án với tổng vốn 40.035triệu USD Dòng vốn FDI vào Việt Nam tăng liên tục và tương đối ổn định , xét trên các khiá cạnh : tổng vốn đăng ký, vốn đã thực hiện, số dự án được cấp phép và quy mô trung bình của từng dự án

KHÔNG KỂ CÁC DỰ ÁN ĐƯỢC CẤP GIẤY PHÉP Ở CÁC KHU CHẾ XUẤT)

288,4 311,5 407,5 663,6 1.418,0 1.468,5 1.729,9

10,05 08,57 07,77 08,76 11,00 10,78 10,98

08,06 17,16 21,45 23,44 21,38 35,02 39,83

Trang 16

2.986,6 2.940,8 2.334,4 1.805,6 693,3 1.507,0

17,65 26,15 13,48 14,17 05,02 05,73

30,25 38,46 60,57 46,52 92,40 81,09

Nguồn :- Niên giám thống kê năm 1998, NXB thống kê Hà Nội năm 99

- Bộ kế hoạch và đầu tư (chưa kể các dự án của Vietso petro, đầu tư ra nước ngoài)

- (*) : Nguồn Vụ Quản lý dự án – Bộ KH &ĐT

Theo số liệu bảng dưới đây ( bảng 1), tính đến cuối năm 1995 tổng số vốn FDI đã đăng ký ở Việt Nam đạt 18,477 tỷ USD với 1.543 dự án được cấp giấy phép Tốc độ tăng trung bình hàng năm của dòng vốn này là 51%, đặc biệt năm 1995 tăng 73,4%

so với năm 1994 Tổng số vốn đã thực hiện đạt 5,585 tỷ USD chiếm 30,22% tổng số vốn đăng ký , tốc độ tăng trung bình hàng năm của dòng vốn đã thực hiện này là 82%, đặc biệt năm 1993 tăng 116,21% so với năm 1992

Giai đoạn 1996-2000 : tổng vốn FDI thực hiện đạt 12,8 tỷ USD/20,58 tỷ USD vốn đăng ký, số dự án còn hiệu lực 1.300 dự án/ 1601 dự án FDI được cấp phép , trong giai đoạn này có 500 dự án tăng vốn với số vốn tăng thêm trên 6 tỷ USD, trong khi số vốn thực hiện đạt 2 tỷ USD Quy mô trung bình của dự án cũng tăng dần từ 8,8 triệu USD thời kỳ 1988-1991 lên tới trên 10,92 triệu USD thời kỳ 1992-1994 và tăng vọt lên 17,65 triệu USD năm 1995, năm 1996 lên đến : 26,15 triệu USD, năm 1996 tăng vọt là

do có 2 dự án đầu tư vào lĩnh vực phát triển đô thị ở Hà Nội và Tp.Hồ Chí Minh được phê duyệt với quy mô dự án lớn hơn (hơn 3 tỷ USD/2 dự án) Năm 1997, 1998: đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam có biểu hiện suy giảm quy mô trung bình :13,83 triệu USD, nhất là các năm 1999-2000 : quy mô trung bình chỉ còn 5,39 triệu USD

Nếu xét trong suốt thời kỳ 1988-2000 thì năm 1995 có thể được xem là năm đỉnh cao về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam (cả về số dự án, vốn đăng ký, cũng như quy mô dự án)

Nếu theo số lượng vốn đăng ký thì quy mô dự án bình quân của thời

kỳ1988-2000 là 12,42 triệu USD/dự án So với một nước ở thời kỳ đầu thực hiện chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thì quy mô dự án đầu tư vào nước ta bình quân vào thời kỳ này là không thấp Nhưng năm 1999, 2000 quy mô dự án nhỏ đi một cách đột ngột 5,02 triệu USD/dự án và 5,73 triệu USD/dự án là điều đáng để chúng ta phải xem xét

Trang 17

Năm 2000 tổng vốn mới thu hút : 1.973 triệu USD với 344 dự án, trong đó Bộ KH

& ĐT cấp phép : 24 dự án với số vốn 1,3 tỷ USD, UBND Tỉnh cấp 166 dự án với số vốn 197,7 triệu USD, Ban Quản lý các KCN và KCX cấp 154 dự án với số vốn 475 triệu USD Tổng vốn bổ sung : 425,6 triệu USD với 153 dự án, rút phép 1,6 tỷ USD với 76 dự án Thực tế cho thấy, trong năm 2000 hoạt động đầu tư trong khu vực 100% vốn đầu tư nước ngoài sôi nổi hơn so với khu vực liên doanh Có 249 dự án 100 % vốn đầu tư nước ngoài được triển khai với tổng vốn thực hiện gần 593 triệu USD, 172 dự án liên doanh với vốn thực hiện gần 831 triệu USD được triển khai

Tình hình giải thể dự án ở một số địa phương tính đến năm 2000 được thể hiện

qua bảng sau (bảng 2):

Bảng số 2:TÌNH HÌNH GIẢI THỂ DỰ ÁN Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG

ĐỊA PHƯƠNG

Nguồn : Vụ quản lý dự án –Bộ KH &ĐT

Trong khi đầu tư vào các dự án 100% vốn đầu tư nước ngoài ngày một tăng, thì đầu tư vào các liên doanh có dấu hiệu chậm lại vì có khá nhiều dự án đầu tư theo hình thức này bị giải thể

Theo nguồn Bộ KH & ĐT tính đến ngày 15/02/2001 có 642 dự án liên doanh với tổng vốn đăng ký 8.111,5 triệu USD bị giải thể Riêng năm 2000 có 69 dự án (phần lớn là liên doanh) với tổng vốn đăng ký gần 1.635,76 triệu USD bị giải thể

Tính đến 31/12/2000 số dự án còn hiệu lực là 2.732 dự án , trong đó:100 % vốn đầu tư nước ngoài 1.560 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký 11,193 tỷ USD , tổng vốn thực hiện 5,176 tỷ USD; khu vực liên doanh 1.042 dự án, với tổng vốn đăng ký trên 21,192

Trang 18

tỷ và 9,942 tỷ vốn thực hiện, khu vực hợp tác kinh doanh 130 dự án, với tổng vốn đăng

ký 3.796 triệu USD, vốn thực hiện 2.648 triệu USD Được thể hiện qua bảng 3

BẢNG SỐ 3: TÌNH HÌNH DỰ ÁN CÒN HIỆU LỰC TÍNH ĐẾN 31/12/2000

Nguồn Bộ Kế Hoạch & Đầu Tư

Bảng 4 : Số dự án tập trung vào các ngành từ 1988-2000

(triệu USD)

Quy môtrung bình dự án

Tỷ lệ (%)

nghiệp có số dự án lớn nhưng vốn thấp hơn; kế đó là lĩnh vực khách sạn, du lịch và

dịch vụ, thấp nhất là văn hoá-giáo dục-y tế Được thể hiện qua bảng trên (bảng 4)

Năm 2000 Nguồn FDI ở Việt Nam tập trung chủ yếu vào các vùng trọng điểm

như Hà Nội –Hải Phòng, Thành Phố Hồ Chí Minh, Sông Bé- Đồng Nai, Bà Rịa –

Vũng Tàu Được thể hiện qua bảng sau (bảng 5)

Bảng số 5: Các Dự án tập trung vào các vùng kinh tế trọng điểm năm 2000

Tên địa phương Số dự án Vốn đăng ký

(triệu USD) Quy mô dự án (triệu USD)

Trang 19

Tp HCM 107 189,7 1,773

Về các đối tác được cấp phép đầu tư :Tính đến hết năm 2000 đã có hơn 700 công

ty thuộc 66 nước và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư trực tiếp tại Việt Nam Trong số này, có 13 nước và vùng lãnh thổ có tổng số vốn đăng ký hơn 1 tỷ USD mỗi nước Nhật Bản và các nước Asean: Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore là những quốc gia và lãnh thổ có vốn đầu tư lớn nhất ở Việt Nam

Đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam giai đoạn 1988-1993, khi lệnh cấm vận còn hiệu lực chỉ đạt 3,3 triệu USD, nhưng chỉ sau năm đầu tiên 1994 bỏ lệnh cấm vận, con số này đạt lên đến trên 266 triệu USD (tức trên 80 lần của toàn bộ 6 năm trước) Như vậy sau 1 năm bỏ lệnh cấm vận, Mỹ đã chuyển từ vị trí thứ 11 năm 1994 lên vị trí thứ 8 trong tổng số trên 50 nước có vốn đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, năm 1995 thì Mỹ lên vị trí thứ 6 sau Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore và Thụy sĩ Hiện nay, Mỹ là nước đứng thứ 9 trong các nước đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam

Tính đến 30/6/2001 tình hình đầu tư nước ngoài tương đối khả quan cấp phép

197 dự án với tổng số vốn đầu tư đăng ký 973 triệu USD gấp 3 lần so với cùng kỳ năm ngoái Ngoài ra, có 76 dự án đang hoạt động đã tăng vốn thêm 276 triệu USD (tăng 13% về số dự án và 63% về vốn đầu tư) Sáu tháng qua, số vốn tăng thêm gần 1,25 tỷ USD nhưng số vốn bị rút giấy phép trước thời hạn gần 700 triệu USD với 26 dự án (phần lớn do không triển khai) Được thể hiện qua bảng 6

Bảng số 6 : Tình hình đầu tư nước ngoài sáu tháng đầu năm 2001

Trang 20

Theo số liệu của Tổng cục thống kê tại TP.HCM : sản xuất công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sáu tháng đầu năm 2001 ước đạt 7.553,8 tỷ đồng, chỉ tăng 12,75 %

so cùng kỳ năm ngoái Đồng Nai con số tương ứng 5.930,2 tỷ đồng và 15,35% Hải phòng là 2.299 tỷ đồng và 10,1% Riêng Hà Nội đạt 2.635 tỷ đồng chỉ bằng 93,8% so cùng kỳ năm ngoái Sự sút giảm của hai Thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh không chỉ làm chậm lại tốc độ tăng trưởng chung của khu vực công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà còn tác động nhiều mặt tới môi trường kinh doanh tại Việt Nam

Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài trong sáu tháng cuối năm 2001 và những năm tới còn nhiều khó khăn Số dự án tiềm năng có khả năng được cấp giấy phép trong thời gian tới quá ít, trong khi số dự án không triển khai hoạt động tương đối nhiều Tính đến nay, hiện có khoảng 635 dự án đã được cấp phép đầu tư với tổng vốn đăng ký 6,7 tỷ USD chưa triển khai hoạt động, trong đó có 28 dự án có khả năng phải rút giấy phép trong năm 2001

Cùng sự gia tăng của dòng FDI vào Việt Nam là sự xuất hiện và phát triển của nhiều khu công nghiệp và khu chế xuất : Hà Nội – Hải Phòng , Quảng Nam- Đà Nẵng, TP.Hồ Chí Minh – Sông Bé, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng tàu… Đây là hướng đi đúng đắn nhằm góp phần phân bố công nghiệp hợp lý, tạo điều kiện đưa vùng khó canh tác vào sử dụng hiệu quả hơn Hiện có 67 khu công nghiệp và khu chế xuất nằm rãi rác khắp toàn quốc

Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá , hiện đại hoá để phát triển lực lượng sản xuất Hiện nay đầu tư nước ngoài tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và chiếm gần 35% giá trị sản lượng công nghiệp Có nhiều ngành công nghiệp mới : lắp ráp ôtô, xe máy, tin học, điện tử dân dụng, sợi vải cao cấp…; nhiều ngành dịch vụ mới : khách sạn cao cấp, dịch vụ tài chính, ngân hàng…, năng lực sản xuất của nhiều ngành công nghiệp quan trọng như : xi măng, sắt thép, hoá chất , đặc biệt là dầu khí và bưu chính viễn thông được nâng cao Bên cạnh đó, góp phần hoàn chỉnh ngày càng đầy đủ và tốt hơn hệ thống cơ sở hạ tầng đặc biệt là giao thông vận tải, năng lượng

Giải quyết được nạn thất nghiệp tạo công ăn việc làm , thu hút được nhiều lao động và tăng dần qua các năm :năm 1993 :49.892 lao động, năm 1994: 88.059 lao động, năm 1995 : 120.000 lao động, năm 1996 : 172.928 lao động, năm 1997 : 250.000 lao động, năm 1998 : 270.000 lao động, năm 1999: 296.500 lao động, năm

2000 : 350.000 lao động

Qua hợp tác đầu tư, một số lượng đáng kể người lao động được đào tạo nâng cao năng lực quản lý, trình độ khoa học, công nghệ, đủ sức thay thế chuyên gia nước

Trang 21

ngoài, đồng thời rèn luyện được tác phong công nghiệp, thích ứng dần với cơ chế lao động mới Đồng thời, đầu tư nước ngoài đem lại thu nhập đáng kể cho người lao động, tăng sức mua cho xã hội

Tỷ lệ đóng góp của khu vực có nguồn vốn FDI vào GDP ngày một tăng năm

1992 : 2%, 1993: 3,6%, năm 1994: 6,1%, năm 1995: 6,3%, năm 1996 : 7,4%, năm 1997 :9,1 %, năm 1998 :10,1 %, năm 99 : 10,4%, năm 2000 : 12,7%

Dòng vốn FDI vào Việt Nam góp phần làm tăng thêm tích luỹ cho nền kinh tế Thời kỳ 1988 –1995 đóng góp vào ngân sách ngày càng tăng 1988-1992 : 91 triệu USD, năm 1993 : 120 triệu USD, năm 1994 : 128 triệu USD, năm 1995 : 195 triệu USD, năm 1996 : 263 triệu USD, năm 1997: 315 triệu USD, năm 1998: 317 triệu USD, nhưng đến năm 1999 giảm xuống còn : 271 triệu USD và năm 2000 : 280 triệu USD Mặc dù số dự án tăng nhanh qua các năm nhưng việc đóng góp vào ngân sách tăng không đáng kể thậm chí còn giảm , do ta chưa có chính sách quy định chặt chẽ về chế độ tài chính dẫn đến các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trốn tránh nghiã vụ

Góp phần mạnh mẽ hoạt động kinh tế đối ngoại : kim ngạch xuất khẩu tăng liên tục : 1988-1991 : đạt hơn 52 triệu USD, năm 1992 : 112 triệu USD, năm 1993 : 257 triệu USD, năm 1994 : 352 triệu, năm 1995 : 440 triệu USD, năm 1996 : 786 triệu USD, năm 1997 : 1.790 triệu USD, năm 1998: 1.982 triệu USD, năm 1999 : 2.577 triệu USD, năm 2000 : 3.230 triệu USD

Kim ngạch nhập khẩu tăng liên tục qua các năm giai đoạn 1994 -1995 : đạt 2.068 triệu USD, giai đoạn 1996- 2000 : đạt 14.598 triệu USD (cụ thể xem bảng phụ lục 1) Tình hình kim ngạch xuất nhập khẩu tăng dần qua các năm cho thấy việc thu hút các doanh nghiệp FDI cũng đóng vai trò quan trọng cho nền kinh tế, làm giảm thâm hụt cán cân thương mại Vào thời điểm 1994-1995 nhập siêu so với xuất khẩu gấp 2,6 lần , đến giai đoạn 1996-2000 nhập siêu giảm chỉ còn 1,4% Do đó việc thu hút các doanh nghiệp FDI góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu đem ngoại tệ về cho đất nước Bên cạnh đó cũng góp phần làm doanh thu của các doanh nghiệp FDI tăng dần qua các năm : năm 1991 đạt 150 triệu USD, 1992 : 208 triệu USD, năm 1993 : 449 triệu USD, năm 1994 : 952 triệu USD, năm 1995 : 1.872 triệu USD, năm 1996 : 2.583 triệu USD, năm 1997 : 3.605 triệu USD, năm 1998 : 3.823 triệu USD, năm 1999 : 4.600 triệu USD, năm 2000 : 5.300 triệu USD

Trong thời gian hoạt động sản xuất kinh doanh, đã có một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bị thua lỗ và tăng dần qua các năm : năm 94 : 123 doanh

Trang 22

nghiệp, năm 1995 : 390 Doanh nghiệp, 1996 : 481 doanh nghiệp, năm 1997 : 576 doanh nghiệp , năm 1998 : 702 doanh nghiệp , năm 1999 và năm 2000 số doanh nghiệp bị lỗ còn cao hơn

Một số Công ty thua lỗ nặng như :

Công Ty Quốc tế Hồ Tây – liên doanh giữa Tổng công ty xây dựng Hà Nội với PID (Singapore) với tổng vốn ban đầu là 49.200 USD, sau nâng lên 69.920.000USD, trong đó vốn pháp định là 20.9760.000 USD, phía Việt Nam góp 25% vốn pháp định (4.275.000 USD tương đương 62 tỷ đồng) Kết quả sản xuất kinh doanh kể từ 1997-

2000 liên doanh này lỗ 545, 386 tỷ đồng , nếu phía Việt Nam phải chịu 25% theo tỷ lệ góp vốn pháp định sẽ là 136,346 tỷ đồng và như vậy Tổng công ty xây dựng Hà Nội sẽ mất hết vốn góp liên doanh

Công ty khách sạn vườn Bắc thủ đô có phía đối tác Việt Nam là Công ty xây dựng bảo tàng Hồ Chí Minh, vốn đầu tư của liên doanh là 4.136.000 USD, vốn pháp định là 2.470.000 USD, phía Việt Nam góp 30% là 822.000 USD , kết quả kinh doanh của Công ty từ 1997-2000 có lỗ lũy kế là 2.478.882 USD, nếu phía Việt Nam chịu 30% theo tỷ lệ góp vốn pháp định thì Công ty xây dựng bảo tàng Hồ Chí Minh gần như hết vốn góp liên doanh

Bên cạnh đó, Công ty liên doanh kết cấu POS-LiLAMA từ năm 97-2000 lỗ lũy kế là 128.942 triệu đồng, công ty liên doanh thang máy Otis –Lilama lỗ lũy kế từ năm 1997-2000 là 36,282 triệu đồng, công ty liên doanh sao Mai lỗ 224 tỷ đồng, công ty liên doanh xi măng Nghi Sơn lỗ 207 tỷ đồng

Hiện tượng lỗ của các doanh nghiệp trên do chưa có cơ chế quản lý chặt chẻ, chưa tăng cường các biện pháp quản lý kính tế tài chính và chưa đi sâu sát cùng giải quyết những khó khăn, vướng mắc của các liên doanh dẫn đến việc thua lỗ kéo dài

Số doanh nghiệp lãi ít , chủ yếu tập trung ở TP.HCM

Kết luận chương I :

Qua xem xét tình hình thực hiện đầu tư nước ngoài trong thời gian qua đã thu hút được nhiều dự án đầu tư và đóng góp đáng kể cho nền kinh tế đất nước ta về các mặt:

- Thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương : cơ sở hạ tầng, bưu chính viễn thôngv.v…

- Thúc đẩy phát triển kinh tế ngành và liên ngành : nhiều ngành mới xuất hiện, tiếp thu những công nghệ tiên tiến, học được kinh nghiệm quản lý của nước ngoài, giải quyết được nạn thất nghiệp tạo việc làm cho người lao động…

- Nâng kim ngạch xuất nhập khẩu, giảm thâm hụt cán cân ngân sách thông qua việc thu các loại thuế , dịch vụ và lệ phí……

Trang 23

Tuy nhiên, trong những năm gần đây việc thu hút các doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài vào Việt Nam giảm sút, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực Bên cạnh đó, một số dự án bị rút giấy phép và chưa triển khai còn nhiều, việc thực hiện các dự án còn hiệu lực chưa cao, chưa đạt kết quả như mong muốn; số doanh nghiệp đi vào hoạt động lỗ nhiều, doanh nghiệp lãi ít Do đó ta cần đánh giá lại việc thu hút các dự án đầu tư nước ngoài đã mang lại hiệu quả như thế nào, để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp FDI

Sau đây chúng ta cùng nhau xem xét và đánh giá hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn TP.HCM trong thời gian qua

Trang 24

CHƯƠNG 2 : ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TP.HCM TRONG THỜI GIAN 1990-2000 :

2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TP.HCM :

Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi, nằm giữa vùng Nam bộ giàu có, và giàu tiềm năng Cách thủ đô Hà nội 1.738 km về phiá Đông Nam, có địa giới hành chính với các tỉnh Long An, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu Có diện tích tự nhiên là 2.093, 8 km 2, dân số trên 6 triệu người với lực lượng lao động dồi dào Con người thành phố luôn thể hiện tính năng động, sáng tạo, nhạy bén với kỹ thuật và công nghệ mới, tay nghề khá, có khả năng nhanh chóng thích nghi và hội nhập vào điều kiện mới của nền kinh tế thị trường Lực lượng khoa học kỹ thuật của thành phố khá đông đảo, đa dạng về nguồn đào tạo và ngành nghề, có quan hệ rộng rãi với giới khoa học ở nước ngoài, nên cũng đáp ứng lực lượng đáng kể cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Kể từ khi luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam ra đời (tháng 12 năm 1987), thành phố Hồ Chí Minh luôn luôn giữ vị trí đi đầu về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

so với các địa phương khác trong cả nước Tính đến tháng 7 năm 2001, trên địa bàn Thành phố đã có 1.028 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 12.901 triệu USD chiếm 40,48 % về số dự án và 29 % về tổng vốn đầu tư so với cả nước Khu vực có vốn đầu tư nuớc ngoài gồm cả hai khu chế xuất Tân Thuận và Linh Trung – khu công nghiệp , đã góp phần đáng kể trong việc làm thay đổi bộ mặt thành phố và làm khởi sắc nền kinh tế thành phố Trong năm 2000 khu vực có vốn nước ngoài đã đóng góp 18,6% vào tổng sản phẩm nội địa (GDP) và 17,2% tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn thành phố Bên cạnh đó, sự phát triển nhanh chóng của khu vực này cũng góp phần thúc đẩy các khu vực và các thành phố khác trong cả nước Tuy nhiên , bên cạnh việc đóng góp đó, trong những năm gần đây khu vực có vốn đầu tư nước ngoài diễn ra hiện tượng không bình thường như tình trạng thua lỗ kéo dài của các doanh nghiệp có vốân đầu tư nước ngoài đặc biệt là doanh nghiệp liên doanh; một số doanh nghiệp liên doanh lớn xin chuyển đổi hình thức đầu tư sang 100% vốn nước ngoài; tình hình cung vượt cầu của một số ngành đầu tư như khách sạn, văn phòng cho thuê; một số doanh nghiệp được cấp phép nhưng vẫn chưa triển khai

Do đó, chúng ta cần đúc kết để đánh giá hiệu quả về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian qua từ đó đưa ra các giải pháp để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng

Trang 25

2.2 TÌNH HÌNH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI

TP.HCM TRONG 10 NĂM QUA :

2.2.1 Tình hình cấp giấy phép đầu tư :

Trải qua hơn 13 năm thực hiện luật đầu tư nước ngoài, từ năm 1988 đến năm

2000 toàn thành phố đã có 1.150 dự án được cấp phép với tổng vốn đầu tư 12.467

triệu USD, chiếm 36,1% số dự án và 32,7% tổng vốn đầu tư của cả nước Trong đó, số

dự án trong khu chế xuất – khu công nghiệp là 248 với tổng vốn đầu tư là 1.113 triệu

USD, ngoài khu chế xuất – khu công nghiệp 902 dự án với tổng vốn đầu tư là 11.354

Nguồn : Sở Kế Hoạch &Đầu Tư, Niên Giám Thống Kê Tp.HCM

Qua bảng trên (bảng 7) ta có thể khái quát tiến trình nguồn vốn FDI vào

TP.HCM thời gian qua như sau :

Giai đoạn 1988 –1990 : giai đoạn đầu số dự án được cấp phép còn ít chỉ có 41

với tổng vốn đầu tư 444 triệu USD

Giai đoạn 1990 –1995 : Tiếp giai đoạn trước năm 1990 là giai đoạn tăng tốc của

lượng vốn FDI vào thành phố Trong giai đoạn này, ta thấy tốc độ tăng cả về số dự án

và tổng vốn đầu tư đạt đến mức kỷ lục Cụ thể số dự án cấp phép trong giai đoạn này

là 588 dự án với tổng vốn đầu tư là 7.208 triệu USD gấp 14,3 lần về số dự án và gần

Trang 26

16,2 lần vốn đầu tư so với giai đoạn các năm trước 1990 So với cả nước, TP.HCM chiếm 40 % tổng số dự án và 42% tổng vốn đầu tư

Đặc biệt, nguồn vốn FDI tại TP.HCM đạt đến đỉnh cao vào năm 1995 với 155 dự án và vốn đầu tư 2.284 triệu USD, tăng 24% về dự án và 49,48% tổng vốn đầu tư so với năm 1994 Sở dĩ tăng đột biến như vậy là do công tác chuẩn bị từ nhiều năm trước nay đến lúc ký giấy phép, ngoài ra còn phải kể đến nguyên nhân khách quan do Mỹ bỏ lệnh cấm vận dẫn đến nhiều nước tăng cường đầu tư vào Việt Nam mà trong đó TP.HCM được xem là môi trường thuận lợi

Giai đoạn 1996- 2000 : tốc độ đầu tư nguồn vốn FDI vào cả nước nói chung và

TP.HCM nói riêng đều giảm dần, trên địa bàn thành phố có thêm 521 dự án có vốn đầu tư nước ngoài 5.856 triệu USD (kể cả vốn tăng) Số lượng dự án năm 96 chỉ bằng

73 % so với năm 1995, 81% năm 97 so năm 96, 96,7% năm 98 so năm 97, năm 99 nhích lên 121 % so năm 98 và năm 2000 tăng 110% so với năm 1999

Đặc biệt vào năm 1997 nguồn vốn FDI vào TP.HCM giảm đáng kể do ảnh hưởng tình hình khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á với số dự án 92 và tổng vốn

đầu tư 1180 triệu USD, năm 1998 có 89 dự án với tổng vốn đầu tư 680 triệu USD, còn

năm 1999 và năm 2000 mặc dù số dự án có tăng nhưng các nhà đầu tư chỉ đầu tư vào các dự án nhỏ nên số vốn giảm từ 470 triệu USD năm 1999 xuống còn 178 triệu USD năm 2000

Với vị trí trung tâm khu vực , nên thành phố vẫn là địa phương thu hút đầu tư cao

nhất về số dự án và vốn đầu tư, chiếm 36,6% về số dự án và 31,9% tổng vốn đầu tư

cả nước, kế đến là Hà Nội, Đồng Nai, Bà Rịa –Vũng Tàu Việc phân bố không đều giữa các địa bàn lãnh thổ, một phần do kết cấu hạ tầng ở miền Nam thuận lợi hơn, nhưng điều cơ bản là TP.HCM và các tỉnh lân cận có môi trường kinh doanh năng động hơn phù hợp với yêu cầu đầu tư

Trong quá trình hoạt động(1988- 2000), có 222 dự án bị rút giấy phép chiếm 19,3

% so với tổng số dự án được cấp phép và tổng vốn đầu tư 2.550 triệu USD chiếm 20,5% tổng vốn đầu tư được cấp phép từ năm 1988 - 2000 Tỷ lệ các dự án bị rút giấy phép ở hình thức 100% vốn nươc ngoài là 16%, hình thức liên doanh 77%, hình thức hợp tác kinh doanh 7 % Số dự án bị rút giấy phép đa số có quy mô nhỏ, trung bình mỗi dự án khoảng 5 triệu USD, một dự án có vốn đầu tư khá lớn trên 216 triệu USD Qua việc khủng hoảng kinh tế tài chính tại khu vực Đông Nam Á làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, dẫn đến một số dự án bị rút giấy phép hoặc bị đình hoãn :

Trang 27

Bộ kế hoạch và Đầu tư đã có quyết định rút giấy phép đầu tư dự án xây dựng khu liên hợp nhằm cho thuê và kinh doanh các dịch vụ của Công ty liên doanh Sài Gòn Tả Ngạn TNHH có vốn đầu tư đăng ký 85 triệu USD Dự án dự kiến sẽ xây dựng trên khu đất trên 7.000 m 2 tại số 164 Đồng Khởi, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh, thời gian hoạt động 43 năm, là liên doanh giữa công ty Quảng cáo Sài Gòn góp 40% vốn và Financiere Rive Gauche Asia Pacific (Singapore) góp 60% vốn Dự án này được cấp phép từ 19/9/1996 đến nay vẫn chưa triển khai

Theo thống kê Sở Kế hoạch – Đầu tư , tại TP.Hồ Chí Minh hiện có 22 dự án đầu

tư trong lĩnh vực địa ốc, với tổng vốn đầu tư khoảng trên 1,4 tỷ USD đang bị đóng băng Trong đó, có bốn dự án đang xây dựng phải đình hoãn với tổng vốn đầu tư khoảng 619 triệu USD Ngoài ra, có 16 dự án đã xin tạm ngưng hoạt động và sử dụng vào mục đích khác, với tổng vốn đăng ký trước đây gần 700 triệu USD

Bốn dự án đình hoãn :

+ Trung tâm văn hoá Thương mại Sài gòn thuộc Công ty liên doanh Việt Nam Jin wen (Vijico) Đây là liên doanh giữa tập đoàn Jin Wen ( Đài Loan) góp 70% vốn và

ba đối tác Việt Nam (góp vốn bằng quyền sử dụng đất trên) gồm : Công ty dịch vụ phát triển đô thị thành phố (15%), Công ty công viên cây xanh (9%) và Công ty dịch vụ Du lịch Bến Thành (6%) Đến nay liên doanh đã được cấp phép hoạt động 6 năm, nhưng do đối tác gặp khó khăn xin tạm ngưng thi công tháng 7/2000 (Cty đã chi cho công trình 23 Triệu USD, hiện còn nợ các đơn vị thi công cung cấp vật tư Việt Nam gần 1,8 triệu USD)

+ Khách sạn Holiday Inn Sài Gòn tổng vốn đầu tư : 27.334.640 USD, vốn pháp định : 7.334.640 USD, điện tích : 5.537 m 2 cấp phép ngày 30/7/1994

+ Khách sạn Grand imperial saigon :địa chỉ : 101 Hai Bà trưng, Q.I tổng vốn đầu

tư : 58.634.000 USD, vốn pháp định : 19.184.000 USD, diện tích : 6.510 m 2, cấp phép ngày 07/6/1994

+ Công ty liên doanh SSI : địa chỉ 19-25 Nguyễn Huệ, Q.I, tổng vốn đầu tư : 9.200.000 USD, vốn pháp định : 2.239.713 USD, diện tích : 376 m 2, cấp phép ngày : 23/4/1994

Nguyên nhân của việc rút giấy phép các dự án đầu tư là :

- Một là một số dự án có quy mô nhỏ, tính khả thi thấp thiếu nghiên cứu thị trường làm các chủ dự án không thể tiếp tục

- Hai là một số dự án hạch toán khấu hao quá nhanh tài sản cố định , dẫn đến chi phí đầu tư ban đầu bị lỗ

Trang 28

- Ba là một số không đảm bảo tỷ lệ xuất khẩu như đã cam kết, không tuân thủ đúng theo luật định hợp tác đầu tư nước ngoài của chính phủ Việt Nam ban hành Không có khả năng về vốn đầu tư hoặc hết khả năng đầu tư

Ví dụ : Khu du lịch Non nước là công ty liên doanh giữa Việt Nam với công ty BBI có tổng vốn đầu tư là 243 triệu USD được cấp phép ngày 31/3/1995, đến tháng 12 năm

1996 Công ty BBI không thực hiện các thỏa thuận như ký kết mà còn gởi thông báo chuyển nhượng cổ phần cho Công ty Indochina & Mare Faber Mỹ Tình hình này, ta cần phải nghiên cứu kỹ đối tác khi ký kết hợp tác đầu tư tránh tình trạng đối tác ký rồi kiếm đối tác khác để bán lại dự án

Trường hợp P& G Việt Nam , công ty Việt Nam liên doanh với Procter & Gamble cấp phép hoạt động vào tháng 11 năm 1994 tổng vốn đầu tư 37 triệu USD trong đó Mỹ góp 70 % Sau 3 năm hoạt động đến 31/01/1998 lỗ luỹ kế của Công Ty là 35 triệu USD, tổng nợ lên đến trên 40 triệu USD Nguyên nhân : khoảng chi phí cao hơn so với luận chứng kinh tế kỹ thuật ban đầu, phí khuyến mãi, quảng cáo gấp 7 lần ( thực chi trong hai năm đầu là 82,2 tỷ đồng VN), chi tiền lương cho cao gấp hơn 3 lần trong năm đầu hoạt động (thực chi 3,4 triệu USD) Trước tình hình đó, bên nước ngoài đưa ra 3 phương án :

- Nước ngoài mua 30% cổ phần của Việt Nam để chuyển thành 100% vốn nước ngoài

- Việt Nam mua lại 70 % cổ phần của nước ngoài

- Hai bên cùng góp vốn để tăng vốn của liên doanh lên 90 triệu USD

Hai phương án sau Việt Nam không có khả năng thực hiện Ngày 04/3/1998 các bên nhất trí tăng vốn đầu tư lên 83 triệu USD, nước ngoài chiếm 93% , Việt Nam còn 7% tương đương 5,9 triệu USD, trong đó có 4,3 triệu USD đã góp vào P &G Việt Nam trước đây và 1,6 triệu USD mới bổ sung bằng giá trị quyền sử dụng đất

Đôi khi quá trình chuẩn bị dự án chưa được quan tâm và thực hiện đúng mức, chất lượng dự án chưa tốt, còn sai sót và sửa đổi bổ sung nhiều lần làm kéo dài thời gian thẩm định dự án; thiếu hụt tài chính hoặc không đủ điều kiện uy tín đi vay ở nước họ dẫn đến không thực hiện cam kết góp vốn

Như dự án NOGA-SAIGON được cấp phép vào ngày 03/12/1994 với vốn pháp định 57 triệu USD vốn đầu tư 216 triệu USD trong đó Việt Nam góp 30 % bằng giá trị quyền sử dụng 9.348 m 2 đất, Thuỵ sĩ góp 70% bằng tiền và giá trị các thiết bị vật tư Đến tháng 4 năm 1995 làm lễ ra mắt Hội đồng quản trị Theo hợp đồng từ tháng 5 đến tháng 7 năm 1995 Thuỵ Sĩ phải chuyển 4,7 triệu USD giải tỏa mặt bằng và 1 triệu USD cho TP.HCM xây dựng cơ sở hạ tầng, nhưng đến tháng 7 năm 1996 Thuỵ Sĩ

Trang 29

không chuyển đồng nào và xin Bộ Kế Hoạch và đầu tư cho kéo dài thời hạn góp vốn , tìm đối tác khác để chuyển nhượng 50% vốn pháp định, do khó khăn về tài chính Đến tháng 10 năm 1997 Bộ Kế hoạch và đầu tư ra quyết định rút giấy phép, do đối tác Thụy Sĩ không có khả năng thực hiện dự án

Một số trường hợp khác như bên Việt Nam yếu về trình độ quản lý, không đủ sức xử lý các vấn đề phát sinh, ở một số trường hợp Hội Đồng quản trị mất đoàn kết, mâu thuẫn kéo dài đã dẫn đến giải thể doanh nghiệp Môi trường đầu tư ở một vài nơi không thuận lợi về mặt cơ sở hạ tầng cũng như do thiếu nhất trí trong cơ quan lãnh đạo địa phương và quần chúng, do chủ trương và bị ảnh hưởng đến quyền lợi cá nhân Hệ thống luật pháp, chính sách ưu đãi đầu tư chưa ổn định, thiếu đồng bộ chưa rõ ràng, làm cho việc hiểu luật chưa nhất quán, dẫn đến tranh chấp trong quá trình thực hiện dự án đầu tư Cơ quan Nhà nước chưa kịp thời ngăn chặn các hoạt động trái pháp luật của các nhà đầu tư đã đến sai phạm nghiêm trọng buộc phải rút giấy phép

2.2.2 Tình hình hoạt động dự án còn hiệu lực :

Tính đến cuối tháng 12/2000, sau khi trừ đi 225 dự án với 2.552 triệu USD vốn đầu tư do hết thời hạn hoạt động, đầu tư ra nước ngoài và bị rút giấy phép thì còn 925 dự án còn hiệu lực tổng vốn đầu tư 9.915 triệu USD Gấp 2,6 lần số dự án và 1,27 lần về vốn đăng ký so với Hà Nội ( có trên 360 dự án còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đăng ký trên 7.800 triệu USD) So với Đồng Nai gấp 3,4 về số dự án và 2,2 lần về vốn đầu tư (có 274 dự án còn hiệu lực với vốn đăng ký 4.486 triệu USD) Gấp 10,8 lần về số dự án và 7,4 lần so với Hải Phòng ( T11/2000 có 86 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký gần 1.340 triệu USD) Gấp 15 lần về dự án và 5,2 lần về vốn đầu tư so với Bà Rịa Vũng Tàu ( có 62 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký :1913,6 triệu USD) Gấp 26 lần về số dự án và 4 lần về vốn đầu tư so với Bình Dương (có 379 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 2.400 triệu USD) So với cả nước, TP.HCM chiếm 29,4

% về số dự án , 25,4 % về tổng vốn đầu tư

Sau đây ta cùng xem xét tình hình hoạt động của các dự án còn hiệu lực qua các năm , được thể hiện qua bảng sau (bảng 8):

Giai đoạn 1988-1989 : số dự án còn hiệu lực là 10 dự án với số vốn đầu tư là 181 triệu USD và vốn pháp định là 58 triệu USD

Trong giai đoạn 1990-1995, số dự án và vốn đầu tư FDI tăng mạnh trên địa bàn TP.HCM Từ 14 dự án năm 1990, tăng lên 40 dự án vào năm 1991, 82 dự án vào năm

1993, 111 dự án vào năm 1994, 124 dự án vào năm 1995 Đồng thời lượng vốn cũng tăng nhanh: năm 1995 bằng 443 % so với năm 1990, 428 % so với năm 1991, 359 % so năm 1992, 139 % so năm 1993, 166% so năm 1994

Trang 30

Bảng số 8 : Tình hình dự án còn hiệu lực từ năm 1988 đến năm 2000

Nguồn : Sở Kế hoạch & Đầu tư, niên giám thống kê TP Hồ Chí Minh

Bắt đầu từ cuối năm 1995, lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào TP.HCM có dấu hiệu giảm sút, ảnh hưởng cả giai đoạn 1996- 2000 : Năm 1996 từ 102 dự án với lượng vốn đầu tư 1.195 triệu USD, sang năm 1997 giảm xuống còn 84 dự án với vốn đầu tư bằng 84,1 % so năm 96, năm 1998 có 85 dự án với vốn đầu tư bằng 63,2 % so năm 97, 1999 số dự án có tăng lên 102 dự án với vốn đầu tư bằng 72,9 % so năm

1998 Đặc biệt vào năm 2000, số dự án tăng lên 119 nhưng vốn đầu tư chỉ bằng 38,4

% năm 1999 Điều này gây ra do ba nguyên nhân chính :

• Vẫn còn dư âm của cuộc khủng hoảng tài chính tác động

• Cơ hội đầu tư tốt trong phạm vi chính sách cho phép đã được khai thác gần hết, trong khi đó lại chậm điều chỉnh chính sách để khai thác những khả năng đầu tư mới

• Cơ chế, chính sách điều hòa kinh tế chưa tạo ra một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh , chưa theo thông lệ quốc tế nên chưa khai thác hết tiềm năng, thậm chí trở thành lực cản trong quá trình thu hút vốn đầu tư bên ngoài, điển

hình trên lĩnh vực đất đai, nhà ở, thị trường tiền tệ

Đầu tư nước ngoài vào thành phố 9 tháng đầu năm 2001 có 129 dự án được cấp

phép với vốn đăng ký 260 triệu USD, tăng 76,7% về số dự án và tăng 75,6% về vốn

Trang 31

so cùng kỳ năm trước Nếu tính thêm dự án dịch vụ điện thoại của Sài gòn Podtel có vốn đăng ký 217 triệu USD năm ngoài KCX-KCN Nhìn chung, những dự án FDI vào thành phố trong thời gian qua có quy mô nhỏ bình quân khoảng 1 triệu USD/dự án, trong đó đến 60 dự án có vốn đăng ký dưới 0,5 triệu USD Ngoài ra, còn có thêm 46 doanh nghiệp FDI xin tăng vốn tăng 216 triệu USD

2.2.3 Hình thức đầu tư của dự án :

Bảng số 9 : TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI THEO HÌNH

DỰ ÁN

VỐN ĐẦU TƯ

VỐN PHÁP ĐỊNH

VỐN ĐẦU TƯ TRUNG BÌNH DỰ ÁN

Nguồn : Sở Kế hoạch & ĐT, niên giám thống kê TP.HCM năm 2000

Theo hình thức đầu tư , thì số dự án theo hình thức liên doanh chỉ chiếm 38,8% trong tổng số dự án còn hiệu lực, nhưng số vốn đầu tư chiếm tỷ lệ cao nhất với tỷ lệ 60% so với tổng vốn đầu tư Hình thức hợp tác kinh doanh chiếm tỷ lệ rất nhỏ 5,2% với tổng vốn đầu tư chiếm 11% Riêng hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm tỷ lệ cao nhất là 56 %, nhưng tỷ lệ vốn đầu tư chỉ chiếm 29% trong tổng vốn đầu tư

Trong năm 2000 số dự án được cấp là 119 với tổng vốn đăng ký 178 triệu USD, trong đó có 22 dự án liên doanh với vốn đăng ký 17 triệu USD, 96 dự án 100% vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 161 triệu USD, hợp đồng HTKD 01 dự án Qua việc cấp phép trên cho thấy ngày càng nhiều nhà đầu tư chuộng hình thức 100% vốn nước ngoài hơn là liên doanh Điều này cũng chứng tỏ rằng chính quyền ta nổ lực cải thiện môi trường đầu tư , làm thông thoáng hơn và ngày càng được các nhà đầu tư nước ngoài tin cậy hơn

Trang 32

2.2.4 Quy mô và thời gian hoạt động của các dự án :

2.2.4.1 Quy mô dự án :

Tính đến năm 2000 trên địa bàn TP.HCM số dự án còn hiệu lực là 925 với tổng vốn đầu tư 9.915 triệu USD và vốn pháp định 5.045 triệu USD Sáu tháng đầu năm

2001 có một số dự án được cấp phép, song nhìn chung các dự án đầu tư chủ yếu là các dự án vừa và nhỏ

BẢNG số 10 : SỐ DỰ ÁN CHIA THEO QUY MÔ VÀ HÌNH THỨC ĐẦU TƯ

TỔNG SỐ CHIA RA

LIÊN DOANH K.DOANH HỢP TÁC NƯỚC NGOÀI100% VỐN

Nguồn : Sở KH & ĐT

Qua bảng trên (bảng 10) ta thấy quy mô dự án từ 1- 10 triệu USD chiếm 57,3 %, trong khi các dự án có quy mô vốn trên 10 triệu USD chiếm 17,3% tổng số dự án còn hiệu lực Đi đôi với sự gia tăng vốn FDI và số dự án đầu tư đã kéo theo xu hướng gia tăng quy mô bình quân hằng năm của mỗi dự án Vào những năm đầu thực hiện, quy mô bình quân mỗi dự án có giảm do sự gia tăng lượng vốn không theo kịp sự gia tăng số dự án đầu tư Những năm tiếp theo, cụ thể năm 1994, 1995, 1996 quy mô vốn bình quân của mỗi dự án là 15,6 triệu USD, nổi bật vào năm 1996 quy mô này đã tăng và đạt mức 20,4 triệu USD/ dự án trong khi từ những năm 1993 trở về trước quy mô chỉ giao động ở mức trung bình 11 triệu USD/ dự án Giai đoạn 1997 –2000 thì quy mô vốn lại bắt đầu dấu hiệu giảm sút một cách đáng kể chỉ ở mức 6,1 triệu USD/ dự án , nhất là vào năm 2000 trong khi dự án vẫn tăng nhưng lượng vốn đầu tư lại giảm xuống mức kỷ lục 1,5 triệu USD/ dự án

Một số dự án có vốn đầu tư lớn tại Thành phố Hồ Chí Minh :

- Công ty liên doanh Việt Nam Jin Wen với mức đầu tư 525 triệu USD

- Quảng trường Hạnh Phúc có vốn đầu tư 468 triệu USD

- Công ty liên doanh Xi măng Sao Mai có vốn đầu tư 388 triệu USD

Trang 33

Theo các ngành thì những dự án có quy mô lớn thường tập trung vào các lĩnh vực:

thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng ( 36,7 triệu USD/dự án), vận tải bưu điện (25,5

triệu USD/ dự án), kinh doanh bất động sản, tư vấn ( 16,8 triệu USD/ dự án), xây dựng 15,3 triệu USD/ dự án ……

2.2.4.2 Thời gian hoạt động của các dự án :

Bảng số 11 : tình hình thực hiện dự án theo thời gian ĐVT : số dự án

THEO THỜI GIAN

SỐ

LIÊN DOANH

HỢP TÁC KINH DOANH

100% VỐN NƯỚC NGOÀI

Nguồn : Phòng DNNN - Sở KH &ĐT

Qua bảng trên (bảng 11) cho thấy các dự án tập trung chủ yếu có thời gian hoạt

động từ 10 đến 20 năm chiếm mức tỷ trọng 53,6 % trong đó hình thức liên doanh chiếm tỷ trọng 46 %, hợp tác kinh doanh chiếm 45, hình thức 100% vốn nước ngoài

chiếm 50,4% Đối với những dự án có thời gian trên 20 năm thì số dự án theo hình

thức liên doanh chiếm 32,7 %, hợp tác kinh doanh 0,3 %, hình thức 100% vốn nước

ngoài 67,% tổng số dự án Những năm gần đây các dự án dài hạn có xu hướng tăng

nhanh, số dự án ngắn hạn không tăng Số dự án có thời hạn hoạt động dài gắn liền với

mức vốn đầu tư lớn trên 40 triệu USD/ dự án, đa số tập trung vào các ngành : công

nghiệp chế biến, khách sạn nhà hàng, kinh doanh bất động sản…

2.2.5 Cơ cấu đầu tư :

2.2.5.1 Đầu tư theo ngành :

Qua 13 năm hoạt động ,nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã góp vai trò quan trọng

trong quá trình thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiều hướng tích cực Được

thể hiện qua bảng sau: (bảng 12)

Ngành công nghiệp chiếm số dự án cao với tỷ trọng 64,3%, kế đến là ngành kinh

doanh bất động sản, tư vấn với 149 dự án chiếm tỷ trọng 16,1%, thấp nhất là ngành

nông lâm thuỷ sản với 10 dự án chiếm 1,1% Qua đó, ta thấy cơ cấu các ngành chưa

cân đối, chủ yếu tập trung vào các ngành có khả năng thu hồi vốn nhanh hơn và có tỷ

lệ lãi cao hơn

Trang 34

BẢNG số 12: CƠ CẤU VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THEO NGÀNH

CƠ CẤU (%)

Nguồn :Sở KH &ĐT, niên giám thông kê TP.HCM năm 2000

Một số lĩnh vực chính của các dự án có vốn đầu tư nước ngoài

• Nông lâm thủy sản :

Số dự án có vốn đầu tư nước ngoài ở ngành này rất ít chỉ chiếm 1,1% tổng số dự

án Tính đến hết năm 2000, thu hút chỉ có 10 dự án với vốn đầu tư 25 triệu USD thấp

nhất trong ba khu vực Trong đó, liên doanh 21,7triệu USD chiếm 86,8%, 100% vốn

nước ngoài 3,3 triệu USD chiếm 13,2% Số dự án đầu tư trong lĩnh vực này tăng lên

chậm, phần lớn quy mô nhỏ, vốn bình quân là 2,5 triệu USD/ dự án

Ngành này chưa thu hút được sự đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài do thiếu

chính sách ưu đãi hấp dẫn và có một quy hoạch cụ thể, đồng thời địa bàn hoạt động

đầu tư khó mang lại tỷ suất lợi nhuận cao, chậm thu hồi vốn, chịu nhiều rủi ro Bên

cạnh đó, còn có một số nguyên nhân chủ quan như về mức thuế VAT, đối với chăn

nuôi gia súc, một ngành chỉ có tỷ suất lợi nhuận 2-3%, nhưng việc áp dụng mức thuế

VAT 5% gây khó khăn cho doanh nghiệp Tình hình nhập lậu cũng làm ảnh hưởng đến

việc sản xuất của doanh nghiệp trong khi nhu cầu thì hạn chế như phân bón…

• Công nghiệp :

Các ngành công nghiệp chiếm vị trí cao trong hoạt động thu hút vốn đầu tư nước

ngoài với lượïng vốn chiếm 39,4% tổng vốn đầu tư tại TP.HCM Nếu tính về số dự án

thì ngành này chiếm 64,3% tổng số dự án còn hiệu lực

Số vốn bình quân của một dự án là 6,6 triệu USD Thời gian hoạt động phổ biến

khoảng 10 năm Tính đến nay nhóm này thu hút trên 130.000 lao động trực tiếp chiếm

Trang 35

43,3 % tổng số lao động làm việc trong khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đạt tổng doanh thu trên 15.000 triệu USD (năm 2000) tăng dần qua các năm 9.000 triệu USD năm 97, 11.000 triệu USD năm 1998, 13.000 triệu USD năm 1999

Những ngành công nghiệp hấp dẫn nguồn vốn đầu tư :

Ngành công nghiệp điện tử :

Là ngành tương đối mới Cho đến nay đã có trên 20 dự án đầu tư Nhìn chung đầu

tư nước ngoài trong ngành điện tử chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu phát triển ngành kinh tế quan trọng này do chưa có chính sách hấp dẫn, cũng như môi trường thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư lớn như Mỹ, Nhật Bản và Châu Aâu là nơi có nền công nghiệp điện tử phát triển Các dự án tập trung chủ yếu vào gia công lắp ráp điện gia dụng, ít chú ý đến công nghiệp điện tử

Trong công nghiệp ô tô và xe máy

Đã có 03 dự án sản xuất ô tô và 5 dự án sản xuất xe máy đến nay đã được cấp phép đầu tư Hiện nay, ô tô công suất thiết kế 58.000 xe/ năm nhưng mới phát huy

10% công suất, xe máy có công suất thiết kế 130.000 xe máy/ năm, nhưng mới sử

dụng 50% công suất với tỷ lệ nội địa hoá từ 20 –50% Các dự án sản xuất ôtô và xe máy đã được cấp phép đầu tư có tác động dây chuyền đối với các dự án sản xuất linh kiện, phụ tùng như cơ khí, xăm lốp, ghế đệm… Giải quyết những khó khăn trước mắt cho doanh nghiệp này và góp phần phát triển chúng về lâu dài

Công nghiệp dệt may, giầy dép :

Đóng góp cho kim ngạch xuất khẩu lớn, là ngành công nghiệp phát triển nhanh của Thành phố Đến nay ngành công nghiệp này thu hút được nhiều dự án, 75 dự án thuộc ngành dệt với tổng vốn đăng ký 1.018 triệu USD, 95 dự án đầu tư vào ngành may với tổng vốn đăng ký 950 triệu USD Đầu tư nước ngoài trong các ngành này đã tạo việc làm cho hàng trăm ngàn lao động góp phần tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu của thành phố, là một trong những ngành công nghiệp có kim ngạch xuất khẩu 450 triệu USD hàng năm Tuy vậy nhược điểm lớn nhất là vẫn còn phương thức gia công

Xây dựng :

Là ngành có dự án không bằng các ngành khác nhưng bình quân mỗi dự án lại khá cao, đứng hàng thứ 5 trong các ngành có vốn đầu tư nước ngoài 442 triệu USD

• Thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng, kinh doanh địa ốc :

Tính đến cuối 31/12/2000 lĩnh vực này đã có 215 dự án được cấp phép và còn hiệu lực với vốn đầu tư 3.915 triệu USD chiếm 23,2% dự án và 39,5% tổng vốn đầu tư Vốn bình quân của mỗi dự án là 18,2 triệu USD/ dự án, cao gấp 2,8 lần so với ngành

Trang 36

công nghiệp (6,6 triệu USD/dự án) mặc dù dự án thuộc lĩnh vực này chỉ bằng 36% số dự án công nghiệp

Thực tế chứng minh nhóm ngành hàng này mang lại mức lợi nhuận cao nên thu hút được nhiều nhà đầu tư, bên cạnh việc đóng góp cho ngân sách nhà nước không nhỏ nó cũng góp phần làm thay đổi bộ mặt thành phố Thành phố hiện có 26 khách sạn liên doanh với nước ngoài , trong đó có 9 đối tác nước ngoài có kinh doanh dịch vụ dụ lịch khách sạn, số còn lại không có chuyên môn về hoạt động khách sạn như : NewWolrd, Saigòn Prince, Century, Asian , Mekong Vta, Festival Sae Young…

Thời gian gần đây do tác động của khủng hoảng tài chính trong khu vực, lượng khách du lịch đến thành phố cũng giảm hẳn, làm cho ngành kinh doanh khách sạn , nhà hàng , du lịch bị lao đao Tỷ lệ sử dụng buồng thấp Cho thấy khả năng thu hồi vốn đầu tư và trả nợ vay là khó khăn

Tuy nhiên , đây cũng là lĩnh vực thu hút các nhà đầu tư, nên các dự án gần đây không chỉ dừng lại ở số vốn vài chục triệu mà lên hàng trăm triệu USD Nhiều dự án đã cấp phép và khẩn trương đi vào xây dựng như Quảng trường Hạnh Phúc với chức năng thương mại, khách sạn- văn phòng – căn hộ cho thuê có vốn đầu tư 468,4 triệu, Trung tâm văn hoá và thương mại Sàigòn 525 triệu USD

• Tài chính tín dụng :

Qua 13 năm đầu tư (1988-2000) số dự án cấp phép còn hiệu lực là 17 dự án với tổng vốn đầu tư 235 triệu USD Dự án đầu tư vào lĩnh vực này chiếm tỷ trọng nhỏ 1,8% trên tổng số 925 dự án Với số vốn và dự án không cao, các đối tác nước ngoài mới chủ yếu thăm dò thị trường, nắm bắt thông tin, theo chân các khách hàng truyền thống của họ là các nhà đầu tư đến và thực hiện đầu tư

Qua việc mở cửa kêu gọi đầu tư nước ngoài, các ngân hàng nước ngoài vào đã giúp hệ thống ngân hàng cũ của ta hoà nhập vào cơ chế thị trường Sự có mặt của các ngân hàng nước ngoài tại thành phố đã giúp hệ thống ngân hàng và ngoại thương thành phố nối liền với mạng lưới ngân hàng thế giới tạo được sự thuận lợi trong việc thanh toán

Nguồn tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của thành phố, chính các ngân hàng là điều kiện cơ bản để các doanh nhân nước ngoài đầu tư vào đây Chính sự có mặt của các ngân hàng nước ngoài đã tạo tin tưởng và giúp họ làm ăn được thuận tiện

Mức vốn điều lệ cho mỗi ngân hàng là 15 triệu USD là quá nhỏ, sự ràng buộc này đã làm cho họ không thể mở rộng việc huy động vốn vay Thủ tục phiền hà, thông

Trang 37

tin thiếu chính xác , thị trường chưa phát triển và hệ thống hạch toán trái với nguyên xứ cũng là cản trở đối với họ Từ các nguyên nhân trên dẫn đến kết quả là chi phí cho giai đoạn đầu thành lập ngân hàng rất lớn, nhưng doanh thu thì có hạn nên đưa đến việc thua lỗ Do đó, những vướng mắc trên cần được tháo gỡ để ngân hàng liên doanh và ngân hàng nước ngoài thực sự là kênh thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào nền kinh tế Việt Nam

2.2.5.2 Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài theo đối tác :

Đã có trên 40 nước tham gia các dự án đầu tư vào thành phố, có thể chia các nước đầu tư thành bốn nhóm đối tác :

Nhóm I :Châu Á Thái Bình Dương : các nước Asean, Đài Loan, Nhật Bản, Hồng Kông , Korea

Nhóm II : Châu Aâu : Nga, Pháp, Hà Lan, Anh, Đức…

Nhóm III :Bắc Mỹ : Mỹ, Canada…

Nhóm IV: Các nước khác : Uùc …

Nhóm I : số dự án của các nước Châu Á Thái Bình dương là 671 dự án với tổng

vốn đầu tư 6.488 triệu USD, chiếm 72,5% về tổng số dự án còn hiệu lực và 65,4% tổng vốn đầu tư trên địa bàn thành phố Số vốn này gấp 3 lần vốn của các đối tác nhóm nước Châu Aâu Vốn đầu tư bình quân một dự án là 9,7 triệu USD Trong đó, Hồng Kông và Đài Loan có số dự án và vốn đầu tư cao, cụ thể : Đài Loan 213 dự án với vốn đầu tư 1.686 triệu USD chiếm 23,% tổng số dự án và 17% tổng vốn đầu tư, các nước khác như Nhật Bản 112 dự án, Korea 108 dự án, Singapore 99 dự án vốn đầu

tư 1.228 triệu USD, Hồng Kông 86 dự án với vốn đầu tư 1.747 triệu USD chiếm 9,3%

số dự án và 17,6% vốn đầu tư

Nhóm II : Khối EC và Châu Aâu có 121 dự án với tổng vốn đầu tư 2.110 triệu

USD, chiếm 13% về tổng số dự án còn hiệu lực và 21,3 % tổng vốn đầu tư Mặc dù số dự án ít nhưng vốn bình quân của một dự án cao đạt 17,4 triệu USD, trong đó Thuỵ sĩ là nước có vốn đầu tư bình quân cho một dự án rất cao 58, 3 triệu USD

Nhóm III : các nước Bắc Mỹ có 40 dự án với tổng vốn đầu tư 213 triệu USD, chỉ

chiếm 4,3% về tổng số dự án và 2,1% vềø vốn đầu tư, vốn bình quân mỗi dự án của các nước nhóm này tương đối thấp khoảng 5,3 triệu USD

Nhóm IV : các nước không thuộc các nhóm trên có 68 dự án với tổng vốn đầu tư

596 triệu USD, chiếm 7,4% về số dự án và 6% về tổng vốn đầu tư, vốn bình quân một dự án thấp khoảng trên 5 triệu USD Riêng nước Uùc vốn bình quân dự án cao 12,8 triệu USD

Ngày đăng: 01/09/2020, 14:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w