Trang I Một số đặc trưng của lao động khoa học 8 II Trình tự của quá trình nghiên cứu và triển khai KH&CN 9 III Hiệu quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ 14 - Đánh giá hiệ
Trang 1Báo cáo nghiệm thu Đề tài :
“Thực trạng sử dụng đội ngũ
KH-CN trên địa bàn TP HCM
Nguyên nhân và các giải pháp
phát huy hiệu quả”
Trang 2Trang
I Một số đặc trưng của lao động khoa học 8
II Trình tự của quá trình nghiên cứu và triển khai KH&CN 9
III Hiệu quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ 14
- Đánh giá hiệu quả đối với loại hình nghiên cứu cơ bản
* Sự phân bổ lực lượng theo ngành nghề 21
* Một số đơn vị có nguồn lực KH&CN trên địa bàn TP HCM
Trang 3PHẦN 3 : HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ KH&CN Ở MỘT SỐ ĐƠN
VỊ KHOA HỌC VÀ SẢN XUẤT TRÊN ĐỊA BÀN TP HCM
35
1 Số liệu thống kê từ các phiếu điều tra 36
2 Số liệu thống kê từ các chương trình, đề tài nghiên
cứu & triển khai KH&CN năm 2001 và 2003
37
II Tóm tắt ý kiến đóng góp của 100 nhà khoa học 38
A Lĩnh vực Khoa học xã hội & nhân văn 38
B Lĩnh vực Khoa học tự nhiên & công nghệ 42
PHẦN 4 : NHẬN XÉT & ĐÁNH GIÁ VỀ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐỘI
NGŨ KH&CN TRÊN ĐỊA BÀN TP HCM
66
1 Tre già – măng mọc – Cần nhiều vườn ươm tốt để
măng được mọc trong các vườn có quy hoạch phát triển bền vững
66
2 Toàn cục chưa tạo được các yếu tố động lực – hay các
yếu tố động lực chưa đủ “dose” để phát huy đội ngũ và tạo được bước phát triển đột phá có ý nghĩa khoa học và kinh tế
68
3 Cán bộ KH&CN đang chuyển động Brown - theo quy
luật "nước chảy về chỗ trủng" - là nơi có thu nhập cao hay là nơi có điều kiện để tiến thân
70
4 Cơ chế quản lý, chính sách phát triển KH&CN và đầu
tư cho R&D hiện nay chưa tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích nhà khoa học sáng tạo và làm đến cùng các ý tưởng khoa học của họ nhằm tạo ra các sản phẩm KH&CN có giá trị cao
73
5 Mối tương quan giữa đầu tư cho R&D - năng lực công
nghệ chưa tương thích nên quy mô thương mại hóa công nghệ còn bé nhỏ và các công nghệ được thương mại hóa còn giới hạn ở những loại đơn giản
75
Trang 4hành không tạo ra được bầu không khí sáng tạo thuận lợi
PHẦN 5 : NHỮNG NGUYÊN NHÂN SỬ DỤNG CHƯA HIỆU QUẢ
ĐỘI NGŨ KH&CN TRÊN ĐỊA BÀN TP HCM
79
I Những nhược điểm, yếu kém của chính bản thân đội ngũ KH&CN
79
II Chưa xác lập được cơ chế sử dụng hiệu quả các cơ quan
nghiên cứu KH&CN, trường đại học trên địa bàn TP do các ngành Trung ương quản lý
80
III Suất đầu tư R&D thấp nên không tạo được những thành quả
KH&CN lớn, đóng góp hiệu quả cho sự phát triển kinh tế – xã hội thành phố
82
IV Cơ chế quản lý, chính sách KH&CN hiện hành chưa động
viên hết tài năng sáng tạo của nhà khoa học, “phần ướt – wetware” chưa khai thác nên hoạt động KH&CN kém hiệu quả
83
V Hiệu quả sử dụng đội ngũ KH&CN phụ thuộc nhiều vào phía
người sử dụng KH&CN
85
VI Sự mất cân đối trong hoạt động R&D 87
VII Những lệch lạc về “nếp nghĩ” và “cách làm” làm hạn chế
phát huy tài năng sáng tạo của đội ngũ KH&CN 89
VIII Lãnh đạo nhiều ngành, nhiều cấp chưa quán triệt quan điểm
đường lối của Đảng : “Khoa học & Công nghệ cùng với Giáo dục & Đào tạo là quốc sách hàng đầu”
VI Các Khu Công nghệ cao tại Trung Quốc, Hàn Quốc và Anh 127
Trang 5HUY TIỀM NĂNG TRÍ TUỆ CỦA NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TP HCM
I.1- Xây dựng và phát triển năng lực nội sinh về Khoa học
& Công nghệ
142
I.2- Đổi mới đồng bộ và triệt để Hệ thống tổ chức và cơ
chế quản lý KH & CN, tạo bước phát triển đột phá lớn để KH & CN vừa là bệ phóng, vừa là năng lượng bên trong của sự phát triển KT- XH
145
I.3- Nhanh chóng xây dựng đội ngũ nghiên cứu & triển
khai (R&D) chuyên nghiệp, đủ về số lượng, đạt về chất lượng và đồng bộ về cơ cấu
147
II Những giải pháp lớn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
KH & CN và phát huy hiệu quả sử dụng đội ngũ KH &
CN ở Thành phố Hồ Chí Minh
148
II.1- Xác định đúng mục tiêu phát triển hoạt động KH&CN
ở TP HCM theo yêu cầu của NQ.TW 6 (khóa IX) và Nghị Quyết 20 của Bộ Chính trị Chủ động phát triển nguồn nhân lực để đạt được mục tiêu
148
II.2- Hình thành cơ chế quản lý đảm bảo các tiêu chí :
xuyên suốt, trong suốt, đa dạng và có phản hồi để phát
huy hiệu quả sử dụng đội ngũ KH&CN
150
II.3- Sớm áp dụng phương thức quản lý tri thức (kiến thức)
để phát huy hiệu quả sử dụng đội ngũ KH&CN
153
II.4- Đổi mới cơ chế tổ chức, phân cấp, điều hành thực
hiện hiệu quả các nhiệm vụ KH&CN nhằm phát huy đội ngũ KH&CN trên địa bàn TP
154
II.5- Đổi mới nội dung hoạt động Hội đồng KH&CN TP,
chăm lo phát triển đội ngũ ngang tầm với yêu cầu phát triển TP
155
II.6- Nhanh chóng phát triển công nghệ cao (CNC) – là
môi trường vật chất để nâng cấp đội ngũ KH&CN 156
II.7- Đổi mới chính sách cán bộ KH&CN theo mục tiêu :
nuôi dưỡng và phát triển lòng say mê KH&CN 157
Trang 6dụng đội ngũ phù hợp với thực trạng để đóng góp nhiều hơn cho sự nghiệp phát triển
3 Với đồng chí Giám đốc Sở KH&CN TP HCM 161
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
:
Ý KIẾN ĐÓNG GÓP CỦA CÁC NHÀ KHOA HỌC
Trang 7_
PHẦN MỞ ĐẦU
Đại hội đại biểu Đảng bộ TP HCM lần thứ VII đánh giá : “Sự đóng góp của khoa học-công nghệ cho phát triển thành phố chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có ; sự phối hợp với lực lượng nghiên cứu khoa học của Trung ương trên địa bàn thiếu chặt chẽ, ….” [1]
Phát biểu của đồng chí Bí thư Thành ủy Nguyễn Minh Triết trong buổi họp làm việc với Bộ trưởng Bộ Khoa học-Công nghệ Hoàng Văn Phong ngày 21/4/2003 : “TP HCM là trung tâm của khu vực, có tiềm lực khoa học & công nghệ (KH&CN), nhưng chưa phát huy bài bản nguồn lực này Riêng lĩnh vực nông nghiệp chưa giải quyết thỏa đáng về giống mới và hoạt động công nghệ sinh học gần như là số không Trong các doanh nghiệp, việc đổi mới trang thiết bị còn chậm, phải làm quyết liệt hơn mới đủ sức cạnh tranh hội nhập Thành phố quyết tâm triển khai tốt chương trình đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng những Trung tâm nghiên cứu cơ bản và ứng dụng….” [2]
Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII về phát triển KH&CN từ 1997-2002 và nhiệm vụ hoạt động KH&CN giai đoạn 2002-2005 của UBND TP HCM ngày 11/9/2002 đã ghi rõ : “…ở cấp
TP còn lúng túng chưa thực sự quản lý và sử dụng hết nguồn lực KH&CN như một nguồn lực quan trọng, chưa tìm ra cơ chế khai thác, phối hợp với lực lượng nghiên cứu khoa học của Trung ương trên địa bàn có hiệu quả….” [3]
[1] : Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ TP HCM lần VII, trang 27, tháng 12/2002
[2] : Đào tạo nguồn nhân lực… Báo SGGP 22/4/2003, PV Thu Bình
[3] : Báo cáo số 58/BC-UB, ngày 11/9/2002của UBND TP HCM, PCT TT Nguyễn Thiện Nhân đã ký
Trang 8_
Từ sự nhận định của Đại hội Đại biểu Đảng bộ TP lần thứ VII đến băn khoăn bức xúc của đồng chí Bí thư Thành ủy Nguyễn Minh Triết đã được làm rõ hơn trong báo cáo của UBND TP kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết TW 2, khóa VIII về phát triển KH&CN ở TP HCM từ 1977-2002 có các điểm chung lớn, đó là :
¾ Chưa thực sự quản lý và sử dụng hết nguồn lực khoa học và công nghệ như một nguồn lực quan trọng
¾ Chưa tìm ra cơ chế khai thác phối hợp với lực lượng nghiên cứu khoa học của Trung ương trên địa bàn có hiệu quả
Trang 9_
NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Khảo sát, phản ánh đúng hiện trạng sử dụng nguồn nhân lực KH&CN trên địa bàn TP HCM, từ cơ quan nghiên cứu KH&CN đến doanh nghiệp và ở ruộng đồng thuộc Trung ương và TP quản lý
Phác thảo lên bức tranh chung về thực trạng sử dụng đội ngũ KH&CN
ở TP HCM hiện nay và thử tìm qui luật của dòng chảy chất xám hiện nay trên địa bàn thành phố
Phân tích lý giải thành quả và tồn tại
Tìm nguyên nhân – Luận giải
Đề xuất kiến nghị giải pháp
Trang 10_
PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN ĐỀ TÀI
1 Nghiên cứu xây dựng lý thuyết để làm cơ sở lý luận cần thiết cho việc triển
khai thực hiện đề tài Gồm có :
• Những đặc trưng cần nắm vững của lĩnh vực hoạt động KH&CN
• Trình tự cần tuân thủ và tác động của các “kênh phản hồi” từ thực tiễn sản xuất tiêu thụ để hoạt động KH&CN vừa bảo đảm “tính mới” và
“tính thích nghi” với thị trường mở hiện nay
• Tiêu chí đánh giá hiệu quả của hoạt động KH&CN và đánh giá hiệu quả sử dụng đội ngũ KH&CN
2 Tình hình đội ngũ KH&CN ở Thành phố Hồ Chí Minh (số lượng và chất
lượng)
3 Tập trung khảo sát đánh giá việc sử dụng đội ngũ KH&CN ở các ngành mũi
nhọn ( Công nghệ thông tin , Công nghệ sinh học , Cơ khí – Điện tử – Tự động hóa, Vật liệu mới )
• Nghiên cứu sáng tạo
• Đảm bảo phát triển sản xuất (Công nghiệp và Nông nghiệp )
• Ở lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn đánh giá sự đáp ứng yêu cầu hoạch định chính sách đổi mới
4 Thử tiếp cận bằng phương thức quản lý mới – “QUẢN LÝ TRI THỨC” nhằm
vận dụng đề xuất các giải pháp sử dụng hiệu quả đội ngũ KH&CN ở Thành phố Hồ Chí Minh
5 Tiếp cận với chính sách KH&CN nhằm phát hiện những điều còn bất hợp lý
để kiến nghị sửa đổi
6 Một số vấn đề tâm lý học trong quản lý KH&CN và quản lý đội ngũ
Trang 11_
MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA
¾ Khoa học là gì ?
Ngày nay người ta xem khoa học là một hệ thống các tri thức về thiên nhiên , về xã hội , về tư duy , về các quy luật phát triển khách quan Hệ thống này luôn luôn phát triển và tồn tại theo quy luật
Còn theo định nghĩa của từ điển bách khoa toàn thư : “khoa học là một lĩnh vực hoạt động của con người có chức năng tạo ra và hệ thống hóa về mặt lý thuyết tất cả các tri thức khách quan về thực tiễn ”
¾ Cán bộ KH&CN gồm những ai ?
Cán bộ KH&CN bao gồm :
Những người có học vị , học hàm : tiến sĩ , tiến sĩ khoa học , thạc sĩ , viện
sĩ , giáo sư , phó giáo sư
Nghiên cứu viên , nghiên cứu viên chính , nghiên cứu viên cao cấp
Các chuyên gia thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu khoa học ở các cơ quan nghiên cứu khoa học , các trường Đại học , tại các xí nghiệp , các cơ quan thiết kế
¾ Thế nào là tiến bộ KH&CN ?
Là quá trình thu nhận và tích lũy kiến thức KH&CN về các quy luật phát triển thiên nhiên và xã hội
Là quá trình vật chất hóa các kiến thức đó trong sản xuất công nghiệp , nông nghiệp và đời sống xã hội
Trên cơ sở ứng dụng thành công nó để hoàn thiện lực lượng sản xuất và nâng cao chất lượng đời sống xã hội
¾ Tính mới của một công trình KH&CN ?
Công trình nghiên cứu KH&CN được công nhận là mới chỉ trong trường hợp hoàn toàn không có giải pháp có sẵn đang được kiểm nghiệm trên thực tế để giải quyết hiệu quả vấn đề đó
¾ Ngành công nghệ cao ?
Ngành công nghệ cao phải có những đặc điểm sau :
Chứa đựng những nổ lực quan trọng về nghiên cứu và triển khai
Sản phẩm được đổi mới nhanh chóng
Thúc đẩy được năng lực cạnh tranh và phát triển kinh tế
Trang 12_
¾ Các cấp của tư duy và nhận thức :
- Dữ liệu (donnée) : số liệu thống kê , số liệu , số đo …
- Thông tin (information) : các dữ liệu được xử lý sơ bộ , chuẩn hóa (nguyên liệu đầu vào của máy tính)
- Tri thức (kiến thức) (connaissances) : thông tin được xử lý , tập hợp , có liên hệ nhân quả , các quy luật , nguyên lý …
- Trí thức (intelligence) : tổng hợp tri thức của nhiều lĩnh vực để tạo cơ sở nhận thức đúng đắn
- Trí khôn (sagesse) : là sự tổng hợp trí tuệ với tâm lý , đạo đức , thẩm mỹ , là mức độ cao nhất của tư duy
Hình 1 – Tháp Thông tin
Dữ liệu
Thông tin (nghĩa hẹp)
Tri thức(Kiến thức)
Trí khônTrí thức
Mức độ tinh vi của xử lý thông tin (nghĩa rộng)
Trang 13_
¾ Phân biệt hai nhóm kiến thức :
• Phần mềm (software) : kiến thức được điều chế hóa ( codified ) và lưu trữ bên ngoài não người , thí dụ như trong sách , đĩa CD , ổ cứng máy máy tính ,báo cáo nghiên cứu , tài liệu hướng dẫn kỹ thuật …
• Phần ướt (wetware) : kiến thức lưu trữ trong “ máy tính ướt “ của não người , bao gồm niềm tin , ý tưởng , kỹ năng , tài năng …
Có khi người ta còn dùng khái niệm kiến thức hiện và kiến thức ngầm để làm nổi rõ sự khác nhau về khả năng chuyển giao kiến thức
+ Kiến thức hiện : có thể được biểu hiện trong các tài liệu và do đó được chuyển giao với độ chính xác hợp lý
+ Kiến thức ngầm : nằm ở trong con người Việc chuyển kiến thức từ người có kiến thức đến người cần kiến thức thường không đầy đủ , một phần kiến thức ngầm vẫn còn lại
Từ kiến thức ngầm thành kiến thức hiện là quá trình giải thích duy lý kiến thức ngầm và nói rõ về nó dưới dạng các công trình nghiên cứu được công bố
¾ Đổi mới (innovation) :
Là hoạt động phát triển một yếu tố đã được phát minh thành một yếu tố có lợi về thương mại và được một hệ thống xã hội (doanh nghiệp, xã hội, ) chấp nhận như là một sản phẩm mới, một nguyên liệu mới, công nghệ mới, hoặc là một hình thức tổ chức mới
Trang 14_
PHẦN 1 : NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
I MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CỦA LAO ĐỘNG KHOA HỌC :
Mọi người đều thừa nhận sự phát triển nhanh hay chậm của của mỗi đất nước tùy thuộc rất lớn vào tiềm lực KH&CN của nước đó mạnh hay yếu
Nhưng để biến tiềm lực đó thành hiện thực phục vụ hiệu quả cho sự phát triển kinh tế xã hội lại tùy thuộc rất nhiều vào năng lực quản lý và chính sách KH&CN của mỗi nước Sự lựa chọn đúng đắn phương hướng phát triển KH&CN trong từng thời kỳ ; xác định được độ rộng và chiều sâu cần thiết cho các công trình dự án trọng điểm quốc gia ; sự lập trình vừa sử dụng – khai thác và tái tạo – dự trữ khoa học quốc gia hợp lý để đảm bảo cho sự phát triển bền vững … Các điều đó hoàn toàn gắn chặt với yêu cầu sử dụng hiệu quả đội ngũ KH&CN Làm sao để họ đóng góp ngày càng nhiều hơn cho sự phát triển đất nước , đồng thời lực lượng ấy ngày càng đông đảo hơn với trình độ chất lượng được nâng cao lên ngang tầm với thời đại Đó là tiêu chí để đánh giá việc sử dụng đội ngũ KH&CN có hợp lý không Vì vậy trước tiên cần có sự hiểu thấu đáo các đặc trưng của loại lao động này
Lao động khoa học được quy định bởi một quy trình tuần tự Gồm có :
¾ Lao động nhận thức : là lao động được thể hiện bởi sự tìm tòi , đọc , lĩnh hội các thông tin ( KH&CN và sản xuất ) nhằm tiếp thu nắm vững kiến thức đã có ( trong và ngoài nước )
¾ Lao động sáng tạo : là lao động trí óc biểu hiện bằng việc xử lý , phân tích , chọn lọc , đánh giá có phê phán những thông tin đã nhận được Từ đó hình thành được những ý tưởng KH&CN mới , về xác lập một quy trình công nghệ mới hoặc một sản phẩm mới có giá trị vượt trội Từ đó xác định một cách lôgíc phương pháp tiến hành nghiên cứu , định hình được sản phẩm mới …
¾ Lao động kỹ thuật : là lao động hiện thực hóa kết quả của lao động sáng tạo , được biểu hiện bằng các hành động thiết kế , xây dựng mô hình các sản phẩm mới
¾ Lao động quản lý : xây dựng các luận cứ về kinh tế , marketing , hạch toán giá và giá thành sản phẩm ; so sánh hiệu quả về mặt hiệu quả , về mặt năng suất , phẩm cấp của công nghệ mới…
Lao động KH&CN nói chung và lao động nghiên cứu triển khai nói riêng là lao động trí óc có những đặc điểm quan trọng cần được tôn trọng và phát huy :
Trang 15_
1 Tính không lặp lại và tính thay đổi thường xuyên ( các mục tiêu thiết kế , danh mục công việc …) Vì vậy sự áp dụng có tính “khuôn mẫu “ sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động nghiên cứu của tác giả
2 Tính sáng tạo cá nhân của người lao động được nuôi dưỡng bởi lòng đam mê và sự hứng thú riêng của họ cần được tôn trọng và khích lệ
II TRÌNH TỰ CỦA QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI KH&CN :
Tổ chức hoạt động hiệu quả nghiên cứu và triển khai (R&D) luôn luôn là vấn đề đặc biệt quan trọng trong quản lý KH&CN Nghiên cứu khoa học là quá
trình tạo ra những kiến thức khoa học mới Tính khách quan , tính hiển nhiên
(chứng minh được ) và tính chính xác là những đặc trưng của kết quả nghiên cứu khoa học
Có thể phân chia kết quả nghiên cứu KH&CN ở 2 mức (cấp) độ :
- Nghiên cứu cơ bản : có thể xem là một sự tổng hợp hữu cơ tất cả các kiến
thức về thế giới vật chất hoặc đi vào nhằm giải quyết sâu sắc hơn các vấn đề khoa học nhất định, nhằm làm sáng tỏ những hiện tượng, tính chất và quy luật mới đựơc đề xuất trên cơ sở lôgíc phát triển các phương hướng cụ thể của khoa học, của công trình lý thuyết hoặc thực nghiệm
Nghiên cứu cơ bản có thể là nghiên cứu lý thuyết nhằm tìm kiếm xây dựng
cơ sở khoa học cho các khái niệm mới, lý thuyết mới
Nghiên cứu cơ bản có thể là nghiên cứu thực nghiệm , tìm ra các nguyên tắc thiết kế mới, quy trình công nghệ mới, sử dụng các loại vật liệu mới mà trước đó chưa biết
Trang 16_
Kết quả của nghiên cứu cơ bản là một hệ thống hoàn chỉnh những kiến thức khoa học mới theo một hướng tìm tới được chọn lựa chính xác nhằm giải quyết cho một nhu cầu của thực tiễn Kết quả này được sử dụng trong các giai
đoạn kế tiếp là nghiên cứu ứng dụng và triển khai
Các đòi hỏi khách quan của nghiên cứu cơ bản là :
+ Không có giới hạn chặt chẽ về thời gian
+ Không phải lúc nào cũng có mục tiêu rõ ràng
- Nghiên cứu ứng dụng :
Từ việc tiến hành nghiên cứu cơ bản đi đến nghiên cứu ứng dụng và triển khai nhằm xây dựng công nghệ mới , thiết bị mới , sản phẩm mới , vật liệu mới ,… Và cuối cùng là triển khai ứng dụng rộng rãi vào sản xuất và đời sống xã hội
Đây là cách làm thông dụng nhất
Nghiên cứu ứng dụng hướng vào việc xác định khả năng áp dụng các kết quả của nghiên cứu cơ bản Các công trình nghiên cứu ứng dụng theo đuổi mục đích giải quyết các vấn đề về kỹ thuật , làm sáng tỏ các phương pháp công nghệ mới và xác định các nhiêm vụ cụ thể cho giai đoạn nghiên cứu triển khai
Nghiên cứu ứng dụng thường được kết thúc bằng việc chế tạo không phải chỉ một mẫu máy riêng biệt mà cả một loạt những mẫu máy, thiết bị định hình nhằm tạo triển vọng lựa chọn tối ưu các mẫu máy mới, kỹ thuật mới , đồng thời cho phép đáp ứng tối đa yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
- Nghiên cứu triển khai :
Là giai đoạn kết thúc của quá trình nghiên cứu khoa học – là sự chuyển tiếp đặc thù từ điều kiện phòng thí nghiệm để ra sản xuất đại trà , tức là phải biến được các quy trình thử nghiệm khoa học kỹ thuật thành quy trình công nghệ sản xuất công nghiệp
Với xu thế phát triển công nghệ cao ngày nay các yêu cầu cơ bản mà công nghệ mới tạo ra phải đạt được :
+ Thời gian học hỏi nắm vững công nghệ mới phải ngắn nhất và thời gian sử dụng công nghệ mới phải dài nhất
+ Sản phẩm mới phải đạt chất lượng cao nhất và đảm bảo tối đa mức chi phí thấp nhất
Quá trình nghiên cứu qua nhiều giai đoạn nối tiếp nhau : nghiên cứu cơ bản , nghiên cứu ứng dụng , nghiên cứu triển khai , sản xuất ( chế tạo ) , thương mại
hóa thường được gọi là mô hình tuyến tính hay là mô hình “ống dẫn” (Hình 2)
Trang 17Nhưng quá trình nghiên cứu khoa học phục vụ đổi mới thực ra ngày càng phức tạp Ngày nay mọi người thừa nhận rằng sự nảy sinh quá trình nghiên cứu đổi mới có thể là từ nhiều nguồn khác nhau , đặc biệt là từ những khả năng mới về sản xuất ( chế tạo ) và việc phát hiện các nhu cầu về thương mại Vì vậy việc tiến hành nghiên cứu đổi mới ngoài chu trình cơ bản theo mô hình tuyến tính còn cần bổ sung thêm nhiều dạng khác như : cải tiến sản phẩm đã có theo yêu cầu thị trường , áp dụng công nghệ đã có cho thị trường mới , sử dụng công nghệ mới để phát triển những thị trường hiện có … Quá trình này cần nhiều ngành cùng phối hợp với cơ sở sản xuất , viện nghiên cứu , trường đại học và người tiêu dùng Sự tác động qua lại giữa các loại hình hoạt động như : nghiên cứu khoa học , sáng chế kỹ thuật , triển khai sản phẩm , sản xuất ( chế tạo ) , thương mại hóa … làm tăng hiệu quả hoạt động KH&CN
Người ta gọi đó là mô hình phi tuyến hay là mô hình tương tác (Hình 3)
Nghiên cứu
cơ bản
Nghiên cứu ứng dụng
Nghiên cứu triển khai
Sản xuất (chế tạo)
Thương mại hóa
Trang 18Hình 3 : Mô hình phi tuyến ( tương tác )
( theo S.J.Kline và N Rosenberg )
Đ
P
1 2 3Thiết kế chi tiết , thử nghiệm
Đ
P
1 2 3Thiết kế lại , sản xuất
Đ
P
Phân phối , thị trường
P
Chú thích :
P : phản hồi
PP : phản hồi đặc biệt quan trọng
H : hổ trợ nghiên cứu các lĩnh vực KH&CN
Đ : chuỗi đổi mới trung tâm
Trang 19_
Các giai đoạn đổi mới Các chỉ tiêu nguồn
lực KH&CN
Các chỉ tiêu nguồn
lực KH&CN
Các chỉ tiêu tác động KH&CN
Các chỉ tiêu kết quả KH&CN
Hình 4 : Mô hình liên hệ các chỉ tiêu KH&CN với quá trình R&D và đổi mới
Khối kiến thức
Nghiên cứu
cơ bản Nghiên cứu ứng dụng thực nghiệm Triển khai
Cán bộ R&D
Chi tiêu R&D
nội bộ
R&D bên ngoài
và tư vấn kỹ
kiện có hàm
lượng R&D cao
Ý tưởng , lý thuyết , thăm dò
Thiết kế kỹ thuật
Triển khai công nghiệp (đổi mới)
Truyền bá , sử dụng (bắt chước , cải tiến)
Đặc tính công nghệ lượng và thử nghiệm đổi mới
Sản xuất và thương mại về các sản phẩm và dịch vụ có hàm lượng R&D cao
Chi phí và lợi ích xã hội và đánh giá công nghệ
Công trình khoa học Sáng chế đăng ký
Các chức năng vô hình
Đầu vào và đầu ra
đo được
Trang 20_
Trong những năm gần đây, hoạt động quản lý hoạt động KH&CN ở TP HCM tiếp tục được hoàn thiện theo hướng đa dạng hóa phương thức quản lý theo các mô hình tuyến tính và phi tuyến (Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp hiện đại hóa với chi phí thấp,…gọi tắt là Chương trình 04 ; Chương trình các sản phẩm công nghiệp chủ lực của TP, ) hình thành được nhiều mối liên kết giữa các khâu : nghiên cứu – đào tạo – sử dụng – phát triển nhằm tăng dần hiệu quả các hoạt động KH&CN ở TP HCM
III HIỆU QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ :
Xác định hiệu quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ hoặc nói cụ thể hơn là hiệu quả của nghiên cứu và phát triển ( R&D ) là vấn đề đặc biệt quan trọng trong quản lý KH&CN Điều này dễ hiểu vì khi đầu tư cho R&D , ta cần biết có đáng hay không , kết quả đạt được có tương xứng với đầu tư bỏ ra hay không
Nhưng đây là việc rất khó về cả lý thuyết lẫn thực hành Một trong những lý do đó là tính đa dạng và bất định của hoạt động R&D mà chưa có phương pháp chung thỏa đáng cho mọi trường hợp như : nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng , chuyển giao công nghệ ,…ở các trường đại học , viện nghiên cứu , các công
ty , ở cấp quốc gia và ở địa phương …
Khó khăn nhất khi đánh giá hiệu quả của R&D là vấn đề xác định các chỉ tiêu tác động KH&CN Nhiều tác giả đã chia ra 3 nhóm tác động :
+ Đặc tính hàm lượng công nghệ
+ Sản phẩm sản xuất hàm chứa lượng công nghệ cao và giá trị thương mại của các sản phẩm
+ So sánh chi phí và lợi ích của xã hội
Có một vài cách đánh giá hiệu quả R&D đang được nhiều người chú ý :
• Đánh giá hiệu quả đối với loại hình nghiên cứu cơ bản :
¾ Sản lượng khoa học (số lượng kết quả công trình nghiên cứu được công bố) tính theo đầu nhà khoa học và tiền đầu tư cho nghiên cứu
¾ Tác động khoa học tính theo số lượng lần được trích dẫn trong các công trình khác đối với công trình đã công bố
Ví dụ 1 : Sự so sánh hiệu quả nghiên cứu giữa Mỹ , Liên minh Châu Aâu
và Nhật Bản (năm 1991) (xem Bảng 1)
Trang 21_
Bảng 1 : So sánh hiệu quả nghiên cứu và đổi mới giữa Mỹ , Liên minh Châu Aâu và Nhật Bản ( 1991 )
Mỹ Liên minh
Châu Aâu Nhật
• Chi tiêu cho nghiên cứu hàn lâm
• Phần trong sản lượng khoa học
(8) Phần / sản lượng công nghiệp 3,2 2,3 2,7
• Số lượng nhà nghiên cứu và kỹ sư
• Phần các sáng chế đăng ký ở Mỹ
• Phần các sáng chế đăng ký ở châu Âu
• Hiệu quả so sánh
(18) Đối với nhà nghiên cứu (15)/(13) 1,14 0,78 1,01
(19) Đối với đầu tư cho R&D (15)/(10) 1,06 0,74 1,22
Trang 22_
Hiệu quả của nghiên cứu cơ bản được đánh giá theo hai chỉ tiêu :
¾ Sản lượng khoa học ( số công trình nghiên cứu được tính trên chỉ tiêu cho nghiên cứu hàn lâm [(5)/(3)]
¾ Tác động khoa học tính theo số lượng lần được dẫn chứng trong các công trình khác đối với công trình đã được công bố
Theo số liệu bảng (1) số lượng công trình công bố đối với cùng một số tiền bỏ ra nghiên cứu thì Nhật cao hơn Mỹ và Mỹ cao hơn EU ; song về số lượng công trình ( số lần dẫn chứng ) thì Mỹ cao hơn châu Aâu và cả Mỹ và châu Aâu đều cao hơn Nhật
• Đánh giá hiệu quả của loại hình R&D :
- Số lượng patent tính theo số lượng nhà nghiên cứu
[(18) = (15)/(13)]
- Và theo đầu tư cho R&D
[(19) = (15)/(10)]
Ví dụ 2 : Đánh giá hiệu quả R&D của Hàn Quốc
Có 15 tiêu chí được chọn lựa để đánh giá hiệu quả (xem Bảng 2)
Trang 23_
Bảng 2 Sơ đồ đánh giá hiệu quả R&D
Giai đoạn Thứ nguyên đánh giá Tiêu chí đánh giá
ĐẦU VÀO 1 Đầu tư và các phương
tiện R&D ° Đầu tư R&D đủ ° Phương tiện R&D đủ
2 Cán bộ R&D ° Mức độ chuyên nghiệp
° Trình độ kỹ năng
° Cố gắng theo sát kế hoạch
° Nắm bắt thông tin cần thiết
° Mở rộng và đa dạng hóa
các lĩnh vực nghiên cứu
ĐẦU RA 1 Việc đạt mục tiêu ° Mức độ đạt mục tiêu
2 Kết quả trực tiếp của R&D ° Tính có ích của công nghệ đã triển khai
KẾT QUẢ 1 Sự tăng lợi nhuận ° Mức tăng lợi nhuận chờ đợi
2 Cải tiến quản lý ° Tác dụng đối với cải tiến
quản lý chung
Phương pháp sử dụng chuyên gia để đánh giá hiệu quả hoạt động R&D theo 15 tiêu chí trên đang được áp dụng ở Hàn quốc
Đó cũng là căn cứ để tiếp nhận của các Viện chuyển giao công nghệ để tiến hành thương mại hóa công nghệ
Trang 24_
TP HCM hoàn toàn có thể và cần thiết tổ chức đánh giá hiệu quả R&D của một số đề tài, dự án với hệ thống tiêu chí đánh giá phù hợp (vừa học hỏi các chuẩn mực quốc tế, vừa mang tính đặc thù trong nước hiện nay) Từ đó, có thể đánh giá chính xác hơn hoạt động R&D của TP HCM và thông qua đó để đánh giá hiệu quả sử dụng đội ngũ KH&CN trên địa bàn một cách đúng đắn Điều này đặc biệt cần thiết cho việc phát huy hiệu quả sử dụng đội ngũ vì một sự đánh giá quá bi quan hay quá lạc quan đều không giúp ích – nếu không nói là có hại cho sự xây dựng đội ngũ lao động sáng tạo chuyên sâu tài năng cho TP HCM
IV- LÝ THUYẾT TĂNG TRƯỞNG MỚI VÀ SỰ CẦN THIẾT ỨNG DỤNG PHƯƠNG THỨC “QUẢN LÝ TRI THỨC” :
Hệ thống đổi mới (innovation system) bao gồm mạng các trung tâm nghiên cứu , các trường đại học , các đơn vị nghiên cứu chiến lược , các doanh nghiệp thông tin và tri thức , các trung tâm dịch vụ KH&CN …Hệ thống đổi mới này có nhiệm vụ hàng đầu trong nâng cao năng lực cạnh tranh , bằng cách tiếp thu , cặp nhật kho tri thức toàn cầu ; sáng tạo các tri thức mới , bảo đảm kịp thời những đổi mới công nghệ cần thiết trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội của địa phương , doanh nghiệp và quốc gia
Giáo sư J.Stiglitz (Phó Chủ tịch và Trưởng ban kinh tế gia của Ngân hàng thế giới W), giải thưởng Nobel về kinh tế năm 2001, cho rằng : “Ngày nay tri thức và thông tin đang được sản xuất ra tương tự ô tô và thép cách đây 100 năm Những người kiểu Bill Gates , biết cách sản xuất tri thức và thông tin giỏi hơn người để hốt lãi , y như những người cách đây 100 năm biết cách sản xuất ô tô và thép”
Vấn đề là phải phát triển sao cho đủ nội lực để có thể tiếp thu , ứng dụng và phát triển những thông tin , tri thức với công nghệ mà toàn cầu hóa mang đến
1 Khai thác tri thức toàn cầu :
• Thương mại , đầu tư trực tiếp nước ngoài
• Hợp tác , phối hợp nghiên cứu kinh doanh
• Hổ trợ công nghệ , học tập nước ngoài , thuê người nước ngoài , kiều dân
2 Tạo ra tri thức :
• Chi phí cho R&D được tính là một phần quan trọng của GDP
• Chia sẻ chi phí R&D ở khu vực nhà nước và tư nhân
• Phối hợp giữa các công ty , các tổ chức nghiên cứu R&D và các trường đại học
Trang 25_
3 Sử dụng tri thức :
• Hiệu quả sử dụng phụ thuộc vào chi phí và lợi ích sử dụng tri thức
• Phụ thuộc vào đào tạo , kỹ năng và các khả năng khác của con người
4 Quản lý tri thức (QLTT) :
Giữa năm 2001 , tại cuộc họp hằng năm , ban chấp hành tổ chức năng suất châu Á (APO) đã quyết định mạng quản lý tri thức thành một lĩnh vực quan tâm đặc biệt của APO
Ở Mỹ đã có nhiều giáo sư đại học và các hãng lớn như Microsoft , IBM
…đã nghiên cứu và ứng dụng Tiếp sau ở Nhật các trường đại học đã mở các khoa QLTT và thành lập Viện nghiên cứu về QLTT Đến lượt Singapore cũng đã đưa vào áp dụng và đến ngày hôm nay đã có nhiều nơi đã áp dụng QLTT và cho rằng đầu tư cho QLTT là đầu tư đem lại hiệu quả nhất
Theo F.K.Wang và PlasKoff, 2002 : “quản lý tri thức là một năng lực được xây dựng trong quá trình kinh doanh giúp cho công ty sử dụng và bổ sung cái mà nó biết một cách tập thể (tức là cả công ty biết chứ không phải chỉ các cá nhân trong công ty) và phát hiện ra cái mà nó không biết Nó giúp cho việc ra quyết định, giải quyết vấn đề và thực hiện các công việc được nhanh hơn nhằm tăng cường năng suất và đổi mới”
Tóm tắt lại, quản lý tri thức chứa đựng các nội dung sau :
3 Là một năng lực sử dụng kiến thức và sáng tạo kiến thức của một tổ chức (xí nghiệp, doanh nghiệp, công ty, ) hay một địa phương hoặc quốc gia do biết nắm vững những kiến thức hiện có để sử dụng hiệu quả và biết mình thiếu những kiến thức gì cần thiết cho sự phát triển để chủ động tạo ra (thu thập từ ngoài hay tự sáng tạo)
3 Năng lực này phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của một tổ chức hay một địa phương trong tình hình môi trường xung quanh nó không ngừng thay đổi và thay đổi rất nhanh ; đặc biệt do quá trình toàn cầu hóa kinh tế và sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông
Vấn đề này cần được sớm học hỏi và ứng dụng vì ngày nay tri thức đã trở thành nhân tố quan trọng trong hàng đầu của tăng trưởng kinh tế, vượt trên cả các nhân tố cổ truyền của sản xuất là vốn và lao động (hiện đang là xu hướng phát triển của các nước công nghiệp phát triển và cả các nước đang công nghiệp hóa [*]
[*]: Theo thống kê của 500 công ty lớn của Mỹ (năm 2000), cứ 6USD giá trị thị trường thì 5USD phản ánh
các tài sản tri thức (vô hình và trí tuệ), chỉ có 1USD là về các tài sản vật chất và tài chính
Trang 26_
Để khỏi nhằm lẫn giữa quản lý tri thức với quản lý trí thức (quản lý đội
ngũ trí thức, người ta còn dùng khái niệm quản trị tri thức Quản lý tri thức
(QLTT) là một quá trình thu nhận, tổ chức, chia sẻ và sử dụng thông tin tri thức (kiến thức) trong một tổ chức, một địa phương hay một quốc gia QLTT
hiệu quả sẽ tạo ra một động lực thúc đẩy việc sử dụng thông tin và kỹ năng nghề nghiệp một cách có hệ thống nhằm hướng vào hiệu quả , sự sáng tạo , đổi mới và
khả năng phản hồi nhanh chóng QLTT là việc kiểm soát và cấu trúc một cách có hệ thống và hiệu quả một cơ chế cho phép sử dụng đúng người , đúng công việc và đúng thời điểm
Sớm nghiên cứu học hỏi và ứng dụng phương thức quản lý tri thức và sử dụng hiệu quả tri thức sẽ góp phần thúc đẩy công cuộc công nghiệp hóa & hiện đại hóa thành phố Hồ Chí Minh nhanh hơn và tránh được sự lãng phí nhiều nguồn lực
Trang 27_
PHẦN 2 : TÌNH HÌNH ĐỘI NGŨ KHOA HỌC & CÔNG
NGHỆ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
A Số lượng :
Theo số liệu của Cục Thống kê TP (25/5/2001) : trên địa bàn TP HCM có
228.789 người có trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên, trong đó :
Tiến sỹ
(người)
Thạc sỹ (người)
Đại học (người)
Cao đẳng (người)
2.754 4.447 192.029 29.559
Sự phân bổ lực lượng theo ngành nghề (một số ngành nghề chính) :
1 Nông nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt, thủy sản, ) : tổng số 1.328 người, trong đó:
Tiến sỹ
(người)
Thạc sỹ (người)
Đại học (người)
Cao đẳng (người)
Đại học (người)
Cao đẳng (người)
Đại học (người)
Cao đẳng (người)
51 110 10.876 506
Trang 285.1- Nghiên cứu lĩnh vực khoa học tự nhiên : tổng số 1.375 người, trong đó :
Tiến sỹ
(người)
Thạc sỹ (người)
Đại học (người)
Cao đẳng (người)
Đại học (người)
Cao đẳng (người)
Đại học (người)
Cao đẳng (người)
Đại học (người)
Cao đẳng (người)
Đại học (người)
Cao đẳng (người)
16 26 1.096 -
Trang 29Tuy số liệu thống kê chưa thật đầy đủ và chưa được cập nhật nhưng có thể
rút ra các tỷ lệ sau đây :
1 Số người có trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên so với tổng số dân ở TP
HCM (5 triệu) chiếm tỷ lệ 4,6%
2 Số người trực tiếp hoạt động nghiên cứu khoa học chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn
0,8% trên tổng số cán bộ có trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên
3 Số người có khả năng tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học & công nghệ
bao gồm : số cán bộ tham gia hoạt động giảng dạy ở các trường cao đẳng, đại
học (8.482 người) và số cán bộ trong lĩnh vực hoạt động nghiên cứu khoa học
(1.796 người) là 10.278 người, chiếm tỷ lệ 4,5% trên tổng số cán bộ có trình
độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên
4 Số người có trình độ cao đẳng trở lên hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp
gồm chăn nuôi, trồng trọt, thủy sản là 1.328 người, chiếm tỷ lệ 0,6% trên tổng
số cán bộ KH&CN có trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên Lực lượng này
có khả năng tham gia nghiên cứu ứng dụng KH&CN vào sản xuất nông
nghiệp và thủy sản ở TP
5 Số cán bộ có trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên trong lĩnh vực sản xuất
công nghiệp và chế biến là 33.576 người chiếm tỷ lệ 14,7% trong tổng số cán
bộ KH&CN có trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên Lực lượng này có
điều kiện tham gia nghiên cứu ứng dụng KH&CN vào sản xuất công nghiệp
và chế biến ở TP
6 Nếu cộng các mục (3) + (4) + (5) = 45.178 người có trình độ từ cao đẳng trở
lên hoạt động trong các lĩnh vực nghiên cứu KH&CN, giảng dạy ở các trường
cao đẳng, đại học, sản xuất nông nghiệp và thủy sản, sản xuất công nghiệp và
chế biến chiếm tỷ lệ 19,7% trên tổng số cán bộ có trình độ chuyên môn từ cao
đẳng trở lên ở TP HCM
Như vậy, số cán bộ KH&CN có đủ điều kiện cần và đủ để tham gia nghiên
cứu KH&CN phục vụ trực tiếp cho phát triển 2 ngành sản xuất trọng điểm của TP
là công nghiệp và nông nghiệp chiếm tỷ lệ khoảng 20% lực lượng KH&CN ở TP
HCM
Trang 30_
Trên địa bàn Thành phố có 130 đơn vị hoạt động KH&CN Hầu hết các
đơn vị KH&CN lớn đều thuộc Trung Ương quản lý ( chiếm 87,6% số đơn vị và 90% số lao động đang công tác ở các đơn vị hoạt động KH&CN ) ; các đơn vị KH&CN thuộc địa phương quản lý chiếm vị trí rất khiêm tốn
Đó là trở ngại lớn nhất cho hoạt động quản lý KH&CN trên địa bàn vì chưa có cơ chế quản lý nào cho phép Sở KH&CN TP nắm được tình hình hoạt động KH&CN của các đơn vị thuộc Trung ương quản lý đóng trên địa bàn mà chỉ nắm được các hoạt động KH&CN thông qua các đề tài được thành phố đầu tư kinh phí nghiên cứu
Tìm được cơ chế phối hợp hiệu quả trên địa bàn vẫn đang là một bài toán khó Mặc dù lãnh đạo TP trong nhiều năm qua rất quan tâm và tìm kiếm nhiều phương thức mới – ký kết hợp tác với các đơn vị KH&CN lớn như : Đại học Quốc gia – TP HCM, Trung tâm Khoa học Tự nhiên & Công nghệ Quốc gia,… nhưng các quy định về quản lý vĩ mô về đầu tư, về điều hành vẫn tiếp tục đóng băng như cũ nên chưa tạo được mối liên kết hiện có và sự đột phá trong việc khai thác sử dụng đội ngũ KH&CN của các ngành Trung ương trên địa bàn TP
Trang 31_
Bảng 3: Một số đơn vị có nguồn lực KH&CN trên địa bàn TP HCM (*)
Đội ngũ KH&CN có trình độ đại học trở lên
Đơn vị
Học viện Công nghệ Bưu chính
Viện Cơ học Ứng dụng
Viện Kinh tế Tp HCM
Viện KHKT Nông nghiệp
Viện Nghiên cứu Nuôi trồng
Phân viện Công nghệ sau thu
Công ty thuốc thú y TW2
* Khu Chế xuất - Khu Công nghiệp Tp HCM :
- Có 120.000 lao động
- Có trình độ từ cao đẳng trở lên : 5%
- Lao động có trình độ đại học được tuyển chọn có khả năng nắm bắt công nghệ
mới và công nghệ cao tốt được thay thế dần các vị trí của chuyên gia nước
ngoài
(*) : nguồn từ Liên hiệp các Hội KH&KT VN- “Tiềm lực KH&CN VN – Vùng kinh tế trọng điểm”
Trang 32¾ Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng – thống nhất đất nước , lãnh đạo Thành phố ( Thành Uûy và Uûy ban Nhân dân Thành phố ) hết sức chăm lo và trân trọng phát huy đội ngũ KH&CN trên địa bàn , tạo được lòng tin và dấy lên được nhiệt tình lao động sáng tạo của đội ngũ Đội ngũ KH&CN đã có những đóng góp tích cực cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội thành phố trong nhiều năm qua
Mặt hạn chế :
Trước sự phát triển ngày càng nhanh của KH&CN trên toàn thế giới , nhìn lại đội ngũ KH&CN ở thành phố ngày càng biểu lộ rõ những hạn chế cơ bản như :
¾ Chưa “ cập nhật “ được với trình độ phát triển của KH&CN thế giới
¾ Có quá nhiều “ lỗ trống “ của đội ngũ ở các lĩnh vực công nghệ cao
¾ Thiếu rất nhiều cán bộ KH&CN đầu đàn giỏi có đủ năng lực chủ trì các chương trình – dự án trọng điểm mang tính đột phá cho sự phát triển
¾ Và có nhiều biểu hiện “phân tâm” về các chính sách phát triển KH&CN chưa
tương ứng với quan điểm quốc sách hàng đầu của Đảng ; Điều kiện làm việc còn nhiều khó khăn, chậm được cải thiện sự tụt hậu về trình độ của đội ngũ ngày càng rõ rệt ; Xuất hiện ngài càng nhiều những hiện tượng phi trí thức – phi đạo đức (bằng giả, học giả, ) mà suy cho cùng là do chính sách sử dụng người chưa đúng chuẩn mực
Trang 33_
Một số điều minh họa sự tụt hậu :
1 Tình hình sử dụng Internet trên thế giới (số liệu năm 2002 ) (Bảng 4)
2 Sự hiểu biết quá ít ỏi về Công nghệ nanô :
Công nghệ siêu nhỏ mà theo các trường đại học và các nhà khoa học danh tiếng trên thế giới đều nhìn nhận là công nghệ của thế kỷ 21 này Công nghệ nanô – công nghệ siêu vi hình hóa , được đo bằng kích thước nguyên tử , đang được nghiên cứu ở các nước phát triển và sẽ tạo ra bước nhảy vọt mới về công nghệ trong nay mai Chỉ tính riêng trong năm 2003 đã có 3 tỷ euro được chi ra cho các nhà nghiên cứu về công nghệ nanô ; riêng Trung quốc là 200 triệu USD ; Hàn quốc 150 triệu USD
Trang 34_
Một vài ví dụ :
- Các hãng lớn ở Mỹ , Nhật , EU đang nghiên cứu thực tế chế tạo các chip theo cấu trúc điện tử chiều thẳng đứng ( vertical electronics ) ; tức là những mạch điện tử nhiều lớp chồng lên nhau
Intel sẽ sản xuất các chip mà các transitors chỉ còn bằng 70 – 80 nguyên tử theo chiều ngang và 3 lớp nguyên tử theo bề dày ; có thể đảo trạng thái 1.500 tỷ lần trong 1 giây
Còn IBM sẽ chế tạo dãy transitors bằng vi ống carbon ( carbonnanotube ) …
- Vừa qua ( nhân Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc ) các nhà khoa học trung Quốc đã tặng Chủ tịch Giang Trạch Dân một chiếc cravate không bao giờ dơ (có nghĩa không bao giờ phải giặt) được thực hiện theo công nghệ nanô
- Công nghệ nanô sẽ xâm nhập vào các lĩnh vực chế tạo thiết bị, dệt , nhuộm ,
in, y tế (robot nanô hòa tan trong máu sẽ tải thuốc đến ngay chỗ bị bệnh của
cơ thể ngưới để điều trị) và với Mỹ quân sự là mục tiêu ưu tiên từ vải phòng độc đủ kiểu, khoảng 10 năm nữa một người lính mang trên người 2- 2,5 kg khí tài tương đương với khối lượng mà hiện tại phải chở trên 1 xe tải,… Đến nay, Nhật đã tạo được những phân tử carbon mảnh hơn sợi tóc 100.000 lần và sẽ được áp dụng vào kỹ thuật hàng không và thế hệ xe hơi mới chạy bằng hydro sẽ thống lĩnh thị trường
3 Sự tụt hậu của Công nghệ Sinh học Việt Nam :
Hội nghị toàn quốc đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết 18/CP về kế hoạch phát triển Công nghệ Sinh học Việt Nam (CNSH VN) vào tháng 11/2003 đã có những đánh giá về những tồn tại lớn như :
¾ Tuy đã đào tạo được 1.874 kỹ sư, 389 thạc sỹ và 86 tiến sỹ, nhưng về chất lượng có thể nói đội ngũ này khó đạt được độ chuẩn của quốc tế cũng như các nước trong khu vực
¾ Do chương trình đào tạo chưa hợp lý, chấp vá giữa CNSH và công nghệ cơ bản, đội ngũ giảng viên có trình độ còn thiếu và không đồng bộ, đặc biệt thiếu cán bộ đầu đàn trong lĩnh vực công nghệ cao như : sinh học phân tử, kỹ thuật gen, thiết bị công nghệ, Tin-Sinh học
¾ Bộ trưởng Lê Huy Ngọ đã nhấn mạnh rằng Đảng và Chính phủ đã nhận thức được rất sớm tầm quan trọng của CNSH – nhưng nếu muốn làm một chuyện tày đình (tạo một đột phá mạnh) mà chúng ta chỉ đầu tư 5 triệu USD trong 9 năm thì thật là một việc khó
Trang 35_
¾ Và Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã phải 3 lần nhận khuyết điểm về việc chỉ đạo chưa đúng tầm, chưa tập trung nguồn lực, thời gian tương xứng với các mục tiêu đề ra
Nhưng liệu chúng ta có làm được một việc cách đây hơn 10 năm Cuba đã làm không ? Phidel Castro đã quyết định đầu tư 1 tỷ USD để phát triển CNSH, nhờ đó mà Cuba ngày nay đã trở thành một trong các “cường quốc” về Công nghệ Sinh học (đứng hàng thứ 5 trên thế giới) Mặc dù vậy họ cũng chỉ mới được khoảng 10% kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất
4 Để có đội ngũ KH&CN giỏi cần có 2 yếu tố cơ bản là được “dạy tốt và
học giỏi”, thì dường như chúng ta đang ở thực trạng “ dạy chưa tốt và học chưa giỏi”
Kết quả khảo sát của đề tài về thực trạng đào tạo và sử dụng kỹ sư Công nghệ thực phẩm – một ngành kinh tế chủ lực của TP HCM :
- Đối tượng khảo sát :
• 144 sinh viên tốt nghiệp Đại học Bách khoa TP HCM trong các năm
2000-2003
• 217 sinh viên tốt nghiệp trường Cao đẳng kỹ nghệ trong các năm 2000-2003
• 72 kỹ sư thực phẩm hiện đang làm việc tại các công ty, cơ quan, xí nghiệp ngành công nghệ thực phẩm
- Nhận xét đánh giá :
• Về giảng dạy :
o Nhìn chung phương pháp giảng dạy hiện nay còn ít thay đổi, ít sử dụng phương pháp mới (thảo luận tình huống, sử dụng phương tiện mới)
o Thực trạng giảng viên hiện nay ít biến động, số lượng tham gia hoạt động nghiên cứu và sản xuất chưa nhiều nên kiến thức thực tế còn hạn chế, thiếu cập nhật
o Nhiều sinh viên nhận xét các thầy cô còn sử dụng nhiều giáo trình và tài liệu cũ
o Sinh viên có nhu cầu tăng khối lượng thực hành và học seminar
• Về học tập :
Phải học thêm : 93% đại học ; 55% cao đẳng
o Ngoại ngữ : 79,5% đại học ; 39% cao đẳng
o Tin học : 70% đại học ; 29% cao đẳng
o Quản trị kinh doanh : 5% đại học ; 0% cao đẳng
Trang 36_
• Ra trường :
3 Sinh viên có việc làm sớm : dưới 1 tháng 30% đại học ; 22% cao đẳng
Phần lớn, sinh viên có việc làm sớm là đã được chuẩn bị xin việc làm trong
thời gian học
3 Sinh viên có việc làm sau 5 tháng : 33% đại học ; 57% cao đẳng
3 Tỷ lệ làm việc trái ngành nghề đào tạo : 33% đại học ; 57% cao đẳng
Hạn chế về trình độ chưa được trang bị và tiếp cận với công nghệ cao, nên
rất bỡ ngỡ khi vào làm việc ở các xí nghiệp lớn và cũng thiếu các kiến thức cần
thiết để khởi nghiệp với một doanh nghiệp nhỏ
Thông tin từ Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục : chỉ số chất lượng
giáo dục Việt Nam chỉ đạt 3,79 trên thang điểm 10, thua kém nhiều so với các
nước và vùng lãnh thổ ở châu Á
CHỈ SỐ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC MỘT SỐ NƯỚC
VÀ VÙNG LÃNH THỔ Ở CHÂU Á
Bảng 5:
Tên nước Chỉ số tổng hợp về
chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực
Sự thành thạo về tiếng Anh Sự thành thạo công nghệ cao
Trang 37_
• Có một chuyên gia giáo dục quốc tế nói : “Việt Nam muốn phát triển nhanh thì phải học lại cách học và cách dạy theo hướng tích cực, chủ động và sáng tạo từ người học và người dạy”
Đặc điểm cơ bản của dạy và học ở Đại học là sự giao lưu trí tuệ, sự đối thoại giữa thầy và trò, giữa cái đã biết và cái chưa biết, cái khẳng định và cái hoài nghi Phải tạo cho sinh viên giàu tính tưởng tượng, hứng thú khi nghe thầy giảng, tránh sự truyền đạt kiến thức một chiều, độc thoại,…
• Giáo sư Hoàng Tụy phát biểu :
“ Trong gần 5.000 tiến sỹ của ta có lẽ chỉ trên vài nghìn là đúng chuẩn mực , còn lại chỉ ở trình độ thạc sỹ , có khi còn thấp hơn “
“Việc tuyển chọn GS , PGS cho các trường đại học là các chuyện cực kỳ hệ trọng , vì ảnh hưởng lâu dài đến chất lượng đào tạo và mọi mặt khác của đại học Vì vậy nên khiêm tốn học kinh nghiệm của các nước đã đi trước ta hàng trăm năm , đừng tự ý sáng tạo những cách riêng để rồi đầu Ngô mình Sở , cuối cùng công việc ì ạch , hàng chục năm mới sửa sai được “ [1]
5 Chất lượng của cán bộ nghiên cứu-triển khai (R&D) :
Đánh giá chất lượng cán bộ KH&CN (R&D) cần phải được chuyển thành vấn đề đánh giá các kết quả nghiên cứu của họ Không đánh giá các kết quả nghiên cứu thì sẽ không chỉ là không thể đánh giá được cán bộ nghiên cứu mà toàn bộ công tác nghiên cứu sẽ trở thành vô nghĩa Không đánh giá được các kết quả nghiên cứu thì càng không thể nói đến việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu bởi vì có ai lại dại dột bỏ ra những khoản tiền đầu tư lớn để thương mại hóa một kết quả nghiên cứu chưa được đánh giá hoặc sự đánh giá là rất đáng
hoài nghi
Nói tóm lại : Cần đánh giá cán bộ KH&CN (R&D) thông qua việc đánh
giá các kết quả nghiên cứu của họ Đặc biệt là kết quả trong thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu đó
Vấn đề này cho đến nay vẫn chưa được xem xét và giải quyết một cách
thích hợp Cần phải rà soát lại tất cả các quy định đã có về vấn đề này , xây dựng các quy định mới được cộng đồng nghiên cứu đánh giá là thích hợp và thực hiện các quy định đó một cách nghiêm túc Các quy định cần bao gồm các khâu từ lựa chọn chủ đề nghiên cứu, lựa chọn chủ nhiệm đề tài , hợp đồng nghiên cứu, thành lập hội đồng giám định-nghiệm thu cho đến việc công bố các kết quả thực hiện đề tài và kiểm tra việc thực hiện
Trang 38¾ Tình trạng của chúng ta hiện nay phần lớn là tìm cách du nhập, bắt chước và bản địa hóa các công nghệ đã có ở các nước tiên tiến chứ chưa đạt đến trình độ sáng tạo ra công nghệ mới
¾ Ở các nước tiên tiến, những nhà khoa học giỏi thường không giữ chức vụ quản lý mà vẫn được tạo điều kiện để đi sâu vào nghề nghiệp Chuyện này khó thấy ở ta khiến cho việc tiến thân theo các bậc thang quan trường gần như trở thành lối đi độc đạo Sự nhọc nhằng giữa hai nghề quản lý và khoa học giằng xé các Giám đốc và Viện trưởng Rốt cuộc, quản lý không giỏi giang mà nghề làm khoa học thì ngày càng bị thui chột [2]
[1] : Bài : “Mọi hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học đều cần hướng theo chuẩn mực quốc tế”, Tia Sáng số 10, tháng 6/2003
[2] : Bài : “Chuẩn mực nghề nghiệp cần được tôn vinh” , trang 226 – Một góc nhìn của Trí thức, Tập 2
Trang 39_
6 Đơn đăng ký và bằng sáng chế được cấp từ năm 1981 – 2001 ở Việt Nam
chiếm tỷ lệ thấp :
♦ Sáng chế :
) Số đơn đăng ký sáng chế từ 1981 – 2001 :
Số đơn Sáng chế Năm
Của người Việt Nam Của người nước ngoài Tổng số
1992 - 2002
Của VN (4%) Của NN (96%)
0 200 400 600 800 1000
1200
1400
1988 1990 1992 1994 1996 1998 2000 2002
Tương quan số đơn sáng chế của người VN và người nước ngoài (NN)
Số đơn sáng chế của người nước ngoài
Số đơn sáng chế của người
VN
Trang 40Của người nước ngoài
Của người Việt Nam