CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐTTTNN TẠI TP.HCM TRONG THỜI
2.4 Kết quả và hiệu quả vốn FDI trên địa bàn TP.HCM : 42
2.4.4 Hiệu quả hoạt động đầu tư 47
Trong số các dự án còn hiệu lực , số doanh nghiệp chính thức đi vào hoạt động là 537 doanh nghiệp. Qua hoạt động kinh doanh, sản xuất và dịch vụ tình hình doanh thu tăng dần qua các năm : năm 1994 đạt 583 triệu USD, năm 1995 đạt 1.038 triệu
USD tăng 78 % so năm 1994, năm 1996 đạt 1.500 triệu USD tăng 45%, năm 1997 đạt 1.859 triệu USD, năm 1998 đạt thấp 909 triệu USD, năm 1999 1.885 triệu USD tăng gấp 2 lần so năm 1998, năm 2000 đạt 2.230 triệu USD tăng 18,3% so năm 1999.
Sau khi trừ đi tổng chi phí, lợi nhuận của các doanh nghiệp đang hoạt động cũng đang tăng lên qua các năm 1995 tăng 2,4 lần so năm 1994; năm 1996 gấp 1,3 lần so naờm 1995, naờm 1997 gaỏp 1,4 laàn so naờm 1996 ; naờm 1998 taờng nheù chổ gaỏp 1,1 laàn so naờm 1997; naờm 1999 cuừng taờng tửụng ủửụng 1,1 laàn so naờm 1998; naờm 2000 taờng nheù gaáp 1,42 laàn so naêm 1999.
Năm 1999 số doanh nghiệp liên doanh lãi chiếm 74,7%, 100% vốn nước ngoài lãi chiếm 25,3 %. Năm 2000 số doanh nghiệp liên doanh lãi chiếm 64,9 %, 100% vốn nước ngoài chiếm 35,1%. Cụ thể phân chia các ngành được thể hiện qua bảng sau (bảng 22): Qua đó, ta thấy tỷ lệ lãi của Doanh nghiệp liên doanh năm 2000 giảm so năm 1999 và doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài năm 2000 tăng so với năm 1999.
Chứng tỏ, hoạt động của các doanh nghiệp có vốn 100% nước ngoài làm ăn có hiệu quả hơn so với các doanh nghiệp liên doanh . Đây cũng là điều mà các quan chức Nhà nước Việt Nam phải suy nghĩ có biện pháp hỗ trợ và tạo điều kiện như thế nào đối với các doanh nghiệp liên doanh.
Bảng 22 : Tình hình lãi lỗ của Doanh nghiệp FDI phân theo các ngành : Năm Hình thức Tỷ lệ % Công
nghieọp
Ngân hàng Dịch vụ
ẹũa oỏc Lãi
1999 Lieân doanh 74,7 79,7 1,4 17,6 1,4
100% voán NN 25,3 20 48 32 -
2000 Lieân doanh 64,9 72,8 1,2 22,2 3,7
100% voán NN 35,1 58,8 23,5 17,6 -
Loã
1999 Lieân doanh 69 60,5 0,5 26,0 13,0
100% voán NN 31 68,7 1,2 28,9 1,2
2000 Lieân doanh 78,2 62,8 5,0 19,3 12,9
100% voán NN 21,8 53,8 2,6 41,0 2,6
Nguồn : tính toán từ Cục thuế TP.HCM, Sở KH &ĐT
Mặc khác, số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thua lỗ đang gia tăng, năm 1995 có 188 doanh nghiệp, năm 1996 : 237, năm 1997 : 296, năm 1998: 180, năm 1999 :288 , naờm 2000 :292 ( xem phuù luùc 2)
Tình hình thua lỗ không chỉ là vấn đề của các nhà đầu tư nước ngoài, cũng không chỉ có ảnh hưởng tiêu cực đối với nguồn thu ngân sách, mà còn là vấn đề phải xem xét vì hầu hết các đối tác các liên doanh bị lỗ là doanh nghiệp nhà nước.
Năm 1999 các doanh nghiệp lỗ thì doanh nghiệp liên doanh chiếm 69%, doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài chiếm 31 % so với doanh nghiệp lỗ (xem bảng 22).
Trong năm 2000 các doanh nghiệp lỗ thì doanh nghiệp liên doanh chiếm 78,2%, Doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài chiếm 21,8 % (xem bảng 22).
Qua đú, ta thấy tỷ lệ doanh nghiờùp liờn doanh lỗ nhiều hơn cỏc doanh nghiệp cú vốn đầu tư nước ngoài, năm 2000 tỷ lệ này tăng khoảng 9,2%, tỷ lệ lỗ của ngành công nghiệp, dịch vụ tăng, nhưng lỗ ngành dịch vụ giảm. Còn doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tỷ lệ lỗ năm 2000 giảm khoảng 9,2% , tỷ lệ lỗ của ngành công nghiệp giảm, nhưng ngành dịch vụ, ngân hàng và địa ốc tăng lên.
Điển hình : Công ty làm ăn có lãi như : Habour View Tower thuộc công ty liên doanh Vietcombank –Bonday với tổng vốn đầu tư hơn 10,652 triệu USD, vốn pháp định 3,3 triệu USD, trong đó Việt Nam góp 20% ( gồm Resco và Vietcombank) và Bonday investment Ltd góp 80%. Doanh thu thuần từ việc cho thuê văn phòng và các dịch vụ khác trong năm 2000 đạt gần 22 triệu USD. Đến nay công ty liên doanh luôn trả đủ toàn bộ lãi vay hàng tháng các khoản lãi vay, có tích luỹ để thực hiện hoàn trả nợ gốc. Trong 3 năm 1998, 1999, 2000 đã trả nợ gốc hơn 2 triệu USD, các quan chức công ty cho biết với doanh thu kinh doanh hiện tại và dự báo khả năng sắp tới, công ty không gặp khó khăn trong việc trả vốn vay và hoàn vốn đầu tư. Tuy nhiên, thời gian hoàn vốn của dự án sẽ kéo dài do giá thuê văn phòng giảm. Năm 2000 lợi nhuận thuần đạt gần 4 triệu USD, nhưng theo thông tư Bộ tài chính số 101/2000/BTC ngày 17/10/2000, các công ty liên doanh được phép đưa khoãn chênh lệch tỷ giá hối đoái giữa VND và USD của khoản vốn vay vào chi phí hoạt động của doanh nghiệp , nên giảm lợi nhuận sau thuế còn lãi hơn 1,854 tỷ VND. Công ty cũng đã vay được 1 triệu USD của Vietcombank với lãi suất 6,5% để trả nợ ngân hàng nước ngoài (trước đây vay 8,5%) nhằm giảm chi phí hoạt động. Theo tính toán liên doanh sẽ hoàn vốn đầu tư khoảng 3-4 năm tới.
Bên canh đó, doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả như : Cao ốc Indochine là công ty liên doanh có tổng vốn đầu tư hơn 16, 742 triệu USD, vốn pháp định : 5,146
triệu USD trong đó Việt Nam (công ty xây dựng và phát triển nhà quận 3 thuộc Resco) góp 30% và công ty Af investment LTD góp 70%, hoạt dộng từ tháng 3/1999 nhưng thực tế đã hoạt động từng phần từ tháng 8 năm 1998. Năm 2000 doanh thu kinh doanh chính đạt trên 22 tỷ VND và các khoản thu từ hoạt động tài chính 6 tỷ VND, nhưng tổng chi phí cho các hoạt động của liên doanh trong năm đã lên tới 50 tỷ VND, công ty bị lỗ hơn 22 tỷ VND. Nguyên nhân lỗ do cơ cấu vốn vay quá lớn trên 11,596 triệu USD với lãi suất cao , nên trả lãi vượt quá năng lực , trong khi đó năng suất thuê phòng thấp, thực tế giá cho thuê chỉ bằng 50% giá thuê ban đầu đưa ra, lợi nhuận giảm, tổ chức quản lý chưa hợp lý. Đưa ra phương án bán phần vốn góp cho nước ngoài, chuyển sang cho nước ngoài thuê đất, giải thể liên doanh, là vấn đề các ban ngành đang xem xét.
2.4.5 Kết quả nộp ngân sách :
Đóng góp của khu vực FDI vào GDP của thành phố :
Năm 2000 thu 1005 triệu USD chiếm 22,36 % trong việc đóng góp tăng trưởng GDP bằng 79,20% so năm 1999, giảm 19,28% so năm 1998, giảm 24,15% so năm 1997. Việc đóng góp của khu vực FDI vào GDP của thành phố giảm dần qua các năm.
Bảng số 23 :Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế : ĐVT : %
Khu vực 1990 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Quoác doanh 55,8 48,9 47,4 46,8 49,0 43,4 45,9
Daân doanh 42,9 40,0 38,6 37,6 33,7 38,4 35,5
Voỏn ẹTNN 1,3 11,1 14,0 15,6 17,4 18,2 18,6
Nguồn : Sở KH & ĐT
Tình hình thu ngân sách của các đơn vị có vốn FDI trên địa bàn qua các năm (số liệu này không kể thuế xuất nhập khẩu) :
Năm 2000 thu 122 triệu USD đạt 2,26% cơ cấu thu trong GDP tăng 18,54% so năm 1999, đạt 94,32% so năm 1998, và giảm 15,08% so năm 1997.
Các khoản thuế nộp ngân sách :
Việc thu các loại thuế trên địa bàn TP.HCM Năm 2000 tổng số tiền thu thuế:
161.560.000 USD đạt 104,8% so với kế hoạch, tăng 17,13 % so với năm 1999, giảm 5.2% so với năm 1998, và giảm 12,06% so với năm 1997. Qua tình hình thu thuế ta thấy tỷ lệ thu thuế hàng năm giảm, năm 2000 có tăng lên. Trong 8 tháng đầu năm 2001 số tiền thu thuế đạt 162.221.000 USD cho thấy tình hình thu thuế khả quan hơn.
Được thể hiện qua bảng sau (bảng 24)
Bảng số 24 : Tình hình thu thuế trên địa bàn TP.HCM
ẹụn vũ tớnh : 1.000 USD
Naêm Thueá DT Thueá LT
Thueá TTẹB
Thueâ đất
Thueá CLNRNN
Thuế và thu khác
Toồng cộng thu
1997 59.107 20.974 54.202 5.332 1.344 42.758 183.717
1998 52.313 19.777 48.739 4.469 1.337 43.770 170.405
1999 46.715 7.809 38.628 3.634 1.139 40.005 137.930
2000 59.796 3.590 44.416 3.225 2.790 47.743 161.560
8T/01 48.668 1.122 32.252 1.508 1.381 77.290 162.221
Cộng 266.599 53.272 218.237 18.168 7.991 251.566 815.833
Nguoàn Cuùc thueỏ TP.HCM
Thueá doanh thu :
Năm 2000 chiếm 37,01% trong tổng số thuế thu, các năm gần đây có nhiều dự án lớn đi vào hoạt động, mang lại doanh thu khá cao tập trung vào ngành công nghiệp chế biến, nhà hàng … do đó số thu ngân sách vào lĩnh vực này cũng tăng lên so với các ngành khác.
Thuế lợi tức :
Năm 2000 thu 3.590 USD đạt 2,2% trong tổng số thuế thu giảm chỉ bằng 45,97% so năm 1999, bằng 18,15% so năm 1998 và trong 8 tháng đầu năm 2001 bằng 31,25% so năm 2000 . Qua tình hình trên cho thấy tỷ lệ thu thuế lợi tức hàng năm giảm một cách đáng kể.
Tiền thuê mặt đất và nước :
Hiện nay, thành phố còn tồn đọng tiền thuê mặt đất, mặt nước được tính từ ngày xí nghiệp được cấp phép sử dụng số đất. Trong năm 2000 số tiền thu được 3.225USD đạt 2% so với tổng thuế thu , bằng 88,75% so năm 1999, bằng 72,16% so năm 1998, bằng 60,48% năm 1997. Trong 8 tháng đầu năm 2001 thu được 1.508 USD bằng 46,76% so năm 2000. Qua việc thu tiền thuê đất trên cho thấy qua các năm giảm dần, thực tế các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã nhận bàn giao đất , xây dựng cơ bản và đưa vào kinh doanh nhưng chưa có giấy chứng nhận sử dụng đất do cơ quan chức năng cấp. Cho nên cơ quan thuế không có căn cứ để tiến hành thu thuế đất, mặt nước, mà chỉ dựa trên thời điểm bàn giao đất.
Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài :
Năm 2000 mức thu thuế này rất cao 2.790 USD tăng gấp 2,45 lần so với năm 1999 thu 1.139 USD, gấp 2,09 lần so với năm 1998 thu 1.336 USD và gấp 2,08 lần so
với năm 1997 thu 1.344 USD. Trong 8 tháng năm 2001 thu được 1.381 USD bằng 49,5o% so với năm 2000. Tuy nhiên, tỷ trọng đóng góp vào ngân sách rất ít khoản 1%, không đáng kể. Quy định của Luật đầu tư nước ngoài hiện nay có 3 mức 3%,5%, 7%.
Tức là khi chuyển lợi nhuận ra nước ngoài phải nộp thuế 3%, 5%, 7% tuỳ theo trường hợp đối với nhà đầu tư nước ngoài góp vốn pháp định hoặc vốn để hợp doanh. Thực tế, họ không chuyển lợi nhuận ra nước ngoài mà họ chuyển vào tài khoản bên nước ngoài mở tại chi nhánh ngân hàng ở Việt Nam. Các nước trên thế giới không áp dụng loại thuế này, đã có kiến nghị và cũng đang sửa đổi, tuy nhiên hiện nay ta vẫn thu loại thuế này.
Về thuế chuyển nhượng đối tác và chuyển nhượng vốn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài :
Hiện nay, khuynh hướng chuyển nhượng đối tác và chuyển nhượng góp vốn đang tăng, nhưng cơ quan thuế chỉ nhận được thông tin chuyển đối tác và chuyển phần vốn góp từ phía đối tác mới, do đó không đảm bảo kịp thời việc thu thuế theo quy định.
Về thuế thu nhập cá nhân của người nước ngoài :
Việc tiến hành thu thuế thu nhập của người lao động nước ngoài theo pháp lệnh thu thuế thu nhập, tỷ lệ khoản thu thuế này chiếm tỷ trọng nhỏ so với tổng ngân sách.
Hiện nay, việc thu thuế chỉ dựa trên mức khai báo, chưa có điều kiện kiểm tra tính chính xác , trung thực, nên không tránh khỏi việc trốn thuế.
Năm 2000 thu tăng 27,15% so năm 1999, 8 tháng đầu năm 2001 bằng 101,43% so năm 2000. Tình hình thu thuế thu nhập có tăng nhưng không đáng kể. Mức thuế thu nhập đã có sửa đổi giảm mức đóng thuế thu nhập tối thiểu có lợi cho người lao động nước ngoài, bắt đầu có hiệu lực từ 01/7/2001 đây cũng là điều khích lệ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Nhìn chung, tình hình thu thuế đầu tư nước ngoài tại thành phố trong những năm gần đây có tăng, nhưng không đáng kể so với các dự án đi vào hoạt động ngày càng tăng. Tuy nhiên, nếu tổ chức quản lý tốt các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thì việc thu thuế sẽ đạt cao hơn.