Các chính sách chi phối hoạt động FDI tại TP.HCM : 39

Một phần của tài liệu Đánh Giá Hiệu Quả Hoạt Động FDI trên Địa Bàn TP.Hồ Chí Minh và Các Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài (Trang 43 - 46)

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐTTTNN TẠI TP.HCM TRONG THỜI

2.2 Tình hình thu hút vốn ĐTTTNN tại TP.HCM trong thời gian qua 21

2.3.1 Các chính sách chi phối hoạt động FDI tại TP.HCM : 39

Luật ĐTNN sửa đổi tại Việt Nam năm 1996 được ban hành nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý và cải thiện môi trường đầu tư để thu hút vốn FDI với số lượng và chất lượng cao. Qua các lần sửa đổi, bổ sung, Luật ĐTNN tại Việt Nam năm 1996 đã được ban hành có tính pháp lý cao hơn hẳn so với Luật ĐTNN trước đó, thể hiện sự trong sáng, rõ ràng, nhất quán của luật.

Để đối phó với những tác động ngày càng sâu rộng của cuộc khủng hoảng đối với hoạt động FDI ở Việt Nam, chính phủ đã ban hành Nghị định số 10/1998/NĐ-CP

ngày 23/01/1998 về một số biện pháp khuyến khích và đảm bảo hoạt động FDI tại Việt Nam để giải quyết các vấn đề liên quan đến thủ tục triển khai dự án, cách đánh thuế xuất nhập khẩu, thuế lợi tức, cụ thể hoá những ngành, những vùng ưu tiên, ưu đãi đầu tư,v.v….

Chỉ thị 11/1998/CT-TTG 16/3/1998 đã chỉ đạo cho tất cả các Bộ, Ngành liên quan đến đầu tư nước ngoài nhanh chóng rà soát, đơn giản hóa và cải tiến các thủ tục hành chính.

Văn bản 865/CP-ĐP1 28/7/1998 của chính phủ mở thêm một số thuận lợi cho nhà đầu tư như : không quy định tỷ lệ vốn pháp định của bên Việt Nam trong liên doanh, được điều chỉnh tỷ lệ xuất khẩu nếu gặp khó khăn về thị trường, cho phép Uỷ Ban Nhân Dân Thành Phố điều chỉnh giấy phép đầu tư có mức vốn được phân cấp.

Hai quyết định của bộ Tài Chính góp phần giảm bớt chi phí cho doanh nghiệp làm phấn khởi cho các nhà đầu tư là quyết định 179/1998/QĐ-BTC ngày 24/2/1998 ban hành giá mới về tiền thuê đất, mặt nước , mặt biển và văn bản 2037/TC/TCT ngày 05/6/1998 xác định doanh nghiệp thuê nhà xưởng, văn phòng không phải trả tiền thuê đất.

Quyết định số 0627/1998/QĐ- BTM ngày 13/6/1998 của Bộ Thương Mại uỷ quyền cho Thành phố xét duyệt kế hoạch và quản lý xuất nhập khẩu.

Ngày 26/3/1999 Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 53/1999/QĐ- TTg về một số biện pháp khuyến khích FDI nhằm khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho hoạt động FDI tại Việt Nam bằng cách giảm giá một số hàng hóa và dịch vụ công cộng như giá điện, nước, cước viễn thông, giảm một số phí và lệ phí, cho phép sử dụng tiền đồng Việt Nam (VND) để quy định các loại giá, phí và lệ phí, để trả lương cho lao động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp FDI… Gần đây nhằm tạo cho môi trường đầu tư thông thoáng hơn, kỳ họp thứ hai Quốc hội khoá X đã thông qua Luật ĐTNN được sửa đổi bổ sung tháng 6/2000 nhằm tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc, giảm thiểu rủi ro trong các hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; mở rộng quyền tự chủ trong quản lý, kinh doanh, xoá bỏ sự can thiệp không cần thiết của Nhà nước, tạo mặt bằng pháp lý về tổ chức quản lý cho cả doanh nghiệp trong và ngoài nước phù hợp với thông lệ quốc tế; miễn thuế thu nhập, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài và quy định về chuyển lỗ.

Nhằm chống hiện tượng chuyển giá tại các doanh nghiệp FDI Bộ tài chính và Tổng cục Thuế đã ban hành các thông tư 74/TC/TCT, 89/1999/TT-BTC, và sau cùng là thông tư số 13/2001/TT-BTC có hiệu lực 23/01/2001 nêu các doanh nghiệp FDI không được phân bổ chi phí quản lý của công ty mẹ ở nước ngoài.

Theo Nghị định 24/CP hướng dẫn thực hiện Luật đầu tư nước ngoài của Chính phủ ký 31/7/2000 các dự án đầu tư nước ngoài được xác định rõ về quy hoạch, có vốn đầu tư dưới 5 triệu USD, tỷ lệ xuất khẩu từ 80% trở lên và không thuộc diện phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường nhà đầu tư nộp hồ sơ đăng ký, sẽ được cấp pheùp.

2.3.1.2 Các chính sách của Thành phố đối với hoạt động FDI tại thành phố Hoà Chí Minh :

Đến cuối năm 1995, UBNDTP luôn đảm bảo ban hành đầy đủ các chính sách, quy định và hướng dẫn thực hiện của các Bộ ngành liên quan. Ngay cả việc chậm ban hành văn bản pháp quy để hướng dẫn thực hiện của một số Bộ ngành trong năm 1995 khi đã có chính sách của Chính phủ, UBNDTP vẫn có quy định tạm thời để các Sở ngành có hướng giải quyết cho nhà ĐTNN.

Đến giữa năm 2000, cùng với chủ trương khuyến khích FDI của Chính phủ, UBNDTP đã nhanh nhạy hơn trong việc ban hành chính sách, quy định đối với hoạt động FDI nhờ việc sử dụng thông tin trên mạng tin học diện rộng của Chính phủ (có hiệu lực từ 01/4/1998) và việc thực hiện gắn kết chủ trương khuyến khích FDI với cải cách hành chính trên địa bàn thành phố. Tuy nhiên, chính sách về giá cho thuê đất, do tính chất và mức độ phức tạp khi áp dụng trên địa bàn thành phố nên UBNDTP đã chậm ban hành cho đến khi có Quyết định của Bộ Tài chính.

Tất cả văn bản của chính phủ đưa ra, đều được thành phố phổ biến dưới dạng thông tư và gởi cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nghiên cứu, áp dụng.

Chủ tịch UBND TP.HCM ủy quyền cho Giám đốc Sở Kế Hoạch và đầu tư xem xét và ký giấy phép đầu tư cho các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại TP.HCM kể từ ngày 23/01/2001. Sở kế hoạch và đầu tư được cấp phép những dự án có vốn đăng ký từ 5 triệu USD trở xuống với các điều kiện tỷ lệ sản phẩm xuất khẩu ít nhất là 50%

(các sản phẩm công nghiệp phải đảm bảo xuất khẩu ít nhất là 80%); những dự án phi sản xuất phải có sự chấp thuận chủ trương đầu tư bằng văn bản của UBNDTP và những dự án sản xuất có nội dung tương tự với ít nhất ba dự án đã được UDND TP cấp phép trước đây.

Chỉ thị 28/UBND TP. ký ngày 23/10/2001 ban hành những biện pháp cải tiến thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố.

Những dự án do UBND TP. cấp phép thời gian không quá 20 ngày đối với dự án thuộc diện thẩm định cấp phép đầu tư, không quá 10 ngày đối với dự án thuộc diện đăng ký

Một phần của tài liệu Đánh Giá Hiệu Quả Hoạt Động FDI trên Địa Bàn TP.Hồ Chí Minh và Các Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài (Trang 43 - 46)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(75 trang)