1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh đồng nai giai đoạn 2001 2010

71 372 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2000, FDI đã đóng góp đến 26% GDP của Tỉnh, 60% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần đáng kể vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) 4

1.1 - VAI TRÒ CỦA FDI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA MỘT QUỐC GIA 4

1.1.1- Khái niệm và bản chất của FDI 4

1.1.2 - Đặc trưng chủ yếu của FDI 5

1.1.3 -Các hình thức chủ yếu của FDI 6

1.1.4 -Vai trò của FDI trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia 7

1.2 -ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN THU HÚT VỐN FDI 11

1.2.1- Ổn định chính trị – xã hội 11

1.2.2 - Ổn định các chính sách kinh tế vĩ mô 12

1.2.3 -Chính sách khuyến khích và hỗ trợ đầu tư .13

1.2.4 -Môi trường thể chế ổn định………14

1.1.5 -Bảo đảm cơ sở hạ tầng cho phát triển 14

1.3 - KINH NGHIỆM THU HÚT FDI CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG KHU VỰC CHÂU Á .15

1.3.1- Các nền kinh tế đang phát triển 15

1.3.2 Kinh nghiệm thu hút FDI của các nước trong khu vực 15

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT FDI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI TRONG THỜI GIAN QUA 19

2.1- ĐẶC ĐIỂM, TIỀM NĂNG CỦA TỈNH ĐỒNG NAI 19

2.1.1- Khái quát 19

2.1.2- Các tiềm năng, thế mạnh về kinh tế – xã hội 20

Trang 3

2.2- THỰC TRẠNG THU HÚT FDI Ở TỈNH ĐỒNG NAI

TRONG THỜI GIAN QUA 23

2.2.1- Tình hình thu hút FDI ở tỉnh Đồng Nai 23

2.2.2 Tác động của FDI đến sự tăng trưởng và phát Triển kinh tế của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 1996 – 2000 26

2.3- NHỮNG TỒN TẠI TRONG QUÁ TRÌNH THU HÚT FDI Ở TỈNH ĐỒNG NAI 30

2.3.1 Nhữnng tồn tại 30

2.3.2 Nguyên nhân của những tồn tại 32

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC NHẰM THU HÚT FDI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI GIAI ĐOẠN 2001-2010 37

3.1 PHƯƠNG HƯỚNG, QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU THU HÚT FDI Ở TỈNH ĐỒNG NAI GIAI ĐOẠN 2001– 2010 37

3.1.1 Mục tiêu, phương hường .37

3.1.2 Những quan điểm định hướng để đề ra giải pháp thu hút FDI 38

3.2- GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC NHẰM THU HÚT FDI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI GIAI ĐOẠN 2001 – 2010 39

3.2.1 Dự báo những cơ hội, thách thức, mặt mạnh, mặt yếu của tỉnh Đồng Nai trong thu hút FDI giai đoạn 2001 – 2010 .39

3.2.2 Giải pháp hỗ trợ cho việc đẩy mạnh thu hút FDI trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2001 – 2010 40

3.2.3 Giải pháp chiến lược thu hút FDI trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2001 – 2010 45

KẾT LUẬN .56

PHỤ LỤC iii

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO iv

Trang 4

MỞ ĐẦU

1- SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong xu thế toàn cầu hóa đời sống kinh tế như ngày nay thì nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng trở nên phổ biến và có vai trò quan trọng đối với nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển Các quốc gia đang phát triển do xuất phát điểm của nền kinh tế còn thấp, trình độ công nghệ kém, tăng trưởng kinh tế chưa vững nên rất cần vốn đầu tư phát triển Tuy nhiên, không chỉ trông chờ vào nguồn vốn tích lũy trong nước mà phải coi trọng việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là nguồn vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài (FDI) Việc thu hút nguồn vốn FDI được khẳng định là một hướng đi tất yếu trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, mặc dù về lâu dài các quốc gia đều nhận thấy rằng nguồn vốn trong nước vẫn giữ vai trò quyết định Ở Việt Nam, từ khi thực hiện luật đầu tư nước ngoài, việc thu hút đầu tư nước ngoài đã góp phần tích cực đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đến giai đoạn 1996 – 2000, FDI vào Việt Nam có xu hướng chững lại và có biểu hiện sa sút Trong năm 1999 và năm 2000, FDI có tăng, nhưng vẫn còn thấp hơn năm 1996, năm1997

Tác động của FDI cũng biểu hiện khá rõ nét ở Tỉnh Đồng Nai; Là một trong những địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Tỉnh Đồng Nai thu hút khá nhiều vốn FDI Năm 2000, FDI đã đóng góp đến 26% GDP của Tỉnh, 60% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần đáng kể vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, cung cấp nhiều việc làm cho người lao động không chỉ ở Tỉnh mà còn cho các địa phương khác, tạo ra sức cạnh tranh mới, thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước đầu tư đổi mới công nghệ và phương thức quản lý, góp phần đáng kể vào tăng nguồn thu ngân sách nhà nước tại địa phương, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng các nguồn lực kinh tế ở địa phương

Chiến lược phát triển kinh tế của Tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2001 – 2010 là phải tạo nền tảng vững chắc cho công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế ở địa phương, phải đạt tỷ lệ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm giai đoạn 2001 – 2005 đạt 12% trở lên và 11% trở lên trong giai đoạn 2006 – 2010 Cơ cấu kinh tế phải dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng giá trị sản xuất ngành công nghiệp, ngành dịch vụ và giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp trong tổng GDP của Tỉnh, đạt cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp – xây dựng – ngành dịch vụ, thương mại - ngành nông nghiệp với tỷ lệ tương ứng là 50,9% - 38,1% - 11% vào năm 2010 Muốn vậy phải thu hút vốn FDI ít nhất từ 1.5 tỷ USD trở lên cho giai đoạn 2001 – 2005, từ 3 - 4 tỷ USD giai đoạn 2006 – 2010

Trang 5

Trong thời gian tới, nước ta có nhiều thời cơ và thuận lợi từ việc hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, nhưng những khó khăn, thách thức cũng không ít, nhất là sau cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ khu vực, những lợi thế cạnh tranh của nước ta như chí phí nhân công rẽ đang mất dần, việc thu hút FDI gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại Thực tế đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt là cần phải có các giải pháp mang tính chiến lược để thu hút vốn đầu tư để phát triển, thu hút vốn FDI có như vậy mới thực hiện được mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế như đã đề ra, tạo nền tảng cho việc hoàn thành CNH –HĐH vào năm 2020 của Việt Nam nói chung và ở Tỉnh Đồng Nai nói riêng

Xuất phát từ những yêu cầu khách quan nêu trên và tầm quan trọng của nó, tôi

mạnh dạn chọn đề tài “GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC NHẰM THU HÚT ĐẦU TƯ

TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI GIAI ĐOẠN

2001 – 2010” làm luận văn tốt nghiệp cao học kinh tế ngành quản trị kinh doanh năm

2001

2- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Trọng tâm nghiên cứu của đề tài là:

- Tổng hợp các nghiên cứu về hoạt động FDI của các học giả ở Việt Nam và thế giới trên các phương diện như xu hướng vận động, chính sách đối với FDI, tác động của FDI trong sự phát triển nền kinh tế của một quốc gia

- Đánh giá tác động của FDI đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Tỉnh Đồng Nai trong thời gian qua

- Đề xuất các giải pháp mang tính chiến lược nhằm đẩy mạnh việc thu hút đầu

tư trực tiếp nước ngoài vào Tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2001 – 2010

3- PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài mang tính đặc thù của Tỉnh Đồng Nai nhưng có nội dung rộng và liên hệ nhiều vấn đề, vì vậy luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu một số thông số vĩ mô chứ không đi sâu phân tích các dự án cụ thể của các ngành kinh tế, mà chỉ đi sâu nghiên cứu hoạt động đầu tư trong phạm vi địa bàn Tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2001-2010

4- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp được sử dụng trong đề tài nghiên cứu, ngoài nền tảng là phương pháp duy vật biện chứng, còn sử dụng các phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, qui nạp và kết quả nghiên cứu của một số nhà nghiên cứu khác

Trang 6

5 - CẤU TRÚC ĐỀ TÀI

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận án gồm có 3 chương và phụ lục Nội dung chính bao gồm:

Chương 1: Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài (từ trang 1 đến trang 18); Chương 2: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Tỉnh Đồng Nai

trong thời gian qua (từ trang 19 đến trang 36);

Chương 3: Giải pháp chiến lược nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên

địa bàn Tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2001 – 2010 (từ trang 37 đến trang 55)

Trang 7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC

NGOÀI

1.1- VAI TRÒ CỦA FDI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA MỘT QUỐC GIA

1.1.1- Khái niệm và bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trong điều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tế hiện nay, đầu tư nước ngoài (ĐTNN) ngày càng phổ biến, chiếm vị trí, vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của mỗi quốc gia và nền kinh tế toàn cầu ĐTNN được hiểu là sự chuyển dịch vốn đầu

tư từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm đạt được lợi nhuận đối với các chủ đầu tư và đạt được lợi ích kinh tế – xã hội đối với nước tiếp nhận đầu tư

Trên thế giới ngày nay, có rất nhiều quốc gia, nhiều tổ chức tài chính quốc tế, nhiều công ty… đang nắm giữ một lượng vốn rất lớn có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài Khả năng và nhu cầu này càng được phát huy trong thời đại ngày nay - thời đại hội nhập kinh tế thế giới Hoạt động ĐTNN không chỉ diễn ra ở các nước công nghiệp phát triển mà còn diễn ra khá sôi động, phong phú, đa dạng ở các quốc gia đang phát triển

- Đối với các nước phát triển, hoạt động ĐTNN nhằm mục đích khai thác triệt để những lợi thế so sánh của các quốc gia khác để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực kinh tế

- Các nước đang phát triển cũng đã thấy được tiềm năng cung cấp nguồn vốn đầu tư từ các nước phát triển Đây là cơ hội và là điều kiện để các nước đang phát triển thu hút ĐTNN phục vụ cho tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc gia mình

Tuy nhiên, ĐTNN có khả năng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nhưng không phải là yếu tố quyết định cho sự phát triển

ĐTNN có nhiều hình thức phong phú, đa dạng, nhưng có thể khái quát gồm các loại chủ yếu là: Tài trợ phát triển chính thức, đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư gián tiếp, tín dụng thương mại

Tài trợ phát triển chính thức (Officral Development Finance – viết tắt là ODF)

Nguồn vốn này bao gồm: Viện trợ phát triển chính thức (Officral Development Aisststant – viết tắt là ODA ) và các hình thức ODF song phương và đa phương khác ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu trong ODF

Trang 8

Tín dụng thương mại là hình thức mà những ngân hàng thương mại cấp các khoản tín dụng xuất khẩu cho những nước nhập khẩu với tính chất như là biện pháp khuyến khích bán sản phẩm, bằng cách cho phép hoãn thanh toán sản phẩm nhập khẩu trong khoảng thời gian nhất định

Đầu tư gián tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): FDI là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh hoặc dịch vụ cho phép và họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư Vay thương mại với lãi suất cao sẽ dễ trở thành gánh nặng về nợ nước ngoài trong tương lai Đầu tư gián tiếp không trở thành nợ nhưng sự thay đổi đột ngột trong hành động của nhà ĐTNN ảnh hưởng mạnh đến thị trường vốn, tác động tiêu cực đến sự ổn định kinh tế vĩ mô của nước nhận đầu tư Trong khi đó, hình thức FDI hầu như khắc phục được những bất lợi đã nêu; FDI cũng là hình thức đầu tư không trở thành nợ, nhưng không dễ dàng rút vốn trong thời gian ngắn Mặt khác, FDI không chỉ đầu

tư vốn mà thông qua đó còn đầu tư công nghệ và tri thức quản lý, kinh doanh nên có tác động tích cực, thúc đẩy việc hiện đại hoá ngành công nghiệp và phát triển kinh tế FDI luôn tỏ ra là hình thức đầu tư mang lại hiệu quả và phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế toàn cầu

1.1.2- Đặc trưng chủ yếu của FDI

So với các hình thức ĐTNN khác, xét về bản chất, FDI có những đặc trưng chủ yếu sau đây :

- Là hình thức đầu tư chủ yếu trong ĐTNN Nếu ODA và hình thức ĐTNN khác có những hạn chế nhất định, thì FDI lại tỏ ra là hình thức đầu tư có hiệu quả, tạo ra sự chuyển biến về chất lượng trong nền kinh tế, gắn liền với hình thức sản suất trực tiếp, tham gia vào sự phân công lao động quốc tế theo chiều sâu

- FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận đầu tư, mà thông qua FDI, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ chuyển giao kỹ thuật công nghệ cho nước chủ nhà Nhờ đó mà nước chủ nhà tiếp cận được các kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm quản lý và năng lực tiếp thị, đội ngũ lao động được đào tạo và bồi dưỡng về nhiều mặt

- Việc tiếp nhận FDI không làm gia tăng nợ cho nước tiếp nhận đầu tư, trái lại, FDI tạo điều kiện để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực

-Chủ thể của FDI chủ yếu là các công ty đa quốc gia Hiện nay, công ty đa quốc gia nắm giữ khoảng 90% lượng FDI trên thế giới, số còn lại thuộc về chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế khác

-FDI đang và sẽ tăng mạnh trên toàn cầu (xin xem phần phụ lục – biểu 1.1)

Trang 9

Qua số liệu ở đây, cho thấy: Giai đoạn 1990 – 1996, tốc độ tăng trưởng FDI bình quân hàng năm lên đến 32,82% đạt mức đầu tư là 243,8 tỷ USD vào năm 1996, điều này cho thấy FDI là hình thức ĐTNN được ưa chuộng nhất hiện nay, đã trở thành vốn đầu tư cần thiết cho các nền kinh tế, đặc biệt là nền kinh tế chuyển đổi, trong đó có Việt Nam Mặt khác, chính xu hướng tự do hóa và mở cửa của nền kinh tế các nước đang phát triển trong những năm gần đây đã góp phần đáng kể vào sự thay đổi dòng chảy FDI từ các nước công nghiệp phát triển sang các nền kinh tế lân cận

1.1.3- Các hình thức chủ yếu của FDI

FDI thường tồn tại dưới các hình thức sau:

- Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh

Đây là văn bản ký kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước (nước nhận đầu tư) để tiến hành một hay nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhà trên cơ sở qui định về trách nhiệm và phân phối kết quả kinh doanh mà không thành lập mới một công ty, xí nghiệp hay pháp nhân nào

Hình thức này có đặc điểm:

Cả hai bên cùng hợp tác kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồng đã ký kết giữa các bên với sự phân định trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ cụ thể

Vấn đề vốn kinh doanh không nhất thiết phải được đề cập trong hợp đồng

-Hình thức công ty hay xí nghiệp liên doanh

Xí nghiệp hay công ty liên doanh được hình thành với sự tham gia của một (hoặc nhiều) bên của nước nhận đầu tư và nước đầu tư

Đặc điểm của hình thức này là:

Cho ra đời một công ty hay một xí nghiệp mới, với tư cách pháp nhân mới và được thành lập với dạng công ty trách nhiệm hữu hạn

Thời gian hoạt động, cơ cấu tổ chức quản lý của công ty, xí nghiệp liên doanh được quy định trong điều lệ và hợp đồng liên doanh đơc phê chuẩn và phù hợp với luật pháp cụ thể của mỗi nước

Trang 10

Các bên tham gia liên doanh phải có trách nhiệm góp vốn liên doanh, đồng thời phân chia lợi nhuận và phân chia rũi ro theo tỷ lệ vốn góp

- Hình thức công ty 100% vốn nước ngoài

Đây là hình thức của công ty hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức cá nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, tự quản lý và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh

Đặc điểm của các công ty này là :

Được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và là một pháp nhân mới ở nước nhận đầu tư

Hoạt động dưới sự chi phối của luật pháp nước nhận đầu tư

-Các hình thức khác

Đầu tư vào khu chế xuất, khu công nghiệp, thực hiện những hợp đồng xây dựng – vận hành - chuyển giao (Build – Operation – Tranfer : BOT) Thông thường, các dự án BOT thường được chính phủ các nước đang phát triển tạo mọi điều kiện thuận lợi để thực hiện việc nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế

1.1.4- Vai trò của FDI trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia

FDI ít lệ thuộc về quan hệ chính trị giữa hai bên và do bên nước ngoài trực tiếp tham gia quản lý sản xuất, kinh doanh nên mức độ khả thi của dự án khá cao, nhất là trong việc tiếp cận thị trường quốc tế để mở rộng kinh doanh Đồng thời, do quyền lợi gắn chặt với dự án, nên nhà đầu tư quan tâm đến hiệu quả kinh doanh để lựa chọn công nghệ thích hợp, nâng cao trình độ quản lý và tay nghề của công nhân Vai trò của FDI trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế có thể khái quát như sau:

1.1.4.1- Đối với các nước đầu tư

FDI giúp nâng cao hiệu quả sử dụng những lợi thế sản xuất ở nơi tiếp nhận đầu

tư, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư, đồng thời xây dựng được thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định với giá phải chăng Mặt khác, FDI còn là phương tiện để nhà đầu tư mở rộng thị trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước Từ đó, FDI giúp các nước đầu tư có thể bành trướng kinh tế, và nâng cao vị thế trên trường quốc tế

1.1.4.2 - Đối với các nước nhận đầu tư

Các nước nhận đầu tư có thể chia làm 2 dạng là nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển FDI có vai trò quan trọng chung là cùng thúc đẩy sự tăng

Trang 11

trưởng và phát triển các nền kinh tế, nhưng vai trò này được thể hiện cụ thể khác nhau giữa các nền kinh tế

a- Đối với nền kinh tế phát triển

-FDI tác động đến việc giải quyết khó khăn về kinh tế, xã hội như thất nghiệp và lạm phát, Thông qua hình thức FDI, các nhà đầu tư nước ngoài mua lại những công ty, doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản, cải thiện tình hình thanh toán, và tạo việc làm cho người lao động

-FDI còn tạo điều kiện tăng thu ngân sách từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để cải thiện tình trạng bội chi ngân sách

-FDI tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy các doanh nghiệp cải tiến công nghệ, nâng cao trình độ quản lý và trình độ tay nghề của công nhân

b- Đối với nền kinh tế đang phát triển

- FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn ngoại tệ của các nước nhận đầu tư , đặc biệt là các nước kém phát triển

Hầu hết các nước kém phát triển đều rơi vào cái “vòng lẩn quẩn” đó là: thu nhập thấp - tích luỹ thấp - đầu tư thấp - thu nhập thấp Đây chính là điểm “nút” khó khăn nhất mà các nước này phải vượt qua để có thể hội nhập vào sự tăng trưởng kinh tế hiện đại Trở ngại lớn nhất để thực hiện được điều đó đối với các nước kém phát triển đó là vốn đầu tư, kỹ thuật công nghệ và năng lực và kinh nghiệm quản lý Vốn đầu tư là cơ sở để tạo ra công ăn việc làm trong nước, đổi mới công nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động … từ đó tạo tiền đề tăng thu nhập, tăng tích lũy cho sự phát triển kinh tế Do vậy, khi tích luỹ trong nước còn thấp thì vốn nước ngoài sẽ là một

“cú hích” để góp phần đột phá cái “vòng lẩn quẩn” nói trên

Đặc biệt FDI không gây nợ cho nước nhận đầu tư và nước đầu tư chỉ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi công trình đầu tư hoạt động có hiệu quả Hơn nữa, thời hạn trả nợ vốn vay thường cố định và đôi khi quá ngắn so với một số dự án đầu tư, còn thời hạn của FDI thì linh hoạt hơn

Thông qua FDI góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng khả năng xuất khẩu của nước nhận đầu tư, thu một phần lợi nhuận từ các công ty nước ngoài, thu ngoại tệ từ các hoạt động dịch vụ phục vụ cho FDI

- Lợi ích quan trọng mà FDI mang lại đó là kỹ thuật công nghệ tiên tiến, kỹ năng chuyên môn và trình độ quản lý tiên tiến của các nước tiên tiến

Về lâu dài, đây chính là lợi ích căn bản nhất đối với các nước nhận đầu tư FDI có thể thúc đẩy sự đổi mới công nghệ, góp phần tăng năng suất lao động, giảm giá thành của sản phẩm và xuất khẩu, thúc đẩy phát triển các nghề mới, đặc biệt là các

Trang 12

nghề đòi hỏi hàm lượng công nghệ tiên tiến cao Vì thế, nó có tác dụng lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng nhanh

FDI đem lại năng lực và kinh nghiệm quản lý, kinh doanh, kỹ năng và trình độ chuyên môn cho các đối tác trong nước nhận đầu tư thông qua những chương trình đào tạo, huấn luyện hoặc thúc đẩy việc này

- Lợi ích về tạo ra công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho người lao động, từ đó tạo điều kiện tăng tích lũy trong nước nhận đầu tư

FDI ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội tạo ra công ăn việc làm thông qua việc cung cấp việc làm trong các doanh nghiệp có vốn ĐTNN, và trong những tổ chức khác khi các nhà đầu tư nước ngoài mua hàng hóa dịch vụ từ các nhà sản suất trong nước, hoặc thuê họ thông qua những hợp đồng gia công chế biến

- Thông qua FDI, các nước nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế giới Các nước đang phát triển nếu có khả năng sản xuất ở mức chi phí sản xuất và chất lượng có thể cạnh tranh được, thì lại rất khó khăn trong việc thâm nhập vào thị trường nước ngoài Trong khi đó, nhờ hầu hết các hoạt động FDI đều do các công ty

đa quốc gia thực hiện, mà các công ty này lại có lợi thế trong việc tiếp cận với khách hàng bằng những hợp đồng dài hạn dựa trên uy tín của họ về chất lượng, kiểu dáng của sản phẩm và kịp thời hạn,

Như vậy, từ sự phân tích trên, cho thấy rằng việc tiếp nhận FDI là lợi thế rõ nét giúp cho các nước phát triển sau có điều kiện tiếp cận với nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, vốn nước ngoài dù quan trọng đến đâu cũng không thể đóng vai trò quyết định sự phát triển của một quốc gia Mặt khác, FDI cũng có những mặt trái của nó Đây là vấn đề cần được xem xét đầy đủ trong quá trình thu hút FDI Nếu không, lợi ích thu được sẽ không bù lại được những thiệt hại mà nó gây ra, FDI có không ít mặt hạn chế

của nó Các hạn chế có thể được khái quát như sau:

- Chi phí cho việc thu hút FDI khá cao

Để thu hút FDI, nước nhận đầu tư phải áp dụng một số ưu đãi cho các nhà đầu

tư như là: giảm thuế, miễn thuế trong một thời gian khá dài cho phần lớn các dự án ĐTNN Hoặc ưu đãi về tiền thuê đất, nhà xưởng và một số dịch vụ trong nước so với các nhà đầu tư trong nước /hoặc trong một số lĩnh vực họ được nhà nước bảo hộ thuế quan, Vì vậy, đôi khi lợi ích của nhà đầu tư có thể vượt lợi ích mà nước chủ nhà nhận được

- Tình trạng chuyển giá thông qua thủ thuật nâng giá chi phí đầu vào

Các nhà đầu tư nước ngoài thường tính giá cao cho những nguyên vật liệu, bán thành phẩm, máy móc và thiết bị mà họ nhập vào để thực hiện đầu tư Việc làm này

Trang 13

mang lại nhiều ích lợi cho nhà đầu tư như: giảm được thuế TNDN, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngòai, , giảm lợi nhuận thực tế mà họ kiếm được, sẽ làm hạn chế các nhà cạnh tranh sáp nhập vào thị trường Ngược lại, điều này lại gây ra chi phí sản xuất cao ở các nước chủ nhà và các nước chủ nhà phải mua hàng hóa do đầu tư nước ngoài sản xuất với giá cao hơn

- Các nước đầu tư thường chuyển giao công nghệ và kỹ thuật lạc hậu vào nước nhận đầu tư

Ta biết rằng, dưới sự tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật, công nghệ và maý móc thiết bị nhanh chóng trở nên lạc hậu, vì vậy nhà đầu tư thường chuyển giao những máy móc đã lạc hậu cho các nước nhận đầu tư để đổi mới sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng năng suất lao động của chính nước họ

Việc đó đã gây ra nhiều thiệt hại cho nước nhận đầu tư, như là: Rất khó tính được giá trị thực của máy móc chuyển giao, do đó nước đầu tư thường bị thiệt thòi về lợi nhuận được chia, gây tổn hại đến môi trường, chất lượng sản phẩm thấp, chi phí sản xuất cao,

- Sản xuất hàng hóa không thích hợp

Các nhà đầu tư còn bị chỉ trích là sản xuất và bán những hàng hóa không thích hợp cho các nước kém phát triển, thậm chí đôi khi lại là những hàng hóa có hại cho sức khỏe con người và gây ô nhiễm môi trường Chẳng hạn như khuyến khích sử dụng thuốc lá, thuốc trừ sâu, nước ngọt có gaz thay thế nước hoa quả tươi, chất tẩy thay thế xà phòng, bột ngọt,…

- Những hạn chế khác

Nhiều khi lượng vốn nước ngoài đã làm tăng thêm sự mất cân đối giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị, từ đó có thể gây nên bất ổn về chính trị – xã hội

Tuy nhiên, những mặt trái của FDI hoàn toàn không có nghĩa là phủ nhận những lợi thế cơ bản của nó mà chỉ lưu ý rằng không nên hy vọng quá nhiều vào FDI và cần phải có những chính sách hợp lý, những biện pháp quản lý hữu hiệu để phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của FDI Bởi vì mức độ thiệt hại mà FDI gây ra cho chủ nhà nhiều hay ít phụ thuộc rất nhiều vào chính sách, năng lực, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn của nước nhận đầu tư

1.1.4.3- Sự cần thiết phải thu hút FDI trong chiến lược phát triển kinh tế ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

- Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, Việt Nam cần thực hiện chiến lược tăng trưởng kinh tế với tốc độ nhanh và bền vững Tuy nhiên, các nguồn lực chủ yếu cần thiết ở nước ta hiện nay còn rất hạn chế Tích lũy trong nước còn ít,

Trang 14

trình độ khoa học công nghệ yếu kém, lạc hậu, lao động tuy được đánh giá là khá nhiều, trẻ nhưng chưa tinh, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng nhưng chưa đủ để giàu mạnh, trình độ quản lý còn sơ khai, non kém trong điều kiện phát triển theo hướng nền kinh tế thị trường Vì vậy, để có thể rút ngắn khoảng cách với nền kinh tế của các nước trên thế giới, nhất là các nước trong khu vực, đòi hỏi chúng

ta cần phải quan tâm đến một nguồn vốn quan trọng, có thể bù đắp sự thiếu hụt của các nguồn lực phát triển trong nước, đó là nguồn vốn FDI

- Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2010 có mục tiêu là phải tạo nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước vào năm 2020 Để thực hiện được điều đó, nhu cầu tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Việt Nam đến năm

2010 (giai đoạn 2001 – 2010) cần đến khoảng 100 – 150 tỷ USD, tăng bình quân hàng năm khoảng 10 – 12%, nâng tỷ trọng vốn đầu tư toàn xã hội lên đến 30 – 32% so với GDP vào năm 2010 Trong đó, ngoài nguồn vốn trong nước, đòi hỏi phải thu hút FDI từ 5 – 6% GDP tương đương 20 – 30 tỷ USD giai đoạn 2001 – 2010 Nhu cầu về thu hút FDI dự kiến như trên tuy không lớn so với nhiều nước trên thế giới, nhưng trong bối cảnh ở nước ta, để đạt được nó là vần đề không phải dễ dàng

- FDI đem lại khả năng tạo việc làm cho người lao động, bằng việc đầu tư mở rộng qui mô sản xuất, hoặc xây dựng những doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, Quan trọng hơn là thông qua FDI để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ lao động kỹ thuật cao cho đất nước

- Thông qua FDI, nước ta có thể tiếp nhận thành tựu phát triển khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới

- FDI tác động tích cực đến khai thác và sử dụng có hiệu quả những nguồn lực trong nước, như là nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đất đai, dầu mỏ, khoáng sản,

- Quá trình tiếp nhận FDI, chúng ta tiếp cận được những kinh nghiệm quản lý, điều hành kinh doanh tiên tiến và phương thức kinh doanh trong nền kinh tế thị trường từ các nước phát triển

Tóm lại, FDI có vai trò cực kỳ quan trọng thúc đẩy đất nước ta nhanh chóng hội nhập với sự phát triển của thế giới và khu vực

1.2 - ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN THU HÚT FDI

1.2.1- Ổn định chính trị-xã hội

Sự ổn định chính trị – xã hội tạo ra môi trường thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh, tác động lớn đến việc thu hút đầu tư và tạo ra lợi nhuận Trong môi trường đó, các nhà kinh doanh được đảm bảo an toàn về đầu tư, quyền sở hữu lâu dài và ổn định

Trang 15

tài sản hợp pháp của họ Từ đó làm an lòng nhà đầu tư, để họ có thể yên tâm tập trung cho hoạt động kinh doanh cuả mình và khai thác dự án đầu tư có hiệu quả

Mức độ an tâm của các nhà kinh doanh được củng cố thông qua sự đánh giá về rủi ro chính trị Các nhà kinh doanh thường đánh giá mức độ rủi ro chính trị theo 4 dạng chủ yếu gồm: sự mất ổn định trong nước, sự xung đột với nước ngoài, xu thế chính trị và khuynh hướng kinh tế Tình trạng bất ổn về chính trị bằng việc nhanh chóng thay đổi chính phủ cũng có thể cản trở đầu tư, nếu nó dẫn đến một hệ thống chính sách và biện pháp khuyến khích không ổn định Đặc biệt, rất dễ có một tác động bất lợi đối với đầu tư, nếu sự thay đổi chính phủ bao gồm cả việc thay đổi các luật cơ bản, như: luật đầu tư, quyền sở hữu tài sản, luật thuế và nhất là nếu sự thay đổi chính trị đó làm tăng các rủi ro tài sản bị tịch thu sung công

Bảo đảm ổn định xã hội thực chất là tạo ra môi trường văn hóa - xã hội thuận lợi cho hoạt động của các nhà đầu tư, đó là một bộ phận cấu thành hệ thống hạ tầng xã hội Có nghĩa là, nhà nước giải quyết những vấn đề xã hội theo hướng tích cực, tạo điều kiện cho các tổ chức kinh tế hoạt động có hiệu quả Những vấn đề xã hội mà nhà nước cần quan tâm như vấn đề dân số, việc làm, xóa đói giảm nghèo, công bằng xã hội, xóa bỏ những tệ nạn xã hội, thái độ lao động, đạo đức kinh doanh và vấn đề bảo vệ môi trường, y tế và giáo dục

1.2.2- Ổn định các chính sách kinh tế vĩ mô để giảm tính bấp bênh xung quanh

việc đầu tư

Duy trì sự ổn định các chính sách kinh tế vĩ mô là giảm những biến động ngắn hạn trong nền kinh tế và khuyến khích tăng trưởng bền vững lâu dài, góp phần tạo nên môi trường đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư

Trong việc duy trì ổn định các chính sách kinh tế vĩ mô, yếu tố hàng đầu là ổn định tiền tệ mà biểu hiện là sự ổn định tỷ giá hối đoái, ổn định giá cả, lãi suất v.v nhằm giảm tính bấp bênh trong đầu tư, tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Các yếu tác động đến môi trường kinh tế vĩ mô của quốc gia là các yếu tố như mức tổng cầu, thu nhập và lạm phát Đây là những yếu tố quan trọng đối với những đánh giá về sự thành công hay thất bại của dự án đầu tư Hơn nữa, các biến số ảnh hưởng đến giá và số lượng của hàng hóa vốn như tỷ giá hối đoái thực và những biện pháp kiểm soát đối với ngoại thương cũng hết sức quan trọng Các biến số này sẽ có tác động mang tính hệ thống đối với tất cả các nhà đầu tư Mặt khác, trong số những yếu tố quyết định mức cầu của mức tổng đầu tư, và trong một chừng mực nhất định nào đó, những quyết định đầu tư của nhà đầu tư này lại tùy thuộc vào những quyết định có thể có của những nhà đầu tư khác Do đó, bất cứ một sự bất ổn nào trong hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô sẽ thổi phồng sự biến động đầu tư khả dĩ có tính bất ổn

Trang 16

và hay bị tác động của những tư tưởng lạc quan hay bi quan Ổn định chính sách kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết cho việc tính toán kinh doanh của các nhà đầu tư, tạo niềm tin vào tương lai, đồng thời tránh khỏi những cuộc khủng hoảng kinh tế có thể xẩy ra

Ổn định các chính sách kinh tế vĩ mô với thể chế ổn định và mức thuế hợp lý sẽ tạo điều kiện để nhà đầu tư dự đoán chính xác lợi tức triển vọng, giảm tính bấp bênh khả dĩ của đầu tư Điều này là yếu tố bảo đảm và khuyến khích thu hút tốt các nguồn vốn đầu tư

1.2.3- Chính sách khuyến khích và hỗ trợ đầu tư thỏa đáng, đồng thời có chiến

lược phát triển kinh tế - xã hội và qui hoạch đầu tư rõ ràng, cụ thể

Các quốc gia thường dùng nhiều công cụ khác nhau để tác động đến tổng mức đầu tư, đến sự phân phối đầu tư giữa các khu vực, các loại tài sản và theo thời gian bằng cách tác động đến tỷ suất sinh lợi của vốn Để cho các nhà đầu tư có khả năng đáp ứng được những yêu cầu hoạt động đã đề ra, phần lớn các nước nhận đầu tư đều có những biện pháp tích cực như khuyến khích về thuế, cho độc quyền ở thị trường nội địa

Sự cho phép độc quyền đối với thị trường nội địa dành cho nhà ĐTNN đã làm tăng khuyến khích đầu tư, và từ lâu nó đã được nhiều nhà ĐTNN đầu tư vào các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu ở các nước kém phát triển quan tâm tìm kiếm Nhưng thế độc quyền lại không gây được sức ép buộc các công ty đa quốc gia phải hạ thấp giá cả và nâng cao chất lượng Hơn nữa, vì độc quyền làm giá cả trong nước và lợi nhuận tăng lên, do đó tạo nên một sự chuyển dịch trực tiếp lợi ích từ người tiêu dùng của các nước kém phát triển đến các nhà đầu tư

Các trường hợp ưu đãi bằng thuế là biện pháp khuyến khích đầu tư thường gặp nhất Chúng được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau: thuế suất ưu đãi cho một số loại đầu tư cụ thể nào đó, miễn và giảm thuế có thời hạn, cho phép khấu hao nhanh, hoàn thuế, v.v

Trên thực tế; ở các nước đang phát triển, những biện pháp khuyến khích đầu tư có hiệu quả rất hạn chế, do sự hạn chế của hệ thống quản lí thuế và còn do những biến dạng thị trường chẳng hạn như việc phân phối tín dụng hay sự can thiệp của hệ thống quản lí hành chính vào việc phân bổ ngoại tệ Các biện pháp ưu đãi bằng thuế có thể ảnh hưởng đến sự phân bổ các khoản lợi ích đặc biệt nhờ độc quyền, hơn là ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, do đó thường có hiệu quả thấp

Mặt khác, thật khó xác định và đo lường được những mức chênh lệch giữa suất sinh lợi của đầu tư cá biệt và suất sinh lợi của đầu tư xã hội để lý giải cho những ưu đãi bằng thuế Do vậy, việc thực hiện bất kỳ biện pháp khuyến khích bằng thuế nào

Trang 17

cũng gây ra những gánh nặng rất lớn cho hệ thống quản lí thuế Các biện pháp ưu đãi bằng thuế sẽ khiến cho những đối tượng có thể hưởng lợi sẽ ra sức vận động hành lang để có lợi cho mình Sự thất thu thuế tiềm ẩn trong các biện pháp khuyến khích có một chi phí cơ hội rõ ràng Và những nỗ lực nhằm hoàn chỉnh hệ thống thuế nhằm hướng dẫn sự phân bổ các nguồn lực có thể dẫn đến những biến dạng lớn mang tính hệ thống

Do đó, tính ổn định và có thể tiên đoán được của chế độ thuế là điều kiện tiên quyết cho tính hiệu quả của biện pháp khuyến khích đầu tư

1.2.4- Môi trường thể chế ổn định

Chính phủ có một vai trò quyết định trong việc xây dựng và duy trì một môi trường kinh tế lành mạnh Chính phủ phải đảm bảo luật pháp và trật tự, thực thi các hợp đồng, và định hướng những điều tiết của nó để hỗ trợ cạnh tranh và đổi mới Quan trọng nhất là, chính phủ phải đảm bảo môi trường thể chế ổn định thông qua ổn định hệ thống luật pháp và đảm bảo thực thi có hiệu quả, nhằm giúp cho nhà đầu tư an tâm và tính toán được hiệu quả đầu tư Ngoài ra, trong các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi thì những yếu tố quyết định khác cũng có vai trò cực kỳ quan trọng Những yếu tố đó bao gồm; việc thi hành luật các quyền sở hữu tài sản, việc loại bỏ các qui định quản lí không cần thiết và các ý nghĩa của sự phân phối thu nhập để đảm bảo một môi trường đầu tư ổn định

Tầm quan trọng của các quyền sở hữu tài sản đối với đầu tư đã được xác lập, quyền sở hữu tài sản cần phải được đảm bảo thực thi một cách có hiệu quả thông qua hệ thống tư pháp

Nạn tham nhũng là một vấn đề nan giải đối với các dự án đầu tư, bởi vì việc thực hiện dự án có thể bao gồm nhiều thủ tục hành chính, đặc biệt ở những nền kinh tế còn nhiều qui định quản lí chưa ổn định và hoàn chỉnh Nạn tham nhũng làm tăng chi phí kinh doanh, dẫn đến đầu tư kém hiệu quả Do đó, việc loại bỏ các qui định quản lí không cần thiết, cải cách hành chính để giảm tham nhũng sẽ thúc đẩy đầu tư và tăng trưởng

Sự phân phối thu nhập ảnh hưởng đến việc tích lũy vốn bằng cách ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách công cộng và mức độ ổn định xã hội và chính trị Một sự phân phối thu nhập không đồng đều có thể kích thích các đòi hỏi của công nhân và tạo

ra sự tranh chấp về lao động, làm tăng mức độ xung đột về chính trị và thậm chí dẫn đến bất ổn về ngân sách và kinh tế, cản trở đầu tư và tăng trưởng

1.2.5- Bảo đảm cơ sở hạ tầng cho phát triển

Cơ sở hạ tầng là tổng thể các cơ sở vật chất kỹ thuật, các công trình, các phương tiện tồn tại trên một lãnh thỗ nhất định được dùng làm điều kiện sản xuất và

Trang 18

điều kiện sinh hoạt nói chung, bảo đảm sự vận hành liên tục, thông suốt các luồng của cải vật chất, các luồng thông tin và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu có tính phổ biến

của sản xuất và đời sống

Để thúc đẩy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cần tạo ra một hệ thống chính sách và định chế có tính chất hỗ trợ, bao gồm; các thành phần của sự ổn định chính trị

- xã hội, sự ổn định chính sách kinh tế vĩ mô tạo ra môi trường hoạt động kinh doanh với chi phí thấp, môi trường thể chế ổn định để đảm bảo sự đồng tâm nhất trí của xã hội và một bảo đảm cơ sở hạ tầng do đầu tư và tăng trưởng kinh tế

1.3- KINH NGHIỆM THU HÚT FDI CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG KHU VỰC CHÂU Á

1.3.1- Các nền kinh tế đang phát triển

Trong thời gian gần đây, sự gia tăng nhanh chóng của ĐTNN vào các nước đang phát triển Châu Á và sự chênh lệch quá lớn trong thu hút FDI giữa các nước đang phát triển Châu Á với các nước phát triển thuộc APEC cho ta những bài học kinh nghiệm như:

Sự năng động của các nền kinh tế mới mang ý nghĩa tích cực đã tạo nên môi trường đầu tư hấp dẫn Và chính các công ty lớn Châu Á đang phát triển cũng có nhiều biện pháp tích cực để tiếp cận tốt với thị trường vốn quốc tế

• Bảo điều kiện tài chính tiền tệ và quản lý vĩ mô để thu hút dòng vốn vào Để thu hút dòng vốn mạnh mẽ vào, chính phủ nhiều nước đang phát triển Châu Á đã thực hiện thành công chính sách tài chính, tiền tệ và ngoại hối Bên cạnh đó những cam kết cải cách cục bộ hoặc toàn diện nền kinh tế theo

hướng ra bên ngoài

1.3.2 - Kinh nghiệm thu hút FDI của các nước trong khu vực

a- Trung Quốc :

Về chính sách chung, Trung Quốc huy động vốn FDI thông qua các hình thức như hợp đồng sản xuất, liên doanh, 100% vốn đầu tư nước ngoài vào các khu vực đặc biệt

Chính sách cơ bản để thu hút FDI của Trung Quốc là chính sách thuế Trung Quốc ban hành nhiều loại thuế riêng cho các hình thức đầu tư: hợp tác, liên doanh, 100% vốn nước ngoài và cho 14 thành phố ven biển Liên doanh đóng thuế lợi tức 30% và 10% thêm cho địa phương Với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì thuế lợi tức từ 20% đến 40% và 10% cho địa phương

Tại 14 thành phố ven biển, các doanh nghiệp vốn 100% vốn nước ngoài được giảm thuế lợi tức 15% so với các khu vực khác Các liên doanh đầu tư từ 10 năm trở

Trang 19

lênh được miễn thuế lợi 2 năm kể từ khi có lãi và giảm 50% thuế cho 3 năm tiếp theo Nếu liên doanh đầu tư vào những Tỉnhkhó khăn sẽ được giảm tiếp 15% đến 30% trong vòng 10 năm Nếu liên doanh có sản phẩm xuất khẩu trên 70% được giảm 50% thuế hàng năm Nếu doanh nghiệp áp dụng công nghệ tiên tiến được giảm tiếp 50% trong vòng 3 năm so với các doanh nghiệp cùng loại nhưng không có công nghệ cao Nếu đầu tư vào 14 thành phố ven biển trên 10 năm thì miễn thuế 2 năm, giảm thuế 3 năm tiếp theo

Về thuế xuất nhập khẩu; Trung Quốc thực hiện miễn thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng như: máy móc, thiết bị, bộ phận rời, vật liệu được đưa vào góp vốn liên doanh hoặc các máy móc, thiết bị, vật liệu bên ngoài đưa vào khai thác dầu khí; đưa vào xây dựng phát triển năng lượng, đường sắt, đường bộ, đưa vào các khu chế xuất và 14 thành phố ven biển, các vật liệu, bộ phận rời nhập để sản xuất hàng xuất khẩu Trung Quốc cũng miễn thuế xuất khẩu cho các mặt hàng xuất khẩu được sản xuất ở các khu chế xuất và 14 thành phố ven biển

Về thủ tục hành chính; Trung Quốc phân cấp mạnh cho các địa phương về thẩm định dự án và cấp giấy phép đầu tư Sau khi có giấy phép đầu tư, các thủ tục liên quan đến triển khai dự án được giải quyết nhanh chóngï Các vấn đề giải phóng mặt bằng, cấp điện, nước, giao thông, môi trường được giải quyết dứt điểm Thực hiện chính sách “một cửa” để tạo điều kiện thu hút FDI thuận lợi

Ngoài các chính sách trên, để thông thoáng hơn, Trung Quốc cho thời hạn hợp đồng kéo dài hơn, có thể tới 50 năm

b- Inđônêsia

Inđônêsia khuyến khích đầu tư vào các dự án xuất khẩu, tiết kiệm ngoại tệ, chế biến thành phẩm và bán thành phẩm, chuyển giao công nghệ, sử dụng chuyên gia lao động Inđônêsia Uỷ ban đầu tư quốc gia công bố từng thời gian khu vực nào cho phép nước ngoài kinh doanh, khu vực nào không

Về chính sách thuế; đối với thuế lợi tức, nếu công ty có mức lãi ròng 10 triệu rupi trở xuống đánh thuế 15%, trên 10 đến 50 triệu rupi đánh thuế 25% và trên 50 triệu rupi đánh thuế 35% Các khoản thu từ lãi suất cho vay, cho thuê, phí tài nguyên, phí kỹ thuật, phí quản lý bị đánh thuế 15% trên doanh thu Ơû Inđônêsia không có chế độ miễn thuế doanh thu và thuế lợi tức

Về thuế nhập khẩu; Inđônêsia có chính sách miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, phù tụng được uỷ ban đầu tư phê duyệt trong danh mục quy định Tuy nhiên, những thứ nhập theo vốn đầu tư vào Inđônêsia đã sản xuất được thì không được miễn thế nhập khẩu Ngược lại, nước ngoài mua những hàng này của

Trang 20

Inđônêsia thì được thoái lại thuế nhập khẩu đã đóùng vào vật liệu, nguyên liệu sản xuất ra chúng

Đối với hàng xuất khẩu: lãi tín dụng phục vụ xuất khẩu là 9%/năm, trong khi lãi xuất khác là 18 – 24%/năm Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu được nhập các mặt hàng sử dụng nếu hàng trong nước đắt hơn Được hoàn trả hoặc miễn thuế nhập khác mặt hàng Công ty sản xuất hàng xuất khẩu không chỉ được phép xuất khẩu hàng của mình mà cả hàng của công khác

Về chính sách thị trường, gần đây để tạo môi trường cạnh tranh thuận lợi Inđônêsia cho phép mọi ngành công nghiệp, trừ các ngành trong danh mục loại trừ và trong kho ngoại quan, được tiếp cận tự do thị trường nội địa

Về quản lý ngoại hối, doanh nghiệp nước ngoài được phép chuyển ra nước ngoài các khoản thu nhập sau thuế, vốn, chi tiền cho cá nhân, khấu hao tài sản, tiền bán cổ phần cho người (hoặc tổ chức ) Inđônêsia, tiền thu hồi vốn trường hợp bị quốc hữu hoá Ngoài ra, Chính phủ Inđônêsia từng bước hạ thấp lãi suất của tiền gởi ngân hàng trung ương, làm cho tiền gởi ngân hàng và lãi suất cho vay giảm xuống

Về vấn đề sở hữu 10% vốn nước ngoài, gần đây cũng như Malaysia, Philippin, Xingapo, Thái Lan, Inđônêsia đã áp dụng cho tất cả các ngành công nghiệp, trừ các ngành có trong danh mục cấm hoặc hạn chế đầu tư Ngoài ra, Inđônêsia còn quy định, sau 15 năm, công ty phải có ít nhất một phần vốn sở hữu trong nước

Inđônêsia còn dở bỏ các hạn chế về thuế đối với việc sử dụng người ngoài nước Gần đây, nhà nước đã quy định bất kỳ người nước ngoài nào phải đóng thuế xuất cảnh thì được khấu trừ vào thuế thu nhập

Về thủ tục hành chính, Inđônêsia thực hiện đơn giản hoá các thủ tục cấp giấy phép đầu tư, đặc biệt đầu tư vào công nghiệp chỉ cần trình dự án cho các Bộ chủ quản xem xét và quyết định, không cần gởi lân cơ quan thẩm định quốc gia Các công ty có giấp phép cố định đặc quyền tự do mở rộng sản xuất, cải tạo, hiện đại hoá sản xuất … thì không cần xin phép nếu sản phẩm nằm trong danh mục ưu tiên đầu tư

c- Malaysia

Trong chiến lược thu hút FDI, Malaysia rất coi trọng vai trò của các công ty xuyên quốc gia, gắn lợi ích các công ty này với lợi ích của Malaysia Hiện nay có khoảng 1000 công ty xuyên quốc gia của trên 50 nước đang hoạt động ở Malaysia Bên cạnh đó, chính phủ có thực hiện chế độ ưu đãi cho một số ngành có quy mô nhỏ, trợ cấp cho đồn điền, cho các công ty áp dụng sở hữu của tư bản cổ phần, hoặc áp dụng kỹ thuật công nghệ cao

Trang 21

Gần đây, nhằm thu hút FDI, khắc phục tình trạng khủng hoảng tài chính tiền tệ, Malaysia đã chủ trương miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc thiết bị cho các khu chế xuất và các dự án hướng vào xuất khẩu Đối với các dự án khác có thể được áp dụng nếu sản phẩm chưa sản xuất được ở trong nước

Malaysia áp dụng chính sách đào tạo lao động theo yêu cầu của chủ đầu tư, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động Gần đây, nước này còn quy định, các nhà chuyên môn, chuyên gia quản lý và kỹ thuật đã đóng thuế thu nhập thì không phải trả thuế sử dụng nhân công nước ngoài

Mọi thủ tục tạo nên sự phiền hà về đầu tư nước ngoài dần dần được loại bỏ và thay vào đó là cơ chế, thủ tục nhanh, gọn, thông thoáng và hiệu quả Nhờ vậy, dòng FDI vào Malaysia ngày càng tăng lên trong những năm gần đây và một vài năm tới

d- Bài học kinh nghiệm

-Nguồn vốn FDI đóng vai trò rất quan trọng, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, trong việc tạo nguồn vốn ban đầu để phát triển kinh tế quốc gia Vấn đề còn lại là, chính phủ các nước cần phải chính sách hợp lý trong từng thời kỳ để khuyến khích thu hút vốn FDI

-Muốn thu hút và sử dụng hiệu quả vốn FDI, chính phủ cần chuẩn bị tốt về cơ sở hạ tầng vật chất, cơ sở hạ tầng tài chính, trình độ của lực lượng lao động …

-Bên cạnh việc thu hút vốn FDI, chính phủ cần có chính sách khuyến khích thu hút vốn đầu tư trong nước, khai thác nội lực của quốc gia mình

-Trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện đại, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế càng trở nên rõ ràng hơn Đặc biệt, các nước càng nhỏ bé về sức mạnh kinh tế càng dễ bị ảnh hưởng Vì vậy, khi mở cửa, cần xem xét các điều kiện trong nước

- Các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài rất nhạy cảm với môi trường đầu tư Vì thế, muốn thu hút vốn FDI, chính phủ cần có những biện pháp hữu hiệu để ổn định chính trị – kinh tế – xã hội

-Để thu hút vốn FDI, chính phủ nên thực hiện một chính sách vĩ mô khéo léo, linh hoạt và sửa đổi, bổ sung kịp thời

Tóm lại: sự trình bày và phân tích có hệ thống các vấn đề lý luận của FDI là cơ sở để phân tích, đánh giá vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Đồng Nai, đồng thời hoạch định các giải pháp sau này

Trang 22

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN FDI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

ĐỒNG NAI TRONG THỜI GIAN QUA

2.1- ĐẶC ĐIỂM TIỀM NĂNG CỦA TỈNH ĐỒNG NAI

Cùng với lịch sử hình thành và phát triển của miền Đông Nam bộ, Tỉnh Đồng Nai đã có hơn 300 năm hình thành và phát triển Theo thời gian, với những ưu thế về tự nhiên và những thành tựu tích lũy được trong quá trình phát triển được coi là các thế mạnh, thể hiện vai trò ngày càng quan trọng của nó trong sự tương quan với lãnh thỗ đất nước bao trùm toàn bộ miền Nam theo từng thời kỳ Trước năm 1975, Biên Hòa nổi tiếng với khu kỹ nghệ tập trung đầu tiên của miền Nam Ngày nay, T.Đồng Nai,

TP Hồ Chí Minh, và T.Bà Rịa – Vũng Tàu hình thành nên tam giác kinh tế chiến lược của toàn vùng Đông Nam Bộ nói riêng và miền Nam Việt Nam nói chung

Sau Đại hội VI của Đảng, cùng với việc từ bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp và chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường, nhà nước đã xác định chiến lược phát triển, công nghiệp hóa theo hướng tăng trưởng có trọng tâm mà mức ưu tiên lớn nhất là phát triển

ba khu vực kinh tế có tiềm năng tăng trưởng cao, đó là tam giác kinh tế gọi là Vùng kinh tế trọng điểm phía nam (VKTTĐPN)

2.1.1- Khái quát về các đặc điểm địa lý và tổ chức hành chính

a- Các đặc điểm địa lý

Tỉnh Đồng Nai nằm ở trung tâm của vùng Đông Nam Bộ; phía Bắc giáp Tỉnh Lâm Đồng và Tỉnh Bình Dương -là vùng đất đỏ bazan; phía Nam giáp Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; phía Đông giáp Tỉnh Bình Thuận; phía Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh

Tỉnh Đồng Nai có diện tích tự nhiên lớn nhất trong VKTTĐPN có đến 5.855 km2, chiếm 46,5% diện tích toàn vùng

• Về khí hậu: Tỉnh Đồng Nai nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm với hai mùa mưa - nắng rõ rệt Mùa mưa của Tỉnh bắt đầu từ khoảng giữa tháng 5 và kết thúc vào tháng 11 Số giờ nắng hàng năm của Tỉnhvào khoảng 2000 giờ và lượng mưa trung bình năm vào khoảng 1.500 – 2.000 mm Nói chung, Tỉnh Đồng Nai hàng năm chịu ảnh hưởng của ba loại gió: gió Đông (thổi vào đầu mùa khô), gió chướng (thổi vào mùa khô) và gió Tây – Tây Nam (thổi từ khoảng tháng 5 đến tháng 11) với vận tốc trung bình đạt khoảng từ 1 – 6 m/s (cấp 1 đến cấp 4)

Trang 23

• Về địa hình: đây là vùng đất tương đối bằng phẳng, thấp dần về phía Nam với độ dốc trung bình từ 2 – 4% Độ cao trung bình so với mặt nước biển từ

6 đến 35 mét

• Dân số: theo kết quả của cuộc tổng điều tra dân số ngày 01/04/1999, Tỉnh Đồng Nai có 1.989.500 người chiếm 23% dân số của VKTTĐPN

b- Về tổ chức hành chính

Tỉnh Đồng Nai có 9 huyện, thị xã, thành phố và được chia thành 163 xã, phường, thị trấn Thành phố Biên Hoà là trung tâm kinh tế – chính trị – văn hoá của Tỉnh

2.1.2- Các tiềm năng và thế mạnh về kinh tế - xã hội

a- Điều kiện địa lý tự nhiên, đất đai và nguồn nước

Nằm ở trung tâm của vùng Đông Nam Bộ nói riêng và miền Nam nói chung, Tỉnh Đồng Nai được hưởng những điều kiện tự nhiên thuận lợi của khu vực Nam bộ Bên cạnh đó, Tỉnh còn được hưởng những ưu thế về tự nhiên khác Chính những lợi thế này đã tác động tích cực đến hoạt động đầu tư phát triển ở Tỉnh, thông qua việc cung cấp các dịch vụ đầu tư một cách tương đối đầy đủ và tốt nhất so với các địa phương khác trong cả nước Điều kiện tự nhiên của Tỉnh, ngoài những điểm đặc thù đã nêu trên, còn có một số đặc điểm khác như:

- Điều kiện khí hậu, thời tiết

Miền Nam nói chung và Tỉnh Đồng Nai nói riêng có khí hậu dễ chịu và thời tiết ôn hòa hơn so với cả nước với hai mùa mưa, nắng rõ rệt, độ ẩm trong không khí cao, từ 60% đến hơn 80% Vào mùa nắng, số giờ nắng trung bình khá cao Mưa chủ yếu là mưa rào Nhiệt độ trung bình vào khoảng 25 – 300C và không có sự biến đổi nhiệt độ đột ngột và dai dẳng, không chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các thiên tai như áp thấp nhiệt đới hay bão trong mùa mưa Tất cả những điều kiện trên ít nhiều được đánh giá là thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh của Tỉnh

- Tài nguyên đất đai (xin xem phần phụ lục - bảng 2.1)

Quỹ đất của Tỉnh Đồng Nai khá phong phú, phì nhiêu và đa dạng Tổng quỹ đất của Tỉnh là 5.855km2 và được chia thành các loại đất: 2.894 km2 là đất nông nghiệp, 1.758 km2 đất lâm nghiệp, 690 km2 đất chuyên dùng, 106 km2 đất ở và 407

km2 đất chưa sử dụng

Lợi thế về đất đai của Tỉnh là đất nông nghiệp (1.78% so với cả nước), đất chuyên dùng (5,3 % so với cả nước) và đất ở (2,43% so với cả nước) Cũng cần phải lưu ý là tỷ lệ đất chưa khai thác của Tỉnh lại khá lớn, chiếm gần 6,95% tổng quỹ đất,

Trang 24

phần lớn đất chưa sử dụng nằm ở những khu vực hẻo lánh và chưa có những điều kiện

cơ sở hạ tầng tối thiểu

Căn cứ vào nguồn gốc và chất lượng đất thì Tỉnh Đồng Nai có nhiều loại đất có chất lượng tốt như đất được hình thành trên đất bazan, trên đất phù sa cổ và đá phiến, nhóm đất thủy thành, Nhiều nơi đất có cơ cấu chặt (độ chịu nén lên đến 2kg/cm2), bền vững nên rất thuận lợi để cho việc xây dựng các nhà máy, xí nghiệp

- Nguồn nước

Hệ thống nước mặt của Tỉnh Đồng Nai nói chung khá phong phú với hệ thống sông ngòi chằng chịt, chẳng những phục vụ tốt cho việc tưới tiêu và cung cấp nước ngọt cho cả Tỉnh, mà còn là các nguồn thủy điện tiềm năng hay đã thành hiện thực và là mạng lưới giao thông có tính chiến lược của địa phương

Hệ thống nước ngầm của Tỉnh Đồng Nai cũng khá dồi dào, độ sâu trung bình thay đổi tùy theo từng vùng nhưng nói chung là nằm trong giới hạn từ 20 – 200m Hệ thống nước ngầm này là nguồn bổ sung đáng kể cho việc cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất trong Tỉnh

b- Kết cấu hạ tầng

- Mạng lưới giao thông

Phải nói rằng, Tỉnh Đồng Nai là một trong những địa phương có mạng lưới giao thông thuận lợi, phong phú, đa dạng cả về đường thuỷ, đường bộ, đường sắt và đường hàng không Đặc biệt, luôn được chính quyền địa phương quan tâm đầu tư phát triển, nhất là trong vài năm trở lại đây

Đường bộ

Tính đến nay, hệ thống đường bộ trong toàn Tỉnh đã đạt đến 3650 km tổng chiều dài; trong đó có 726 km đường nhựa, còn lại là đường bêtông ximăng, đường đá, đường cấp phối và đường đất

Hệ thống cầu ở Tỉnh, cũng khá lớn Toàn Tỉnh có 439 cây cầu các loại với tổng chiều dài lên đến 7581 m trong đó có khoảng hơn 30% số cây cầu có tải trọng trên 10 tấn

Đường sắt

Tuyến đường sắt Bắc - Nam từ ga Hòa Hưng đi qua Tỉnh Đồng Nai Độ dài tuyến nằm trên Tỉnh Đồng Nai là 87,5km Những năm gần đây, hàng hóa được vận chuyển qua đường sắt tăng nhanh

Trang 25

Đường hàng không

Về tiềm năng, Tỉnh Đồng Nai có sân bay Biên Hòa với tổng diện tích 40 km2

nằm ở phía Bắc trung tâm thành phố Biên Hòa Ngoài ra, Đồng Nai còn có các sân bay dã chiến được xây dựng trước năm 1975 Tương lai dự kiến sẽ xây dựng sân bay quốc tế tại huyện Long Thành, sẽ tạo cho Đồng Nai một hệ thống giao thông hoàn chỉnh

- Bưu chính, viễn thông

Tính đến cuối năm 1999, tổng dung lượng tổng đài của Tỉnh Đồng Nai 89.226 số, hiện có 73.166 máy,

- Điện

Trong Tỉnh Đồng Nai có nhà máy thủy điện Trị An nằm ở Tỉnh Đồng Nai có công suất khá lớn, trong năm 2000 đã cung cấp 1,9 tỷ KWh điện năng phục vụ sản xuất và đời sống trong vùng Tiềm năng nguồn cung cấp điện được đánh giá là rất cao, đủ phục vụ cho nhu cầu của Tỉnh và cho các Tỉnh lân cận khi các tổ máy phát điện thuộc nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ đi vào hoạt động

c- Nguồn lao động

Tính đến cuối năm 1999, số người trong độ tuổi lao động của Tỉnh Đồng Nai với khoảng hơn 1 triệu người Lực lượng lao động của Tỉnh Đồng Nai nói chung có chất lượng khá cao so với bình quân cả nước

Mặc dù chưa được thống kê một cách đầy đủ, nhưng về định tính có thể nói rằng, tuy chất lượng lao động của Tỉnh Đồng Nai tương đối cao, nhưng dường như

chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế của Tỉnh Như bảng 2.2 (phụ lục) cho

thấy: chỉ có 4,56% lực lượng lao động của Tỉnh Đồng Nai là đã được đào tạo Với thực tế là số người được đào tạo trong lực lượng lao động là quá ít, điều này góp phần làm hạn chế tiềm năng phát triển của Tỉnh trong thời gian qua và cũng là một thách thức lớn đặt ra cho xu hướng phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập của Tỉnh trong thời gian tới

Tuy nhiên, Đồng Nai lại gần kề TP HCM, là nơi tập trung các cơ sở đào tạo rất lớn, do đó sẽ có khả năng đáp ứng tốt nhu cầu lao động được đào tạo cho Tỉnh

Nói tóm lại, với các thế mạnh hiện tại và tiềm năng sẵn có về điều kiện tự nhiên, về con người và hạ tầng kỹ thuật - xã hội, có thể nói rằng Tỉnh Đồng Nai có điều kiện thuận lợi thu hút vốn FDI

Trang 26

2.2 -THỰC TRẠNG THU HÚT FDI Ở TỈNH ĐỒNG NAI TRONG THỜI GIAN QUA

2.2.1- Tình hình thu hút FDI

Thực hiện chính sách đổi mới kinh tế, luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành lần đầu vào ngày 29/12/1987 nhằm mục đích thực hiện phương châm đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại, thu hút FDI, tăng cường công nghệ mới, nâng cao kỹ năng quản lý, giải quyết việc làm cho người lao động, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội Với những lợi thế riêng có, Tỉnh Đồng Nai đã đạt được những kết quả đáng kể trong việc thu hút FDI Tuy FDI bắt đầu vào Tỉnh từ năm 1989, nhưng giai đoạn 1989 – 1990, số dự án đầu tư còn rất ít, nhỏ lẻ, từ năm

1991 số dự án mới tăng lên và bắt đầu phát huy tác động đến sự phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương

Tình hình thu hút FDI ở Tỉnh Đồng Nai có thể được khái quát như sau:

a- Tình hình đăng ký FDI ở Tỉnh Đồng Nai

(xin xem SL ở phần phụ lục - bảng 2.3)

-Tính đến cuối năm 2000, Tỉnh Đồng Nai đã thu hút được 260 dự án FDI đăng ký chiếm đến 16% tổng dự án đăng ký ở VKTTĐPN, với vốn đăng ký là 4.424.861 ngàn USD chiếm 26,35% tổng vốn FDI đăng ký đầu tư ở VKTTĐPN Tuy nhiên, số dự án đầu tư đăng ký đạt đỉnh cao vào năm 1997, giảm sút dần vào các năm 1998 – 1999, năm 2000 Điều đáng lưu ý là số vốn đăng ký bình quân một dự án ngày càng nhỏ dần Điều này chứng tỏ khả năng thu hút đầu tư nước ngoài của Tỉnh trở thành vấn đề đáng quan tâm

b- Ngành nghề FDI đăng ký đầu tư (xin xem số liệu ở phần phụ lục - bảng 2.4)

Trong tổng số dự án FDI đăng ký đầu tư ở Tỉnh đã có đến 240 dự án đầu tư vào các ngành công nghiệp, chiếm đến 91,31% tổng số dự án đầu tư, với vốn đắng ký lên đến 4,068,847 triệu USD chiếm đến 91,90% tổng vốn đầu tư Các dự án này tập trung đầu tư vào các ngành công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, chế biến lâm sản, dệt da may mặc, ngành cơ khí, chế tạo, lắp ráp, sữa chửa, nhựa sơn, phân bón, hoá chất, vật liệu xây dựng Kế đến là đầu tư vào ngành công nghiệp có 9 dự án chiếm đến 3,46% tổng số dự án, vốn đầu tư đăng ký là 29,731 triệu USD chiếm 0,678% tổng vốn đầu tư đăng ký Đầu tư vào ngành thương mại dịch vụ có 6 dự án với vốn đăng ký là 113,020 triệu USD Tuy chỉ có 3 dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng chiếm 1,15% tổng số dự án, nhưng vốn đầu tư đăng ký lên đến 197,072 triệu USD chiếm đến 4,45%, với bình quân một dự án là 65,690 triệu USD cao gấp 3,5 lần vốn đầu tư bình quân 1 dự án của tất cả các ngành nghề

Trang 27

Việc thu hút nhiều dự án đầu tư vào ngành công nghiệp là hướng đi đúng đắn nhằm tác động tích cực đến tăng trưởng, phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao trình độ lực lượng sản xuất và cải thiện năng suất lao động xã hội

c- Địa bàn đầu tư (xin xem số liệu ở phần phụ lục - bảng 2.5)

Dự án đầu tư FDI được tập trung nhiều vào thành phố và thị trấn, nơi chính phủ, chính quyền địa phương quan tâm đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nơi có vị trí địa lý, và các điều kiện thuận lợi khác

Trong các địa phương trong Tỉnh, thành phố Biên Hoà là nơi thu hút được nhiều dự án đầu tư hơn cả, có đến 150 dự án đăng ký đầu tư chiếm 57,69% tổng số dự án đầu tư vào Tỉnh, vốn đăng ký là 2.047,220 triệu USD chiếm đến 46,27% tổng vốn đầu

tư đăng ky;ù kế đến là huyện Thống Nhất thu hút được 46 dự án chiếm 17,60% tổng dự án, vốn đăng ký là 263,34% triệu USD chiếm 5,95% tổng vốn đăng ký Huyện Nhơn Trạch có 29 dự án tuy chỉ chiếm có 11,15% tổng số dự án, nhưng lại thu hút được 1307,06 triệu USD vốn đầu tư đăng ký, chiếm tỷ trọng lên đến 29,54% tổng vốn đăng ký Trong đó, riêng công ty VEDAN đã có vốn đăng ký đầu tư lên đến 30 triệu USD Huyện Long Thành thu hút 26 dự án chiếm 10% số dự án, vốn đăng ký đầu tư là 741 triệu USD chiếm 16,75% tổng vốn đăng ký Huyện Vĩnh Cửu, huyện Long Khánh có thu hút được từ 2 – 4 dự án với vốn đăng ký còn ít Riêng 2 huyện Định Quán và huyện Xuân Lộc chưa thu hút được dự án nào Qua đó cho thấy, đầu tư FDI vào Tỉnh không được phân bố đồng đều giữa các khu vực

Có thể nói, Tỉnh Đồng Nai là địa phương khá thành công trong việc xây dựng mô hình khu công nghiệp để thu hút vốn FDI Tính đến cuối năm 2001, Tỉnh Đồng Nai đã qui hoạch được 17 khu công nghiệp, với tổng diện tích qui hoạch là 8121 ha, giai đoạn đầu là 2,720 ha Trong đó có 10 KCN được chính phủ cấp giấy phép hoạt động Các dự án đăng ký đầu tư vào Tỉnh đã có đến 70% số dự án, 58,6% vốn đầu tư đăng ký vào các KCN

d- Các quốc gia đầu tư

Đến nay đã có 22 quốc gia đầu tư vào Tỉnh, trong đó có 5 nước và vùng lãnh thổ:

- Đài Loan có 78 dự án, 967,7 triệu USD vốn đăng ký;

- Hàn Quốc có 37 dự án, 755,42 triệu USD vốn đăng ky;ù

- Nhật Bản có 27 dự án ,739,62 triệu USD vốn đăng ky;ù

- Malaysia có 8 dự án, 613,48 triệu USD vốn đăng ký ;

- Mỹ có 9 dự án, 319,44 triệu USD vốn đăng ký

Trang 28

e- Hình thức đầu tư

Các dự án FDI đầu tư vào Tỉnh Đồng Nai chủ yếu là hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, kế đến là loại hình doanh nghiệp liên doanh Các hình thức BOT, BT, BTO chưa được thực hiện

Tính đến cuối năm 2000, trong tổng số dự án đăng ký đầu tư có đến 198 dự án hoạt động theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm 76,15% tổng số dự án đầu tư, 61 dự án hoạt động theo hình thức doanh nghiệp liên doanh, 1 dự án hoạt động theo hợp đồng hợp tác kinh doanh

f- Trình độ công nghệ kỹ thuật (xin xem số liệu phần phụ lục – bảng 2.6a, 2.6b)

Theo số liệu điều tra năm 1998 về trình độ công nghệ trong ngành công nghiệp

ở Tỉnh Đồng Nai, khu vực ĐTNN có trình độ tự động hoá chiếm, tỉ lệ cao nhất, trình độ cơ khí, bán cơ khí và trình độ thủ công chiếm tỷ lệ thấp Nếu như toàn ngành công nghiệp Đồng Nai có trình độ tự động hoá, bán tự động hoá chiếm 30,18%, trình độ cơ khí bán cơ khí chiếm 42,24% và trình độ thủ công chiếm tỷ lệ 27,58% thì trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có trình độ tự động hoá, bán tự động hoá lên đến 70,34% gấp 2,33 lần so toàn ngành, trình độ cơ khí, bán cơ khí chiếm 27,97% chỉ bằng 0,56 lần so với toàn ngành, và trình độ thủ công chỉ có 1,69% chỉ bằng 0,56 lần so với toàn ngành

Nếu phân chia theo trình độ kỹ thuật công nghiệp, toàn ngành công nghiệp Đồng Nai có 14,44% có trình độ tiên tiến, 73,92% trình độ trung bình, 11,64% trình độ lạc hậu Riêng khu vực đầu tư nước ngoài có đến 49,15% có trình độ tiên tiến bằng 3,4 lần so toàn ngành, 50,85% có trình độ trung bình bằng 0,69 lần so với toàn ngành, không có trình độ kỹ thuật công nghệ lạc hậu

Trình độ kỹ thuật công nghệ của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tiến bộ hơn đã góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ của ngành công nghiệp Tỉnh tuy nhiên, vẫn có trình độ kỹ thuật công nghệ ở trình độ trung bình thể hiện sự dịch chuyển công nghệ lỗi thời của các nước phát triển sang nước ta trong giai đoạn đầu thu hút đầu tư

g- Tình hình thực hiện dự án FDI (xin xem phần phục lục - Bảng 2.7)

Tính đến cuối năm 2000, Tỉnh Đồng Nai đã có 194 dự án FDI đi vào hoạt động chiếm đến 74,52% số dự án đăng ký bằng 23,63% tổng dự án đầu tư thực hiện ở

VKTTĐPN, với số vốn đầu tư thực hiện là 2.080 triệu USD chiếm đến 47% tổng vốn đăng ký ở Tỉnh, bằng 27% tổng vốn thực hiện ởVKTTĐPN Tỉnh Đồng Nai là một trong những địa phương có tỷ lệ cao về dự án đầu tư thực hiện, vốn đầu tư thực hiện Nếu như toàn VKTTĐPN có tỷ lệ dự án thực hiện chiếm 50,52 tổng dự án đăng ký

Trang 29

đầu tư, với 42% vốn thực hiện so với tổng vốn đăng ký, thì ở Tỉnh Đồng Nai như đã phân tích tỷ lệ tương ứng lên đến 74,52% và 47%

2.2.2 - Tác động của FDI đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của Tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn 1996 – 2000

a-Tình hình phát triển kinh tế

Có thể nói rằng, với các tiềm năng và lợi thế riêng có như đã phân tích ở trên, Tỉnh Đồng Nai cùng với các địa phương khác trong VKTTĐPN trở thành là một khu vực kinh tế quan trọng và năng động nhất so với cả nước

GDP của Tỉnh Đồng Nai giai đoạn 1996 – 2000 (xin xem phần phụ lục – bảng

2.8, 2.9) liên tục giữ vững chiếm tỷ lệ cao trong GDP của VKTTĐPN và không ngừng

mở rộng tỷ trọng so với cả nước Nếu như năm 1996, GDP của Tỉnh chỉ có 3,25% so với GDP của cả nước thì đến năm 2000, tỷ lệ này đã tăng lên đến 3,81% Tuy nhiên, GDP của Tỉnh so với GDP của VKTTĐPN đã không tăng lên, năm 1996, tỷ trọng GDP của Tỉnh chiếm 10,70% tổng GDP của VKTTĐPN, đến năm 2000, tỷ lệ này là 11,6% giảm 0,1% Điều này cho thấy rằng, nhịp độ tăng trưởng bình quân của Tỉnh trong giai đoạn 1996 – 2000 cao hơn nhịp độ tăng trưởng của cả nước, nhưng lại thấp hơn VKTTĐPN Trong giai đoạn này, tăng trưởng bình quân của Tỉnh là 10,75% bằng 1,68 lần so cả nước và bằng 0,98 lần so với tốc độ tăng trưởng bình quân của VKTTĐPN

Trong GDP của Tỉnh, khu vực kinh tế trong nước đóng góp nhiều nhất Trong giai đoạn 1996 – 2000, tỷ trọng GDP khu vực kinh tế trong nước chiếm đến 79,55% GDP của Tỉnh Tuy nhiên tỷ trọng này có xu hướng giảm sút do bởi sự phát triển mạnh mẽ của khu vực có vốn ĐTNN Năm 1996, GDP của khu vực kinh tế trong nước chiếm đến 85,41% GDP của Tỉnh, đến năm 2000, tỷ trọng này chỉ còn 74,25%, tuy nhiên vẫn giữ được tỷ trọng ở mức cao, chi phối được nền kinh tế ở địa phương

Khu vực FDI ngày càng có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của Tỉnh Năm 1996, tỷ trọng GDP của khu vực FDI chiếm 14,59% tổng GDP của Tỉnh, năm 2000, tỷ lệ này đã tăng lên đến 25,75% trong tổng GDP của Tỉnh Sự đóng góp của khu vực FDI vào sự tăng trưởng kinh tế của Tỉnh không ngừng tăng lên chính là vào sự tốc độ tăng trưởng bình quân GDP của khu vực FDI luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân GDP của Tỉnh giai đoạn 1996 – 2000

Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng bình quân của khu vực FDI là 27,65% bằng 2,57 lần so tốc độ tăng trưởng bình quân toàn Tỉnh, bằng 3,98 lần so với tốc độ tăng trưởng bình quân của khu vực trong nước Mặc dù vậy, tốc độ tăng trưởng GDP của khu vực FDI đạt đỉnh cao vào năm 1997 đạt 34%, năm 1998 giảm sút chỉ đạt 22,07%, năm 1999 đạt 29,14%, năm 2000 đạt 26,62%

Trang 30

Tỷ lệ tăng trưởng GDP của khu vực FDI hàng năm trong giai đoạn 1996 – 2000 là 27,65% đóng góp đến 47,87% vào tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Tỉnh, điều này đặc biệt có ý nghĩa quan trọng khi khu vực kinh tế FDI chỉ chiếm có 9,75% lao động làm việc trong các ngành kinh tế và diện tích đất đai khá nhỏ

b – Đối với sự tăng trưởng ngành công nghiệp của Tỉnh

(xin xem phần phụ lục – bảng 2.10, 2.11, 2.12)

Tỉnh Đồng Nai là địa phương có sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế tích cực nhất trong cả nước Sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp, giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp là xu hướng tích cực theo con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá Kết quả của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chủ yếu là nhờ vào sự tăng trưởng vượt bậc của lĩnh vực công nghiệp trung bình hàng năm trong giai đoạn

1996 – 2000, GDP của khu vực công nghiệp và xây dựng của Tỉnh Đồng Nai tăng trưởng 15,74%, trong đó khu vực trong nước tăng trưởng 7,53%, khu vực FDI tăng trưởng 23,08%, đóng góp đến 77,82% sự tăng trưởng công nghiệp của Tỉnh

Không chỉ có tốc độ tăng trưởng cao, GDP khu vực FDI còn chiếm tỷ trọng cao trong GDP của ngành công nghiệp của Tỉnh Trung bình giai đoạn 1996 – 2000, giá trị GDP của ngành công nghiệp khu vực FDI chiếm đến 56,50% giá trị GDP công nghiệp của Tỉnh Tỷ trọng này không ngừng tăng trưởng hàng năm, năm 1996, tỷ trọng GDP ngành công nghiệp của khu vực FDI chỉ chiếm 47,75% giá trị GDP ngành công nghiệp của Tỉnh đã tăng lên đến 61,06% vào năm 2000 đạt giá trị GDP là 3334 tỷ đồng

Khu vực FDI còn đóng góp vào sự phát triển các KCN của Tỉnh Tính đến tháng 11/2001, tại 10 KCN của Tỉnh FDI đã có 247 dự án đăng ký chiếm đến 71,39% số dự án đăng ký vào KCN vốn FDI đăng ký là 4,32 tỷ USD chiếm đến 92,9 tổng số vốn đăng ký vào KCN Về thực hiện, khu vực FDI đã có 192 dự án chiếm 67,06% tổng số dự án thực hiện ở KCN, vốn đầu tư thực hiện chiếm 52,23% vốn đầu tư vào các KCN của Tỉnh

Qua đó cho thấy, khu vực FDI đã đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng công nghiệp của Tỉnh, góp phần vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Tỉnh Đồng Nai theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế

c- Đối với sự tăng trưởng đầu tư xã hội của Tỉnh

(xin xem phần phụ lục – bảng 2.13, 2.14)

Tỉnh Đồng Nai là nơi có vốn đầu tư lớn Tổng vốn đầu tư giai đoạn 1996 – 2000 là 18.211 tỷ đồng bằng 11,73% tổng vốn đầu tư ở VKTTĐPN, chiếm tỷ trọng là 33,38% so tổng GDP của Tỉnh, góp phần giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế của Tỉnh

Trang 31

Tỉnh là nơi thu hút khá nhiều vốn FDI, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư của Tỉnh giai đoạn 1996 – 2000, vốn FDI đầu tư được 12.403 tỷ đồng chiếm 68,11% tổng vốn đầu tư của Tỉnh Vốn FDI đạt cao vào năm 1997 ở mức 3548 tỷ đồng chiếm đến 74,38% tổng vốn đầu tư toàn Tỉnh Cũng như, vốn đầu tư trong nước, vốn đầu tư FDI có xu hướng giảm sút từ năm 1998, đến nay vẫn chưa đạt mức đầu tư của năm

1997 Chính sự giảm sút của vốn FDI đã làm giảm mạnh vốn đầu tư nói chung Trong sự sụt giảm vốn đầu tư của Tỉnh, 96,19% sự sút giảm có nguồn gốc từ sự sụt giảm khu vực FDI Chắc rằng, sự sụt giảm vốn đầu tư FDI sẽ gây nhiều trở ngại cho chiến lược tăng trưởng và phát triển kinh tế của Tỉnh trong thời gian tới

d – Đối với sự tăng trưởng xuất khẩu của Tỉnh

(xin xem phần phụ lục – bảng 2.15)

Bình quân giai đoạn 1996 – 2000, kim ngạch xuất khẩu của Tỉnh Đồng Nai chiếm đến 11,64% so với kim ngạch xuất khẩu ở VKTTĐPN bằng 8,28% kim ngạch xuất khẩu của cả nước

Bình quân giai đoạn 1996 – 2000, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI chiếm đến 85,90% tổng kim ngạch xuất khẩu của Tỉnh Đáng quan tâm hơn là tỷ trọng này không ngừng tăng trưởng qua các năm, nếu như năm 1996, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI chỉ có 56,48%, tăng vụt lên 83,59% vào năm 1997, không ngừng giữ vững vị trí trong những năm 1998, 1999, và tăng lên đến 91,41% năm 2000 Tỷ trọng không ngừng tăng lên cũng thể hiện được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của khu vực FDI luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng của khu vực trong nước Bình quân giai đoạn 1996 – 2000, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của khu vực FDI là 69,79%, trong khi khu vực trong nước hầu như không tăng trưởng chỉ có 0,35% hàng năm là con số không đáng kể, sự tăng trưởng xuất khẩu của Tỉnh Đồng Nai chủ yếu ở khu vực FDI Trong giai đoạn 1996 – 2000, Tỉnh Đồng Nai chưa cân đối được ngoại tệ, chênh lệch xuất khẩu và nhập khẩu vẫn còn trong tình trạng âm Mặc dù vậy, sự tăng trưởng xuất khẩu của Tỉnh Đồng Nai, như đã nói do sự đóng góp chính của khu vực FDI luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của cả nước cho nên tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Tỉnh Đồng Nai giai đoạn 1996 – 2000 không ngừng tăng lên trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, từ chỗ chỉ chiếm 4,47% năm 1996 đã tăng lên đến 11,64% năm 2000 Qua đó cho thấy khu vực FDI ở Tỉnh Đồng Nai đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng xuất khẩu, tạo nguồn ngoại tệ cho nhu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Tỉnh Đồng Nai và cả nước

e –Đối với ngân sách nhà nước của Tỉnh (xin xem phần phụ lục – bảng 2.16)

Bình quân giai đoạn 1996 – 2000, khu vực FDI đóng góp vào ngân sách nhà nước chiếm tỷ trọng là 13,82% tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Khu vực FDI

Trang 32

đóng góp vào ngân sách đạt đỉnh cao vào năm 1998 được 373 tỷ đồng chiếm đến 18,72% tổng thu ngân sách, sút giảm trong năm 1999, chỉ đóng góp 251 tỷ đồng chiếm 10,91% Năm 2000 tuy có tăng trưởng, nguồn đóng góp đến 312 tỷ đồng chiếm 12,42% nhưng vẫn còn thấp hơn năm 1998

Trong các khu vực kinh tế đóng góp vào ngân sách nhà nước, ngoại trừ thu từ nguồn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có tốc độ tăng trưởng khá cao đạt 29,10% về tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 1996 – 2000, sự đóng góp vào ngân sách của khu vực FDI cũng có tốc độ tăng trưởng khá tốt, đạt 14,74% bằng 1,15 lần so với tốc độ tăng trưởng thu ngân sách của khu vực trong nước Mặc dù vậy, khu vực kinh tế trong nước vẫn là khu vực đóng góp nhiều nhất vào thu ngân sách nhà nước ở địa phương, chiếm đến 66,76% cho thời kỳ 1996 – 2000

Sự đóng góp của khu vực FDI vào thu ngân sách trong thời kỳ 1996 – 2000 chưa tương xứng với sự đóng góp vào GDP Như đã phân tích ở trên, GDP khu vực FDI chiếm đến 20,45% tổng GDP của Tỉnh trong thời kỳ 1996 – 2000, nhưng chỉ đóng góp có 13,8% vào ngân sách của thời kỳ này Mà nguyên nhân chủ yếu không thể do hoạt động kinh doanh của khu vực FDI không hiệu quả bằng hoạt động kinh doanh của khu vực trong nước, mà là do cơ quan thuế không kiểm soát được tình hình tài chính, hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN

f- Đối với việc giải quyết việc làm cho người lao động

Tính đến cuối năm 2000, khu vực FDI đã thu hút được 84.200 lao động chiếm 9,90% lao động làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân Việc thu hút lao động của khu vực FDI đạt đỉnh cao vào năm 1996 là 23.000 lao động, năm 1997 là 24.000 lao động Do cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính khu vực, năm 1998 khu vực FDI chỉ giải quyết được 5.000 lao động, năm 1999 là 3.200 lao động năm 2000 là 7.500 lao động Tuy nhiên những con số này chỉ thể hiện lao động trực tiếp làm việc tại các doanh nghiệp có vốn ĐTNN Khu vực FDI còn gián tiếp giải quyết lao động trong các ngành phục vụ cho các doanh nghiệp này Nhất là, nhờ vào sự đầu tư FDI đã tạo nên thị trường lao động khá sôi động ở Tỉnh, không chỉ thu hút lao động tại Tỉnh mà còn cả những lao động của các khu vực lân cận và của cả nước, tạo động lực cho lao động nâng cao trình độ, tay nghề đáp ứng cho nhu cầu công việc đòi hỏi ngày càng cao, chất lượng hơn Các doanh nghiệp FDI cũng đã đóng góp một phần vào thực hiện chính sách xã hội ở địa phương thông qua các hoạt động : xoá đói giảm nghèo, tặng nhà tình nghĩa, xây dựng chương trình phúc lợi, văn hoá, thể thao

g- Các đóng góp khác

- FDI là biện pháp hữu hiệu để mở rông quan hệ hợp tác quốc tế Nhờ có hoạt

động FDI, thời gian qua Tỉnh Đồng Nai đã có quan hệ hợp tác với 5 Tỉnh ở các nước

Trang 33

Rhône Alpes (Pháp), Tỉnh KyongSangNamDo (Hàn Quốc), Tỉnh Giang Tô (Trung Quốc), Tỉnh Chonburi (Thái Lan), và Tỉnh Ternopol (Ucraina), trên các lĩnh vực kinh tế – văn hoá – xã hội

- FDI góp phần mở rộng thị trường, từng bước liên kết sản xuất trong nước với khu vực và thế giới

- FDI đã thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế trong nước

- FDI đã góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam

2.3 - NHỮNG TỒN TẠI TRONG QUÁ TRÌNH THU HÚT FDI Ở TỈNH ĐỒNG NAI

Điều đáng quan tâm hơn là; số dự án đăng ký đầu tư vào Tỉnh đã có biểu hiện giảm sút mạnh sau khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực, từ số dự án đăng ký của năm 1997 là 50 dự án, vốn đăng ký là 602 triệu USD, sút giảm chỉ còn 19 dự án vào năm 1998, vốn đăng ký là 119,767 triệu USD chỉ bằng 38% về vốn dự án, 19,88% về vốn đăng ký, tiếp tục sút giảm ở năm 1999, còn 15 dự án án, vốn đăng ký là 63,050 triệu USD, chỉ chiếm 15% số dự án, 10,65% về vốn đăng ký so với năm 1997

b- Còn nhiều bất hợp lý trong cơ cấu đầu tư

Tổng số dự án đăng ký đầu tư tính đến năm 2001 đã có 57,69% số dự án, 50,86% số vốn đăng ký tập trung đầu tư vào thành phố Biên Hoà, nơi chỉ có 23,60% dân cư , 2,64% diện tích đất đai cả Tỉnh Các huyện Tân Phú và huyện Xuân Lộc có dân cư khá đông và diện tích lớn nhưng chưa thu hút được dự án đầu tư, huyện Vĩnh Cửu, huyện Định Quán và huyện Long Khánh thu hút vốn FDI không đáng kể Chính

vì sự bất hợp lý trong cơ cấu đầu tư giữa các địa phương trong Tỉnh đã dẫn đến sự tâp

Trang 34

trung dân số, lao động về thành phố Biên Hoà quá lớn gây ra những vấn đề nan giải và ngày càng phức tạp về mặt xã hội, như; nạn ùn tắc giao thông, nhà ở cho công nhân, cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào KCN và các tệ nạn xã hội

Trong tổng số dự án đăng ký đầu tư vào Tỉnh, có đến 90% số dự án, 70% vốn đầu tư thuộc các quốc gia Châu Á, chưa thu hút được nhiều vốn đầu tư của các nước phát triển ở Tây Aâu và Bắc Mỹ Điều này có thể sẽ dẫn đến sự lệ thuộc vào nền kinh tế của một số nước, bởi lẽ không tạo được lực lượng đối trọng trong các quốc gia đầu

tư vào nền kinh tế Tỉnh, cũng như nền kinh tế cả nước

Sự bất hợp lý giữa các thành phần kinh tế tham gia hợp tác liên doanh với nước ngoài Tính đến cuối năm 2001 việc tham gia hợp tác liên doanh với các với các đối tác nước ngoài chủ yếu do thành phần kinh tế nhà nước thực hiện, thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có tham gia hợp tác đầu tư nhưng con số không đáng kể Cho thấy, việc khai thác các nguồn lực trong nước, các thành phần kinh tế trong quan hệ hợp tác đầu tư của Tỉnh còn nhiều hạn chế

c- Môi trường sinh thái bị ảnh hưởng

Tình trạng môi trường sinh thái bị ảnh hưởng khá lớn trong quá trình thực hiện các dự án FDI được thể hiện qua các khía cạnh sau:

- Các nhà đầu tư chưa thực sự quan tâm đến yếu tố môi trường do bởi tiết kiệm chi phí đầu tư Trong khi đó, tại một số KCN chưa được xây dựng nhà máy xử lý chất thải chung, và thậm chí nếu có thì sự ảnh hưởng của chất thải công nghiệp đối với môi trường vẫn có thể xảy ra

-Vấn đề xử lý chất thải được triển khai thực hiện tốt tại các KCN ở Tỉnh Đồng Nai, tuân thủ theo đúng tiêu chuẩn nhà nước đề ra Chẳng hạn như : các loại chất thải rắn không độc hại được thu gom và xử lý như rác sinh hoạt, các loại chất thải rắn độc hại được tập trung xử lý theo những qui định nghiêm ngặt Hầu hết các DN tuân thủ tốt các quy định, nhưng cũng có một số ít chưa chấp hành nghiêm (như Vedan, )

-Việc chuyển dịch ngành công nghiệp có chất thải độc hại từ các nước phát triển sang nước có nền kinh tế kém phát triển là một xu hướng đáng lo ngại

-Tình hình ô nhiễm môi trường còn do trong quá trình lựa chọn công nghệ nhập khẩu do nhiều lý do khác nhau, các nhà đầu tư chưa quan tâm đúng mức đến mục tiêu bảo vệ môi trường (ở nước ta có khoảng 10% doanh nghiệp FDI chưa tuân thủ đúng)

d- Nhiều vấn đề tồn tại trong chuyển giao công nghệ

- Công nghệ chuyển giao không phải là những công nghệ thuộc trình độ tiên tiến, hiện đại Như trên đã phân tích, tỷ lệ có trình độ kỹ thuật công nghệ trung bình chiếm trên 50%

Trang 35

- Công nghệ chuyển giao không đồng bộ Các dự án FDI chỉ thực hiện một bộ phần, một công đoạn trong dây chuyền sản xuất của các công ty là chủ đầu tư, chủ yếu thực hiện việc gia công lắp ráp

- Vấn đề chuyển giá trong chuyển giao công nghệ còn khá phổ biến bằng chính sách nâng giá thiết bị công nghệ để tăng tỷ lệ vốn góp vào liên doanh

e- Không quản lý được kết quả tài chính thực của các doanh nghiệp FDI (xin xem phần phụ lục – bảng 2.17)

Theo số liệu thu thập, khảo sát từ cơ quan thuế, tình hình kê khai lỗ của các doanh nghiệp FDI ở Tỉnh Đồng Nai khá lớn Năm 1998 số doanh nghiệp khai lỗ và không lãi là 111 doanh nghiệp chiếm đến 67,27% số doanh nghiệp đang hoạt động, số lỗ lên đến 1.277.206 triệu đồng Năm 1999 là 108 doanh nghiệp chiếm 62,79% số doanh nghiệp đang hoạt động với số lỗ là 80,37 triệu USD Các doanh nghiệp khai lỗ

ở các mức độ khác nhau Việc gây nên hiện tượng lỗ, không lãi xuất phát từ nhiều nguyên nhân, cơ bản như: Do yếu kém trong hoạt động sản xuất kinh doanh; Do môi trường đầu tư không thuận lợi; Do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực; Do sức mua của nền kinh tế giảm; Do chính sách tỷ giá hối đoái cứng nhắc; Đặc biệt là do chuyển gía của các nhà đầu tư nước ngoài nhưng phía Việt Nam lại thiếu thông tin để kiểm chứng; Kê khai giảm giá đầu ra; Ngoài ra, một số dịch vụ thu tiền từ nước ngoài không được phản ánh đúng vào doanh thu

f- Những ảnh hưởng về chính trị - văn hóa- xã hội

- FDI tăng lên một mặt đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của Tỉnh, của cả nước, nhưng mặt khác tỷ trọng FDI đóng góp vào GDP càng lớn, tạo ra sự phụ thuộc về kinh tế càng nhiều có thể sẽ dẫn đến những ảnh hưởng về mặt chính trị;

- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ giải quyết lao động có việc làm, nâng cao thu nhập đồng thời cũng tăng khoảng cách chênh lệch về thu nhập trong các tầng lớp dân cư, gây ra mâu thuẫn xã hội trong quan hệ chủ – thợ Ơû Tỉnh Đồng Nai trong thời gian qua cũng phát sinh nhiều vấn đề đáng quan tâm, tình trạng ngược đãi công nhân, vi phạm nhân phẩm của người lao động, vi phạm hợp đồng lao động … đã dẫn đến các cuộc đình công, bãi công

-Tệ sùng bái nước ngoài, xem nhẹ những giá trị văn hoá dân tộc chạy theo lối sống thực dụng, vị kỷ … đang có chiều hướng gia tăng, làm tổn hại đến truyền thống văn hoá dân tộc

Ngày đăng: 21/10/2015, 11:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 : Tài nguyên đất đai của VKTTĐPN - Giải pháp chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh đồng nai giai đoạn 2001 2010
Bảng 2.1 Tài nguyên đất đai của VKTTĐPN (Trang 62)
Bảng 2.3 : Tình hình đăng ký FDI ở tỉnh  Đồng Nai - Giải pháp chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh đồng nai giai đoạn 2001 2010
Bảng 2.3 Tình hình đăng ký FDI ở tỉnh Đồng Nai (Trang 63)
Bảng 2.5 Địa bàn FDI đăng ký đầu tư  ở tỉnh  Đồng Nai đến  năm 2000 - Giải pháp chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh đồng nai giai đoạn 2001 2010
Bảng 2.5 Địa bàn FDI đăng ký đầu tư ở tỉnh Đồng Nai đến năm 2000 (Trang 64)
Bảng 2.6a Trình độ tự động hoá của ngành công nghiệp ở tỉnh  Đồng Nai. - Giải pháp chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh đồng nai giai đoạn 2001 2010
Bảng 2.6a Trình độ tự động hoá của ngành công nghiệp ở tỉnh Đồng Nai (Trang 65)
Bảng 2.6b-Trình độ tự động hoá của ngành công nghiệp ở tỉnh  Đồng Nai. - Giải pháp chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh đồng nai giai đoạn 2001 2010
Bảng 2.6b Trình độ tự động hoá của ngành công nghiệp ở tỉnh Đồng Nai (Trang 65)
Bảng 2.8  GDP của tỉnh  Đồng Nai giai đoạn 1996 – 2000 - Giải pháp chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh đồng nai giai đoạn 2001 2010
Bảng 2.8 GDP của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 1996 – 2000 (Trang 66)
Bảng 2.9 Tỷ lệ tăng trưởng GDP của tỉnh  Đồng Nai giai đoạn 1996 – 2000 - Giải pháp chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh đồng nai giai đoạn 2001 2010
Bảng 2.9 Tỷ lệ tăng trưởng GDP của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 1996 – 2000 (Trang 67)
Bảng 2.10 : GDP khu vực công nghiệp ở tỉnh  Đồng Nai giai đoạn 1996 - 2000 - Giải pháp chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh đồng nai giai đoạn 2001 2010
Bảng 2.10 GDP khu vực công nghiệp ở tỉnh Đồng Nai giai đoạn 1996 - 2000 (Trang 67)
Bảng 2.11 : Tỷ lệ tăng trưởng công nghiệp ở Đồng Nai giai đoạn 1996 - 2000 - Giải pháp chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh đồng nai giai đoạn 2001 2010
Bảng 2.11 Tỷ lệ tăng trưởng công nghiệp ở Đồng Nai giai đoạn 1996 - 2000 (Trang 67)
Bảng 2 .13-Vốn đầu tư xã hội của tỉnh  Đồng Nai giai đoạn 1996 – 2000 - Giải pháp chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh đồng nai giai đoạn 2001 2010
Bảng 2 13-Vốn đầu tư xã hội của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 1996 – 2000 (Trang 68)
Bảng 2.12 Cơ cấu GDP của tỉnh  Đồng Nai giai đoạn 1996-2000 - Giải pháp chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh đồng nai giai đoạn 2001 2010
Bảng 2.12 Cơ cấu GDP của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 1996-2000 (Trang 68)
Bảng 2 .15: Kim ngạch xuất khẩu của tỉnh  Đồng Nai giai đoạn 1996 – 2000 - Giải pháp chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh đồng nai giai đoạn 2001 2010
Bảng 2 15: Kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 1996 – 2000 (Trang 69)
Bảng 2 .14:Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư ở tỉnh  Đồng Nai giai đoạn 1996 – 2000 - Giải pháp chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh đồng nai giai đoạn 2001 2010
Bảng 2 14:Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư ở tỉnh Đồng Nai giai đoạn 1996 – 2000 (Trang 69)
Bảng 2.16 : Thu ngân sách ở tỉnh  Đồng Nai giai đoạn 1996 – 2000 - Giải pháp chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh đồng nai giai đoạn 2001 2010
Bảng 2.16 Thu ngân sách ở tỉnh Đồng Nai giai đoạn 1996 – 2000 (Trang 70)
Bảng 2.17: Kết quả tài chính của các doanh nghiệp FDI ở tỉnh Đồng Nai - Giải pháp chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh đồng nai giai đoạn 2001 2010
Bảng 2.17 Kết quả tài chính của các doanh nghiệp FDI ở tỉnh Đồng Nai (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w