CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐTTTNN TẠI TP.HCM TRONG THỜI
2.2 Tình hình thu hút vốn ĐTTTNN tại TP.HCM trong thời gian qua 21
2.2.1 Tình hình cấp giấy phép đầu tư 21
Trải qua hơn 13 năm thực hiện luật đầu tư nước ngoài, từ năm 1988 đến năm 2000 toàn thành phố đã có 1.150 dự án được cấp phép với tổng vốn đầu tư 12.467 triệu USD, chiếm 36,1% số dự án và 32,7% tổng vốn đầu tư của cả nước. Trong đó, số dự án trong khu chế xuất – khu công nghiệp là 248 với tổng vốn đầu tư là 1.113 triệu USD, ngoài khu chế xuất – khu công nghiệp 902 dự án với tổng vốn đầu tư là 11.354 trieọu USD.
Bảng số 7 : TỔNG HỢP TÌNH HÌNH CẤP PHÉP ĐTNN TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM ( 1988 –2000) ẹVT : trieọu USD
NĂM SỐ DỰ ÁN TỔNG VỐN ĐẦU TƯ TỔNG VỐN PHÁP ĐỊNH
1988 16 69 57
1989 25 375 142
1990 46 531 514
1991 73 597 329
1992 87 707 413
1993 102 1561 679
1994 125 1528 670
1995 155 2284 1005
1996 113 2307 858
1997 92 1180 891
1998 89 680 328
1999 108 470 224
2000 119 178 99
Toồng 1.150 12.467 6.209
Nguồn : Sở Kế Hoạch &Đầu Tư, Niên Giám Thống Kê Tp.HCM Qua bảng trên (bảng 7) ta có thể khái quát tiến trình nguồn vốn FDI vào TP.HCM thời gian qua như sau :
Giai đoạn 1988 –1990 : giai đoạn đầu số dự án được cấp phép còn ít chỉ có 41 với tổng vốn đầu tư 444 triệu USD.
Giai đoạn 1990 –1995 : Tiếp giai đoạn trước năm 1990 là giai đoạn tăng tốc của lượng vốn FDI vào thành phố. Trong giai đoạn này, ta thấy tốc độ tăng cả về số dự án và tổng vốn đầu tư đạt đến mức kỷ lục. Cụ thể số dự án cấp phép trong giai đoạn này là 588 dự án với tổng vốn đầu tư là 7.208 triệu USD gấp 14,3 lần về số dự án và gần
16,2 lần vốn đầu tư so với giai đoạn các năm trước 1990. So với cả nước, TP.HCM chiếm 40 % tổng số dự án và 42% tổng vốn đầu tư.
Đặc biệt, nguồn vốn FDI tại TP.HCM đạt đến đỉnh cao vào năm 1995 với 155 dự án và vốn đầu tư 2.284 triệu USD, tăng 24% về dự án và 49,48% tổng vốn đầu tư so với năm 1994. Sở dĩ tăng đột biến như vậy là do công tác chuẩn bị từ nhiều năm trước nay đến lúc ký giấy phép, ngoài ra còn phải kể đến nguyên nhân khách quan do Mỹ bỏ lệnh cấm vận dẫn đến nhiều nước tăng cường đầu tư vào Việt Nam mà trong đó TP.HCM được xem là môi trường thuận lợi.
Giai đoạn 1996- 2000 : tốc độ đầu tư nguồn vốn FDI vào cả nước nói chung và TP.HCM nói riêng đều giảm dần, trên địa bàn thành phố có thêm 521 dự án có vốn đầu tư nước ngoài 5.856 triệu USD (kể cả vốn tăng). Số lượng dự án năm 96 chỉ bằng 73 % so với năm 1995, 81% năm 97 so năm 96, 96,7% năm 98 so năm 97, năm 99 nhích lên 121 % so năm 98 và năm 2000 tăng 110% so với năm 1999.
Đặc biệt vào năm 1997 nguồn vốn FDI vào TP.HCM giảm đáng kể do ảnh hưởng tình hình khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á với số dự án 92 và tổng vốn đầu tư 1180 triệu USD, năm 1998 có 89 dự án với tổng vốn đầu tư 680 triệu USD, còn năm 1999 và năm 2000 mặc dù số dự án có tăng nhưng các nhà đầu tư chỉ đầu tư vào các dự án nhỏ nên số vốn giảm từ 470 triệu USD năm 1999 xuống còn 178 triệu USD naêm 2000.
Với vị trí trung tâm khu vực , nên thành phố vẫn là địa phương thu hút đầu tư cao nhất về số dự án và vốn đầu tư, chiếm 36,6% về số dự án và 31,9% tổng vốn đầu tư cả nước, kế đến là Hà Nội, Đồng Nai, Bà Rịa –Vũng Tàu. Việc phân bố không đều giữa các địa bàn lãnh thổ, một phần do kết cấu hạ tầng ở miền Nam thuận lợi hơn, nhưng điều cơ bản là TP.HCM và các tỉnh lân cận có môi trường kinh doanh năng động hơn phù hợp với yêu cầu đầu tư .
Trong quá trình hoạt động(1988- 2000), có 222 dự án bị rút giấy phép chiếm 19,3
% so với tổng số dự án được cấp phép và tổng vốn đầu tư 2.550 triệu USD chiếm 20,5% tổng vốn đầu tư được cấp phép từ năm 1988 - 2000. Tỷ lệ các dự án bị rút giấy phép ở hình thức 100% vốn nươc ngoài là 16%, hình thức liên doanh 77%, hình thức hợp tác kinh doanh 7 %. Số dự án bị rút giấy phép đa số có quy mô nhỏ, trung bình mỗi dự án khoảng 5 triệu USD, một dự án có vốn đầu tư khá lớn trên 216 triệu USD.
Qua việc khủng hoảng kinh tế tài chính tại khu vực Đông Nam Á làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, dẫn đến một số dự án bị rút giấy phép hoặc bị đình hoãn :
Bộ kế hoạch và Đầu tư đã có quyết định rút giấy phép đầu tư dự án xây dựng khu liên hợp nhằm cho thuê và kinh doanh các dịch vụ của Công ty liên doanh Sài Gòn Tả Ngạn TNHH có vốn đầu tư đăng ký 85 triệu USD. Dự án dự kiến sẽ xây dựng trên khu đất trên 7.000 m 2 tại số 164 Đồng Khởi, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh, thời gian hoạt động 43 năm, là liên doanh giữa công ty Quảng cáo Sài Gòn góp 40% vốn và Financiere Rive Gauche Asia Pacific (Singapore) góp 60% vốn. Dự án này được cấp phép từ 19/9/1996 đến nay vẫn chưa triển khai.
Theo thống kê Sở Kế hoạch – Đầu tư , tại TP.Hồ Chí Minh hiện có 22 dự án đầu tư trong lĩnh vực địa ốc, với tổng vốn đầu tư khoảng trên 1,4 tỷ USD đang bị đóng băng. Trong đó, có bốn dự án đang xây dựng phải đình hoãn với tổng vốn đầu tư khoảng 619 triệu USD. Ngoài ra, có 16 dự án đã xin tạm ngưng hoạt động và sử dụng vào mục đích khác, với tổng vốn đăng ký trước đây gần 700 triệu USD.
Bốn dự án đình hoãn :
+ Trung tâm văn hoá Thương mại Sài gòn thuộc Công ty liên doanh Việt Nam Jin wen (Vijico). Đây là liên doanh giữa tập đoàn Jin Wen ( Đài Loan) góp 70% vốn và ba đối tác Việt Nam (góp vốn bằng quyền sử dụng đất trên) gồm : Công ty dịch vụ phát triển đô thị thành phố (15%), Công ty công viên cây xanh (9%) và Công ty dịch vụ Du lịch Bến Thành (6%). Đến nay liên doanh đã được cấp phép hoạt động 6 năm, nhưng do đối tác gặp khó khăn xin tạm ngưng thi công tháng 7/2000. (Cty đã chi cho công trình 23 Triệu USD, hiện còn nợ các đơn vị thi công cung cấp vật tư Việt Nam gaàn 1,8 trieọu USD).
+ Khách sạn Holiday Inn Sài Gòn tổng vốn đầu tư : 27.334.640 USD, vốn pháp định : 7.334.640 USD, điện tích : 5.537 m 2 cấp phép ngày 30/7/1994
+ Khách sạn Grand imperial saigon :địa chỉ : 101 Hai Bà trưng, Q.I. tổng vốn đầu tư : 58.634.000 USD, vốn pháp định : 19.184.000 USD, diện tích : 6.510 m 2, cấp phép ngày 07/6/1994.
+ Công ty liên doanh SSI : địa chỉ 19-25 Nguyễn Huệ, Q.I, tổng vốn đầu tư : 9.200.000 USD, vốn pháp định : 2.239.713 USD, diện tích : 376 m 2, cấp phép ngày : 23/4/1994.
Nguyên nhân của việc rút giấy phép các dự án đầu tư là :
- Một là một số dự án có quy mô nhỏ, tính khả thi thấp thiếu nghiên cứu thị trường làm các chủ dự án không thể tiếp tục .
- Hai là một số dự án hạch toán khấu hao quá nhanh tài sản cố định , dẫn đến chi phí đầu tư ban đầu bị lỗ.
- Ba là một số không đảm bảo tỷ lệ xuất khẩu như đã cam kết, không tuân thủ đúng theo luật định hợp tác đầu tư nước ngoài của chính phủ Việt Nam ban hành.
Không có khả năng về vốn đầu tư hoặc hết khả năng đầu tư.
Ví dụ : Khu du lịch Non nước là công ty liên doanh giữa Việt Nam với công ty BBI có tổng vốn đầu tư là 243 triệu USD được cấp phép ngày 31/3/1995, đến tháng 12 năm 1996 Công ty BBI không thực hiện các thỏa thuận như ký kết mà còn gởi thông báo chuyển nhượng cổ phần cho Công ty Indochina & Mare Faber Mỹ. Tình hình này, ta cần phải nghiên cứu kỹ đối tác khi ký kết hợp tác đầu tư tránh tình trạng đối tác ký rồi kiếm đối tác khác để bán lại dự án.
Trường hợp P& G Việt Nam , công ty Việt Nam liên doanh với Procter & Gamble cấp phép hoạt động vào tháng 11 năm 1994 tổng vốn đầu tư 37 triệu USD trong đó Mỹ góp 70 %. Sau 3 năm hoạt động đến 31/01/1998 lỗ luỹ kế của Công Ty là 35 triệu USD, tổng nợ lên đến trên 40 triệu USD. Nguyên nhân : khoảng chi phí cao hơn so với luận chứng kinh tế kỹ thuật ban đầu, phí khuyến mãi, quảng cáo gấp 7 lần ( thực chi trong hai năm đầu là 82,2 tỷ đồng VN), chi tiền lương cho cao gấp hơn 3 lần trong năm đầu hoạt động (thực chi 3,4 triệu USD) . Trước tình hình đó, bên nước ngoài đưa ra 3 phương án :
- Nước ngoài mua 30% cổ phần của Việt Nam để chuyển thành 100% vốn nước ngoài
- Việt Nam mua lại 70 % cổ phần của nước ngoài.
- Hai bên cùng góp vốn để tăng vốn của liên doanh lên 90 triệu USD.
Hai phương án sau Việt Nam không có khả năng thực hiện. Ngày 04/3/1998 các bên nhất trí tăng vốn đầu tư lên 83 triệu USD, nước ngoài chiếm 93% , Việt Nam còn 7% tương đương 5,9 triệu USD, trong đó có 4,3 triệu USD đã góp vào P &G Việt Nam trước đây và 1,6 triệu USD mới bổ sung bằng giá trị quyền sử dụng đất.
Đôi khi quá trình chuẩn bị dự án chưa được quan tâm và thực hiện đúng mức, chất lượng dự án chưa tốt, còn sai sót và sửa đổi bổ sung nhiều lần làm kéo dài thời gian thẩm định dự án; thiếu hụt tài chính hoặc không đủ điều kiện uy tín đi vay ở nước họ dẫn đến không thực hiện cam kết góp vốn .
Như dự án NOGA-SAIGON được cấp phép vào ngày 03/12/1994 với vốn pháp định 57 triệu USD vốn đầu tư 216 triệu USD trong đó Việt Nam góp 30 % bằng giá trị quyền sử dụng 9.348 m 2 đất, Thuỵ sĩ góp 70% bằng tiền và giá trị các thiết bị vật tư . Đến tháng 4 năm 1995 làm lễ ra mắt Hội đồng quản trị. Theo hợp đồng từ tháng 5 đến tháng 7 năm 1995 Thuỵ Sĩ phải chuyển 4,7 triệu USD giải tỏa mặt bằng và 1 triệu USD cho TP.HCM xây dựng cơ sở hạ tầng, nhưng đến tháng 7 năm 1996 Thuỵ Sĩ
không chuyển đồng nào và xin Bộ Kế Hoạch và đầu tư cho kéo dài thời hạn góp vốn , tìm đối tác khác để chuyển nhượng 50% vốn pháp định, do khó khăn về tài chính. Đến tháng 10 năm 1997 Bộ Kế hoạch và đầu tư ra quyết định rút giấy phép, do đối tác Thụy Sĩ không có khả năng thực hiện dự án.
Một số trường hợp khác như bên Việt Nam yếu về trình độ quản lý, không đủ sức xử lý các vấn đề phát sinh, ở một số trường hợp Hội Đồng quản trị mất đoàn kết, mâu thuẫn kéo dài đã dẫn đến giải thể doanh nghiệp. Môi trường đầu tư ở một vài nơi không thuận lợi về mặt cơ sở hạ tầng cũng như do thiếu nhất trí trong cơ quan lãnh đạo địa phương và quần chúng, do chủ trương và bị ảnh hưởng đến quyền lợi cá nhân.
Hệ thống luật pháp, chính sách ưu đãi đầu tư chưa ổn định, thiếu đồng bộ chưa rõ ràng, làm cho việc hiểu luật chưa nhất quán, dẫn đến tranh chấp trong quá trình thực hiện dự án đầu tư. Cơ quan Nhà nước chưa kịp thời ngăn chặn các hoạt động trái pháp luật của các nhà đầu tư đã đến sai phạm nghiêm trọng buộc phải rút giấy phép.
2.2.2 Tình hình hoạt động dự án còn hiệu lực :
Tính đến cuối tháng 12/2000, sau khi trừ đi 225 dự án với 2.552 triệu USD vốn đầu tư do hết thời hạn hoạt động, đầu tư ra nước ngoài và bị rút giấy phép thì còn 925 dự án còn hiệu lực tổng vốn đầu tư 9.915 triệu USD. Gấp 2,6 lần số dự án và 1,27 lần về vốn đăng ký so với Hà Nội ( có trên 360 dự án còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đăng ký trên 7.800 triệu USD). So với Đồng Nai gấp 3,4 về số dự án và 2,2 lần về vốn đầu tư (có 274 dự án còn hiệu lực với vốn đăng ký 4.486 triệu USD). Gấp 10,8 lần về số dự án và 7,4 lần so với Hải Phòng ( T11/2000 có 86 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký gần 1.340 triệu USD). Gấp 15 lần về dự án và 5,2 lần về vốn đầu tư so với Bà Rịa Vũng Tàu ( có 62 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký :1913,6 triệu USD). Gấp 26 lần về số dự án và 4 lần về vốn đầu tư so với Bình Dương (có 379 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 2.400 triệu USD). So với cả nước, TP.HCM chiếm 29,4
% về số dự án , 25,4 % về tổng vốn đầu tư .
Sau đây ta cùng xem xét tình hình hoạt động của các dự án còn hiệu lực qua các năm , được thể hiện qua bảng sau (bảng 8):
Giai đoạn 1988-1989 : số dự án còn hiệu lực là 10 dự án với số vốn đầu tư là 181 triệu USD và vốn pháp định là 58 triệu USD.
Trong giai đoạn 1990-1995, số dự án và vốn đầu tư FDI tăng mạnh trên địa bàn TP.HCM. Từ 14 dự án năm 1990, tăng lên 40 dự án vào năm 1991, 82 dự án vào năm 1993, 111 dự án vào năm 1994, 124 dự án vào năm 1995. Đồng thời lượng vốn cũng tăng nhanh: năm 1995 bằng 443 % so với năm 1990, 428 % so với năm 1991, 359 % so naêm 1992, 139 % so naêm 1993, 166% so naêm 1994.
Bảng số 8 : Tình hình dự án còn hiệu lực từ năm 1988 đến năm 2000.
ẹVT : Trieọu USD
NĂM SỐ DỰ ÁN VỐN ĐẦU TƯ VỐN PHÁP ĐỊNH
1988 3 21 7
1989 7 160 51
1990 14 423 325
1991 40 471 245
1992 56 579 326
1993 82 1.481 628
1994 104 1.245 551
1995 130 2.061 897
1996 102 1.195 569
1997 84 1.005 835
1998 85 635 300
1999 102 463 212
2000 119 178 99
Toồng 928 9.917 5.045
Nguồn : Sở Kế hoạch & Đầu tư, niên giám thống kê TP. Hồ Chí Minh.
Bắt đầu từ cuối năm 1995, lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào TP.HCM có dấu hiệu giảm sút, ảnh hưởng cả giai đoạn 1996- 2000 : Năm 1996 từ 102 dự án với lượng vốn đầu tư 1.195 triệu USD, sang năm 1997 giảm xuống còn 84 dự án với vốn đầu tư bằng 84,1 % so năm 96, năm 1998 có 85 dự án với vốn đầu tư bằng 63,2 % so năm 97, 1999 số dự án có tăng lên 102 dự án với vốn đầu tư bằng 72,9 % so năm 1998. Đặc biệt vào năm 2000, số dự án tăng lên 119 nhưng vốn đầu tư chỉ bằng 38,4
% năm 1999. Điều này gây ra do ba nguyên nhân chính :
• Vẫn còn dư âm của cuộc khủng hoảng tài chính tác động.
• Cơ hội đầu tư tốt trong phạm vi chính sách cho phép đã được khai thác gần hết, trong khi đó lại chậm điều chỉnh chính sách để khai thác những khả năng đầu tư mới.
• Cơ chế, chính sách điều hòa kinh tế chưa tạo ra một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh , chưa theo thông lệ quốc tế nên chưa khai thác hết tiềm năng, thậm chí trở thành lực cản trong quá trình thu hút vốn đầu tư bên ngoài, điển hình trên lĩnh vực đất đai, nhà ở, thị trường tiền tệ.
Đầu tư nước ngoài vào thành phố 9 tháng đầu năm 2001 có 129 dự án được cấp phép với vốn đăng ký 260 triệu USD, tăng 76,7% về số dự án và tăng 75,6% về vốn
so cùng kỳ năm trước. Nếu tính thêm dự án dịch vụ điện thoại của Sài gòn Podtel có vốn đăng ký 217 triệu USD năm ngoài KCX-KCN. Nhìn chung, những dự án FDI vào thành phố trong thời gian qua có quy mô nhỏ bình quân khoảng 1 triệu USD/dự án, trong đó đến 60 dự án có vốn đăng ký dưới 0,5 triệu USD. Ngoài ra, còn có thêm 46 doanh nghieọp FDI xin taờng voỏn taờng 216 trieọu USD.
2.2.3 Hình thức đầu tư của dự án :
Bảng số 9 : TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI THEO HÌNH THỨC ĐẦU TƯ : (1988- 2000) ĐVT : Triệu USD
HÌNH THỨC SỐ
DỰ ÁN
VOÁN ĐẦU TƯ
VOÁN PHÁP ĐỊNH
VỐN ĐẦU TƯ TRUNG BÌNH
DỰ ÁN
Lieân doanh 359 5.927 2.543 16,5
Hợp tác
Kinh doanh 48 1.081 1.070 22,5
100 % vốn nước ngoài 518 2.907 1.432 5,6
TOÅNG SOÁ 925 9.915 5.045 10,72
CÔ CAÁU (%)
Lieân doanh 38,8 60,0 50,4 -
Hơp tác Kinh doanh
5,2 11,0 21,2 -
100 % vốn nước ngoài 56,0 29,0 28,4 -
Nguồn : Sở Kế hoạch & ĐT, niên giám thống kê TP.HCM năm 2000 Theo hình thức đầu tư , thì số dự án theo hình thức liên doanh chỉ chiếm 38,8%
trong tổng số dự án còn hiệu lực, nhưng số vốn đầu tư chiếm tỷ lệ cao nhất với tỷ lệ 60% so với tổng vốn đầu tư. Hình thức hợp tác kinh doanh chiếm tỷ lệ rất nhỏ 5,2%
với tổng vốn đầu tư chiếm 11% .Riêng hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm tỷ lệ cao nhất là 56 %, nhưng tỷ lệ vốn đầu tư chỉ chiếm 29% trong tổng vốn đầu tư.
Trong năm 2000 số dự án được cấp là 119 với tổng vốn đăng ký 178 triệu USD, trong đó có 22 dự án liên doanh với vốn đăng ký 17 triệu USD, 96 dự án 100% vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 161 triệu USD, hợp đồng HTKD 01 dự án.
Qua việc cấp phép trên cho thấy ngày càng nhiều nhà đầu tư chuộng hình thức 100%
vốn nước ngoài hơn là liên doanh. Điều này cũng chứng tỏ rằng chính quyền ta nổ lực cải thiện môi trường đầu tư , làm thông thoáng hơn và ngày càng được các nhà đầu tư nước ngoài tin cậy hơn.
2.2.4 Quy mô và thời gian hoạt động của các dự án : 2.2.4.1 Quy mô dự án :
Tính đến năm 2000 trên địa bàn TP.HCM số dự án còn hiệu lực là 925 với tổng vốn đầu tư 9.915 triệu USD và vốn pháp định 5.045 triệu USD. Sáu tháng đầu năm 2001 có một số dự án được cấp phép, song nhìn chung các dự án đầu tư chủ yếu là các dự án vừa và nhỏ.
BẢNG số 10 : SỐ DỰ ÁN CHIA THEO QUY MÔ VÀ HÌNH THỨC ĐẦU TƯ
(TÍNH ĐẾN 31/12/2000) ĐVT : SỐ DỰ ÁN
TOÅNG SOÁ CHIA RA LIEÂN
DOANH HỢP TÁC
K.DOANH 100% VOÁN NƯỚC NGOÀI
A. TỔNG SỐ DỰ ÁN 925 359 48 518
Dưới 1 triệu USD 235 59 20 153
Từ 1 triệu đến 10 triệu USD 530 192 19 317
Treõn 10 trieọu USD 160 108 09 48
B. CƠ CẤU SỐ DỰ ÁN (%) 100 100 100 100
Dưới 1 triệu USD 25,4 16,4 41,7 29,5
Từ 1 triệu đến 10 triệu USD 57,3 53,5 39,6 61,2
Treõn 10 trieọu USD 17,3 30,1 18,7 9,3
Nguồn : Sở KH & ĐT
Qua bảng trên (bảng 10) ta thấy quy mô dự án từ 1- 10 triệu USD chiếm 57,3 %, trong khi các dự án có quy mô vốn trên 10 triệu USD chiếm 17,3% tổng số dự án còn hiệu lực. Đi đôi với sự gia tăng vốn FDI và số dự án đầu tư đã kéo theo xu hướng gia tăng quy mô bình quân hằng năm của mỗi dự án. Vào những năm đầu thực hiện, quy mô bình quân mỗi dự án có giảm do sự gia tăng lượng vốn không theo kịp sự gia tăng số dự án đầu tư. Những năm tiếp theo, cụ thể năm 1994, 1995, 1996 quy mô vốn bình quân của mỗi dự án là 15,6 triệu USD, nổi bật vào năm 1996 quy mô này đã tăng và đạt mức 20,4 triệu USD/ dự án trong khi từ những năm 1993 trở về trước quy mô chỉ giao động ở mức trung bình 11 triệu USD/ dự án . Giai đoạn 1997 –2000 thì quy mô vốn lại bắt đầu dấu hiệu giảm sút một cách đáng kể chỉ ở mức 6,1 triệu USD/ dự án , nhất là vào năm 2000 trong khi dự án vẫn tăng nhưng lượng vốn đầu tư lại giảm xuống mức kỷ lục 1,5 triệu USD/ dự án.
Một số dự án có vốn đầu tư lớn tại Thành phố Hồ Chí Minh :
- Công ty liên doanh Việt Nam Jin Wen với mức đầu tư 525 triệu USD.
- Quảng trường Hạnh Phúc có vốn đầu tư 468 triệu USD.
- Công ty liên doanh Xi măng Sao Mai có vốn đầu tư 388 triệu USD.