CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐTTTNN TẠI TP.HCM TRONG THỜI
2.4 Kết quả và hiệu quả vốn FDI trên địa bàn TP.HCM : 42
2.4.2 Tình hình sử dụng và thu nhập của người lao động 44
Các Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố đã thu hút được nhiều lao động năm 1997 : 108.359 lao động, năm 1998 : 110.000 lao động, năm 1999 : 100.000 lao động. Đến cuối năm 2000 , các đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài tại thành phố tuyển dụng khoảng 120.000 lao động chưa kể hàng trăm lao động thời vụ xây dựng và lao động gián tiếp tăng 20% so năm 1999 và tăng 9% so năm 1998 . Số lao động đã ký kết hợp đồng lao động 112.230 lao động, trong đó 3 đến dưới 12 tháng : 14.000 lao động, 1năm : 53.048 lao động, trên 1-3 năm :34.907, không xác định thời hạn : 9.275 lao động.
Các doanh nghiệp đã thành lập tổ chức công đoàn là 400 doanh nghiệp, chưa thành lập tổ chức công đoàn là 271 doanh nghiệp, số doanh nghiệp đã có thoả ước lao động là 280 doanh nghiệp và chưa có thỏa ước lao động là 391 doanh nghiệp. Số doanh nghiệp có nội quy lao động đã đăng ký rất ít chỉ có 325 doanh nghiệp , nên việc chấp hành nội quy lao động còn hạn chế và đã xảy ra một số tai nạn lao động đáng tiếc. Được thể hiện ở bảng 18
Bảng số 18 : Tình hình tai nạn lao động ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xảy ra trên địa bàn trong năm 2000 :
CHỈ TIÊU SỐ LƯỢNG
1. Số doanh nghiệp có báo cáo tai nạn lao động 12 2. Số doanh nghiệp có xảy ra tai nạn lao động 09 3. Tổng số vụ tai nạn lao động
Trong đó : số người chết
156 05 4. số vụ tai nạn lao động chia theo nguyên nhân chủ yếu :
a. Do người sử dụng lao động b. Do người lao động
c. Lý do khác
08 144
34 Nguồn :Phòng quản lý lao động nước ngoài - Sở LĐTB & XH
Tính đến 15/9/2001 số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã có nội quy lao động là 376 doanh nghiệp, có thỏa ước lao động tập thể 275 doanh nghiệp với tổng số lao động đã đăng ký sử dụng lao động tại Sở 131.505 lao động, đã được cấp sổ lao động 102.444 lao động.
Lợi thế về lao động tuy còn rẻ nhưng khéo léo, có trình độ văn hoá cơ bản nên dễ tiếp thu đào tạo, ham học hỏi và cầu tiến đã được các nhà quản lý thừa nhận như nêu bảng trên. Ngoài ra, lực lượng lao động làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn được đào tạo nâng cao tay nghề, rèn luyện kỷ luật lao động công nghiệp và một số đủ khả năng tham gia công tác quản lý. Nhiều nhà doanh nghiệp đánh giá chất lượng lao động của ta cao hơn hết các nước trong khu vực. Một số doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thường tổ chức đào tạo cán bộ quản lý bằng cách thi tuyển rồi cho qua nước ngoài đào tạo một thời gian ngắn, đối với nhân viên thì tổ chức lớp học ngắn hạn tại chổ và sau một thời gian nếu có khả năng thì lên làm cán bộ quản lý hoặc thay vị trí chuyên gia nước ngoài. Bên cạnh đó, có nhiều lao động không những cư trú tại thành phố mà còn cư trú ở các tỉnh xin vào làm việc ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Nhưng số lao động được tuyển dụng chỉ chiếm 25% số lao động xin việc, do số lao động này chưa được qua đào tạo hoặc chỉ đào tạo ngắn ngày tại các trung tâm dạy nghề , nên chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà tuyển dụng. Trước tình
hình đó, năm 1999, Ban quản lý khu chế xuất đã thành lập trường cao đẳng bán công Công nghệ và Quản trị doanh nghiệp nhằm đào tạo nhân lực phù hợp với nhu cầu tuyển dụng và bổ túc nâng cao tay nghề cho những lao động đã làm việc.
Số lao động được tập trung vào các ngành thể hiện qua bảng sau ( bảng 19):
Bảng số 19 : Cơ cấu lao động theo ngành ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn TP.HCM tính đến 31/12/2000
NGÀNH SỐ ĐƠN
VÒ
SOÁ LAO ĐỘNG
TRÌNH ĐỘ TRONG
ĐÓ
Đại học Trung
caỏp Phoồ
thoõng Lẹ
nhập cư
Coõng nghieọp 349 127.300 7.078 3.590 84.226 33.705
Noõng laõm ngử 8 1.900 33 23 1.144 179
Xây dựng 21 1.900 74 59 1.367 449
GTVT-Bẹ 39 7.400 160 377 4.863 486
Thương mại 6 2.000 38 90 1.172 104
TC-TD 17 1.700 1.079 58 63 58
Ngành khác 231 100.300 3.538 1.803 29.165 5.019
Tổng cộng 671 242.500 12.000 6.000 122.000 40.000 Nguồn :Phòng Quản lý lao động nước ngoài - Sở LĐTB & XH Số doanh nghiệp có thành lập hội đồng hoà giải cơ sở là 117 chưa thành lập hội đồng hoà giải cơ sở là 554 doanh nghiệp. Do đó, khi xảy ra sự việc tranh chấp lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động không có ai trực tiếp đứng ra thương lượng, hoà giải đã dẫn đến việc đình công. Đặc biệt , trong các xí nghiệp sử dụng nhiều lao động như may mặc, giầy da, dưới sự quản lý của các chuyên gia Hàn Quốc thì tranh chấp lao động gia tăng từ 1 vụ năm 1990 tăng lên 20 vụ trong năm 1997 và xảy ra đình công trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trong năm 2000 là 11 doanh nghieọp.
2.4.2.2 Thu nhập của người lao động :
Thu nhập của người lao động hình thành nên hai nhóm : nhóm 45 – 250 USD/
tháng, nhóm 300 –1.500 USD/ tháng, và bình quân 110 USD/ tháng, hàng năm tạo ra thu nhập từ lực lượng lao động khoảng 91 triệu USD.
Mức thu nhập giữa người Việt Nam, người nước ngoài còn chênh lệch khá lớn.
Mặc dù số lượng người nước ngoài chỉ chiếm từ 1,8 %- 2% trong tổng số lao động, nhưng tổng mức thu nhập chiếm từ 25 –30% tổng mức thu nhập chung của lao động
đang làm việc tại khu vực này . Mức thu nhập của người nước ngoài cao gấp 20 lần mức lương của người lao động Việt Nam.