TÓM TẮT Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát thái độ và quyết định tư vấn TPCN cho bệnh nhân của các bác sĩ.. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhóm yếu tố gồm hiệu quả của TPCN, qu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ BÍCH VY
THÁI ĐỘ VÀ QUYẾT ĐỊNH TƯ VẤN THỰC PHẨM CHỨC NĂNG CHO BỆNH NHÂN CỦA CÁC BÁC SĨ TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TP.HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ BÍCH VY
THÁI ĐỘ VÀ QUYẾT ĐỊNH TƯ VẤN THỰC PHẨM CHỨC NĂNG CHO BỆNH NHÂN CỦA CÁC BÁC SĨ TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TP.HCM
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn thạc sĩ: “Thái độ của bác sĩ về việc tư vấn hướng dẫn sử dụng thực phẩm chức năng cho bệnh nhân tại bệnh viện Da Liễu Tp.HCM” là công trình nghiên cứu độc lập do chính tôi thực hiện với sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Hoàng Bảo Các số liệu được khảo sát từ thực tế và được xử
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
TÓM TẮT
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1
1.1.Đặt vấn đề………1
1.2.Tính cấp thiết của đề tài ……… 3
1.3.Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3.1.Mục tiêu tổng quát 3
1.3.2.Mục tiêu cụ thể 3
1.3.3.Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.5.Phương pháp nghiên cứu 4
1.6.Ý nghĩa của đề tài 5
1.7.Kết cấu của đề tài 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
2.1 Lý thuyết liên quan 6
Trang 52.1.2 Hệ quả của thông tin bất cân xứng 7
2.2 Định nghĩa và quản lý TPCN 10
2.3 Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan 11
2.4 Khung phân tích 14
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 16
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Quy trình nghiên cứu 17
3.2 Thực hiện nghiên cứu 19
3.2.1 Nghiên cứu định tính 19
3.2.2 Nghiên cứu định lượng 19
3.3 Mẫu nghiên cứu 22
3.4 Phương pháp thu thập dữ liệu 23
3.5 Phương pháp xử lý dữ liệu 24
3.5.1 Làm sạch dữ liệu 24
3.5.2 Kiểm định giá trị của thang đo 24
3.5.3 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 24
3.5.4 Phân tích tương quan – hồi qui 25
3.5.5 Kiểm định sự khác biệt theo các đặc điểm dân số học 25
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 26
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 27
4.1 Thống kê mô tả bộ dữ liệu khảo sát 27
4.1.1 Thống kê mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu 27
Trang 64.1.2 Thống kê mô tả thái độ và quyết định tư vấn của bác sĩ về TPCN 29
4.2 Đánh giá giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của thang đo bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) 31
4.3 Đánh giá độ tin cậy từng thành phần thang đo bằng phép kiểm Cronbach’s Alpha 33
4.4 Phân tích kết quả hồi qui 35
4.4.1 Tác động của dân số học và thái độ của bác sĩ đến quyết định tư vấn
36
4.4.2 Tác động của đặc điểm dân số học đến thái độ của bác sĩ 38
4.5 Kiểm định sự khác biệt trong quyết định tư vấn của bác sĩ theo đặc điểm dân số học 39
4.5.1 Giới tính 39
4.5.2 Tuổi 39
4.5.3 Số năm kinh nghiệm 40
4.5.4 Bằng cấp 40
4.6 Kiểm định sự khác biệt trong thái độ của bác sĩ theo đặc điểm dân số học 40
4.6.1 Giới tính 40
4.6.2 Tuổi 41
4.6.3 Số năm kinh nghiệm 42
4.6.4 Bằng cấp 43
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 46
Trang 75.1 Kết luận 47 5.2 Kiến nghị chính sách 51 5.3 Hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8EFA Exploratory Factor Analysis
EFSA European Food Safety Authority
FDA Food and Drug Administration
Tp.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
TPCN Thực phẩm chức năng
WHO World Health Organization
Trang 9
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Những thay đổi chính sách về TPCN của Bộ y tế 2
Bảng 3.1 Thang đo biến số 20
Bảng 3.2 Các sai lệch có thể xảy ra và biện pháp kiểm soát 24
Bảng 4.1 Thống kê mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu 28
Bảng 4.2 Thống kê mô tả thái độ và quyết định tƣ vấn của bác sĩ 29
Bảng 4.3 Đánh giá giá trị hội tụ của bộ câu hỏi 31
Bảng 4.4 Kết quả phân tích nhân tố khám phá của thang đo 32
Bảng 4.5 Kết quả phân tích nhân tố khám phá của thang đo sau điều chỉnh 33
Bảng 4.6 Đánh giá độ tin cậy của thành phần thang đo 34
Bảng 4.7 Tác động của đặc điểm dân số học và thái độ đến quyết định tƣ vấn 37
Bảng 4.8 Tác động của đặc điểm dân số học đến thái độ của bác sĩ 38
Bảng 4.9 Kiểm định sự khác biệt thái độ của bác sĩ theo giới tính 41
Bảng 4.10 Kiểm định sự khác biệt thái độ của bác sĩ theo nhóm tuổi 42
Bảng 4.11 Kiểm định sự khác biệt thái độ của bác sĩ theo số năm kinh nghiệm 43
Bảng 4.12 Kiểm định sự khác biệt thái độ của bác sĩ theo bằng cấp chuyên môn 44
Bảng 4.13 Kiểm định sự khác biệt thái độ của bác sĩ theo bằng cấp học thuật 45
Trang 10DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Thị trường xe ô tô 7
Hình 2.2: Khung phân tích 15
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 18
Biểu đồ 4.1 Tỉ lệ ĐƯTC thái độ của bác sĩ tại BV Da liễu và Ba Lan 30
Hình 4.1 Khung phân tích sau điều chỉnh 35
Trang 11TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát thái độ và quyết định tư vấn TPCN cho bệnh nhân của các bác sĩ Nghiên cứu được thực hiện dựa trên nghiên cứu của Olchowska-Kotala (2016) tại Ba Lan đồng thời tham khảo ý kiến của các chuyên gia thuộc trường Đại học Kinh tế Tp.HCM và các bác sĩ Nghiên cứu định tính được thực hiện nhằm điều chỉnh, bổ sung các biến quan sát Nghiên cứu định lượng được thực hiện trên phần mềm STATA gồm đánh giá độ tin cậy bằng phép kiểm Cronbach’s Alpha, đánh giá giá trị hội tụ và giá trị phân biệt bằng phương pháp phân tích nhân tố EFA và hồi qui theo mô hình Ordered Logit Mẫu khảo sát của nghiên cứu là 100 bác
sĩ đang công tác tại bệnh viện Da Liễu Tp.HCM
Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhóm yếu tố gồm hiệu quả của TPCN, quá trình đào tạo cho đội ngũ y bác sĩ và số năm kinh nghiệm thực hành lâm sàng của bác
sĩ đóng vai trò quan trọng trong việc ra quyết định tư vấn TPCN cho bệnh nhân Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, hơn ba phần tư số lượng bác sĩ quyết định có tư vấn TPCN cho bệnh nhân
Kết quả của nghiên cứu này sẽ là cơ sở khoa học giúp cho các nhà quản lý của các bệnh viện cũng như các cơ quan ban ngành hiểu rõ hơn về thái độ và quyết định của các bác sĩ đồng thời có phương hướng đưa ra các cơ chế, chính sách quản lý và đào tạo hợp lý
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay, thực phẩm chức năng (TPCN) đã là một phần của y học hiện đại Theo Cục an toàn thực phẩm Việt Nam (2011), tỉ lệ người trưởng thành sử dụng TPCN
ở thành phố Hồ Chí Minh là 43%, Hà Nội là 63% Kết quả này khá tương đồng với một số nghiên cứu trên thế giới như trong nghiên cứu của Dickinson (2011) với tỉ lệ người trưởng thành sử dụng TPCN dao động trong từ 64% đến 69%, Ủy ban an toàn dinh dưỡng Hoa Kỳ (2016) 71%, Spencer (2006) 50% ở nam và 63% ở nữ, Radimer (2004) 52% và Foote (2003) 58% ở nam và 72% ở nữ
Nhu cầu sử dụng TPCN của bệnh nhân là rất lớn, tuy nhiên đa số là do bệnh nhân tự ý sử dụng mà không nhận được sự tư vấn sử dụng TPCN từ bác sĩ, bệnh nhân cũng không có xu hướng tự thông báo với bác sĩ về việc bổ sung TPCN Nghiên cứu của Tsokeva (2015) cho thấy có đến 46% bệnh nhân không được bác sĩ hỏi về việc sử dụng TPCN và 79% số người có sử dụng TPCN không thông có xu hướng tự thông báo với bác sĩ Kết luận trên cũng được rút ra từ các nghiên cứu của Dickinson (2014), Bailey (2013), Posadzki (2013), Tsai (2012), Eichhorn (2011), Denham (2011) và Marinac (2007)
Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng việc tự ý sử dụng TPCN tiềm ẩn các tác dụng bất lợi và nguy cơ tương tác với các thuốc đang sử dụng, cụ thể là trong các nghiên cứu của Colalto (2012), Eichhorn (2011), Peng (2004), De Smet (2004, 2002), Villegas (2001), Marrone (1999), Cupp (1998), Eisenberg (1998) và Miller (1998) Vì những bất lợi trên nên các tổ chức y tế uy tín trên thế giới như Cục quản lý dược phẩm
và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) và Viện y tế quốc gia Hoa Kỳ (NIH) khuyến cáo bệnh nhân nên tham khảo ý kiến của chuyên gia y tế trước khi quyết định sử dụng TPCN cũng
Trang 13Ở Việt Nam, các cơ quan quản lý y tế có đưa ra các chính sách và hướng dẫn phù hợp với xu hướng của thế giới hay không? Thực trạng cho thấy, với tốc độ phát triển nhanh chóng của thị trường TPCN, hệ thống quản lý nhà nước về TPCN thể hiện
sự bối rối khi liên tiếp đưa ra những văn bản trái ngược nhau về quản lý TPCN, điều này đã gây không ít khó khăn cho các chuyên viên y tế trong việc tiếp cận và hướng dẫn người dân sử dụng TPCN hợp lý nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe Những thay đổi trong chính sách được trình bày cụ thể trong bảng 1.1
Bảng 1.1: Những thay đổi chính sách về TPCN của Bộ y tế
02/2008 Thầy thuốc không được kê TPCN vào đơn thuốc Quyết định số
04/2008/QĐ-BYT
11/2013 Thầy thuốc khi khám chữa bệnh được quyền hướng
dẫn sử dụng TPCN cho người bệnh
Công văn số 7087/BYT-ATTP
02/2016 Bác sĩ không được kê TPCN vào đơn thuốc Thông tư số
05/2016/TT-BYT
04/2016
Cấm thông tin, quảng cáo, tiếp thị, kê đơn, tư vấn, ghi nhãn, hướng dẫn sử dụng có nội dung dùng để phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh, điều trị bệnh, giảm nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý
cơ thể người đối với sản phẩm không phải là thuốc, trừ trang thiết bị y tế
Luật dược số 105/2016/QH13
Như vậy, việc quản lý TPCN đang là một thách thức rất lớn cho hệ thống y tế Việt Nam, liệu rằng việc bỏ ngõ cho bệnh nhân tự ý sử dụng TPCN có phù hợp? Trước bối cảnh đó, việc khảo sát thái độ và quyết định của bác sĩ về việc hướng dẫn sử dụng TPCN cho bệnh nhân là thật sự cần thiết, khi chính bác sĩ là những người có trình độ chuyên môn cũng như kinh nghiệm lâm sàng về hiệu quả và tác dụng phụ cũng như
Trang 14tương tác giữa TPCN và thuốc Xuất phát từ nhu cầu này, tác giả tiến hành nghiên cứu
“Thái độ và quyết định tư vấn TPCN cho bệnh nhân của các bác sĩ tại bệnh viện Da Liễu Tp.HCM”
1.2 Tính cấp thiết của đề tài
Đề tài sẽ phác thảo bức tranh về thái độ của bác sĩ đối với TPCN, từ đó đưa ra quyết định có tư vấn TPCN cho bệnh nhân hay không Đây sẽ là cơ sở cho việc định hướng và ban hành các nội dung quản lý TPCN phù hợp với quyền lợi bảo vệ sức khỏe
người dân và phù hợp với xu hướng của thế giới
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 151.3.3 Câu hỏi nghiên cứu
Có hai câu hỏi nghiên cứu, đó là: (1) Thái độ của bác sĩ về TPCN như thế nào? (2) Bác sĩ có cần tư vấn cho bệnh nhân về TPCN không?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng khảo sát là bác sĩ đang công tác tại bệnh viện Da Liễu và tự nguyện tham gia vào nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu là thái độ và quyết định tư vấn TPCN bác sĩ Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ bảng câu hỏi khảo sát trực tiếp Thời gian thực hiện khảo sát tại bệnh viện Da Liễu là hơn 2 tháng (từ ngày 12/02/2017 đến ngày 15/04/2017)
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài phối hợp hai phương pháp nghiên cứu là phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng, trong đó nghiên cứu định lượng đóng vai trò chủ yếu
Nghiên cứu định tính được thực hiện để bổ sung và chỉnh sửa bộ câu hỏi dưới
sự hỗ trợ của các giảng viên trường Đại học Kinh tế Tp.HCM và các bác sĩ
Nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng cách thu thập dữ liệu từ những người tham gia nghiên cứu Tác giả trực tiếp phỏng vấn từng bác sĩ bằng phiếu khảo sát giấy Sau khi xử lý dữ liệu bằng phềm EXCEL và STATA, tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả nhằm phân tích đặc điểm mẫu khảo sát và thái độ của bác sĩ, từ đó làm nền tảng hỗ trợ cho kết quả của phương pháp định lượng Tiếp đến, tác giả sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis – EFA) và phép kiểm Cronbach’s Alpha để kiểm định giá trị, độ tin cậy của bộ câu hỏi và xây dựng biến số thái độ của bác sĩ
Tác giả hồi qui theo phương pháp Ordered Logit với biến phụ thuộc là quyết định tư vấn TPCN, các biến độc lập (biến giải thích) là đặc điểm dân số học (gồm tuổi, giới tính, số năm kinh nghiệm, bằng cấp chuyên môn và bằng cấp học thuật) và thái độ
Trang 16của bác sĩ đối với TPCN Sau cùng, tác giả sử dụng kiểm định T-test và ANOVA để kiểm định sự khác biệt trong thái độ và quyết định tư vấn theo các đặc điểm dân số học
1.6 Ý nghĩa của đề tài
Thứ nhất, kết quả nghiên cứu sẽ cho độc giả có được cái nhìn tổng quát về 11 thái độ của bác sĩ về TPCN và quyết định tư vấn TPCN của bác sĩ
Thứ hai, nghiên cứu giúp xác định nhân tố nào trong đặc điểm dân số học và thái độ của bác sĩ có tác động đến quyết định tư vấn TPCN của bác sĩ Đồng thời, nghiên cứu cũng thực hiện so sánh sự khác biệt trong thái độ và quyết định tư vấn của bác sĩ phân chia theo tuổi, giới tính, số năm kinh nghiệm thực hành y khoa, bằng cấp chuyên môn và bằng cấp học thuật
Thứ ba, tác giả chưa tìm thấy nghiên cứu nào trên thế giới thực hiện phân tích các yếu tố tác động đến quyết định tư vấn TPCN với đối tượng khảo sát là bác sĩ Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu sâu hơn với từng đối tượng khảo sát Từ
đó, ban lãnh đạo các bệnh viện cũng như cơ quan ban ngành trong hệ thống quản lý y
tế sẽ có định hướng và ban hành các chiến lược và chính sách về TPCN hiệu quả hơn nhằm nâng cao sức khỏe người dân
1.7 Kết cấu của đề tài
Đề tài nghiên cứu được tác giả trình bày gồm 5 chương Chương 1 trình bày tổng quan về đề tài Chương 2 trình bày về cơ sở lý thuyết Chương 3 trình bày về phương pháp nghiên cứu Chương 4 trình bày về kết quả nghiên cứu và bàn luận Cuối cùng là chương 5 trình bày kết luận nghiên cứu, đề xuất giải pháp, hướng mở rộng nghiên cứu và hạn chế của đề tài
Trang 17CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trong chương 2, tác giả trình bày các lý thuyết liên quan đến nhận thức, thái độ, hành vi làm cơ sở cho việc đánh giá, giải thích thái độ của bác sĩ Đồng thời chương này cũng trình bày các khái niệm liên quan đến TPCN và các nghiên cứu thực nghiệm
có liên quan Sau cùng, tác giả dựa vào lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan để xây dựng khung phân tích
2.1 Lý thuyết liên quan
2.1.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng
Những vấn đề liên quan đến thông tin bất cân xứng được Akerlof (1970), nhà
kinh tế học người Mỹ đưa ra trong tác phẩm The market for “Lemons”: Quality
Uncertainly and The Market Mechanism Trong bài nghiên cứu này, tác giả đề cập đến
thị trường mua bán xe ô tô Trong thị trường này có xe ô tô chất lượng tốt và chất lượng xấu
Nếu cả người bán và người mua đều biết được chất lượng mỗi chiếc xe thì hai thị trường xe tốt và xấu được minh họa như trong hình 2.1 Trong phần (a), SH là đường cung và DH là đường cầu của xe chất lượng tốt Tương tự, SL và DL trong phần (b) là đường cung và đường cầu của xe chất lượng xấu Theo vị trí tương đối, SH luôn nằm bên trái SL, DH cao hơn DL Theo sự cân bằng cung cầu của hình vẽ, giá thị trường của xe chất lượng tốt là 10.000 USD, đối với xe chất lượng thấp là 5.000 USD
và tại điểm cân bằng thì có 50.000 xe mỗi loại được bán ra
Trên thực tế, những người bán thì biết xe nào là xe tốt và xe nào là xe xấu Tuy nhiên, điều này người mua thường không biết, họ chỉ biết sau khi mua và sử dụng xe một thời gian Tại điểm cân bằng, số lượng xe tốt và xấu bán ra là bằng nhau Do đó, người mua có thể xem xác suất để mua được một chiếc xe tốt là 50% Khi mua hàng, người mua xem các xe đều có chất lượng trung bình vì xác suất để có được xe tốt và xấu là ngang nhau, do đó, mức giá người mua sẽ trả là 7.500 USD Lúc này, số xe chất
Trang 18lượng tốt được bán ra giảm từ 50.000 chiếc xuống còn 25.000 chiếc, trong khi số xe chất lượng xấu được bán ra tăng từ 50.000 chiếc lên 75.000 chiếc Như vậy, với thị trường thông tin bất cân xứng, hàng hóa chất lượng thấp sẽ đẩy hàng hóa chất lượng tốt
ra khỏi thị trường (Pindyck và Rubinfeld, 2009)
Hình 2.1: Thị trường xe ô tô
Nguồn: Pindyck và Rubinfeld (2009) Như vậy, thông tin bất cân xứng có thể dẫn đến thất bại của thị trường, Trong trạng thái lý tưởng, người tiêu dùng sẽ có thể lựa chọn giữa những chiếc xe chất lượng tốt và chất lượng xấu Một số người sẽ chọn xe chất lượng tốt, một số khác sẽ chọn xe chất lượng xấu vì chi phí thấp Cả người bán và người mua cùng có lợi, nhưng thông tin bất cân xứng đã ngăn chặn thương mại cùng có lợi diễn ra (Pindyck và Rubinfeld, 2009)
2.1.2 Hệ quả của thông tin bất cân xứng
Varian (2010) và Mankiv (2011) cho rằng thông tin bất cân xứng có thể dẫn đến
Trang 19Lựa chọn ngược
Lựa chọn ngược là hiện tượng mà một bên của thị trường không thể quan sát chất lượng hàng hóa của bên kia Vì vậy, lựa chọn ngược đôi khi được gọi là vấn đề thông tin ẩn (Varian, 2010) Lựa chọn ngược là vấn đề thường phát sinh trong các thị trường mà người bán biết nhiều hơn người mua về thuộc tính của hàng hóa được bán Người mua chỉ có thể thấy được hình thức bên ngoài và những thông tin chất lượng do người bán cung cấp mà không thể thấy được chất lượng thật sự bên trong Do đó, người mua có nguy cơ mua phải hàng hóa có chất lượng thấp Ví dụ về thị trường mua bán xe ô tô đã qua sử dụng là ví dụ điển hình của lựa chọn ngược Điều này cũng xảy
ra ở nhiều thị trường khác như thị trường lao động Nguồn lao động có nhiều mức năng lực, và người lao động biết khả năng của mình trong khi các công ty thường khó nhận
ra hoặc rất tốn kém để nhận ra Khi công ty cắt giảm lương thưởng, người lao động có năng lực cao sẽ rời bỏ công ty và đi tìm việc khác Ngược lại, công ty có thể chi trả một mức lương cao hơn mức lương thị trường để thu hút sự kết hợp tốt hơn của người lao động (Mankiv, 2011) Thị trường bảo hiểm cũng là một thị trường được phân tích rất nhiều về vấn đề lựa chọn ngược Những người mua bảo hiểm y tế biết nhiều về tình hình sức khỏe của họ hơn là các công ty bảo hiểm Do đó, những người có sức khỏe kém có xu hướng mua bảo hiểm nhiều hơn, trong khi những người có sức khỏe tốt thì không mua
Khi xảy ra lựa chọn ngược thì số lượng giao dịch trên thị trường sẽ giảm Một phương án để khắc phục tình trạng này là phát tín hiệu, đó là hoạt động thường được cung cấp bởi những người cung cấp hàng hóa có chất lượng tốt để phân biệt với những người cung cấp hàng chất lượng kém Ví dụ, trong thị trường mua bán xe ô tô đã qua
sử dụng, người bán xe có chất lượng tốt sẽ có cam kết bảo hành cho người mua, điều
mà những người bán xe chất lượng kém sẽ khó thực hiện được (Varian, 2010) Tín hiệu trong thị trường lao động được người lao động phát ra thông qua bằng cấp và kinh nghiệm trước đó (Mankiv, 2011) Giáo dục là một tín hiệu mạnh mẽ trong thị trường
Trang 20lao động Mức độ giáo dục của một người có thể đo bằng số năm đi học, bằng cấp, danh tiếng trường đại học, bảng điểm Những người có thành tích học tập tốt có khuynh hướng thông minh hơn, năng động hơn, kỉ luật hơn, làm việc chăm chỉ hơn những người có thành tích không tốt, do đó, năng suất lao động cũng sẽ cao hơn (Pindyck và Rubinfeld, 2009)
Tín hiệu giúp hạn chế hiện tượng lựa chọn ngược Tuy nhiên, việc phát tín hiệu
là việc làm tốn kém Tín hiệu thường chỉ được cung cấp khi không quá tốn kém và có lợi cho người có sản phẩm có chất lượng cao hơn Nếu không, tất cả mọi người đều có cùng động cơ để sử dụng tín hiệu và như vậy, tín hiệu sẽ không cung cấp được thông tin Khi một công ty có sản phẩm tốt, họ sẽ sẵn sàng phát tín hiệu bằng cách chi trả cho quảng cáo và cho khách hàng dùng thử sản phẩm (Mankiv, 2011)
Trong một số trường hợp không tìm được tín hiệu thì việc buộc tham gia giao dịch đối với tất cả mọi người trong cùng một nhóm sẽ góp phần hạn chế hiện tượng lựa chọn ngược, ví dụ bảo hiểm toàn dân, bảo hiểm tư nhân toàn công ty (Varian, 2010)
Rủi ro đạo đức
Rủi ro đạo đức là hiện tượng mà một bên của thị trường không thể quan sát được hành động của bên kia Vì vậy, rủi ro đạo đức đôi khi được gọi là vấn đề hành động ẩn Rủi ro đạo đức thường gặp trong các thị trường liên quan đến dịch vụ, phân phối Ví dụ, người có bảo hiểm trộm cắp sẽ ít bảo vệ tài sản, người có bảo hiểm y tế toàn phần sẽ đi khám bệnh nhiều hơn, người lao động có thể làm việc dưới mức năng suất của họ (Varian, 2010)
Rủi ro đạo đức là hiện tượng một người có hành động mà người khác không thể quan sát được như có xu hướng gian dối, không trung thực hay biểu hiện những hành
vi không tốt Rủi ro đạo đức xảy ra khi một cá nhân hay một tập thể không chịu toàn bộ trách nhiệm hay hậu quả cho việc làm của mình, và vì vậy có biểu hiện ít cẩn thận hơn,
và làm cho người khác phải chịu một phần trách nhiệm hay hậu quả việc làm của mình
Trang 21Theo Pindyck và Rubinfeld (1999), những phân tích của Akerlof không chỉ bó gọn trong thị trường xe ô tô dùng rồi mà còn ở cả thị trường mang đặc trưng của thông tin bất cân xứng về chất lượng
Việc quan sát, kiểm soát hành động hiệu quả dựa vào các tín hiệu sẽ hạn chế vấn
đề rủi ro đạo đức (Varian, 2010; Mankiv, 2011) Ví dụ, đồng chi trả trong bảo hiểm y
tế, định mức chi trả tối đa trong bảo hiểm tư nhân, yêu cầu chủ nhà mua bình chữa cháy khi mua bảo hiểm cháy nổ
2.2 Định nghĩa và quản lý TPCN
Hiện nay thế giới chưa có một định nghĩa thống nhất về TPCN nhưng đều có điểm chung khi xem TPCN là các sản phẩm thuộc khoảng giao thoa giữa thực phẩm và thuốc Bộ y tế Việt Nam định nghĩa: “TPCN là thực phẩm dùng để hỗ trợ chức năng của cơ thể con người, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng, giảm bớt nguy cơ mắc bệnh, bao gồm thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khoẻ, thực phẩm dinh dưỡng y học”
TPCN trên thế giới thường được quản lý theo luật dành cho thực phẩm như ở Hoa Kỳ, TPCN được quản lý bởi Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ theo các văn bản pháp luật là: luật dinh dưỡng, ghi nhãn và giáo dục năm 1990 (The Nutrition, Labelling and Education Act: NLEA, 1990), luật bổ sung dinh dưỡng, sức khỏe và giáo dục (The Dietary Supplement, Health and Education Act: DSHEA, 1994)
và luật về hiện đại hóa Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm (The FDA Modernization Act: FDAMA, 1997) Ở Châu Âu, TPCN được quản lý bởi Cơ quan an toàn thực phẩm Châu Âu (EFSA), là cơ quan quản lý toàn bộ thực phẩm bao gồm TPCN
Trang 222.3 Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan
Gần đây nhất, tác giả Olchowska-Kotala (2016) đã phân tích thái độ, niềm tin và mong muốn được đào tạo về liệu pháp bổ sung và thay thế (Complementary and Alternative Medicine – CAM) của các bác sĩ tại Ba Lan, quốc gia có thực trạng sử dụng và quản lý về TPCN rất giống Việt Nam CAM là các thuốc và các phương pháp trị liệu bổ sung và thay thế cho các thuốc và phương pháp y học chính thống, trong đó
có TPCN Tại Ba Lan, có một số bệnh viện đã đưa CAM vào danh mục cung cấp cho bệnh nhân, tuy nhiên việc sử dụng CAM vẫn là một phương pháp nhạy cảm và cấm kị tại đây Tình trạng pháp lý về CAM vẫn chưa rõ ràng Theo luật, CAM chỉ được cung cấp bởi các bác sĩ nhưng trên thực tế, phương pháp này vẫn được cung cấp bởi những người không phải là bác sĩ Trước sức ép của các nhà trị liệu CAM, chính phủ Ba Lan
đã thành lập Hội đồng các phương pháp trị liệu thay thế năm 2002 (tương tự Hiệp hội thực phẩm chức năng được thành lập tại Việt Nam năm 2007) để hỗ trợ Bộ y tế đề ra một khuôn khổ pháp lý rõ ràng Tuy nhiên, các khuyến nghị của hội đồng này không được cộng đồng y tế chấp nhận và không có quy định nào được đưa ra Tác giả Olchowska-Kotala thực hiện nghiên cứu bằng cách khảo sát 170 bác sĩ bằng bảng câu hỏi giấy với thang đo Likert 5, sau đó tác giả gộp thang đo thành 3 mức độ và sử dụng phương pháp thống kê mô tả đồng thời sử dụng kiểm định Chi bình phương để so sánh thái độ của hai nhóm bác sĩ ít kinh nghiệm (dưới 3 năm) và nhiều kinh nghiệm (trên 3 năm) Kết quả nghiên cứu cho thấy hai phần ba các bác sĩ nhận thấy việc đào tạo về CAM là không đầy đủ và phần lớn các bác sĩ (86%) cho rằng bác sĩ nên quan tâm đến việc sử dụng CAM của bệnh nhân, hơn một nửa bác sĩ cho rằng kết hợp CAM với thuốc sẽ hiệu quả hơn so với chỉ dùng thuốc, việc sử dụng CAM sẽ cải thiện sức khỏe tốt cho bệnh nhân, tuy nhiên ba phần tư các bác sĩ nhận thấy cần có thêm nhiều nghiên cứu về hiệu quả của CAM
Một nghiên cứu khá công phu khác của Wahner-Roedler (2006, 2014) khi ông
Trang 23hành lại một khảo sát cách đó 8 năm, với cùng đối tượng và phương pháp nghiên cứu, được khảo sát với hơn 600 bác sĩ tại bệnh viện Mayo (Mỹ) Tác giả thực hiện nghiên cứu bằng cách gửi bảng câu hỏi vào hộp thư điện tử của các bác sĩ, sau đó sử dụng phân tích tương quan Pearson trên phần mềm SAS Kết quả cho thấy, bác sĩ tham gia khảo sát vào năm 2012 có nhiều khả năng sẽ đề nghị CAM cho bệnh nhân hơn (71% so với 44%) Vào năm 2004, có đến 75% các bác sĩ không bao giờ tư vấn CAM, nhưng con số này đã giảm chỉ còn 44% vào năm 2012 Tỉ lệ bác sĩ thảo luận về CAM cũng tăng lên Trong cả hai nghiên cứu, hầu hết các bác sĩ đều cho rằng sự kết hợp CAM sẽ tác động tích cực đến sự hài lòng của bệnh nhân và dễ dàng thu hút bệnh nhân hơn, nhưng các bác sĩ lại không thoải mái trong việc tư vấn cho bệnh nhân do chưa tiếp cận đầy đủ các thông tin về CAM Các bác sĩ nhận thấy rằng việc sử dụng CAM hiện tại là mối đe dọa cho sức khỏe cộng đồng, do đó nghiên cứu một lần nữa nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc đào tạo CAM trong chương trình y khoa chính quy và trong các khóa đào tạo liên tục
Trước đó, khi nhắc về vấn đề đào tạo CAM, Milden (2004) cũng cho kết quả tương tự khi khảo sát thái độ và thực hành sử dụng CAM của 56 bác sĩ bang California, bảng câu hỏi được gửi đi và nhận lại bằng hình thức thư tín Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích tương quan Pearson bằng phần mềm SPSS Kết quả chỉ ra rằng có 61% bác sĩ không khuyến khích CAM vì họ không đủ hiểu biết về an toàn và hiệu quả của CAM Nghiên cứu này đã chỉ ra việc cần thiết của đào tạo kiến thức về CAM cho bác sĩ, 81% bác sĩ yêu cầu được đào tạo về CAM
Trong các nghiên cứu cụ thể hơn về TPCN như trong nghiên cứu của Tarn (2013), các tác giả đã phân tích ba bộ dữ liệu từ ba nghiên cứu khác nhau của các tác giả Galliher (2010), Kravitz (2002) và Tarn (2013) để phân tích nội dung và tần suất các cuộc thảo luận về TPCN dựa vào dữ liệu ghi âm của các cuộc thăm khám Dữ liệu được tổng hợp để tăng số lượng các cuộc thăm khám có đề cập đến TPCN, tổng số lượt thăm khám của 3 nghiên cứu là 1.479 lượt từ 102 bác sĩ Kết quả nghiên cứu cho thấy
Trang 24trong số 1.479 lượt thăm khám có 357 lượt (24.2%) có thảo luận về TPCN, có 87% các bác sĩ thảo luận về TPCN với ít nhất 1 bệnh nhân trong nghiên cứu
Về việc bác sĩ có nên tư vấn hướng dẫn sử dụng TPCN cho bệnh nhân hay không, Glisson (2010) đã nhấn mạnh rằng các bác sĩ có đóng góp rất lớn trong việc giáo dục bệnh nhân sử dụng đúng TPCN Bác sĩ thảo luận với bệnh nhân về chế độ bổ sung TPCN sẽ giúp cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe bệnh nhân, giúp bệnh nhân chọn các sản phẩm phù hợp, đủ tiêu chuẩn chất lượng, và hiểu được các ảnh hưởng của loại TPCN sử dụng Glisson nhấn mạnh giao tiếp là bước đầu tiên để phát hiện bệnh nhân sử dụng TPCN, tư vấn giúp bệnh nhân tránh được tác dụng bất lợi và tương tác tiềm ẩn Trong quá trình khám bệnh, bác sĩ không cần giới thiệu hay khuyến khích sử dụng TPCN, tùy vào từng trường hợp cụ thể mà khuyến khích sử dụng hay không Ít nhất bác sĩ cần tư vấn và cung cấp thông tin cho bệnh nhân về những TPCN bệnh nhân đang sử dụng, trong các lần thăm khám, bác sĩ nên hỏi bệnh nhân về việc sử dụng TPCN và khuyên họ mang theo đơn thuốc và những thuốc, sản phẩm TPCN đang sử dụng để có lời khuyên thích hợp Bailey (2013) cũng có đề nghị tương tự, việc sử dụng TPCN đòi hỏi sự trao đổi giữa bác sĩ và bệnh nhân để làm rõ những lợi ích và rủi ro khi bệnh nhân đang sử dụng hoặc có ý định sử dụng TPCN, bác sĩ là đối tượng chuyên môn hỗ trợ việc ra quyết định sử dụng các chất bổ sung của bệnh nhân Kết quả trên cũng được đồng thuận trong các nghiên cứu của Pascale (2016), Udo (2016), Tsokeva (2015), Chiba (2015, 2014), Schofied (2010), Young (2009), Ashar (2008), Gardiner (2006), Robinson (2004) và Eisenberg (1998)
Một tỉ lệ rất lớn các nhân viên y tế đề nghị bệnh nhân sử dụng TPCN là kết quả nghiên cứu của Dickinson (2009), khảo sát thực hiện nhằm thu thập tỉ lệ sử dụng TPCN của 900 bác sĩ và 277 điều dưỡng, và mức độ đề nghị bệnh nhân sử dụng TPCN của họ Kết quả cho thấy 72% bác sĩ và 89% điều dưỡng sử dụng TPCN Lý do phổ biến nhất được đưa ra là nhằm cải thiện sức khỏe tổng thể Đối với việc khuyến cáo
Trang 25sĩ và điều dưỡng sử dụng TPCN có tỉ lệ khuyến cáo bệnh nhân sử dụng cao hơn, 85% trong số bác sĩ và 84% điều dưỡng Tuy nhiên, ngay cả những người không sử dụng TPCN cho bản thân cũng thường xuyên khuyến cáo bệnh nhân sử dụng TPCN, tỉ lệ này
là 62% đối với bác sĩ và 67% đối với điều dưỡng Hầu hết các bác sĩ và điều dưỡng tin tưởng vào các tạp chí y khoa uy tín (61% bác sĩ và điều dưỡng) và tin vào các nghiên cứu lâm sàng về TPCN mà họ đề nghị cho bệnh nhân (56% bác sĩ và 57% điều dưỡng)
Đa số các bác sĩ và điều dưỡng cho biết họ không nhận được sự đào tạo chính quy về TPCN nhưng họ luôn quan tâm đến các chuyên đề đào tạo liên tục liên quan đến TPCN (75% bác sĩ và 79% điều dưỡng) Tỉ lệ ủng hộ việc tư vấn TPCN cho bệnh nhân trong nghiên cứu của Furlow (2008) cũng tương tự khi khảo sát 401 bác sĩ Có 61.4% bác sĩ ủng hộ việc tư vấn TPCN cho bệnh nhân, 33.4% bác sĩ không đồng ý tư vấn TPCN Các bác sĩ cho rằng 41.2% số bệnh nhân sử dụng TPCN nhận được hiệu quả như công bố
2.4 Khung phân tích
Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan, tác giả xây dựng khung phân tích như hình 3.1 Khung phân tích cho thấy các yếu tố tuổi, giới tính, số năm kinh nghiệm, bằng cấp chuyên môn và bằng cấp học thuật có ảnh hưởng đến thái độ của bác sĩ về TPCN Đồng thời, quyết định tư vấn TPCN của bác sĩ chịu tác động bởi các đặc điểm dân số học và thái độ của các bác sĩ về TPCN
Trang 28CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong chương 3, tác giả trình bày quy trình nghiên cứu, cách thức xây dựng thang đo, cách thức thu thập và xử lý dữ liệu
3.1 Quy trình nghiên cứu
Đầu tiên, tác giả xác định vấn đề nghiên cứu dựa trên thực tế sử dụng và quản lý TPCN ở Việt Nam Sau đó, tác giả viết đề cương và lập kế hoạch thực hiện đề tài Tác giả nhận được sự hỗ trợ của các giảng viên khoa Kinh tế phát triển thuộc trường Đại học Kinh tế Tp.HCM để hoàn thành bộ câu hỏi Sau khi hoàn tất bộ câu hỏi khảo sát, tác giả tiến hành khảo sát thử nghiệm với 6 bác sĩ nhằm điều chỉnh sai sót, chỉnh sửa ngữ nghĩa cho rõ ràng và phù hợp với chuyên ngành khảo sát
Sau khi có được bảng câu hỏi cuối cùng, tác giả xin giấy giới thiệu của trường
ĐH Kinh tế Tp.HCM và giấy giới thiệu đính kèm phiếu khảo sát sẽ thực hiện của Khoa Kinh tế phát triển để nhận được sự đồng ý của Ban giám đốc và Phòng kế hoạch tổng hợp bệnh viện Da Liễu về việc khảo sát các bác sĩ trong bệnh viện
Tiếp theo, tác giả tiến hành nhập liệu bằng phần mềm EXCEL, xử lý và phân tích định lượng bằng phần mềm STATA Phép kiểm Cronbach’s Alpha và phương pháp phân tích nhân tố EFA được thực hiện để đánh giá giá trị và độ tin cậy của thang
đo, từ đó tác giả xây dựng khung phân tích mới Trên cơ sở đó, tác giả phân tích hồi qui bằng mô hình Ordered Logit và kiểm định sự khác biệt của các đặc điểm dân số học bằng kiểm định T-test và ANOVA Cuối cùng, tác giả viết và báo cáo kết quả thực hiện đề tài
Trang 29Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu
Trang 303.2 Thực hiện nghiên cứu
3.2.1 Nghiên cứu định tính
Tác giả phiên dịch bảng câu hỏi gốc sang tiếng việt, sau đó trình bày và xin ý kiến các chuyên gia Khoa kinh tế phát triển thuộc trường Đại học Kinh tế Tp.HCM Sau khi chỉnh sửa, các chuyên gia đồng ý tác giả sử dụng bảng câu hỏi làm nền tảng cho khảo sát Về việc xây dựng mô hình, sau thảo luận, các chuyên gia đồng tình với
mô hình nghiên cứu ban đầu do tác giả đề xuất
Sau đó, tác giả tiến hành khảo sát thử trên 6 bác sĩ và chỉnh sửa một số thuật ngữ cho phù hợp với thuật ngữ y khoa cũng như làm rõ ngữ nghĩa hơn Bảng câu hỏi cuối cùng cũng được các chuyên gia trường Đại học Kinh tế Tp.HCM công nhận Tác giả sử dụng bảng câu hỏi có đóng dấu của Khoa kinh tế phát triển để xin phép và tiến hành khảo sát tại bệnh viện Da Liễu Tp.HCM
3.2.2 Nghiên cứu định lượng
Các ý kiến trả lời được quy đổi thành điểm theo thang đo Likert 5 như sau: 1 điểm (hoàn toàn không đồng ý), 2 điểm (không đồng ý), 3 điểm (trung lập), 4 điểm (đồng ý), 5 điểm (hoàn toàn đồng ý) Mỗi câu hỏi khảo sát là một phát biểu về thái độ đối với TPCN Với cách thiết kế như vậy, các bác sĩ sẽ cho biết mức độ đồng tình của mình với phát biểu đó theo thang điểm từ 1 đến 5
Bảng câu hỏi được thiết kế gồm 3 phần Phần đầu giới thiệu mục đích phỏng vấn, yêu cầu phỏng vấn, cam kết với người cung cấp thông tin Phần thứ hai thu thập đặc điểm của bác sĩ được phỏng vấn (bao gồm họ tên, năm sinh, giới tính, bằng cấp, kinh nghiệm) Phần thứ ba khảo sát thái độ và quyết định tư vấn TPCN của bác sĩ gồm
12 câu hỏi chính trong đó có 11 câu hỏi thuộc 4 biến đo lường thái độ của bác sĩ về TPCN và 1 biến đo lường quyết định tư vấn TPCN cho bệnh nhân
Trang 31Bảng 3.1 Thang đo biến số
Tên
biến Mô tả biến Thang đo
Kì vọng dấu
Một nghiên cứu của Furnham (2003) được thực hiện
ở Anh kết luận rằng các chương trình đào tạo có ảnh hưởng đến thái độ của bác sĩ và các bác sĩ có xu hướng tăng tương tác với bệnh nhân hơn
Maha (2007) cho rằng cần có thêm nhiều nghiên cứu
về hiệu quả vì giá trị rút ra từ nghiên cứu lâm sàng đáng tin cậy hơn kinh nghiệm lâm sàng
75% bác sĩ cho rằng cần có thêm nhiều nghiên cứu
về hiệu quả và hơn 50% bác sĩ đánh giá thời gian đào tạo ở đại học là quá ít (Olchowska-Kotala)
86% bác sĩ cần quan tâm đến thực trạng sử dụng của bệnh nhân (Olchowska-Kotala, 2016)
Trang 32+
Hơn 50% bác sĩ cho rằng CAM hiệu quả hơn giả dƣợc và việc kết hợp trong điều trị sẽ hiệu quả hơn 62% bác sĩ cho rằng CAM giúp ích cho cuộc sống của bệnh nhân (Olchowska-Kotala, 2016)
Trang 33Trong nghiên cứu, tác giả dùng thang đo Likert 5 và quy đổi thành điểm các ý kiến trả lời nhƣ sau:
- Đối với những nhận định mang ý nghĩa tích cực: 1 điểm với ý kiến hoàn toàn không đồng ý; 2 điểm với không đồng ý; 3 điểm với trung lập; 4 điểm với đồng ý; 5 điểm với hoàn toàn đồng ý
- Đối với những nhận định mang ý nghĩa tiêu cực: 5 điểm với ý kiến hoàn toàn không đồng ý; 4 điểm với không đồng ý; 3 điểm với trung lập; 2 điểm với đồng ý; 1 điểm với hoàn toàn đồng ý
- Đối với quyết định tƣ vấn: 1 điểm với ý kiến hoàn toàn không đồng ý và không đồng ý; 2 điểm với ý kiến trung lập, 3 điểm với ý kiến đồng ý và hoàn toàn đồng ý
3.3 Mẫu nghiên cứu
Dựa trên công thức tính cỡ mẫu từ phần mềm Sample size 2.0 của WHO, tác giả tính toán cỡ mẫu nhƣ sau:
Trong đó:
n: cỡ mẫu tối thiểu
: sai lầm loại 1 (
: trị số từ phân phối chuẩn (
Trang 34p: tỷ lệ ước lượng kết cuộc trong dân số (chọn p = 0,5 để có một ước đoán an toàn với một cỡ mẫu lớn nhất)
d: sai số tối đa của ước lượng (d = 0,1)
Kết quả tính toán cho n = 96 Trong nghiên cứu, tác giả là người trực tiếp khảo sát từng bác sĩ, do đó, khi đối tượng nghiên cứu bỏ sót thông tin, tác giả sẽ kịp thời nhắc nhở, phỏng vấn và bổ sung Tác giả lựa chọn tỉ lệ dao động mẫu là 5% Vậy, kích thước mẫu khảo sát là 100 bác sĩ
Đối tượng được chọn trong nghiên cứu là các bác sĩ đang công tác tại bệnh viện
Da Liễu Tp.HCM và có tham gia hoạt động khám chữa bệnh ngoại trú
Tiêu chuẩn chọn mẫu: tất cả các bác sĩ đang khám chữa bệnh ngoại trú tại bệnh viện Da Liễu Tp.HCM và đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ: bác sĩ không đồng ý tham gia nghiên cứu, bác sĩ chỉ tham gia công tác khám chữa bệnh nội trú, bác sĩ là học viên của bệnh viện
3.4 Phương pháp thu thập dữ liệu
Sau khi có được bộ câu hỏi hoàn chỉnh, tác giả dùng bộ câu hỏi có con dấu của khoa cùng với giấy giới thiệu của khoa và giấy giới thiệu của trường đến trình bày với ban giám đốc và phòng kế hoạch tổng hợp của bệnh viện để xin phép thực hiện khảo sát Sau khi phòng kế hoạch tổng hợp phát đi thông báo chính thức với các bác sĩ vào buổi họp toàn bệnh viện (được tổ chức vào thứ 6 mỗi tuần), tác giả tiến hành khảo sát trực tiếp với từng bác sĩ vào các thời điểm phù hợp của bác sĩ (giờ giải lao, giờ chờ nhận bệnh) Số lượng bác sĩ tại bệnh viện vào thời điểm tháng 4/2017 là 108 bác sĩ Tác giả tiếp cận được với 102 bác sĩ để thực hiện khảo sát Thời gian lấy mẫu là 2 tháng, từ ngày 12/02/2017 đến 15/04/2017
Trang 35Thông tin Đối tượng khảo sát
không hiểu hoặc hiểu sai về các câu hỏi khảo sát
Bộ câu hỏi đã được khảo sát thử nghiệm với nhóm nhỏ để chỉnh sửa nội dung
Tác giả là người trực tiếp phỏng vấn với từng bác sĩ và giải thích kịp thời về những thắc mắc của bác sĩ nếu có
Nhập liệu Nhập sai số liệu Phần nhập liệu được kiểm tra lại bởi một người
khác
3.5.2 Kiểm định giá trị của thang đo
Phân tích nhân tố khám phá được sử dụng đánh giá giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của thang đo Các chỉ tiêu quan tâm gồm:
- Chỉ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin measure of sampling adequacy): Trước khi phân tích nhân tố, cần sử dụng phép kiểm KMO để kiểm tra tính phù hợp của bộ số liệu Trị số của KMO lớn (từ 0,5 đến 1,0) là điều kiện để phân tích nhân tố
- Hệ số tải nhân tố (factor loadings) là những hệ số tương quan đơn giữa các biến và các nhân tố, hệ số này cần lớn hơn 0,5
- Hệ số Eigenvalue lớn hơn 1, là phần biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân
tố
- Phương sai sai trích lớn hơn 50%
3.5.3 Kiểm định độ tin cậy của thang đo
Phép kiểm Cronbach’s Alpha giúp kiểm tra độ tin cậy của thang đo Các thành phần thang đo có hệ số Cronbach’s Alpha nhỏ hơn 0,7 được xem xét loại
Trang 363.5.4 Phân tích tương quan – hồi qui
Mô hình hồi qui Ordered Logit được sử dụng để phân tích quyết định tư vấn của bác sĩ dưới tác động của thái độ bác sĩ về TPCN và đặc điểm dân số học Mô hình này cũng được sử dụng để phân tích tác động của các đặc điểm dân số học đến thái độ của bác sĩ
Nhằm đảm bảo độ tin cậy của các phương trình hồi qui, tác giả kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến bằng ma trận hệ số tương quan và hồi qui phụ đồng thời loại bỏ ảnh hưởng của phương sai thay đổi bằng cách thêm Robust vào phương trình hồi qui
3.5.5 Kiểm định sự khác biệt theo các đặc điểm dân số học
Phép kiểm T-test và ANOVA được sử dụng để kiểm định sự khác biệt trong thái
độ và quyết định tư vấn của bác sĩ theo các đặc điểm dân số học bao gồm: tuổi, giới tính, số năm kinh nghiệm và bằng cấp
Trang 37TÓM TẮT CHƯƠNG 3
Trong chương 3, tác giả trình bày quy trình nghiên cứu, cách lấy mẫu cùng với phương pháp nghiên cứu Đầu tiên, tác giả phối hợp với các chuyên gia xây dựng bộ câu hỏi khảo sát theo thang đo Likert 5 Sau đó bảng câu hỏi này được sử dụng để khảo sát thử 6 bác sĩ nhằm ghi nhận lỗi chính tả, chỉnh sửa ngữ nghĩa câu từ cho rõ ràng dễ hiểu Sau khi hoàn tất bảng câu hỏi cuối cùng, tác giả xin giấy giới thiệu của khoa và của trường đến xin phép Ban giám đốc và Phòng kế hoạch tổng hợp của bệnh viện Da Liễu để thực hiện khảo sát Khảo sát được thực hiện trên 100 bác sĩ đang công tác tại bệnh viện Da Liễu và có tham gia khám chữa bệnh ngoại trú Thời gian khảo sát từ ngày 12/02/2017 đến 15/04/2017 Trong chương này, tác giả giải thích rõ ràng hơn về các biến số khảo sát với thang đo cụ thể Bộ công cụ khảo sát gồm 3 phần: phần đầu giới thiệu mục đích phỏng vấn, yêu cầu phỏng vấn, cam kết với người cung cấp thông tin; phần thứ hai thu thập đặc điểm của bác sĩ được phỏng vấn (bao gồm họ tên, năm sinh, giới tính, bằng cấp, kinh nghiệm); phần thứ ba khảo sát thái độ và quyết định tư vấn TPCN của bác sĩ gồm 12 câu hỏi chính trong đó có 11 câu hỏi thuộc 4 biến đo lường thái độ của bác sĩ về TPCN và 1 biến đo lường quyết định tư vấn TPCN cho bệnh nhân Trong quá trình khảo sát, tác giả có sử dụng một số biện pháp nhằm hạn chế các khả năng sai lệch có thể xảy ra Tiếp theo, tác giả tiến hành nhập liệu bằng phần mềm EXCEL, xử lý và phân tích định lượng bằng phần mềm STATA
Trang 38CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Chương này tác giả trình bày kết quả nghiên cứu bao gồm 4 phần Đầu tiên là thống kê mô tả bộ dữ liệu khảo sát bao gồm thống kê mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu
và thống kê mô tả thái độ và quyết định tư vấn của bác sĩ Tiếp đến, tác giả sử dụng phép kiểm KMO để đảm bảo việc sử dụng mô hình phân tích nhân tố khám phá (EFA)
là phù hợp, trình bày kết quả đánh giá giá trị hội tụ và giá trị phân biệt bằng phương pháp phân tích nhân tố và đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng phép kiểm Cronbach’s Alpha Phần thứ 3 tác giả trình bày kết quả hồi qui theo mô hình Ordered Logit Phần cuối cùng tác giả trình bày kết quả kiểm định sự khác biệt trong thái độ và quyết định
tư vấn theo các đặc điểm dân số học (tuổi, giới tính, số năm kinh nghiệm và bằng cấp)
4.1 Thống kê mô tả bộ dữ liệu khảo sát
Tác giả khảo sát trực tiếp bằng bảng câu hỏi giấy với từng bác sĩ Số lượng bác
sĩ tiếp cận được là 102 bác sĩ, có 2 bác sĩ từ chối trả lời khảo sát và 2 phiếu khảo sát không hợp lệ do bỏ sót thông tin Sau hơn 2 tháng thực hiện khảo sát, tác giả thu được
98 phiếu trả lời đạt yêu cầu và tiến hành phân tích số liệu
4.1.1 Thống kê mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu
Kết quả thống kê mô tả mẫu nghiên cứu theo tuổi, giới tính, bằng cấp chuyên
khoa và bằng cấp học thuật được trình bày trong bảng 4.1
Trang 39Bảng 4.1 Thống kê mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu Đặc tính Tần số Tỉ lệ % Đặc tính Tần số Tỉ lệ %
Số liệu thống kê đặc điểm mẫu nghiên cứu trong bảng 4.1 cho thấy tỉ lệ bác sĩ
nữ cao hơn bác sĩ nam nhưng không chênh lệch quá lớn (58,2% so với 41,8%)
Về độ tuổi, mẫu khảo sát có độ tuổi trung bình là 41 tuổi Số tuổi nhỏ nhất của mẫu là 30 tuổi, lớn nhất là 67 tuổi Có 57 bác sĩ từ 40 tuổi trở xuống chiếm 58,2%, 27 bác sĩ tuổi từ 41 đến 50 tuổi chiếm 27,5% và 14 bác sĩ lớn hơn 50 tuổi chiếm 14,3%
Về số năm kinh nghiệm, mẫu khảo sát có số năm kinh nghiệm trung bình là 14 năm Bác sĩ có số năm kinh nghiệm nhỏ nhất là 3 năm, lớn nhất là 40 năm Có 43 bác
sĩ có số năm kinh nghiệm từ 3-10 năm chiếm 44%, 44 bác sĩ có số năm kinh nghiệm từ 11-25 năm chiếm 45% và 11 bác sĩ có số năm kinh nghiệm lớn hơn 25 năm chiếm 11%
Về bằng cấp, mẫu khảo sát có 50 bác sĩ chuyên khoa 1, 14 bác sĩ chuyên khoa 2,
30 thạc sĩ bác sĩ và 5 tiến sĩ bác sĩ Như vậy, số bác sĩ theo hướng chuyên môn nhiều gấp đôi số bác sĩ theo hướng học thuật và không có bác sĩ đa khoa, tất cả các bác sĩ đều
có bằng cấp sau đại học
Trang 404.1.2 Thống kê mô tả thái độ và quyết định tư vấn của bác sĩ về TPCN
Bảng 4.2 Thống kê mô tả thái độ và quyết định tư vấn của bác sĩ
Điểm quy đổi TLĐƯ
tích cực (%)
1–2 (%)
3 (%)
4-5 (%)
Hiệu quả
50,8
td1 TPCN chỉ có hiệu quả như giả dược 15,3 39,8 44,9
td3 Kết hợp TPCN với thuốc thì hiệu quả hơn so với
td10 Rất ít bài giảng về TPCN trong chương trình đào
Quan hệ giữa TPCN và y học chính thống
82,2 td9 TPCN cần được quản lý chặt chẽ bởi Bộ y tế 3,1 2,0 94,9
td11
Khi thăm khám và kê đơn, bác sĩ không cần quan
tâm đến việc bệnh nhân có đang sử dụng TPCN
hay không
12,2 18,4 69,4
Độ an toàn
32,7