CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.3. Lƣợc khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan
Gần đây nhất, tác giả Olchowska-Kotala (2016) đã phân tích thái độ, niềm tin và mong muốn đƣợc đào tạo về liệu pháp bổ sung và thay thế (Complementary and Alternative Medicine – CAM) của các bác sĩ tại Ba Lan, quốc gia có thực trạng sử dụng và quản lý về TPCN rất giống Việt Nam. CAM là các thuốc và các phương pháp trị liệu bổ sung và thay thế cho các thuốc và phương pháp y học chính thống, trong đó có TPCN. Tại Ba Lan, có một số bệnh viện đã đƣa CAM vào danh mục cung cấp cho bệnh nhân, tuy nhiên việc sử dụng CAM vẫn là một phương pháp nhạy cảm và cấm kị tại đây. Tình trạng pháp lý về CAM vẫn chƣa rõ ràng. Theo luật, CAM chỉ đƣợc cung cấp bởi các bác sĩ nhưng trên thực tế, phương pháp này vẫn được cung cấp bởi những người không phải là bác sĩ. Trước sức ép của các nhà trị liệu CAM, chính phủ Ba Lan đã thành lập Hội đồng các phương pháp trị liệu thay thế năm 2002 (tương tự Hiệp hội thực phẩm chức năng đƣợc thành lập tại Việt Nam năm 2007) để hỗ trợ Bộ y tế đề ra một khuôn khổ pháp lý rõ ràng. Tuy nhiên, các khuyến nghị của hội đồng này không đƣợc cộng đồng y tế chấp nhận và không có quy định nào đƣợc đƣa ra. Tác giả Olchowska-Kotala thực hiện nghiên cứu bằng cách khảo sát 170 bác sĩ bằng bảng câu hỏi giấy với thang đo Likert 5, sau đó tác giả gộp thang đo thành 3 mức độ và sử dụng phương pháp thống kê mô tả đồng thời sử dụng kiểm định Chi bình phương để so sánh thái độ của hai nhóm bác sĩ ít kinh nghiệm (dưới 3 năm) và nhiều kinh nghiệm (trên 3 năm). Kết quả nghiên cứu cho thấy hai phần ba các bác sĩ nhận thấy việc đào tạo về CAM là không đầy đủ và phần lớn các bác sĩ (86%) cho rằng bác sĩ nên quan tâm đến việc sử dụng CAM của bệnh nhân, hơn một nửa bác sĩ cho rằng kết hợp CAM với thuốc sẽ hiệu quả hơn so với chỉ dùng thuốc, việc sử dụng CAM sẽ cải thiện sức khỏe tốt cho bệnh nhân, tuy nhiên ba phần tƣ các bác sĩ nhận thấy cần có thêm nhiều nghiên cứu về hiệu quả của CAM.
Một nghiên cứu khá công phu khác của Wahner-Roedler (2006, 2014) khi ông nhận thấy sự thay đổi rất lớn trong thái độ của các bác sĩ, do đó năm 2012 ông đã tiến
hành lại một khảo sát cách đó 8 năm, với cùng đối tượng và phương pháp nghiên cứu, đƣợc khảo sát với hơn 600 bác sĩ tại bệnh viện Mayo (Mỹ). Tác giả thực hiện nghiên cứu bằng cách gửi bảng câu hỏi vào hộp thƣ điện tử của các bác sĩ, sau đó sử dụng phân tích tương quan Pearson trên phần mềm SAS. Kết quả cho thấy, bác sĩ tham gia khảo sát vào năm 2012 có nhiều khả năng sẽ đề nghị CAM cho bệnh nhân hơn (71% so với 44%). Vào năm 2004, có đến 75% các bác sĩ không bao giờ tƣ vấn CAM, nhƣng con số này đã giảm chỉ còn 44% vào năm 2012. Tỉ lệ bác sĩ thảo luận về CAM cũng tăng lên. Trong cả hai nghiên cứu, hầu hết các bác sĩ đều cho rằng sự kết hợp CAM sẽ tác động tích cực đến sự hài lòng của bệnh nhân và dễ dàng thu hút bệnh nhân hơn, nhƣng các bác sĩ lại không thoải mái trong việc tƣ vấn cho bệnh nhân do chƣa tiếp cận đầy đủ các thông tin về CAM. Các bác sĩ nhận thấy rằng việc sử dụng CAM hiện tại là mối đe dọa cho sức khỏe cộng đồng, do đó nghiên cứu một lần nữa nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc đào tạo CAM trong chương trình y khoa chính quy và trong các khóa đào tạo liên tục.
Trước đó, khi nhắc về vấn đề đào tạo CAM, Milden (2004) cũng cho kết quả tương tự khi khảo sát thái độ và thực hành sử dụng CAM của 56 bác sĩ bang California, bảng câu hỏi được gửi đi và nhận lại bằng hình thức thư tín. Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích tương quan Pearson bằng phần mềm SPSS. Kết quả chỉ ra rằng có 61% bác sĩ không khuyến khích CAM vì họ không đủ hiểu biết về an toàn và hiệu quả của CAM. Nghiên cứu này đã chỉ ra việc cần thiết của đào tạo kiến thức về CAM cho bác sĩ, 81% bác sĩ yêu cầu đƣợc đào tạo về CAM.
Trong các nghiên cứu cụ thể hơn về TPCN nhƣ trong nghiên cứu của Tarn (2013), các tác giả đã phân tích ba bộ dữ liệu từ ba nghiên cứu khác nhau của các tác giả Galliher (2010), Kravitz (2002) và Tarn (2013) để phân tích nội dung và tần suất các cuộc thảo luận về TPCN dựa vào dữ liệu ghi âm của các cuộc thăm khám. Dữ liệu đƣợc tổng hợp để tăng số lƣợng các cuộc thăm khám có đề cập đến TPCN, tổng số lƣợt thăm khám của 3 nghiên cứu là 1.479 lƣợt từ 102 bác sĩ. Kết quả nghiên cứu cho thấy
trong số 1.479 lƣợt thăm khám có 357 lƣợt (24.2%) có thảo luận về TPCN, có 87% các bác sĩ thảo luận về TPCN với ít nhất 1 bệnh nhân trong nghiên cứu.
Về việc bác sĩ có nên tư vấn hướng dẫn sử dụng TPCN cho bệnh nhân hay không, Glisson (2010) đã nhấn mạnh rằng các bác sĩ có đóng góp rất lớn trong việc giáo dục bệnh nhân sử dụng đúng TPCN. Bác sĩ thảo luận với bệnh nhân về chế độ bổ sung TPCN sẽ giúp cải thiện chất lƣợng chăm sóc sức khỏe bệnh nhân, giúp bệnh nhân chọn các sản phẩm phù hợp, đủ tiêu chuẩn chất lượng, và hiểu được các ảnh hưởng của loại TPCN sử dụng. Glisson nhấn mạnh giao tiếp là bước đầu tiên để phát hiện bệnh nhân sử dụng TPCN, tư vấn giúp bệnh nhân tránh được tác dụng bất lợi và tương tác tiềm ẩn. Trong quá trình khám bệnh, bác sĩ không cần giới thiệu hay khuyến khích sử dụng TPCN, tùy vào từng trường hợp cụ thể mà khuyến khích sử dụng hay không. Ít nhất bác sĩ cần tƣ vấn và cung cấp thông tin cho bệnh nhân về những TPCN bệnh nhân đang sử dụng, trong các lần thăm khám, bác sĩ nên hỏi bệnh nhân về việc sử dụng TPCN và khuyên họ mang theo đơn thuốc và những thuốc, sản phẩm TPCN đang sử dụng để có lời khuyên thích hợp. Bailey (2013) cũng có đề nghị tương tự, việc sử dụng TPCN đòi hỏi sự trao đổi giữa bác sĩ và bệnh nhân để làm rõ những lợi ích và rủi ro khi bệnh nhân đang sử dụng hoặc có ý định sử dụng TPCN, bác sĩ là đối tƣợng chuyên môn hỗ trợ việc ra quyết định sử dụng các chất bổ sung của bệnh nhân. Kết quả trên cũng đƣợc đồng thuận trong các nghiên cứu của Pascale (2016), Udo (2016), Tsokeva (2015), Chiba (2015, 2014), Schofied (2010), Young (2009), Ashar (2008), Gardiner (2006), Robinson (2004) và Eisenberg (1998).
Một tỉ lệ rất lớn các nhân viên y tế đề nghị bệnh nhân sử dụng TPCN là kết quả nghiên cứu của Dickinson (2009), khảo sát thực hiện nhằm thu thập tỉ lệ sử dụng TPCN của 900 bác sĩ và 277 điều dƣỡng, và mức độ đề nghị bệnh nhân sử dụng TPCN của họ. Kết quả cho thấy 72% bác sĩ và 89% điều dƣỡng sử dụng TPCN. Lý do phổ biến nhất đƣợc đƣa ra là nhằm cải thiện sức khỏe tổng thể. Đối với việc khuyến cáo cho bệnh nhân, 79% bác sĩ và 82% điều dƣỡng đề nghị bệnh nhân sử dụng. Nhóm bác
sĩ và điều dƣỡng sử dụng TPCN có tỉ lệ khuyến cáo bệnh nhân sử dụng cao hơn, 85%
trong số bác sĩ và 84% điều dưỡng. Tuy nhiên, ngay cả những người không sử dụng TPCN cho bản thân cũng thường xuyên khuyến cáo bệnh nhân sử dụng TPCN, tỉ lệ này là 62% đối với bác sĩ và 67% đối với điều dƣỡng. Hầu hết các bác sĩ và điều dƣỡng tin tưởng vào các tạp chí y khoa uy tín (61% bác sĩ và điều dưỡng) và tin vào các nghiên cứu lâm sàng về TPCN mà họ đề nghị cho bệnh nhân (56% bác sĩ và 57% điều dƣỡng).
Đa số các bác sĩ và điều dƣỡng cho biết họ không nhận đƣợc sự đào tạo chính quy về TPCN nhƣng họ luôn quan tâm đến các chuyên đề đào tạo liên tục liên quan đến TPCN (75% bác sĩ và 79% điều dƣỡng). Tỉ lệ ủng hộ việc tƣ vấn TPCN cho bệnh nhân trong nghiên cứu của Furlow (2008) cũng tương tự khi khảo sát 401 bác sĩ. Có 61.4% bác sĩ ủng hộ việc tƣ vấn TPCN cho bệnh nhân, 33.4% bác sĩ không đồng ý tƣ vấn TPCN. Các bác sĩ cho rằng 41.2% số bệnh nhân sử dụng TPCN nhận đƣợc hiệu quả nhƣ công bố.