1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nồng độ homocysteine và acid folic huyết tương ở bệnh nhân vảy nến mảng tại Bệnh viện Da Liễu TP. Hồ Chí Minh

9 132 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 322,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu khảo sát nồng độ homocysteine và acid folic huyết tương ở bệnh nhân vảy nến mảng, nghiên cứu bệnh chứng trên 80 bệnh nhân vảy nến và 80 người có tương đồng về tuổi và giới làm nhóm chứng.

Trang 1

NỒNG ĐỘ HOMOCYSTEINE VÀ ACID FOLIC HUYẾT TƯƠNG

Ở BỆNH NHÂN VẢY NẾN MẢNG TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TP HỒ CHÍ

MINH

Phạm Thúy Ngà * , Nguyễn Tất Thắng **

TÓM TẮT

Mở đầu: Bệnh vảy nến là bệnh da rất thường gặp, tần suất 0,1 – 11,8%, biểu hiện chủ yếu là tổn thương

da Homocysteine huyết tương là yếu tố nguy cơ độc lập cho bệnh động mạch vành, động mạch não và động mạch ngoại biên Bệnh vảy nến thường tăng nồng độ Homocysteine và giảm acid folic Chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu khảo sát nồng độ Homocysteine và acid folic huyết tương ở bệnh nhân vảy nến mảng

Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu bệnh chứng trên 80 bệnh nhân vảy nến và 80 người có tương đồng

về tuổi và giới làm nhóm chứng Không nhận vào nghiên cứu bệnh nhân có tình trạng tăng Homocysteine máu mắc phải

Kết quả: Nồng độ Homocysteine nhóm bệnh cao hơn nhóm chứng (14,7 9,3 mol/l so với 6,6 2 mol/l)

và nồng độ acid folic ở nhóm bệnh thấp hơn nhóm chứng (10,8 4,8 ng/ml so với 13,45,2 ng/ml) Có mối tương quan thuận giữa nồng độ Homocysteine và độ nặng của bệnh, tương quan nghịch nồng độ acid folic và độ nặng của bệnh Có mối tương quan thuận giữa nồng độ Homocysteine và thời gian mắc bệnh Có sự tương quan thuận của Homocysteine và tuổi ở nhóm chứng, nồng độ Homocysteine giới nam cao hơn nữ ở nhóm chứng

Kết luận: Nồng độ Homocysteine tăng cao ở nhóm bệnh nhân vảy nến, đây là yếu tố nguy cơ sẽ làm gia

tăng bệnh lý tim mạch

Từ khóa: nồng độ Homocysteine, vảy nến mảng

ABSTRACT

PLASMA HOMOCYSTEINE AND FOLIC ACID CONCENTRATIONS OF PATIENTS

WITH PLAQUE PSORIASIS IN HOSPITAL OF DERMATO-VENEREOLOGY, HO CHI MINH CITY

Pham Thuy Nga, Nguyen Tat Thang

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 275 – 283

Background: Psoriasis is a common skin disease, with the frequency from 0.1 to 11.8% Plasma

homocysteine is an independent risk factor for coronary artery disease, cerebral artery and peripheral artery Psoriasis is often an increased concentration of homocysteine and decreased concentration of folic acid We conducted this research in order to assess homocysteine plasma and folic acid plasma in patients with plaque psoriasis

Method: We performed a case-control study in 80 patients with plaque psoriasis and 80 aged- and sex-

equally matched healthy controls Excluding individuals with conditions or diseases associated with acquired hyperhomocysteinaemia

Results: Patients with psoriasis had plasma homocysteine concentrations high than controls (mean SD: 14.7 9.3 mol/l vs 6.6 2 mol/l) Conversely, folic acid concentrations were lower in patients with psoriasis compared with controls (10.8 4.8 ng/ml vs 13.4 5.2 ng/ml) Plasma homocysteine concentrations in patient with psoriasis correlated directly with disease severity (PASI) and duration of disease, plasma folic acid

* Bệnh viện Da Liễu TP HCM ** Bộ môn Da Liễu – ĐHYD TP HCM

Trang 2

concentrations were inversely correlated with the PASI Plasma homocysteine concentrations in controls correlated directly with age, high concentrations of homocysteine in men than in women among controls

Conclusion: Patients with psoriasis may have a tendency to hyperhomocysteinaemia, which may predispose

to higher cardiovascular risk

Key words: plasma homocysteine concentrations, plaque psoriasis

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh vảy nến là một bệnh da rất thường

gặp xảy ra ở tất cả các quốc gia trên thế giới,

với tần suất dao động 0,1 – 11,8% dân số, biểu

hiện chủ yếu là tổn thương da(1,5,11,11) Gần đây

nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả

nước ngoài chứng minh bệnh vảy nến thường

có tăng nồng độ

Homocysteine máu và giảm nồng độ acid

folic máu(3) Các nghiên cứu lâm sàng, dịch tễ

Homocysteine huyết tương là yếu tố nguy cơ

độc lập cho bệnh xơ vữa động mạch bao gồm

động mạch vành, động mạch não và động mạch

ngoại biên(4) Homocysteine làm tăng quá trình

xơ vữa và huyết khối thuyên tắc mạch bởi làm

tổn thương tế bào nội mạc  kích hoạt hình

thành cục máu đông, giảm sự đàn hồi của thành

mạch máu, giảm tốc độ dòng chảy trong lòng

mạch  gây ra nhiều bệnh lý tim mạch ở bệnh

nhân bị vảy nến, do vậy tầm soát Homocysteine

góp phần tích cực vào tiên lượng và hỗ trợ điều

trị toàn diện cho bệnh nhân vảy nến(7)

Vì thế ch ng tôi tến hàn nghiên cứu này

để khảo sát nồng độ Homocysteine và acid folc

huyết tươ g ở những bện nhân vảy nến mảng

tại Bện viện Da Liễu Thành Phố Hồ Chí Min ,

tm ra mối lên quan giữa nồng độ

Homocysteine và acid folc huyết tươ g với độ

nặng của bện ,th i gian mắc bệnh

Mục tiêu nghiên cứu

1 So sánh nồng độ Homocysteine và acid

folic huyết tương ở bệnh nhân vảy nến mảng

với nhóm người bình thường

2 Xác định mối liên quan giữa nồng độ

Homocysteine và acid folic huyết tương với độ

nặng và thời gian mắc bệnh của bệnh vảy nến

3 Xác định mối liên quan giữa nồng độ Homocysteine và acid folic huyết tương với tuổi, giới, BMI của cả hai nhóm

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu bệnh chứng

Đối tượng nghiên cứu

Nhóm bệnh: Tất cả bệnh nhân vảy nến đến

khám và điều trị tại bệnh viện Da liễu TP Hồ

Chí Minh hội đủ tiêu chuẩn chọn bệnh

Nhóm chứng: Những người bình thường

khỏe mạnh tình nguyện tương ứng với tuổi (± 5 tuổi) và giới tính của nhóm bệnh

Tiêu chuẩn chọn bệnh

- Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán vảy nến mảng

- Tuổi ≥ 18 tuổi

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân có một trong các bệnh sau: bệnh cấp tính gần đây, bệnh gan thận mạn tính, đái tháo đường, suy giáp, bất kỳ bệnh hệ thống khác

- Bệnh nhân đang sử dụng những thuốc gây tăng Homocysteine: phenytoin, theophyllin, metformin, lợi tiểu thiazide, carbamazepine, thuốc ngừa thai, azathioprin, thuốc điều trị vảy nến (methotrexate, acid folic, cyclosporine, acitretin)

- Bệnh nhân đang mang thai hoặc cho con

- Phụ nữ ở tuổi mãn kinh và tiền mãn kinh

Phương pháp nghiên cứu

Công thức tính cỡ mẫu

Cỡ mẫu được tính theo công thức:

Trang 3

   

2

N

d

 = 0,05 (độ tin cậy 95%),  = 0,1 tương ứng Power =

90%

: độ lệch chuẩn lượng H trong huyết thanh BN vảy nến

với  = 13,6 (Theo NC của Helmy và cộng sự)

d: sai số mong muốn (d = 5)

2

1 0 , 5 1 3 , 6

5

Thông tin khảo sát

Cho cả 2 nhóm bệnh – chứng: Giới tính (định

tính), chỉ số khối cơ thể (định lượng), độ tuổi

(định lượng), nồng độ acid folic (định lượng),

nồng độ Homocysteine (định lượng)

Cho nhóm bệnh: Thời gian mắc bệnh (định

lượng), độ nặng bệnh: PASI (định lượng)

Phân tích số liệu

Thu thập và xử lý theo chương trình SPSS

19.0 Sử dụng phương pháp phân tích thống

kê mô tả, so sánh 2 giá trị trung bình, phân

tích hồi qui/ tương quan, với p ≤ 0,05 có ý

nghĩa thống kê

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

Từ tháng 7/2010 đến tháng 6/2011 với 80

bệnh nhân vẩy nến và 80 người khỏe mạnh bình

thường chúng tôi thu được các kết quả sau đây:

Một số đặc điểm dân số nghiên cứu

Tuổi

Độ tuổi của cả 2 nhóm được khảo sát > 18

tuổi, chi tiết:

thiểu Tối đa

Trung bình

± Độ lệch chuẩn p

Nhóm bệnh

(n=80) 19 72 42,7 ± 13,0

0,1 Nhóm chứng

(n=80) 20 74 39,4 ± 12,8

Không có sự khác nhau có ý nghĩa về mặt

thống kê về độ tuổi khảo sát giữa 2 nhóm

Giới

Số lượng nam/ nữ được khảo sát trong 2

nhóm:

Nhóm bệnh: nam: 41, nữ: 39

Nhóm chứng: nam: 41, nữ: 39

Số lượng nam và nữ ở 2 nhóm là tương đồng, về mặt nghiên cứu xã hội học, tỉ lệ nam/

nữ đã khảo sát là phù hợp và mang tính đại diện cho giới tính được khảo sát

Chỉ số BMI (kg/m 2 )

Chỉ số BMI của 2 nhóm được phân theo 4 mức:

Thiếu cân (<18,5): nhóm bệnh: 5, nhóm chứng: 12

Bình thường (18,5-22,9): nhóm bệnh: 40, nhóm chứng: 36

Thừa cân (23-24,9): nhóm bệnh: 13, nhóm chứng: 15

Béo phì I (25-29,9): nhóm bệnh: 20, nhóm chứng: 13

Béo phì II (>30): nhóm bệnh: 2, nhóm chứng:

4

Tỉ lệ BMI của nhóm chứng và nhóm bệnh tương đồng

Thời gian mắc bệnh

Tối thiểu Tối đa Trung bình

± Độ lệch chuẩn Thời gian mắc

bệnh

5 tháng 40

năm

13,6 ± 10,3

Độ nặng của bệnh (PASI)

Với nhóm bệnh được khảo sát, mức độ bệnh

được phân nhóm và thống kê:

Tối thiểu Tối đa Trung bình ± Độ lệch

chuẩn

Đa số bệnh nhân (79/80 BN = 98,75%) có mức độ bệnh trung bình và nặng, chỉ có 1 bệnh nhân nhẹ

Nồng độ Homocysteine và acid folic huyết tương

Nồng độ Homocysteine

Homocysteine (µmol/l)

Tối thiểu

Tối đa

Trung bình

± Độ lệch chuẩn p

Nhóm bệnh (n=80)

5,81 65 14,7 ± 9,3

< 0,001 Nhóm chứng

(n=80)

2,3 9,73 6,6 ± 2,0

Trang 4

Nhận xét: Nồng độ Homocysteine trung

bình của nhóm bệnh cao hơn nhóm chứng có ý

nghĩa thống kê

Nồng độ acid folic

Acid folic

(ng/ml)

Tối thiểu Tối đa

Trung bình

± Độ lệch chuẩn p

Nhóm bệnh

(n=80) 3,9 24 10,8 ± 4,8

< 0,05 Nhóm chứng

(n=80) 5,9 24 13,4 ± 5,2

Nhận xét: Nồng độ acid folic trung bình của

nhóm chứng cao hơn nhóm bệnh có ý nghĩa

thống kê (p < 0,05)

Mối liên quan giữa nồng độ Homocystein

và acid folic huyết tương với độ nặng và

thời gian mắc bệnh vảy nến

Mối liên quan giữa nồng độ Homocysteine và

acid folic huyết tương với độ nặng của bệnh

vảy nến:

Mối liên quan giữa nồng độ Homocysteine

và acid folic huyết tương với độ nặng của bệnh

vảy nến

3,94 – 24

< 5 < 3

5 – 15 < 8

> 15 > 8 (tăng rất nhanh)

Acid folic không ảnh hưởng đến độ nặng

của bệnh trong khi lượng Homocysteine sẽ ảnh

hưởng (đặc biệt trong khoảng > 15 thì độ nặng

tăng vọt)

Mối liên quan giữa nồng độ Homocysteine

huyết tương với độ nặng của bệnh vảy nến

< 3 1 6,1 ± 0

< 0,001 3-10 51 11,0 ± 3,3

> 10 28 21,9 ± 12,3

Có sự tương quan khá cao và thuận giữa

nồng độ Homocysteine và độ nặng của bệnh

với R= 0,65

Có sự tương quan yếu và nghịch giữa nồng

độ acid folic và độ nặng của bệnh với R= 0,028

Mối liên quan giữa nồng độ Homocysteine và

acid folic huyết tương với thời gian mắc bệnh

của bệnh vảy nến

Nồng độ Homocysteine và acid folic theo

thời gian mắc bệnh

Số năm mắc bệnh (năm)

Nồng độ trung bình Acid folic (ng/ml) Homocysteine (µmol/l)

< 5 11,8 ± 1,2 9,8 ± 0,8

5 – 10 11,6 ± 1,5 13,1 ± 0,6

>10 10,3 ± 0,7 16,7 ± 1,6

Nhận xét: Nồng độ Homocysteine trung

bình tăng lên theo số năm mắc bệnh được khảo sát, trong khi lượng acid folic giảm theo thời gian mắc bệnh, nhưng giảm theo tỉ lệ không đáng kể

Mối liên quan giữa nồng độ Homocysteine với thời gian mắc bệnh

< 5 15 9,8 ± 3,2

0,0099 5-10 21 12,7 ± 2,8

> 10 44 17,4 ± 11,5

Có sự tương quan khá và thuận giữa nồng

độ Homocysteine và thời gian mắc bệnh vảy nến R= 0,46

Có sự tương quan yếu và nghịch giữa nồng độ acid folic và thời gian mắc bệnh vảy nến R= -0,21

Mối liên hệ giữa độ nặng và thời gian bệnh lên nồng độ Homocysteine

< 3 < 5 < 5

3 – 10 < 25 5 – 15

> 10 > 25 > 30 (tăng rất nhanh)

Nhận xét: Nếu chỉ số PASI < 10 (bệnh nhẹ và

trung bình) thì số năm mắc bệnh không ảnh hưởng đến nồng độ Homocysteine, nhưng với những trường hợp mắc bệnh nặng thì nồng độ Homocysteine tăng đột biến với những trường hợp bệnh nhân mắc bệnh hơn 20 năm

Mối liên quan giữa nồng độ Homocysteine

và acid folic huyết tương với tuổi, giới và BMI

Homocysteine Acid folic

Tuổi Nhóm bệnh R= 0,2 R = 0,054

Nhóm chứng R= 0,4 R= 0,025 BMI Nhóm bệnh R= 0,04 R= 0,08

Nhóm chứng R= -0,09 R= 0,08

Trang 5

Nhận xét: Chỉ tìm được mối tương quan

giữa nồng độ Homocysteine với tuổi ở nhóm

chứng

Nồng độ Homocysteine giữa 2 nhóm giới

tính nam và nữ có khác nhau có ý nghĩa thống

kê ở cả nhóm bệnh (19,5  1,7 so với 9,8  0,5) và

nhóm chứng (7,5  0,2 và 5,6  0,3) Riêng nồng

độ acid folic huyết tương ở 2 nhóm nam và nữ

không có sự khác biệt

BÀN LUẬN

Nồng độ Homocysteine

Nồng độ Homocysteine trung bình của

nhóm bệnh cao hơn ở nhóm chứng có ý nghĩa

thống kê

Theo tác giả Nancy Wash(13): bệnh nhân vảy

nến thường có nồng độ Homocysteine tăng cao

Nghiên cứu nhóm bệnh- chứng của

Malerba(8) cho kết quả tương tự như nghiên cứu

của chúng tôi Nồng độ Homocysteine huyết

tương ở nhóm bệnh cao hơn hẳn so với nhóm

chứng, sự khác biệt này có ý nghĩa với p < 0,01,

và nghiên cứu này cũng cho rằng bệnh nhân

vảy nến có xu hướng tăng Homocysteine máu,

dự báo cho một nguy cơ tim mạch cao, do vậy

điều chỉnh tiết chế hạ Homocysteine là điều trị

mang tính toàn diện ở bệnh nhân vảy nến trung

bình đến nặng

khác biệt về nồng độ Homocysteine giữa 2

nhóm, nhưng có sự tương quan giữa nồng độ

Homocysteine với độ nặng của bệnh (PASI) ở

nhóm bệnh nhân vảy nến

Nồng độ Homocysteine máu trong nghiên

cứu của chúng tôi lấy điểm cắt giới hạn (cut-off)

là 15 mol/L, so với một nghiên cứu ở Huế(10) (về

nồng độ Homocysteine máu - yếu tố nguy cơ

mới của tai biến mạch máu não) là 13.53 mol/L,

còn của Nguyễn Hữu Khoa Nguyên và Đặng

Vạn Phước điểm cắt là 16 mol/L Có thể do

chuẩn của mỗi phòng xét nghiệm lấy trị số bình

thường và tăng có khác nhau, nhưng nhìn

chung không đáng kể

Một nghiên cứu tại Ai Len năm 2006, đăng trên tạp chí Da Liễu Anh Quốc (Bristish Journal

of Dermatology, 2006) tiến hành trên 20 bệnh nhân vảy nến so sánh với 20 người khỏe mạnh của nhóm chứng, tương đồng về giới và tuổi ghi nhận kết quả sau:

+ Bệnh nhân vảy nến có nồng độ Homocysteine cao gấp 5 lần so với nhóm chứng + 27% bệnh nhân vảy nến có nồng độ Homocysteine > 12 mol/L trong khi ở nhóm chứng chỉ có 5% bệnh nhân có nồng độ Homocysteine > 12 mol/L (tác giả này lấy điểm cắt thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi) Một nghiên cứu ở Hoa Kỳ (2004) chứng minh tăng Homocysteine máu là yếu tố nguy cơ tim mạch độc lập Nghiên cứu tiền cứu và thực hiện trên số lượng bệnh nhân khá lớn, gồm 2127 nam và 2639 nữ được theo dõi trong 4 năm cho thấy nồng độ Homocysteine tăng mỗi 5 mol/L thì: tỷ lệ tử vong chung tăng 49%, tử vong do tim mạch tăng 50%, tử vong do ung thư tăng 26%, tử vong không do ung thư, không do tim mạch tăng 104%

Bệnh nhân vảy nến đặc biệt khi có tăng Homocysteine thì YTNC tim mạch cao, về cơ chế chưa rõ nhưng có thể do Homocysteine gây tổn thương lớp nội mạc mạch máu(2): tăng oxy hóa LDL-C, tăng kết tập tiểu cầu, tăng sinh tế bào cơ trơn và tham gia vào quá trình viêm Những bệnh nhân vảy nến khi có kèm theo các YTNC tim mạch như: THA đái tháo đường, hút thuốc lá, RLCH lipid thì tỉ lệ tử vong sẽ tăng rất cao Do vậy việc tầm soát các YTNC trên bệnh nhân vảy nến là cần thiết để điều trị kịp thời

Nồng độ acid folic

Nồng độ acid folic trung bình của nhóm chứng trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn nhóm bệnh có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Tương tự như tác giả Malerba(8) cho thấy những bệnh nhân vảy nến có nồng độ acid folic thấp hơn hẳn so với nhóm chứng, lần lượt là: 3,6 ± 1,7 (nhóm bệnh) và 6,5 ± 1,7 (nhóm chứng) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

Trang 6

Theo Cakmak(3) ghi nhận không có sự khác

biệt nồng độ acid folic giữa hai nhóm bệnh và

chứng, nhưng trong nhóm bệnh nồng độ acid

folic tương quan nghịch với nồng độ

Homocysteine, đây là điểm mà các Bác sĩ

khuyến cáo nên sử dụng bổ sung acid folic cho

bệnh nhân có nồng độ Homocysteine tăng cao

Điểm khác biệt của Cakmak so với nghiên

cứu của chúng tôi và Malerba có thể là cả 3

nghiên cứu với cỡ mẫu chưa đủ lớn và tỉ lệ bị

bệnh vảy nến nặng nhiều khả năng cũng khác

nhau

Nhiều nghiên cứu của nước ngoài chứng

minh vai trò quan trọng của acid folic có hoặc

không có liên quan đến nồng độ Homocysteine

+ Acid folic cùng Vitamin B6 và Vitamin

tương dẫn đến cải thiện chức năng lớp nội

mạc→ giảm yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành

và mạch máu não

+ Nồng độ acid folic giảm dẫn đến nguy cơ

ung thư tăng cao (đặc biệt là ung thư đại trực

tràng) vì acid folic tham gia vào qui trình tổng

hợp, sửa chữa và duy trì chức năng DNA tế bào,

bản đồ gen người, do vậy khi thiếu nó gây tổn

thương DNA dẫn đến ung thư

+ Acid folic làm giảm tác dụng độc hại của

Methotrexate (gây mất cảm giác thèm ăn dẫn

đến bỏ ăn, do gây viêm đường tiêu hóa) Vì vậy

khi sử dụng Methotrexate, dù liều thấp cũng

nên bổ sung acid folic(9)

Mối liên quan giữa nồng độ Homocysteine

và acid folic với độ nặng bệnh

Theo kết quả nghiên cứu độ nặng của bệnh

tăng theo nồng độ Homocysteine tăng, đặc biệt

khi nồng độ Homocysteine trên 20 mol/L thì

PASI > 10 Khi nồng độ Homocysteine máu tăng

cao nguy cơ bệnh tim mạch rất cao, do vậy nên

tầm soát yếu tố nguy cơ tim mạch: THA, ĐTĐII,

béo phì, RLCH lipid, hút thuốc lá trên các đối

tượng này để có chiến lược điều trị toàn diện

Có thể sử dụng statin với tác dụng kép chống

viêm và giảm xơ vữa Đồng thời sử dụng acid

folic, B12, B6 để hạ Homocysteine, tuy nhiên hạ Homocysteine không đồng nghĩa với giảm các biến chứng tim mạch(6)

Những bệnh nhân vảy nến nặng (PASI > 10) tần suất các bệnh sau đây cũng tăng theo: THA, béo phì, bệnh do tăng đông như huyết khối tĩnh mạch sâu, thuyên tắc phổi, đái tháo đường, có thể liên quan đến việc tăng Homocysteine Một điểm lưu ý quan trọng là khi điều trị bệnh nhân vảy nến nặng sử dụng các thuốc tác dụng toàn thân như: corticoid, ức chế miễn dịch, Methotrexate, Cyclosporin phải tầm soát các bệnh lý vừa kể trên, nếu không sẽ làm cho tình trạng các bệnh đó nặng thêm lên(4)

Nghiên cứu của Malerba cũng cho kết quả tương tự: nồng độ Homocysteine ở bệnh nhân vảy nến có liên quan đến độ nặng của bệnh (PASI)(8)

Sự tương quan giữa độ nặng của bệnh và nồng độ Homocysteine trong nghiên cứu của chúng tôi là khá cao với hệ số tương quan R = 0,65

Tác giả Camar cũng ghi nhận kết quả tương tự: nồng độ Homocysteine tương quan thuận với diện tích và độ nặng của bệnh, do vậy nồng

độ Homocysteine ở bệnh nhân vảy nến cho thấy mức độ nặng của bệnh(3)

Tóm lại, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng như của các tác giả nước ngoài đều ghi nhận: ở bệnh nhân vảy nến nồng độ Homocysteine tương quan thuận với độ nặng của bệnh, bệnh càng nặng  nồng độ càng tăng Mối tương quan giữa nồng độ acid folic với độ nặng của bệnh trong nghiên cứu này là yếu, với hệ số tương quan R = - 0,028 Khác với kết quả nghiên cứu của các tác giả nước ngoài như Cakmak ghi nhận nồng độ Homocysteine tương quan nghịch với acid folic trong nghiên cứu của ông(3)

Nghiên cứu của Malerba(8) chỉ ghi nhận nồng độ acid folic ở nhóm bệnh thấp hơn hẳn so với nhóm chứng, chứ không ghi nhận kết quả mối tương quan giữa độ nặng của bệnh và acid folic, chỉ có những nghiên cứu gần đây mới đề

Trang 7

cập đến acid folic còn những nghiên cứu trước

kia đề cập nhiều đến Homocysteine

Mối liên quan giữa Homocysteine và acid

folic với thời gian mắc bệnh

Theo kết quả nồng độ Homocysteine trung

bình tăng theo số năm mắc bệnh, có mối tương

quan thuận giữa nồng độ Homocysteine và thời

gian mắc bệnh, hệ số tương quan R = 0,46 Thời

gian mắc bệnh tương quan thuận với nồng dộ

Homocysteine, với bệnh nhân của chúng tôi thời

gian mắc bệnh trung bình > 13 năm (người mắc

bệnh lâu nhất > 40 năm) Như vậy, hậu quả của

việc tăng Homocysteine kéo dài là đáng kể

Tăng Homocysteine kéo dài gây ra:

+ Bệnh động mạch vành do xơ vữa, đột quỵ

(tai biến mạch máu não) liên quan đến đột quỵ

+ Bệnh mạch máu ngoại biên, tăng xơ vữa ở

bệnh nhân suy thận

+ Huyết khối tĩnh mạch (do tình trạng tăng

đông ở bệnh nhân tăng Homocysteine) có thể

đưa đến thuyên tắc phổi

+ Mất trí nhớ (Dementia)(1)

+ Phụ nữ mang thai khi sanh con thiếu hụt

ống thần kinh (Neural tube defect)

Những bệnh nhân có thời gian mắc bệnh dài

và nặng, ngoài việc ảnh hưởng lớn đến chất

lượng cuộc sống của chính người bệnh, thì vấn

đề tài chính cũng là một gánh nặng cho bản

thân họ và gia đình Ở Việt Nam, chưa thấy có

thống kê về chi phí hàng năm cho nhóm bệnh

nhân này, nhưng ở Hoa Kỳ (theo Hiệp hội vảy

nến Quốc gia Hoa Kỳ = American National

Psoriasis Foundation) chi phí hàng năm cho

chăm sóc và chữa trị bệnh nhân vảy nến lên tới

11,25 tỷ đô la

Mối tương quan nghịch giữa nồng độ acid

folic và thời gian mắc bệnh trong nghiên cứu

này là yếu, hệ số tương quan R = -0,21 Những

nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, chúng tôi

không thấy đề cập về mối tương quan này

Mối liên hệ giữa độ nặng và thời gian mắc bệnh với nồng độ Homocysteine

Trong nghiên cứu chúng tôi nếu PASI của bệnh nhân vảy nến < 10 thì số năm mắc bệnh không ảnh hưởng đến nồng độ Homocysteine, hay nói cách khác nồng độ Homocysteine thay đổi không đáng kể dù bệnh nhân mắc bệnh lâu năm hay mới bị

Tuy nhiên với những trường hợp mắc bệnh nặng (PASI > 10) thì nồng độ Homocysteine tăng đột biến ở những bệnh nhân có thời gian mắc bệnh trên 20 năm Vảy nến nặng được xem là yếu tố nguy cơ độc lập của NMCT, nhất là ở những bệnh nhân trẻ(4) Cũng tương tự như các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, nồng độ Homocysteine tăng tương quan thuận với độ nặng của bệnh, hình như không liên quan nhiều đến thời gian mắc bệnh, nhất là thể nhẹ và trung bình

Mối liên quan giữa nồng độ Homocysteine

và acid folic với tuổi, giới và BMI của 2 nhóm

Tuổi Đối với nhóm bệnh

Ở nhóm bệnh không ghi nhận các mối tương quan giữa tuổi và nồng độ Homocysteine (hệ số tương quan yếu với R = 0,2)

Trong các nghiên cứu của nước ngoài về nồng độ Homocysteine ở bệnh nhân vảy nến, hầu hết các tác giả không thống kê, mối tương quan giữa nồng độ Homocysteine và tuổi của bệnh nhân, vì vậy chúng tôi không có dữ liệu để

so sánh

Nhưng về nồng độ Homocysteine với các bệnh lý khác các tác giả có thống kê và ghi nhận mức Homocysteine tăng dần theo tuổi như: + Tác giả Nguyễn Đức Hoàng(10) – Bệnh viện trung ương Huế (2004), nghiên cứu trên bệnh nhân TBMMN ghi nhận nồng độ Homocysteine máu ở bệnh nhân TBMMN cũng tăng dần theo tuổi, điều này lý giải một phần tai biến mạch máu não tăng dần theo tuổi

Trang 8

Ở nhóm bệnh cũng không có sự tương quan

giữa độ tuổi và nồng độ acid folic (với hệ số

tương quan R = 0,054)

Đối với nhóm chứng

Nồng độ Homocysteine có tương quan khá

với độ tuổi trong nhóm chứng, với hệ số tương

quan R = 0,4 Điều này tương tự kết quả nghiên

cứu của các tác giả nước ngoài là ở người khỏe

mạnh Homocysteine tăng dần theo tuổi Theo

dữ liệu từ nghiên cứu NHANES III cũng chứng

minh rằng Homocysteine tăng dần theo tuổi và

cho thấy có rất ít sự khác biệt trong nhóm các

chủng tộc

Nồng độ acid folic trong nhóm chứng cũng

không có sự tương quan với tuổi

Liên quan đến giới tính

Với nhóm bệnh

Acid folic không có sự khác biệt nhau có ý

nghĩa về mặt thống kê về nồng độ acid folic

trong 2 nhóm giới tính (với p = 0,98)

Homocysteine có sự khác biệt có ý nghĩa về

mặt thống kê về nồng độ Homocysteine ở 2

nhóm giới tính (nam cao hơn nhiều so với nữ

lần lượt là 19,45 mol/L so với 9,77 mol/L), với

p = 0,0001

Với nhóm chứng

Acid folic: không có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê về nồng độ Homocysteine giữa 2

nhóm giới tính ở nhóm chứng, với p = 0,18

Homocysteine: có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê về nồng độ Homocysteine giữa 2

nhóm giới tính (nam cao hơn so với nữ lần lượt

là 7,5 mol/L so với 5,65 mol/L), với p = 0,001

Điều này phù hợp với hầu hết các nghiên cứu

của nước ngoài là Homocysteine có liên quan

đến giới tính (nam luôn cao hơn nữ)

Liên quan đến chỉ số BMI

Trong nghiên cứu của chúng tôi ở cả nhóm

bệnh và nhóm chứng không có sự tương quan

giữa chỉ số khối cơ thể (BMI) với nồng độ

Homocysteine cũng như acid folic huyết tương

Theo nghiên cứu của Manal trên 67 bệnh nhân

vảy nến ghi nhận có tương quan thuận giữa nồng độ Homocysteine với BMI Về BMI liên quan tới nồng độ Homocysteine còn nhiều ý kiến khác nhau

KẾT LUẬN

Nồng độ Homocysteine ở nhóm bệnh cao hơn nhóm chứng có ý nghĩa, nồng độ acid folic

ở nhóm bệnh thấp hơn nhóm chứng

Độ nặng của bệnh tăng theo nồng độ Homocysteine tăng, đặc biệt khi PASI > 10 (tương đương tổn thương da > 10% diện tích cơ thể) thì nồng độ Homocysteine > 20 (µmol/L) Mối tương quan giữa acid folic và độ nặng của bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi là yếu

có hệ số tương quan R = -0,028

Nồng độ Homocysteine tương quan thuận với thời gian mắc bệnh, thời gian mắc bệnh càng dài thì nồng độ Homocysteine càng tăng

Còn tương quan nghịch giữa acid folic và thời gian mắc bệnh trong nghiên cứu này là yếu

Về tuổi

Nhóm bệnh: không có sự tương quan về tuổi với Homocysteine cũng như acid folic Nhóm chứng: có sự tương quan thuận của Homocysteine với tuổi (tuổi tăng Homocysteine tăng), nhưng acid folic thì không

Về giới

Nhóm bệnh: Homocysteine giới nam cao hơn nữ, còn acid folic không khác biệt

Nhóm chứng: Homocysteine giới nam cao hơn nữ, còn acid folic không khác biệt

 Về chỉ số khối cơ thể (BMI): không có sự tương quan giữa BMI với nồng độ Homocysteine và acid folic ở cả 2 nhóm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Almeida OP, Mc Caul K, Hankey GT, Normal P, Jamrozik K, Flicker L (2008), “Homocysteine and Depression in Later Life”,

Arch Gen Psychiatry; 65 (11); 1286-94

2 Altobeli Elma (2009), “Risk faction of hypertension Diabetes and obesity is Italian psoriasis patients a survey on socio-demographic characteristics, smoking habit and alcohol

consumption”, Eur J Dermatol; 19(3): 252-256

Trang 9

3 Cakmak SK, Gušl U, Kilic C, Soylus et al (2009), “Homocysteine,

Vitamin B12 and Folic Acid Levels in Psoriasis Patients”, J Eur

Acad Dermatol Venereol; 23 (3): 300-3

4 Gelfand JM (2006), “Risk of myocardial infarction in patients

with psoriasis” JAMA; 296 (14): 1735 – 1741

5 Hoàng Văn Minh, Võ Quang Đỉnh (2010), Vảy nến,

http://www.medinet.hochiminhcity.gov.vn/ttyh/bshkhkt/vayne

n.htm

6 Kimball AB (2008), “Patients with psoriasis at increased risk for

developing other serious Medical conditions” American

Academy of Dermatology

7 Kimball AB (2008), “Psoriasis patients urged to discuss risk

factors with their doctors” National Psoriasis Foundation (NPF)

USA

8 Malerba M, Gisondi P, Radaeli A (2006), “Plasma homocysteine

and folate levels in patients with chronic plaque psoriasis” Br J

Dermatol; 155(6): 1165-9

9 Morgan SL, Baggott JE, Lee JY, Alarcon GS (1998), Folic acid

supplementation preventions deficient blood folate levels and hyperhomocysteinemia during longterm, low dose methomecate therapy for rheumoid arthritis: implication for cardiovascular disease prevention

10 Nguyễn Đức Hồng (2004), Nghiên cứu nồng độ Homocysteine

máu và yếu tố nguy cơ mới của tai biến mạch máu não tại tỉnh Thừa Thiên Huế, www.thankinhhoc.com\Homocysteine

11 Nguyễn Tất Thắng (2003), Nghiên cứu điều trị bệnh vảy nến chưa

biến chứng bằng kẽm và DDS, luận án Tiến sĩ Y học Đại học Y

dược TP Hồ Chí Minh, trang 5

12 Nguyễn Thanh Minh (2005), “Bệnh Vảy nến”, Bài giảng Bệnh Da

Liễu, Nhà Xuất Bản Y Học TP.HCM, tr 310-318

13 Phạm Văn Hiển (2010), “Bệnh vảy nến”, Da liễu học, Nhà xuất

bản Giáo dục Việt Nam, trang 57-62

14 Wash N (2006), “High homocysteine levels common in

psoriasis” Dermatology-International News

Ngày đăng: 23/01/2020, 16:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w