Từ trước đến nay, hướng nghiên cứu về dân tộc Hmông, chủ yếu mới chỉ được tiếp cận dưới các góc độ văn hoá học, dân tộc học, ngoại trừ một số công trình sưu tầm và giới thiệu thơ ca Hmôn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Việt Trung
THÁI NGUYÊN, NĂM 2012
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI:
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Thị Việt Trung
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận án sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án họp tại: Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên
……… ngày…… tháng ………. năm 2012
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
1.1 Trong bức tranh toàn cảnh của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, dù chỉ chiếm một vị trí khiêm tốn, vẫn phải thừa nhận rằng, dân tộc Hmông (Hmôngz) có một kho tàng thơ ca phong phú và độc đáo, là sản phẩm tinh thần của một dân tộc được nuôi dưỡng và phát triển trong một nền văn hoá giàu truyền thống và bản sắc Nghiên cứu thơ ca Việt Nam nói chung, thơ ca các dân tộc thiểu số nói riêng không thể không nghiên cứu thơ ca dân tộc Hmông - với tư cách là một bộ phận hợp thành nền thơ ca các dân tộc thiểu số, góp phần tạo nên sự phong phú và đa dạng của thơ ca các dân tộc Việt Nam
1.2 Từ trước đến nay, hướng nghiên cứu về dân tộc Hmông, chủ yếu mới chỉ được tiếp cận dưới các góc độ văn hoá học, dân tộc học, ngoại trừ một số công trình sưu tầm và giới thiệu thơ ca Hmông của một số nhà khoa học, nhà nghiên cứu, sưu tầm văn học dân gian Nghiên cứu thơ ca Hmông nhằm dựng lại diện mạo, chỉ ra những đặc điểm nổi bật (về nội dung và nghệ thuật) với những nét đặc sắc riêng; khẳng định được những đóng góp- dù là khiêm tốn- của thơ ca Hmông đối với nền thơ ca các dân tộc thiểu số cũng như nền thơ ca Việt Nam, là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa, góp phần gìn giữ và phát huy những nét đẹp của bản sắc văn hoá dân tộc trong đời sống thơ ca ở một quốc gia có nhiều dân tộc thiểu số như Việt Nam
1.3 Nghiên cứu thơ ca dân tộc Hmông một cách hệ thống và toàn diện là một đóng góp đáng kể phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam trong các trường phổ thông, các trường đại học, cao đẳng Đặc biệt là đối với Đại học Thái Nguyên - chiếc nôi đào tạo ra những thầy cô giáo,
Trang 4những nhà khoa học, những nhà nghiên cứu là con em các dân tộc trên địa bàn, trong đó có con em đồng bào dân tộc Hmông; góp phần rèn luyện lòng tự tôn, tự hào dân tộc để gìn giữ và bảo lưu các giá trị văn hoá truyền thống trong bối cảnh đất nước ta đang trên con đường hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc
Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn Thơ ca dân tộc Hmông- từ truyền thống đến hiện đại làm đề tài nghiên cứu cho luận án của mình
2 Lịch sử vấn đề
2.1.Từ vấn đề nghiên cứu thơ ca Hmông truyền thống
Việc sưu tầm, nghiên cứu chuyên biệt về văn học dân tộc Hmông cho tới nay cũng đã đạt được một số kết quả nhất định Có thể coi Doãn Thanh là một trong những người đầu tiên có công trong việc sưu tầm và biên dịch dân ca Hmông Năm 1967, Nhà xuất bản Văn học in tập Dân ca Mèo (Lào Cai) của Doãn Thanh cuốn sách đã tập hợp được hầu hết các bài dân ca tiêu biểu nhất và phổ biến nhất của người Mèo, sắp xếp một cách hệ thống theo 4 chủ đề chính bao gồm: Tiếng hát mồ côi (gầu tú giua), tiếng hát làm dâu (gầu ua nhéng), tiếng hát tình yêu (gầu plềnh), tiếng hát cúng ma (gầu tuờ) Năm 1984, cuốn sách nói trên được tái bản với tên gọi Dân ca Hmông cho đúng với tên gọi mới của người Mèo được Nhà nước qui định Cuốn sách do Hoàng Thao tuyển, chỉnh lý Ngoài phần chính của Doãn Thanh dịch, tác giả biên soạn có đưa thêm hai bài gồm Tiếng hát mồ côi do Lê Trung Vũ sưu tầm ở Mèo Vạc (Hà Tuyên) và Tiếng hát làm dâu (Tây Bắc) do Mạc Phi và Bùi Lạc sưu tầm, trích dịch Đặc biệt, nhà thơ Chế Lan Viên viết lời giới thiệu với một sự trân trọng và ưu ái sâu sắc đối với những bài dân ca- tâm hồn và
Trang 5tiếng hát Hmông Từ năm 1995 đến 2003, nhà thơ, nhà sưu tầm văn học dân gian Hùng Đình Quí đã sưu tập và dịch 3 tập "Dân ca Hmông Hà Giang" Năm 2004, Hội Văn học Nghệ thuật Lào Cai, Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc cho in cuốn "Tang ca- Kruôzcê của người Mông Lềnh ở Sa pa" do tác giả Giàng Seo Gà sưu tầm và biên soạn Đây không chỉ là một công trình sưu tầm một cách công phu và cẩn trọng mà còn là một công trình nghiên cứu về tang ca của người Hmông rất đáng ghi nhận, bởi ngoài việc ghi lại đầy đủ 31 bài tang
ca (Kruôz cê), tác giả còn đi sâu khảo sát và so sánh nội dung bài tang ca được phổ biến trong các ngành Hmông khác nhau ở Sa Pa như Hmông Lềnh, Hmông Trắng, Hmông Đen, đồng thời bước đầu
có những nhận xét, lý giải về một vài khác biệt về mặt văn bản trong các bài Tang ca được sử dụng ở từng ngành Hmông
Theo khảo sát bước đầu của chúng tôi, cho đến nay, hướng nghiên cứu, tiếp cận dân tộc Hmông dưới góc độ văn hoá học, dân tộc học, ngôn ngữ học đã được quan tâm và có nhiều thành tựu đáng ghi nhận Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là những công trình, bài viết của các tác giả, các nhà nghiên cứu như Trần Quốc Vượng, Đặng Nghiêm Vạn, Lê Trung Vũ, Cư Hoà Vần, Trần Hữu Sơn, Đỗ Đức Lợi, Trần Trí Dõi, Vũ Anh Tuấn, Nguyễn Thị Bích Hà, Nguyễn Thị Ngân Hoa v.v Nhìn chung, cho đến nay dân ca Hmông
đã được xem xét, nghiên cứu một cách khá toàn diện Có thể kể tên một số các công trình, bài viết tiêu biểu như: "Tiếng hát làm dâu, tiếng hát yêu thương, tiếng hát căm hờn, ngàn đời của người phụ nữ Mèo" của Tô Hoài (Tạp chí Văn học, số 2 năm 1965), "Tâm hồn và tiếng hát Hmông" của Chế Lan Viên (Lời giới thiệu cuốn Dân ca Hmông, Nxb Văn học, 1984) Một số đề tài luận văn thạc sĩ về thơ ca dân gian
Trang 6Hmông đã được bảo vệ thành công tại trường đại học Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội như: "Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện thơ Hmông về đề tài tình yêu "của Nguyễn Thị Thu Yến, "Thơ ca dân gian Hmông" của Hùng Thị Hà (2003), "Dân ca giao duyên và lễ hội Gầu tào của dân tộc Mông" của Nguyễn Văn Tiệp (2003), Khảo sát nghi lễ cúng ma dân tộc Hmông" của Hoàng Thị Thuỷ (2004), "Giải mã biểu tượng lanh trong dân ca Hmông" của Đặng Thị Oanh (2006)
Những công trình nghiên cứu nói trên là những gợi ý và định hướng quan trọng cho tác giả luận án trong việc tiếp cận, nghiên cứu văn học dân tộc Hmông, nhất là thơ ca Hmông từ truyền thống đến hiện đại 2.2 Đến vấn đề nghiên cứu thơ ca Hmông thời kì hiện đại
Nếu như việc sưu tầm và nghiên cứu thơ ca dân gian Hmông
đã có được một số thành tựu đáng kể thì việc nghiên cứu về thơ ca hiện đại dân tộc Hmông, vẫn còn hết sức khiêm tốn, nhỏ lẻ và tản mạn Về phương diện này, có thể coi Minh Khương (1920-2001) là một trong những người có công đầu trong việc đưa thơ ca Hmông thời kỳ hiện đại đến với bạn đọc cả nước Năm 1977, cuốn Mặt trời hoa mây (Luz hnuz păngx huôz) được Ty Văn hoá Hoàng Liên Sơn xuất bản, giới thiệu thơ của 18 tác giả với 26 bài thơ, trong đó có 17 bài thơ của 11 tác giả dân tộc Hmông (do Minh Khương dịch ra tiếng Phổ thông) Đây là những sáng tác phản ánh tình cảm chân thành biết
ơn Đảng, biết ơn lãnh tụ Ca ngợi tinh thần dũng cảm, khắc phục khó khăn gian khổ trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước bảo vệ tổ quốc, bảo vệ chủ nghĩa xã hội Ca ngợi thành tích chiến thắng, thành tích trong sản xuất và trong nếp sống văn hoá xã hội chủ nghĩa tốt đẹp mà nhân dân ta đã giành được Từ những năm 90 của thế kỉ XX trở lại đây, việc nghiên cứu về văn học các dân tộc thiểu số nói chung ngày
Trang 7càng được quan tâm và tiến hành trên một bình diện rộng, với một qui mô lớn Tuy nhiên, có thể do thơ ca Hmông thời kì hiện đại còn hết sức khiêm tốn, chưa có những tác giả thật sự có được tên tuổi nổi bật như thơ ca của một số dân tộc khác (Tày, Thái, Mường, Chăm ) nên hầu như không có những bài nghiên cứu, phê bình viết riêng về các tác giả Hmông cũng như thơ ca Hmông Theo khảo sát của chúng tôi, hiện nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về văn học dân tộc Hmông nói chung, thơ ca Hmông nói riêng với tư cách là một đối tượng nghiên cứu chuyên biệt (ngoài luận văn thạc sĩ với đề tài: "Một số đặc điểm của thơ ca Hmông thời kì hiện đại (từ cách mạng tháng Tám 1945 đến nay)" của chính tác giả luận
án, đã được bảo vệ thành công năm 2008)
Qua việc khảo sát lịch sử vấn đề nghiên cứu thơ ca dân tộc Hmông từ truyền thống đến hiện đại, chúng tôi bước đầu đưa ra một
số nhận xét như sau:
Thứ nhất, về tình hình nghiên cứu thơ ca dân tộc Hmông: Cho đến nay, chúng tôi thấy rằng, chủ yếu các nhà nghiên cứu, sưu tầm mới tập trung sự chú ý vào mảng thơ ca dân gian Hmông, đặc biệt là mảng dân ca Hmông, còn mảng thơ ca Hmông thời kì hiện đại chưa thực sự được quan tâm, (ngoài một số công trình, bài viết của chính tác giả luận án)
Thứ hai, hướng tiếp cận chủ yếu và thành công nhất của các tác giả, cho đến nay, vẫn là hướng tiếp cận dưới góc độ văn hoá (cụ thể là giải mã các biểu tượng văn hoá trong đời sống văn hoá, nghệ thuật của dân tộc Hmông)
Thứ ba, nghiên cứu về thơ ca dân tộc Hmông, theo khảo sát của chúng tôi, mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu đặc điểm thơ ca dân gian hoặc thơ ca hiện đại một cách riêng biệt, chưa có một công
Trang 8trình nào tập trung nghiên cứu về thơ ca dân tộc Hmông một cách qui mô, hệ thống từ dân gian đến hiện đại, nhằm chỉ ra các đặc điểm nổi bật mang tính bản sắc của dân tộc Hmông; đồng thời chỉ ra được quá trình hình thành và phát triển, tiếp biến của thơ ca Hmông trong suốt chiều dài lịch sử Đó chính là tính truyền thống và hiện đại như một nét đặc trưng và đặc sắc của dân tộc Hmông được thể hiện một cách sinh động qua thơ ca
Việc nghiên cứu về thơ ca dân tộc Hmông một cách toàn diện, quy mô, hệ thống và đặt trong sự vận động từ truyền thống đến hiện đại chưa được giới nghiên cứu quan tâm đã tạo ra một khoảng trống trong việc nhìn nhận, xem xét, đánh giá về những thành tựu và hạn chế của thơ ca dân tộc Hmông trong nền thơ ca các dân tộc thiểu số, cũng như nền thơ Việt Nam Chúng tôi cho rằng, việc triển khai thực hiện luận án: Thơ ca dân tộc Hmông- từ truyền thống đến hiện đại là một nỗ lực để lấp đầy (hoặc thu hẹp lại) khoảng trống đó Thiết nghĩ, đó là một công việc cần thiết, hữu ích cho nghiên cứu văn học, đặc biệt là văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Triển khai thực hiện đề tài luận án: Thơ ca dân tộc Hmông- Từ truyền thống đến hiện đại, chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận nghiên cứu thơ ca Hmông trong quá trình vận động và phát triển từ thơ ca dân gian đến thơ ca hiện đại, trên hai phương diện chủ yếu là nội dung phản ánh và cấu trúc nghệ thuật
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu thơ qua Hmông từ truyền thống đến hiện đại qua các văn bản sau:
* Thơ ca dân gian:
- Dân ca Mèo (Lào Cai), Doãn Thanh, Nxb Văn học, Hà Nội, 1967
Trang 9- Dân ca Hmông, Doãn Thanh, Hoàng Thao, Nxb Văn học,
bố trên báo chí hoặc trong các tuyển tập thơ từ trước tới nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp nghiên cứu loại hình
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành (văn hoá, dân tộc học )
5 Đóng góp khoa học của luận án
5.1 Luận án nghiên cứu thơ ca dân tộc Hmông từ truyền thống đến hiện đại thông qua việc khảo sát thơ ca Hmông một cách tổng thể và toàn diện, nhằm tìm hiểu và đánh giá những nét đặc trưng mang tính bản sắc trong thơ ca dân tộc Hmông, từ thơ ca dân gian (truyền thống) đến thơ ca hiện đại
5.2 Qua việc nghiên cứu một số phương diện nội dung và nghệ thuật của thơ ca dân tộc Hmông, luận án làm nổi bật quá trình vận động và phát triển, sự kế thừa và tiếp biến của thơ ca Hmông từ truyền thống đến hiện đại
5.3 Bằng việc đánh giá thực trạng và đưa ra một số ý kiến, kiến nghị, luận án sẽ góp một tiếng nói vào việc bảo tồn, gìn giữ,
Trang 10phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Hmông với tư cách là một thành tố tạo nên sự thống nhất, phong phú và đa dạng của văn hoá các dân tộc Việt Nam Đặc biệt là trong bối cảnh đất nước ta đang trên con đường hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận án được triển khai thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về dân tộc Hmông
Chương 2: Quá trình vận động của thơ ca Hmông nhìn từ phương diện nội dung phản ánh
Chương 3: Quá trình vận động của thơ ca Hmông nhìn từ phương diện cấu trúc nghệ thuật
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC HMÔNG
1.1 Lịch sử tộc người - những cuộc thiên di đầy nước mắt và máu Dân tộc Hmông (còn có các tên gọi khác như Na Mẻo, Mèo, Mẹo, Miếu Ha, Mán Trắng), là một dân tộc có số dân tương đối đông (trên 9 triệu người), cư trú ở nhiều nước khác nhau trên thế giới Ở Trung Quốc, người Hmông được gọi là người Miêu, ở Lào gọi là người Mẹo Ngoài ra, ở hầu hết các nước khác trên thế giới, họ đều được gọi là người Hmông Ở nước ta, trước năm 1979, họ được gọi
là người Mèo
Cho đến nay, đa số giới nghiên cứu về người Hmông đều tán thành quan điểm cho rằng, người Hmông đã tồn tại ở lưu vực sông Hoàng Hà cách đây hơn 3000 năm Điều này đã được khẳng định tại Hội nghị quốc
tế lần thứ nhất về người Hmong/ Miao ở Châu Á được tổ chức tại thành phố Aixen Provence nước Cộng hoà Pháp (tháng 9 năm 1998)
Trang 11Theo truyền thuyết và những cứ liệu lịch sử, người Hmông đã từng có một quốc gia riêng.Tuy nhiên, họ là một dân tộc có ý thức tự cường mạnh mẽ, không bao giờ chịu khuất phục trước sức mạnh của các thế lực tàn bạo.Bởi vậy, họ đã không ngừng nổi dậy đấu tranh chống sự áp bức, đô hộ của người Hán, người Mãn Các cuộc đấu tranh này bị dìm trong biển máu Người Hmông đến Việt Nam chủ yếu là do trốn chạy khỏi sự truy sát, huỷ diệt Lịch sử của người Hmông trước khi đến Việt Nam là lịch sử của những cuộc thiên di đầy nước mắt và máu
1.2 Kinh tê nương rẫy và tập quán du canh
Kinh tế nương rẫy gắn liền với tập quán du canh du cư là nét đặc trưng của người Hmông Nó làm cho mỗi gia đình người Hmông trở thành một đơn vị kinh tế độc lập Họ trực tiếp làm ra mọi thứ thiết yếu để phục vụ cuộc sống Người Hmông nổi tiếng với các nghề thủ công như: đan lát, xe lanh dệt vải, in hoa văn bằng sáp ong, đúc, rèn Các sản phẩm thủ công của người Hmông vừa có tính kỹ thuật cao, vừa độc đáo và rất đặc sắc bởi tính nhân văn và bản sắc văn hoá đậm đà của dân tộc Hmông
Kinh tế của người Hmông hoàn toàn không có tính cộng đồng, càng không phải là nền tảng cho sự cố kết và thống nhất Đó là một trở ngại rất lớn cho sự phát triển kinh tế của dân tộc này trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới đang trong công cuộc hội nhập ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc
1.3 Đời sống văn hóa- "Tâm hòn và tiếng hát Hmông"
1.3.1 Nhà ở- nét độc đáo trong kiến trúc của người Hmông
Người Hmông thường ở nhà đất trình tường lợp ngói, hay nhà
gỗ lợp mái tranh phên vách Cấu trúc chung của ngôi nhà Hmông truyền thống gồm 3 gian, gian giữa có cửa chính nhìn về phía trước nhà Đây là gian tiếp khách Vách sau của gian giữa là chỗ thiêng Ở
Trang 12gian bên cạnh có buồng ngủ và bếp Đầu hồi nhà có một cửa phụ nhưng đó mới chính là lối ra vào Hàng ngày, người trong gia đình chủ yếu đi lại bằng cửa này
Nhà của người Hmông không chỉ phù hợp với điều kiện và đặc trưng cuộc sống của họ, mà còn biểu hiện những quan niệm riêng về tín ngưỡng của cộng đồng
1.3.2 Trang phục- nét đặc trưng thẩm mĩ của người Hmông Trang phục hiện diện trong đời sống hàng ngày của người Hmông Trang phục vừa là của cải vật chất vừa có ý nghĩa vượt qua giá trị của vật chất thông thường để thể hiện sâu sắc những giá trị văn hoá, xã hội của người Hmông từ trong lịch sử Trong xã hội đầy biến động của đời sống hiện tại, điều kiện kinh tế và sự giao lưu văn hoá đã dẫn tới việc người Hmông dần mất đi trang phục truyền thống của mình, nhất là trang phục của người đàn ông Hmông Vì vậy, việc khích lệ, động viên và tạo điều kiện thuận lợi để người Hmông giữ lại và sử dụng trang phục cổ truyền của mình là một sự bảo lưu những giá trị truyền thống và thể hiện bản sắc dân tộc Cùng với các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể khác, trang phục của người Hmông góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng của văn hoá các dân tộc Việt Nam
1.3.3 Phong tục, tập quán - cơ sở của tính cố kết cộng đồng
Người Hmông thành 5 ngành: Hmông trắng (Hmông Đơư), HMông hoa (Hmông lềnh), Hmông đỏ (HMông si), Hmông đen (HMông đu) và Hmông xanh (Hmông sua) Cách phân nhóm này chủ yếu dựa vào sắc phục của người phụ nữ và sự khác nhau ít nhiều về
âm điệu, thổ ngữ
Trang 13Phong tục, tập quán của người Hmông rất phong phú và giàu bản sắc, bao gồm các nghi lễ cuới xin, tang ma và các sinh hoạt cộng đồng khác, được hình thành một phần do điều kiện sống khắc nghiệt
và được bảo lưu từ trong lịch sử, được biểu hiện rõ nét, đặc sắc và sinh động trong cả văn học dân gian và văn học thành văn
1.3.4 Đời sống tâm linh- nơi trú ngụ của những niềm tin tôn giáo Người Hmông quan niệm “vạn vật hữu linh” Tất cả sự vật hiện tượng trong cuộc sống đều có linh hồn Hệ thống thần bản mệnh trong quan niệm của người Hmông rất phong phú và đa dạng
Đời sống tâm linh đã góp phần hình thành nên những đặc trưng tâm lí và tính cách, bản lĩnh của dân tộc Hmông
1.3.5 Tiếng nói, chữ viết và truyền thống thơ ca
Tiếng Hmông là tiếng nói của khoảng 80 vạn người Hmông ở nước
ta Tiếng Hmông thuộc họ Nam Á, ngữ hệ Mèo - Dao Người Hmông
có 5 ngành, tương ứng là 5 phương ngữ Về cơ bản, tiếng Hmông là một ngôn ngữ thống nhất Hiện nay, chữ viết của người Hmông trên thế giới đã thống nhất cùng một loại Người Hmông trên khắp thế giới cùng thống nhất được một tiếng nói, đó là tiếng Hmông Đơ (Hmông Trắng) Bởi người Hmông ở các nước có nền văn hoá phát triển như Thái Lan, Mỹ, Pháp, Úc, Lào đều là người Hmông Trắng Người Hmông có một kho tàng thơ ca phong phú được hính thành và không ngừng phát triển trong suốt chiều dài lịch sử Thơ ca Hmông
là sự phản ánh trung thực đời sống và tâm hồn dân tộc Hmông từ quá khứ đến hiện tại với những nét đặc trưng, giàu bản sắc