Qua việc nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơ lục bát Đồng Đức Bốn, người viết đi đến khẳng định sự tài hoa, độc đáo trong cách khám phá thế giới nghệ thuật của một thể thơ truyền thống là
Trang 2Tôi xin cam đoan luận văn này là do kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo PGS.TS.Đoàn Đức Phưomg Luận văn này không trùng với bất kì công trình nghiên cứu của tác giả nào đã được công bố trước đó Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 8 năm 2016
Học viên thực hiện • • •
NGUYỄN THỊ L ộ c
Trang 3Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS.Đoàn Đức Phương - người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo cho tôi để hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa ngữ văn, phòng sau Đại học - Trường ĐHSP Hà Nội 2, cùng gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 8 năm 2016
Học viên thực hiện
NGUYỄN THỊ L ộ c
Trang 4MỞ Đ ẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứ u 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Đóng góp của đề tài 3
7 Cấu trúc của luận v ăn 4
Chương 1 KHÁI LUẬN VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ SÁNG TÁC CỦA ĐỒNG ĐỨC BỐN 5
1.1 Khái lược về thế giới nghệ thuật 5
1.1.1 Thể giới nghệ thuật 5
1.1.1.1 Thế giới nghệ thuật là chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật 7
1.1.1.2 Nguyên tắc tư tưởng nghệ thuật 9
1.1.1.3 Các cấp độ của thế giới nghệ thuật 12
1.1.2 Thế giới nghệ thuật trong thơ trữ tình 16
1.2 Sự nghiệp sáng tác của Đồng Đức Bốn 17
1.2.1 Hành trình sáng tá c 17
1.2.2 Quan niệm sáng tá c 20
Chương 2 HÌNH TƯỢNG c u ộ c SỐNG VÀ CON NGƯỜI TRONG THƠ LỤC BÁT ĐỒNG ĐỨC BỐN 23
2.1 Hình tượng cuộc sống 23
2.1.1 Hình tượng thiên nhiên 23
2.1.1.1 Đường quê 26
2.1.1.2 Cánh đồng với mưa, nắng, g ió 27
2.1.1.3 Trăng, sao chốn nhà quê 31
Trang 52.1.2 Hình tượng quê hương, đất nước 39
2.1.2.1 Những cánh diều quê 39
2.1.2.2 Đình quê, chùa q u ê 40
2.1.2.3 Mái nhà và mảnh vườn quê 43
2.1.2.4 Những con vật gần gũi với người dân quê 46
2.1.3 Cảnh sinh hoạt, lao động, chiến đẩu 48
2.2 Hình tượng con người 53
2.2.1 Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Đồng Đức B ổn 53
2.2.2 Các hình tượng khác 59
Chương 3 PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ LỤC BÁT ĐỒNG ĐỨC BỐN 69
3.1 Thể thơ lục bát 69
3.1.1 Khái lược về thể thơ lục bát 69
3.1.2 Đặc điểm thơ lục bát Đằng Đức B ố n 71
3.2 Ngôn ngữ, giọng điệu thơ lục bát Đồng Đức Bốn 74
3.2.1 Ngôn ngữ, giọng điệu th ơ 74
3.2.2 Ngôn ngữ thơ lục bát Đồng Đức Bổn 78
3.2.3 Giọng điệu thơ lục bát Đồng Đức Bốn 81
3.3 Không gian, thời gian nghệ thuật ừong thơ lục bát Đồng Đức Bốn 84
3.3.1 Khái lược về không gian, thời gian nghệ thuật 84
3.3.1.1 Khái niệm không gian nghệ thuật 84
3.3.1.2 Khái niệm thời gian nghệ thuật 87
3.3.2 Không gian nghệ thuật trong thơ lục bát Đằng Đức B ẩn 88
3.3.3 Thời gian nghệ thuật trong thơ lục bát Đằng Đức Bổn 90
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 7M Ở ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ xưa tới nay, thơ ca luôn chiếm vị trí quan trọng ừong nền văn học dân tộc cũng như trong đời sống tinh thần của người dân việt Từ sau 1975, cùng với sự đổi mới của nền văn học, thơ ca cũng có những bước chuyển mình đáng kể Thơ ca giai đoạn này tuy không còn giữ vị trí tiên phong, trụ cột trong đời sống văn học, nhưng vẫn rất phong phú và đa dạng, có nhiều tìm tòi, cách tân mạnh mẽ với nhiều phong cách nghệ thuật mới mẻ, độc đáo trong tiến trình phát triển của thơ hiện đại Việt Nam
Đồng Đức Bốn là nhà thơ đương đại nổi bật Tuy tác phẩm của ông chưa được đưa vào giảng dạy ở trường trung học phổ thông, nhưng tên tuổi đã được nhiều nhà phê bình và đông đảo độc giả chú ý, đánh giá cao Bởi trong khi những cây bút đương đại đưa nhau đi tìm cho thơ mình những hình thức thể hiện riêng, mới lạ thì Đồng Đức Bốn lại thực hiện quá ữình lội ngược dòng tìm về với những nguồn mạch trong trẻo của thể thơ lục bát truyền thống, với những hình ảnh thơ gần gũi, bình dị trong đời sống hàng ngày nhưng vẫn toát lên hơi thở rất hiện đại v ẫn thấy bên cạnh chất tình trong ừẻo
là cả một nỗi đau đáu với đời và cả cái ngông của thi sĩ, tất cả đã làm nên một thế giới nghệ thuật rất riêng, mang đậm phong cách thơ lục bát Đồng Đức Bốn
Nghiên cứu về thơ Đồng Đức Bốn, ca ngợi thơ ông có thể kể đến các tác giả như: Nguyễn Huy Thiệp, Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Đăng Điệp, Phạm Tiến Duật, Băng Sơn Trong các công trình nghiên cứu hay bài viết các tác giả đều hướng đến việc khẳng định những đóng góp của Đồng Đức Bốn Ngoài ra, thơ lục bát Đồng Đức Bốn còn trở thành đối tượng nghiên cứu trong
các khóa luận hay luận văn thạc sĩ Tiêu biểu là luận văn: Xu hướng tìm về thi
Trang 8pháp thơ ca dân gian trong thơ Việt Nam đương đại - khảo sát qua ba trường hợp Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công trứ của Lê Thị Hoài (năm 2007), hay luận văn: Chất đồng quê trong thơ lục bát Việt Nam hiện đại - qua thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bổn ( năm 2008), tác giả Phạm Mai
Phong Nhìn chung, càng ngày thơ lục bát Đồng Đức Bốn càng nhận được
sự quan tâm của độc giả Nhưng theo đánh giá của người viết thơ Đồng Đức Bốn mới phần nào chú ý đến một vài phương diện như: nội dung cảm hứng, chất ca dao, chất đồng quê, ngôn ngữ mà vẫn chưa có cái nhìn toàn diện về thế giới nghệ thuật ừong thơ lục bát của thi sĩ
Từ nhận thức ừên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu “Thế gián nghệ thuật thơ lục bát Đồng Đức Bốn” làm luận văn thạc sĩ.
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung trên các phương diện đặc điềm nổi bật trong thế giới nghệ thuật thơ lục bát Đồng Đức Bốn Thể hiện về thiên nhiên, cuộc sống và con người trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn Từ đó thấy được cái hay, nét độc đáo ừong phương thức biểu hiện thế giới nghệ thuật thơ lục bát của ông vừa
có sự kế tục thành tựu của thể thơ lục bát truyền thống vừa có sự sáng tạo trong thế giới nghệ thuật
Qua việc nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơ lục bát Đồng Đức Bốn, người viết đi đến khẳng định sự tài hoa, độc đáo trong cách khám phá thế giới nghệ thuật của một thể thơ truyền thống là lục bát nhưng có cách thể hiện rất đương đại
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi đặt ra cho luận văn phải giải quyết các nội dung sau đây:
- Tìm hiểu khái lược về thế giới nghệ thuật và sáng tác của Đồng ĐứcBốn
Trang 9- Tìm hiểu hình tượng cuộc sống và con người ừong thơ lục bát Đồng Đức Bốn.
- Tìm hiểu phương thức biểu hiện thế giới nghệ thuật thơ lục bát Đồng Đức Bốn
4 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu
4.1 Đổi tượng nghiền cứu
Thơ Đồng Đức Bốn chủ yếu là thơ tự do và thơ lục bát Nhưng đóng góp của ông tập trung thăng hoa nhất ở thể loại “lục bát” Đối tượng nghiên
cứu của luận văn là: thế giới nghệ thuật thơ lục bát Đồng Đức Bốn.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đồng Đức Bốn sáng tác nhiều và ở mỗi tập thơ đều có những nét đặc sắc riêng trong thế giới nghệ thuật Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn, người viết khai thác thế giới nghệ thuật thơ Đồng Đức Bốn thể hiện thông qua một số bài thơ tiêu biểu của ông
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai luận văn, người viết kết họp sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
Trang 10khá đầy đủ những nét đặc sắc, sáng tạo mới mẻ trong thế giới nghệ thuật thơ Đồng Đức Bốn.
Luận văn khẳng định về phương diện nghệ thuật, thế giới thơ Đồng Đức Bốn thực sự rất phong phú, cá tính, là một thế giới mới lạ và độc đáo của
sự hăng say, sáng tạo không ngừng, là nơi để cho sự mộc mạc, chân quê lột tả hết vẻ đẹp thuần khiết, nơi cái hay cái đẹp quyện hòa với sự sáng tạo
Các kết quả của luận văn còn giúp cho người đọc thấy được những cống hiến đóng góp của Đồng Đức Bốn trong sự nghiệp phát triển của thơ ca dân tộc nói chung, trong thể thơ truyền thống của dân tộc nói riêng
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, nội dung luận văn được triển khai thành
Trang 11Chương 1 KHÁI LUÂN VÈ THẾ GIỚI NGHÊ THUÂT VÀ SÁNG TÁC • • •
sự tiếp cận các hiện tượng và các tác giả văn học
Đáp ứng yêu cầu đó, ở Liên Xô cũ vào những năm 70 đã có một số
công trình nghiên cứu về khái niệm này như các công trình: Thế giới nghệ thuật của M.Gorki, Thể giới nghệ thuật của Sôlôkhổp, Ở Việt Nam khái
niệm được nhắc đến vào những năm 80 nhưng cách hiểu của các tác giả chưa hoàn toàn cụ thể về nội dung của nó
Năm 1985 trong luận án Tiến sĩ khoa học: Sự hình thành và những vấn
đề của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam hiện đại
Nguyễn Nghĩa Trọng đã xác định hàm nghĩa khái niệm thế giới nghệ thuật
như sau: “Thể giới nghệ thuật là một phạm trù m ĩ học bao gồm tất cả các yểu
tổ của quá trình sáng tạo nghệ thuật và tất cả kết quả của quá trình hoạt động nghệ thuật của nhà văn Nó là một chỉnh thể nghệ thuật và một giá trị thẩm
mĩ Thế giới nghệ thuật bao gồm hiện thực- đổi tượng khách quan của nhận thức nghệ thuật, cá tính sáng tạo của nhà văn hay chủ thể nhận thức nghệ thuật, ngôn ngữ hay chất liệu nghệ thuật Trong thế giới nghệ thuật chứa đựng sự phản ánh hiện thực, tư tưởng, tình cảm của nhà vãn Thế giới nghệ thuật không chỉ tương đương đối với tác phẩm nghệ thuật mà còn rộng hơn
Trang 12bản thân nó Nó có thể bao quát gồm tất cả các tác phẩm nghệ thuật của một nhà văn, một trào lưu nghệ thuật, một thời kỳ nhất định của văn học, một nền văn học của dân tộc hay nhiều dân tộc nhưng đồng thời cũng có thể liên quan đến nhiều yếu tổ khác của sáng tạo nghệ thuật nhỏ hơn khái niệm hình tượng nghệ thuật Thế giới nghệ thuật là nhiên thứ hai mà người nghệ s ĩ tạo dựng trong đó chứa đựng hiện thực và quan niệm về hiện thực, tự nhiên và con người là thế giới sinh động, đa dạng vô cùng, mỗi nhà văn, mỗi trào lưu văn học, mỗi dân tộc, mỗi thời kỳ lịch sử để có thế giới nghệ thuật của riêng mình ”.
Đây là một khái niệm rộng được triển khai với nhiều cấp độ Tuy còn dừng ở mức khái quát song quan niệm sẽ là những gợi ý hết sức quý giá, phù họp với nhiều luận điểm mà chúng tôi sẽ triển khai trong luận văn
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Thể giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tỉnh chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác tác giả, một trào lưu) Thế giới nghệ thuật nhẩn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo ra theo các nguyên tẳc tư tưởng, khác với thể giới thực tại vật chất hay thể giới tâm lý của con người, mặc dù nó phản ánh thế giới ấy Thế giới nghệ thuật cỏ không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lý riêng chỉ xuất hiện ước lệ trong các sáng tác nghệ thuật Mỗi thế giới nghệ thuật ứng với một quan niệm về thế giới, một cách cắt nghĩa về thế giới Khái niệm “thế giới nghệ thuật” giúp ta hình dung tỉnh độc đáo về tư duy nghệ thuật của sáng tác nghệ thuật, cỏ cội nguồn trong thế giới quan, văn hóa chung, văn hóa nghệ thuật và cả tỉnh sáng tạo của nghệ s ĩ ” [14; tr.302].
Ngoài những cách hiểu tiêu biểu ừên còn một số công trình nghiên cứu
khác cũng đề cập đến khái niệm này như: Nguyễn Đăng Mạnh với Con đường
đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn (1996), Trần Đình Sử với Những thế giới nghệ thuật thơ (1997).
Trang 13Như vậy “thế giới nghệ thuật” là một phạm vi rộng, thể hiện qua nhiều phương diện: nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu, không gian, thời gian nghệ thuật, quan điểm nghệ thuật các yếu tố này thể hiện đan xen vào trong các tác phẩm, phụ thuộc vào tư duy nghệ thuật của nhà văn, nó góp phần tạo nên tính sinh động cho cái được miêu tả.
Là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều yếu tố nên việc tìm hiểu kĩ trong dung lượng luận văn cao học là rất khó Vì thế, trong chương này chúng tôi chỉ trình bày khái quát các vấn đề của khái niệm thế giới nghệ thuật Một
số yếu tố được trình bày nhằm đảm bảo tính hệ thống nên còn dừng lại ở mức
sơ giản Trên cơ sở đó tập trung làm rõ một số vấn đề như tính chủ quan, tính thể loại, trong thế giới nghệ thuật thơ trữ tình Từ đó, chúng tôi vận dụng vào tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Đồng Đức Bốn
1.1.1.1 Thế giới nghệ thuật là chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật
Trong tiếng Việt chỉnh thể được cắt nghĩa là “Thể’ khối thống nhất trong
đó các bộ phận có liên quan chặt chẽ với nhau không tách rời” [21; tr.156].
Trong triết học, nó được hiểu “là khái niệm đặc trưng cho tỉnh thống nhất nội tại toàn vẹn, đầy đủ, biệt lập của khách thể Sự tổng hợp những mặt, những thuộc tỉnh, những mối quan hệ vốn có của khách thể tạo ra tính thống nhất bên trong của nó với môi trường bên ngoài” [30; tr.21].
Trong nghiên cứu văn học “chỉnh thể” là thuật ngữ chuyên ngành có ý
nghĩa là “Là tổng thể bao gồm các yểu tổ cỏ mối quan hệ mật thiết với nhau tương đối bền vững, bảo đảm cho hoạt động của nó như môi trường xung quanh ” Vận dụng khái niệm này vào tìm hiểu chỉnh thể thế giới nghệ thuật
cho thấy thế giới này bao gồm rất nhiều cấp độ Tác phẩm, tác giả, giai đoạn, thời kỳ văn học, nền văn học dân tộc, trào lưu Mỗi cấp độ lại là một chỉnh thể toàn vẹn, thống nhất Mọi yếu tố trong hệ thống chỉnh thể có quan hệ ràng buộc, quy định và tác động lẫn nhau Mối quan hệ này đã tạo ra một thế giới
Trang 14với nội dung và chức năng mới vốn không có khi đem tách rời các yếu tố Nói như vậy, thì chỉnh thể thế giới nghệ thuật là sự liên kết “siêu tổng cộng” của các chỉnh thể nhỏ trong hệ thống từ quan niệm, mô hình, hình tượng đến các chỉnh thể nhỏ hơn khái niệm hình tượng Chỉnh thể thế giới nghệ thuật là kết quả của quá trình tư duy của người nghệ sĩ khi biến những cảm xúc, những tình điệu thẩm mĩ, những cách khám phá, cắt nghĩa, lí giải đời sống thành
“thiên nhiên thứ hai”, để người đọc chiêm nghiệm, suy ngẫm, soi ngắm các vấn đề mà người nghệ sĩ đã gửi vào trong đó Là sản phẩm của nhà văn nhưng thế giới nghệ thuật tồn tại độc lập với nhà văn đó theo cách riêng của mình
Trong thế giới nghệ thuật, mối quan hệ giữa nội dung và hình thức là hệ quả tất yếu nhằm thống nhất nội tại giữa các yếu tố, thể hiện tính quy luật của chỉnh thể Đây là cơ sở để đánh giá đúng chân giá trị của tác phẩm Nó giúp người sáng tác tránh được những lắp ghép máy móc, khiên cưỡng vô cảm và giúp người nghiên cứu tránh được những đánh giá chủ quan, cứng nhắc
Như vậy khi nội dung và hình thức phù họp, thống nhất với nhau thì mới tạo nên chỉnh thể và cũng chỉ trong chỉnh thể thì mối quan hệ này mới
xuất hiện Đúng như Biêlinxki nhà phê bình Nga đã viết: “Khỉ hình thức là biểu hiện của nội dung thì nó gắn chặt tới mức nếu tách nó ra khỏi nội dung thì cỏ nghĩa là hủy diệt hình thức” [32; tr.256] Từ mối quan hệ này đã mở ra
một hướng khám phá thế giới nghệ thuật bắt đầu từ hình thức, tức là tiếp cận
Trang 15nên nó cần có một quá trình cảm thụ Trong quá trình cảm thụ mới xuất hiện các mối quan hệ ngược xuôi giữa các lớp, các yếu tố Các mối quan hệ này vừa đan xen vừa đồng hóa để tạo ra một chỉnh thể toàn vẹn có chức năng, nội dung mới Nằm trong chỉnh thể các yếu tố vừa mang ý nghĩa của bản thân nó vừa mang ý nghĩa của chỉnh thể Do sự chi phối phụ thuộc lẫn nhau nên một
số yếu tố trong chỉnh thể thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của các yếu tố khác Chẳng hạn, trong các tác phẩm thuộc loại hình tự sự, do yêu cầu tái hiện cuộc sống đầy đủ, chi tiết nên nó không bị giới hạn thời gian, không gian, số lượng nhân vật Các nhân vật được xây dựng chi tiết, tỉ mỉ với nhiều quan hệ phức tạp Nhưng ở tác phẩm kịch do phản ánh cuộc sống bằng hình thức diễn xướng nên hạn chế về thời gian, không gian đã kéo theo số lượng nhân vật ít, các tình tiết khắc họa chỉ tập trung ở các mâu thuẫn đã lên tới đỉnh điểm Như vậy, thế giới nghệ thuật chỉ được xem là chỉnh thể khi các yếu tố, các lớp có sự ràng buộc, quy định lẫn nhau theo một quy luật nhất định Coi tính chỉnh thể là phẩm chất không thể thiếu của sáng tạo nghệ thuật cho phép
ta nhìn nhận thế giới này ở dạng đầy đủ, nhiều mặt nhất
1.1.1.2 Nguyên tắc tư tưởng nghệ thuật
Tác phẩm nghệ thuật là thế giới chủ quan với những tìm tòi độc đáo, mới
mẻ, những hư cấu tưởng tượng kỳ diệu, nó không phải là sự lắp ghép tùy tiện
mà là một chỉnh thể toàn vẹn thống nhất được tạo nên bởi các nguyên tắc tư tưởng nghệ thuật riêng Những nguyên tắc này có ý nghĩa tưcrng đối ổn định trong từng thời kỳ Đây cũng là một trong những căn cứ để nhận biết giai đoạn văn học Trong sáng tạo nghệ thuật, nghệ thuật và tư tưởng không bao giờ tách rời nhau mà nó là một thể thống nhất cùng biểu hiện tư tưởng và sáng tạo của
nhà vãn Tất nhiên tư tưởng sẽ định hướng cho sáng tạo Tsekhov đã nói: “Nếu như có một tác giả nào đó mà khoe với tôi rằng anh ta đã viết một thiên truyện không có dự định từ trước thì tôi sẽ gọi anh ta là thằng ra” [41; tr 11].
Trang 16Nguyên tắc tư tưởng nghệ thuật là vấn đề của phương pháp sáng tác
Nguyên tắc này “không phải là sự tổng hợp những phương thức, thủ pháp, biện pháp nghệ thuật mà gẳn chặt với thế giới quan nhưng không phải bị đồng nhất với thể giới quan Thế giới quan này được thể hiện bằng các nguyên tắc cụ thể ” [32; tr.6] Như vậy nguyên tắc tư tưởng nghệ thuật chịu sự
chi phối của quan điểm tư tưởng thế giới quan, nhân sinh quan, quan niệm, quan điểm nghệ thuật của cá nhân và thời đại Do quan niệm ở mỗi thời kỳ thay đổi đã kéo theo sự thay đổi của các nguyên tắc tư tưởng nghệ thuật
Trong phương pháp sáng tác huyền thoại dân gian (theo Hà Minh Đức) nguyên tắc thần thánh hóa là chủ yếu Từ quan niệm con người là sản phẩm của thượng đế đã tạo ra cho các tác giả dân gian một thế giới quan thần thoại lẫn thế giới quan dựa trên chủ nghĩa duy vật chất phác Thế giới quan này làm nảy sinh tư tưởng cảm hứng lớn về sức mạnh và tin vào số mệnh Sản phẩm của nó là những nhân vật khác người như thần, thánh, tiên, phật Nếu là người thì có phép thuật kỳ lạ như cô Tấm, Sọ Dừa Các nhân vật này được tạo nên
từ trí tưởng tượng phong phú nhằm giải thích những điều con người chưa biết
và thể hiện ước mơ của họ Ước lệ tượng trưng là một nguyên tắc “xơ cứng” mang tính quy phạm, nghiêm ngặt, chặt chẽ của phương pháp sáng tác cổ điển Từ quan niệm con người là con người chung, gắn liền với thiên nhiên vũ trụ, họ đã lấy vẻ đẹp của thiên nhiên vũ trụ làm thước đo giá trị con người Do lấy cảm quan vũ trụ làm chủ đạo để giãi bày quan điểm, tư tưởng nên hệ thống nhân vật đầy tính ước lệ tượng trưng, mang tính lý hóa cao Chẳng hạn, nói về vẻ đẹp con người là tùng, cúc, trúc, mai Nói về người con gái là cây
bồ, cây liễu Nói về nữ sĩ là “mắtphượng mày ngài” Nguyễn Du khi miêu
tả tài sắc của chị em Thúy Kiều cũng gắn chặt với thiên nhiên, Thúy Vân là:
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Trang 17Trong phương pháp sáng tác lãng mạn, các nghệ sĩ lấy việc biểu hiện
“cái tôi nội cảm ” làm nguyên tắc chủ yếu Từ chỗ thất vọng với thực tại, họ
hoặc quay về với quá khứ hoặc hướng tới tương lai Họ coi nghệ thuật là nơi trú ngụ của tâm hồn mình và quan niệm nghệ thuật chỉ sống với mình hơn là sống với đời Yì thế đối với họ nghệ thuật chỉ chủ yếu biểu hiện cái tôi với tất
cả những biến thái dù nhỏ nhất của tâm hồn và lấy luôn cái tôi làm thước đo giá trị muôn loài Nguyên tắc này phổ biến trong dòng văn học lãng mạn của nước ta, nhất là phong trào Thơ mới những năm 1932 - 1945
Không đề cao tư tưởng phóng túng và cái tôi như phương pháp lãng mạn, xuất phát từ hiện thực đời sống, từ quan niệm văn học phải phản ánh trung thực đời sống, phương pháp sáng tác hiện thực và hiện thực xã hội chủ nghĩa lấy nguyên tắc tả thực làm cơ bản Nguyên tắc này yêu cầu việc xây dựng hệ thống nhân vật phải được bắt đầu từ những chi tiết chân thực nhưng
đó phải là các chi tiết đắt, tiêu biểu và có ý nghĩa cao trong việc phản ánh đời sống cũng như tư tưởng thái độ của người viết Các chi tiết chân thực điển hình rất quan trọng trong việc xây dựng hình tượng điển hình Chi tiết càng điển hình thì giá trị biểu hiện cuộc sống càng lớn
Đây là những nguyên tắc cơ bản nhưng không phải là độc quyền của bất kỳ phương pháp nào Trong sáng tác, các nguyên tắc này vẫn có sự giao thoa với nhau Mức độ giao thoa ít hay nhiều là tùy thuộc vào ý đồ của người sáng tác Việc xây dựng các nguyên tắc cơ bản vừa thể hiện thế giới quan của nhà văn vừa biểu hiện thế giới quan niệm chung có tính thời đại
Trang 181.1.1.3 Các cấp độ của thế giới nghệ thuật
* Cấp độ quan niệm nghệ thuật
Quan niệm nghệ thuật thể hiện các giới hạn cách hiểu thế giới, con người thuộc một hệ thống nghệ thuật của nhà vãn được thông qua mức độ, phạm vi, khả năng chiếm lĩnh đời sống của nhà vãn đó Quan niệm nghệ thuật
là hạt nhân bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật
Quan niệm nghệ thuật bao gồm nhiều vấn đề như: thế giới, con người, nghệ thuật, các phạm trù thẩm mỹ Tùy theo quan niệm mà có những thế giới nghệ thuật tương ứng
Thứ nhất, quan niệm về thế giới: Thế giới được tạo nên bởi thiên nhiên,
vũ trụ và con người Nhưng quan niệm về thế giới lại không giống nhau Trong triết học, chủ nghĩa duy tâm quan niệm thế giới là hiện tượng tinh thần, tồn tại bất biến Chủ nghĩa duy vật quan niệm thế giới là hiện tượng vật chất luôn vận động biến đổi Trong văn học, mặc dù chịu ảnh hưởng của các hình thái ý thức xã hôi khá đặc biệt là triết học nhưng quan niệm về thế giới không đơn giản là vật chất hay tinh thần mà nó được thể hiện ở điểm nhìn nghệ thuật Nó dựa trên sự cảm nhận của cá nhân về một thế giới để thỏa mãn sự tồn tại của nó ứng với mỗi quan niệm về thế giới là một thế giới nghệ thuật,
vì thế việc tìm hiểu quan niệm này phải xem xét trong từng thế giới nghệ thuật cụ thể
Thứ hai, quan niệm về con người: Con người là đối tượng hướng tới của vãn học nhưng con người ừong văn học không phải là con người nguyên
bản của đời sống “mà là quan niệm về con người ẩy một cách thẩm mỹ và nghệ thuật” (theo Trần Đình Sử) Quan niệm về con người thay đổi theo từng
thời kỳ lịch sử Quan niệm nghệ thuật về con người gắn chặt với cái nhìn của người nghệ sĩ Nó chỉ có giá trị trong hoàn cảnh, một giai đoạn hay một thời
kỳ lịch sử nhất định
Trang 19Thứ ba, quan niệm về nghệ thuật: Nghệ thuật là sản phẩm của tinh thần nên giá trị của nó cũng là giá trị tinh thần Quan niệm về nghệ thuật rất phức
tạp; Platon cho rằng: “nghệ thuật là bản sao của một bản sao, là sự bẳt chước của sự bắt chước ” Aristote quan niệm: “nghệ thuật là sự bắt chước nhưng mang lại niềm vui” Hêghen nhấn mạnh: “nghệ thuật là phản ánh đời sống”
Đây là quan niệm có cơ sở thực tế cao bởi vĩ nó cho thấy ngay từ khi mới ra đời văn học đã hướng vào cuộc sống, phản ánh, cải tạo đời sống
Thứ tư, quan niệm về các phạm trù thẩm mỹ: Phạm trù thẩm mỹ là khái niệm thể hiện nhận thức khái quát của con người về những hiện tượng thẩm
mỹ có trong tự nhiên, xã hội, con người và nghệ thuật Trong nghệ thuật, phạm trù này được xác định qua cái thẩm mỹ (những đặc trưng của quan hệ giá trị của con người đối với thế giới xung quanh) Cái thẩm mỹ gồm cái hài, cái hùng, cái bi, cái cao cả, cái xấu Mỗi cái thẩm mỹ gắn liền với cảm xúc của người nghệ sỹ được người nghệ sỹ khái quát để mang một ý nghĩa biểu trưng ở các lĩnh vực khác nhau của đời sống Cái thẩm mỹ “vừa bất biến”(một cảm hứng duy nhất xét về loại hình), ‘Vừa khả biến” (có bản chất xã hội, lịch
sử về các xung đột tinh thần, tư tưởng mà nó biểu hiện) [40; tr.35]
* Cấp độ mô hình nghệ thuật.
Mô hình nghệ thuật là sản phẩm của quan niệm nghệ thuật Nó ra đời
và tồn tại cùng với thế giới nghệ thuật Mỗi thế giới nghệ thuật có một mô hình nghệ thuật tương ứng Mô hình này sẽ chi phối đến việc người nghệ sĩ chọn lựa nguyên tắc nào để phản ánh hiện thực khách quan Từ đó, mọi tư tưởng, ý đồ, cách thức tổ chức sắp xếp tình tiết, ngôn từ đều phụ thuộc vào
mô hình đã chọn Mỗi mô hình nghệ thuật mang một dấu ấn của hình thức đời sống văn hóa xã hội, là một kiểu quan niệm, một cách cắt nghĩa, lý giải về thế giới và con người Điều này có nghĩa là mỗi mô hình sẽ có những đặc điểm riêng không lặp lại với những mô hình trước, nó luôn mang một hình thức
Trang 20mới Việc xác định mô hình nghệ thuật phải dựa vào các phạm trù thời gian, không gian, con người được mô tả trong đó Từ các phạm trù này tìm ra các đặc điểm chung như mở đầu và kết thúc của hình tượng ở đâu, góc độ tiếp cận nào, mối quan hệ ra sao qua đó hợp thành các mô hình nghệ thuật Chẳng hạn trong mô hình văn học trung đại các nghệ sĩ hay dùng nguyên tắc ước lệ
để miêu tả nhân vật Nguyễn Du miêu tả Thúy Vân “Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang” Trong văn học dân gian kiểu xây dựng nhân vật theo hai
tuyến thiện - ác cũng là một kiểu mô hình Đặc trưng của văn học hiện thưc phê phán là kiểu kết thúc nhân vật không có lối thoát như chị Dậu, anh Pha, Chí Phèo, Lão Hạc Giai đoạn chống Mỹ có mô hình nhân vật hay hy sinh tình cảm riêng vì nghĩa lớn như chị Tư Hậu, anh Trỗi Mô hình nghệ thuật rất đa dạng, nó có thể là của thời đại, giai đoạn, tác giả Chẳng hạn, mô hình nhân vật trong sáng tác của Nam Cao là người nông dân tri thức nghèo Việc
đi sâu tìm hiểu mô hình nghệ thuật sẽ giúp ta nhận ra những đặc điểm chung, khái quát trong từng hình tượng nghệ thuật cụ thể
* Cấp độ hình tượng nghệ thuật
Hình tượng nghệ thuật là sản phẩm của phưomg thức chiếm lĩnh và tái
tạo hiện thực riêng biệt vốn có và chỉ có trong nghệ thuật Hình tượng “vừa là sản phẩm sáng tạo của người nghệ s ĩ vừa là con đẻ của hiện thực khách quan” [32; tr.27].
Hình tượng nghệ thuật là các khách thể của đời sống được người nghệ
sĩ tái hiện hoặc tái tạo và tồn tại độc lập như một thực thể văn hóa xã hội (tức
là nó tách khỏi hoạt động nghệ thuật của nhà văn) mà con người có thể thưởng thức, ngắm nghía Hình tượng nghệ thuật chỉ thấm vào ý thức của con người khi họ cảm thấy cuộc sống ở ừong đó
Như vậy, chỉ thông qua hoạt động tưởng tượng của người nghệ sĩ thì
một “cuộc sắng thứ hai” mới ra đời Cuộc sống này không chỉ định hướng về
Trang 21tinh thần con người để hoạt động có chủ định, có lý tưởng, để lý giải thế giới hiện thực mà còn mang đến cái có thể có, muốn có, phải có.
Hình tượng nghệ thuật chỉ sống khi được đặt trong thời gian, không gian sinh tồn (đây vừa là hình thức nội tại vừa là thuộc tính tất yếu của hình tượng nghệ thuật) Bị cắt đứt khỏi thời gian, không gian vật lí, tách khỏi thế giới hiện thực xung quanh, lại bị giới hạn trong khuôn khổ của tính ước lệ nên thời gian, không gian của hình tượng chỉ có thể cảm nhận chứ không thể nhìn
thấy trực tiếp bằng mắt Đọc câu thơ của Nguyễn Du “Buồn trông nội cỏ rầu rầu - chân mây mặt đất một màu xanh xanh” người đọc hình dung ra một
không gian xa xôi cách trở, cô lẻ đến nao lòng
Nói tóm lại, hình tượng nghệ thuật là sự thống nhất cao độ giữa các mặt đối lập: chủ quan - khách quan; lí trí - tình cảm; cá biệt - khái quát; hiện thực
- lí tưởng; tạo hình - biểu hiện Bản thân của mỗi hình tượng là một quan
hệ thẩm mỹ vô cùng phức tạp bao gồm: Quan hệ giữa các yếu tố và chỉnh thể giữa thế giới thực tại và thế giới nghệ thuật, giữa tác giả hình tượng, cuộc sống Với tư cách là cấp độ hạt nhân của chỉnh thể thế giới nghệ thuật, hình tượng là yếu tố trọn vẹn nhất vừa phản ánh đầy đủ cuộc sống vừa thể hiện gương mặt nghệ sĩ
* Cấp độ ngôn từ nghệ thuật
Ngôn từ nghệ thuật là lớp lời văn trong tác phẩm do người nghệ sĩ sáng tạo ra Nó là hình thức biểu đạt duy nhất vừa là xác, vừa là hồn của văn chương Xét về mặt chất liệu, ngôn từ nghệ thuật sử dụng các phương tiện của ngôn ngữ toàn dân như: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng nhưng mang phẩm chất thẩm mĩ và
mục đích nghệ thuật nên nó có thể “truyền đạt một thông tin và không một phát ngôn đủng nghĩa nào cỏ thể thay thế được” (theo G.V.Xtêpanôp).
Lời văn trong tác phẩm không phải là lời nói thường ngày Nó chịu sự quy định của nhà văn và phục tùng cấu trúc của văn bản nghệ thuật Do đó lời
Trang 22nói ấy có thể là lời nói trực tiếp, gián tiếp nhưng cũng có khi là lời nói nửa trực tiếp, lời độc thoại, lời của tác giả, của nhân vật, của người trần thuật Lớp lời văn trong tác phẩm được tạo nên từ thứ ngôn ngữ hàm súc, biểu tượng và gợi hình Tính gợi hình là phẩm chất hàng đầu không thể thiếu ừong lời văn Nếu các môn khoa học khác như: triết học, pháp luật phản ánh cuộc sống
bằng các khái niệm, công thức thì văn học phản ánh cuộc sống bằng “/07 văn biểu cảm hình tượng' [30; Ừ.355] Trước hết, tính gợi hình thể hiện trong chính
lời văn bởi thông qua lời văn người đọc sẽ hình dung ra được các mối quan hệ, các cung bậc cảm xúc khác nhau của nhân vật Để đạt được mục đích nghệ thuật và tinh thần thẳm mĩ cao, lời vãn có một hình thức tổ chức đặc biệt Nó
sử dụng đậm đặc các hiện tượng cú pháp, các từ tượng hình tượng thanh, từ mô
tả trạng thái, cảm xúc, cảm giác nhất là các phương thức thêm nghĩa, chuyển nghĩa như so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng làm cho lời vãn mềm mại, uyển chuyển, bay bổng, và có tính đa nghĩa và hàm ngôn
Hình thức tổ chức lời vãn ở mỗi một thể loại có những nét đặc thù riêng Trong thơ trữ tình, tổ chức lời thơ phải có tách dòng, có nhạc, có vần Trong tự sự, tổ chức lời văn là đoạn, chương, hồi Trong kịch, tổ chức lời văn là màn, lớp, cảnh Theo giáo sư Trần Đình Sử, lời văn nghệ thuật còn
đóng vai trò “biểu diễn” sự vật Điều này có nghĩa lời văn làm cho sự vật hiện
hình (đây là sự khác nhau cơ bản với ngôn ngữ hàng ngày)
Như vậy, lời văn nghệ thuật giữ vai trò lưu giữ làm phong phú thêm cho ngôn ngữ dân tộc vừa thể hiện sự kết tinh, sàng lọc ngôn ngữ của tác giả vừa thể hiện năng lực, sở trường, phong cách và quan niệm của người nghệ sĩ
1.1.2 Thế giới nghệ thuật trong thơ trữ tình
Trong văn học, căn cứ vào phương thức phản ánh người ta chia vãn học
ra làm ba thể loại lớn: tự sự, trữ tình và kịch Trong mỗi thể loại lại bao gồm nhiều thể loại nhỏ Tự sự có sử thi, tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa,
Trang 23truyện dài Kịch có hài kịch, bi kịch, chính kịch Trữ tình có thơ văn xuôi, thơ cách luật, thơ trữ tình ứ ng với mỗi thể loại lớn là các thể nhỏ và những loại hình thế giới nghệ thuật riêng, có quy luật vận động riêng và hình thức tổ chức biểu hiện riêng Thơ trữ tình là một thể nhỏ nằm ừong thể loại trữ tình Khái niệm thế giới nghệ thuật của nó cũng bao hàm đầy đủ các cấp độ, các yếu tố của thế giới nghệ thuật nói chung Nhưng các cấp độ, các yếu tố này có hình thức biểu hiện riêng Việc tìm hiểu khái niệm thế giới nghệ thuật thơ trữ tình chính là tìm hiểu tính chủ quan và những đặc trưng thể loại của nó.
Thơ trữ tình là thuật ngữ nhằm để phân biệt với các thể loại khác nhau
trong thể loại trữ tình và thơ tự sự Nó có ý nghĩa “là phương tiện để con người
ta tự khẳng định bản chất của mình, xác định chỉ hướng, lập trường, giá trị trước cuộc sổng, đồng thời là phương tiện để xây dựng thế giới tỉnh thần của con người’’ [32; tr.l 12] Thơ trữ tình có khả năng khêu gợi và bộc lộ cảm xúc
rất lớn Tuy cảm xúc là của từng cá thể nhưng lại bắt nguồn từ cuộc sống nên trong thơ trữ tình có tất cả mọi chuyện, chuyện thế sự, chuyện đời tư, chuyện
chung, chuyện riêng Dù nói gì đi nữa thì nổi bật trong thơ vẫn là “bản tự thuật của tầm trạng” (Poxpelop), “những vương quốc chủ quan ” (Bielinxki).
1.2 Sự nghiệp sáng tác của Đồng Đức Bốn
1.2.1 Hành trình sáng tác
Đồng Đức Bốn sinh ngày 30-3-1948, tại thôn Song Mai, xã An Đồng, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng Ông chịu ảnh hưởng sâu sắc của bề dày lịch sử và bề sâu nền văn minh lúa nước - văn minh sông Hồng, tình cảm của một vùng đất in dấu rất đậm nét trong hành trình văn hóa Việt để trở thành một ừong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ nhà thơ thời kỳ đổi mới
Đồng Đức Bốn xuất thân ừong một gia đình thuần nông Tuổi thơ của ông gắn bó chặt chẽ với ruộng đồng, bờ bãi làng quê Đó là những bờ bãi làng quê, những buổi chiều lang thang trên đồng cỏ hoe vàng, bắt châu chấu về
Trang 24nướng ăn hay tát cá mang ra chợ bán kiếm tiền Mẹ thi sĩ là người phụ nữ chân đất nhưng thuộc nhiều ca dao, tục ngữ và những khúc hát ru Cha cũng tập tành làm thơ nhưng không thành Đồng Đức Bốn là sự hoàn thiện của cả hai tâm hồn Có lẽ kỷ niệm tuổi thơ ấy đã là một dấu ấn không thể phai mờ trong tâm hồn của nhà thơ vì thế mà tiếng thơ của ông luôn có một nỗi buồn giăng mắc.
Tạm biệt tuổi thơ lắm bùn đất nhiều khó nhọc, nhà thơ bước vào thời trai trẻ cống hiến sức mình để xây dựng Tổ quốc Trở thành người lính, qua nhiều sóng gió cuộc đời, người ừai miền biển với ước vọng mạnh mẽ, tâm hồn luôn khao khát được cất tiếng Những tiếng thơ đầu tiên của chàng thanh niên quê mùa ấy vì không đủ độ vang, sự quyến rũ nên đã nhanh chóng rơi vào quên lãng Phận nghèo quấn riết lấy nhà thơ khiến nhà thơ không thể để hồn ràng buộc với thiên nhiên, hoa lá cỏ cây được mãi, ông phải lo vật lộn với cuộc sống làm đủ thứ nghề từ thợ gò, sửa chữa ôtô và cả kí kết những họp đồng kỉnh tế
Thời gian ừôi đi, sự đời từng trải “khi cuộc sống đã đầy”, hai mươi năm sau Đồng Đức Bốn làm thơ trở lại và ngay lập tức tỏa sáng, gây tiếng
vang lớn trở thành “một hiện tượng lạ” với tập thơ Chăn trâu đốt lửa Nhà
thơ tâm sự: “Con người tôi đã nếm trải đủ mọi đắng cay ở đời rồi Bây giờ chỉ chạm vào cây là ra quả, chạm vào lá là thành sương, vào dòng sông thì hóa phù sa” Làm thơ giúp Đồng Đức Bốn nghĩ về cuộc đời tốt đẹp hơn Đồng Đức Bốn đến với thơ hơi muộn nhưng đã sớm định hình một giọng điệu riêng, tạo một phong thái riêng cho thơ hiện tại của mình, biến nó trở thành hơi thở, hồn vía của cuộc sống hôm nay thông qua sự quản thúc trong nghiêm luật cổ
truyền lục bát Qua các tập thơ Con ngựa trắng và rừng quả đắng (1992),
sản phẩm đầu tiên chưa gây được sự chú ý của dư luận nhưng đã thể hiện rõ
thiên hướng thơ lục bát của thi sĩ đồng quê Rồi đến Chăn trâu đốt lửa
Trang 25(1993), Trở về với mẹ ta thôi (2000), Cuối cùng vẫn còn dòng sông (2000),
Chuông chùa kêu trong mưa (2002), Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc (2006) ta
bắt gặp những suy tư của ông về cuộc đời, về nhân tình thế thái, về cuộc sống
và tình yêu
Nói đến Đồng Đức Bốn, ai cũng dễ dàng nhận ra một phong cách lục bát rất riêng biệt với chất giọng lúc thiết tha, lúc tưng tửng, ngạo nghễ với
sự nối kết những câu từ bình dị nhưng mang đến cho người đọc một cấu tứ lạ, vừa triết lí, vừa hóm hỉnh, thâm trầm Đậm đặc ở thơ ông - những câu chữ như gọi hồn người, là bề sâu văn hóa ữong mối liên tưởng sâu sắc Cái nôi của nền văn minh sông Hồng cùng với điệu hò ru vỗ về của mẹ qua những câu ca điệu hát của dân gian đã hòa quyện, xuyên thấm bám chặt lấy tâm hồn thi sĩ, tạo nên chất nhựa của thơ Đồng Đức Bốn Chính cái chất văn hóa sâu đậm ấy càng khiến thơ ông làm mê mẩn biết bao thế hệ độc giả Lí giải điều này Đồng Đức Bốn đã nói: “Thơ phải đạt đến độ giản dị Không có nghĩa là nghĩ sao nói vậy, mà giản dị chính là cách tiếp cận để đến với bản chất cuộc đời cũng như cõi sâu xa của tâm hồn Lối nói giản dị là lối nói của dân gian.Tri thức kinh nghiệm dân gian, chính là tiềm thức trong mối con người hiện đại” Gắn bó với cuộc sống lang thang, phiêu bạt, hiểu mọi căn nguyên của những nỗi đời, Đồng Đức Bốn cảm nhận rất rõ về sự ảnh hưởng sâu sắc của dân ca đối với thơ ca
Với sự cống hiến hết mình cho nghệ thuật thơ ca, đến nay, ông đã làm khoảng 600 bài thơ lục bát và 200 bài thơ theo thể tự do, trong đó có nhiều
bài đặc sắc được coi là tác phẩm để đời như Chần trâu đốt lửa, Chuồn
chuồn cắn rốn biết bơi, Nhà quê, Chợ buồn, Trở về với mẹ ta thôi Ông
cũng đã kịp đoạt rất nhiều giải thưởng về thơ như giải thưởng cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1995, giải thưởng cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1998 - 2000, giải
thưởng cuộc thi thơ Tạp chí Văn nghệ quân đội 1998 - 2000, Giải thưởng
Trang 26cuộc thi thơ “Tầm nhìn thế kỷ” báo Tiền Phong, tặng thưởng hay nhất của Tạp chí Văn nghệ quân đội Với tất cả những gì đã cống hiến, ông xứng đáng
được liệt vào bậc thi sĩ đồng quê kì tài về thơ lục bát
Và rồi giữa lúc sức viết và tài năng đang ở độ chín, Đồng Đức Bốn đã vội vã ra đi Vào ngày 14 tháng 02 năm 2006, một căn bệnh hiểm nghèo đã đưa con chim mỏ vàng ngậm hoa cỏ độc cùng với tiếng chuông chùa kêu trong mưa mãi mãi vào miền cát bụi
1.2.2 Quan niệm sáng tác
Cũng như Nguyễn Bính trước đây, Đồng Đức Bốn không cố tình dụng công tạo nên ý thức cầu kỳ về mặt chữ nghĩa, không nhặt góp chữ mới, ít lao tâm tìm từ lạ Thơ ông bộn bề ngôn ngữ đời thường, vẫn chỉ là chuông chùa, chớp bể, mưa nguồn, chăn trâu, rơm rạ, chợ quê, giếng đình, gốc đa, là bán buồn mua vui v ố n từ trong thơ Đồng Đức Bốn không nhiều nhưng thi sĩ đã biết biến hóa, xếp ghép số từ ít ỏi bình dị đó để trở thành một bài thơ, thành nhiều bài thơ có ma lực truyền cảm, lan tỏa Lục bát với thi sĩ như là một cỗ máy thời gian giúp thi sĩ ừở lại những hoài niệm về thời chăn ừâu đốt lửa Lấy lục bát để trải lòng, để thả hồn lang thang theo những con diều, những triền đê, trở về với mẹ hiền để thỏa mãn cái thèm muốn thuở ấu nhi đã qua
Chăn trâu đốt lửa trên đồng
Rạ rơm thì ít gió đỏng thì nhiều
{Chăn trâu đốt lửa)
Không dừng lại ở đó, với Đồng Đức Bốn khi cầm bút sáng tác ông còn bạo dạn tự nhận mình là kẻ mượn bút của trời, ông rất tin vào giá trị thơ lục bát của mình, dám quả quyết:
Đưa em qua trận bão người Bằng câu lục bát của trời cho anh
(Đưa em qua trận bão người)
Trang 27Đồng Đức Bốn gọi đó là thứ “lộc ừời ” cho mà đó cũng là cái “tội trời” ông phải gánh Bởi vậy Đồng Đức Bốn thường sử dụng những vần thơ của ười để viết cho những người yêu nhau Và bằng những câu thơ “của ười cho riêng mình”, thi sĩ đi mua tự do cho bản thân - cái tự do ưong thơ ca và ưong
tư tưởng Đồng thời, thơ ông cũng góp nhặt những nỗi buồn của con người:
Thơ tôi nhặt cái người ta vẫn buồn
Không chỉ ý thức về giá trị của thơ ca, Đồng Đức Bốn còn ý thức rất
sâu sắc về giá ưị của thể thơ lục bát - thể thơ tạo nên diện mạo và hồn cốt của
thơ ông Ông đem sự kỳ vọng và niềm kiêu hãnh lớn lao gửi hết vào thơ lục
bát Những câu lục bát êm đềm là thứ lộc ười để nhà thơ “đưa em qua ưận
bão người” Hay những câu thơ lục bát “hương hoa móng rồng” giúp ông sang dải ngân hà:
Uớc gì sang dải ngân hà Bằng câu lục bát hương hoa móng rồng
(Hãy về đây với bến sông)
Bắc cầu lục bát, thi nhân tìm lại nhân tính trong chính bản thân:
Gửi câu lục bát vào trời
Ta đì tìm lại con người trong ta
(Với cây xương rồng)
Nhưng lại có lúc Đồng Đức Bốn chỉ coi lục bát là những câu thơ ưót dại với giời: Thôi thì trót dại với với giời
Sinh ra lục bát cho người đọc chơi
(Những câu thơ dại)
Vào những tháng ngày phải chống chọi với bệnh tật để rồi cùng với ưận mưa rào ra đi, tiếng chuông chùa Đồng Đức Bốn vẫn vọng ngân lên những tiếng thơ tâm huyết cho đời cùng với một niềm tự tin, kiêu hãnh về giá
ưị thơ lục bát của mình:
Trang 28Cõi đời còn lắm bể dâu Con lẩy lục bát bẳc cầu đi qua
Trang 29Chương 2
HÌNH TƯƠNG c u ô c SỐNG VÀ CON NGƯỜI • •TRONG THƠ LỤC BÁT ĐỒNG ĐỨC BỐN
2.1 Hình tượng cuộc sổng
2.1.1 Hình tượng thiên nhiên
Hiện thực được phản ánh trong kho tàng ca dao chủ yếu là thiên nhiên
và cuộc sống sinh hoạt của người dân nơi làng quê vố n là một thi nhân phiêu
du vào lục bát bằng ngọn bút của trời, Đồng Đức Bốn cũng không nằm ngoài quy luật chung đó Thi sĩ đã nối tiếp dòng chảy của quá khứ và sáng tạo cho mình một không gian riêng vừa mang đậm yếu tố truyền thống nhưng cũng mang những phong cách và hơi thở của thời đại Đồng Đức Bốn thổ lộ:
Bao nhiêu là thứ bùa mê Cũng không bằng được nhà quê của mình
(Gửi Tân Cương)
Chỉ với hai câu thơ đã thể hiện tình yêu tha thiết, mặn nồng mà Đồng Đức Bốn dành cho quê hương Ông viết về những mảng đề tài khác nhau như tình yêu lứa đôi, cuộc sống chốn thị thành hay những khó nhọc nơi thôn quê nhưng gây được ấn tượng nhất vẫn là những gì thuộc chốn quê chất phác Cảnh quê trong thơ Đồng Đức Bốn chỉ được ông phác họa bằng những nét vẽ đơn sơ nhung chân thực và sinh động, gắn với những lam lũ và khốn khó chốn quê nhà
Như bao làng quê Bắc bộ là mái lều tranh xơ xác mà đầm ấm, là những con đường nhỏ với những hoa tầm xuân, hoa dâm bụt Rồi khi đến con đường quê ngày nắng thì đổ lửa, ngày mưa thì lầy lội ấy vậy mà hai bên đường lúc nào cũng đầy ắp những hoa thơm cỏ lạ của chốn quê mùa Phía xa
là dòng sông quê với những con đò quê như chiếc lá tre thanh mảnh chở
Trang 30khách qua sông, sang với bờ bãi bên kia nơi có những cánh diều no gió Nói đến quê cũng không thể thiếu những phiên chợ quê với những cảnh đổi, bán mua đạm bạc gắn với cuộc sống bao đời nay của những cư dân thuộc nền văn minh lúa nước Tuy nhiên trong mỗi sáng tác của mỗi nhà thơ những hình ảnh này lại mang những dáng dấp, sắc màu và hồn vía khác nhau Khi nhắc đến các thi sĩ nổi danh khi viết về làng quê yên bình chúng ta có thể liệt kê ngay những tên tuổi nổi danh như Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Bính, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn mỗi thi sĩ một phong cách khác nhau nhưng cái chung ở họ
là lòng yêu quê hương đến cháy bỏng cồn cào Với cây bút độc đáo, mỗi nhà thơ làm nên cho mình những lâu đài thi ca với những chất liệu khác nhau Đến với Nguyễn Bính ta sẽ bắt gặp những hình ảnh gần gũi, ta như được trở
về với tuổi thơ của chính mình, trở về với luỹ tre làng quê hương thân thuộc,
từ những hình ảnh thôn Đoài, thôn Đông, con đò, giếng nước, cây đa, sân đình đến dậu mùng tơi, cánh bướm, cánh diều, lá giầu, cây cau, cỏ may, đồng nội Tất cả đã đi vào thơ Nguyễn Bính một cách tự nhiên và đầm ấm tình người Khi đọc thành lời diễn cảm đoạn thơ sau đây của Nguyễn Bính, ta thấy thú vị trước cách cảm, cách nghĩ, cách so sánh ví von, cách dùng điệp từ, cách sử dụng lời ăn tiếng nói rất dân gian của ông:
Vỉ chăng nhớ có như tơ nhỉ
Em thử quay xem được mẩy vòng
Trang 31Đôi ta cùng ở một làng Cùng đi một ngõ vội vàng chi anh
Em nghe họ nói mong manh Hình như họ biết chúng mình với nhau.
(Chờ nhau)
Những cách tính thời gian chừng dập miếng giầu, cách nói ỡm ờ mà tế nhị, mà tình tứ hình như họ biết chúng mình với nhau, các thành ngữ cả gió đắt cau, sương muối giầu đổ non là lời ăn tiếng nói, là cách cảm, cách nghĩ của người xứ quê và chỉ người xứ quê mới có Đó là những viên ngọc còn thô mà Nguyễn Bính chỉ cần gia công đôi chút là ừở thành những bài thơ
tuyệt tác, một viên ngọc ngôn ngữ của một nghệ sĩ bậc thầy Khi cái nét quê mộc mạc gặp gỡ với chất nghệ sĩ bậc thầy, Nguyễn Bính đã sáng tạo cho đời những dòng thơ cảm tác tuyệt hay:
Hôm nay dưới bến xuôi đò Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau Anh đi đẩy, anh về đâu
Cánh buồm nâu cánh buồm nâu cánh buồm
(Không đề)
Còn khi đến với Nguyễn Duy, một thi sĩ cũng đậm nét quê trong thơ, anh luôn đeo đuổi cội nguồn quê hương:
Trong kiếp người ta chập chờn nguồn cội
Có một miền quê trong đi đứng nói cười
(Tuỗi thơ)
Miền quê đi đứng nổi cười trong thơ Nguyễn Duy chính là thế giới làng
quê, cảnh Việt Nam bình dị mà đậm chất thơ Nguyễn Duy luôn chiếm lĩnh đối tượng bằng phương thức tư duy nghiêng về cấu tứ độc đáo, sở dĩ vậy là vì thi sĩ có một hồn thơ tiềm tàng, dễ ăn nhập với những gì đơn sơ, bình dị Quê
Trang 32hương trong thơ Nguyễn Duy là những hoài niệm về quê hương khó khăn nhọc nhằn nhưng cũng rất thân thương mộc mạc, một nơi lưu giữ những hình ảnh khó quên của tuổi thơ về con đường làng, mái nhà tranh, dòng sông uốn
lượn hay trăng non nghe nghé nhìn nghiêng xuống rừng
Đồng chiêm phả nắng lên không Cánh cò dẫn gió qua thung lúa vàng Gió nâng tiếng hát chói chang Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân trời
(Tiếng hát mùa gặt)
Nối tiếp mạch nguồn về quê hương ở thể loại thơ dân tộc, cùng với các thi nhân đương thời Đồng Đức Bốn nổi lên như một hiện tượng lạ, được đông
đảo mọi người quan tâm với tập thơ Chăn trâu đốt lửa Trong khoảnh khắc
giao thời, nhiều thể loại văn học mới đang chiếm ưu thế, đang lấn át sân chơi của lục bát thì bỗng đâu Đồng Đức Bốn xuất hiện như một vị cứu tinh của thơ lục bát Ông thổi một luồng gió mới vào lục bát, tuy vẫn là những hình ảnh thân thuộc gần gũi nhưng tất cả như được gột rửa sạch sẽ rồi phủ lên một lớp vàng óng ánh Khiến cho người đọc đi từ bất ngờ này tới bất ngờ khác, và rồi tình yêu quê hương, yêu mến thể loại thơ dân tộc lại ữỗi dậy một cách mạnh mẽ Bất ngờ bởi trong thơ Đồng Đức Bốn bên cạnh sự dịu dàng yên bình vốn có của thôn quê, nó còn bật lên một cái gì đó gai góc, ám ảnh ừong những vần thơ của ông Nhưng tựu trung vẫn là những khung cảnh thanh bình
Trang 33Bên những con đường ấy không còn là những mảng cỏ xanh và muôn vàn loài hoa dại đua nhau khoe sắc nữa, mà thay vào đó là những lều quán tạm bợ được dựng lên tạo ra cảm giác chật hẹp:
Le đường trong những chiếc lều
Cổ cô hàng xén ngồi vêu cả ngày
(Chờ đợi tháng ba)
Cuộc sống thôn quê hiện lên thật ảm đạm, buồn tẻ khi trên những con đường quê không phải là cảnh tấp nập đông vui của ngày mùa hay cảnh đông đúc của đàn trâu thong dong cuối ngày, mà hiện lên lại là hình ảnh cô hàng xén ngồi vêu cả ngày Con đường quê như khoác lên mình chiếc áo màu xám
ảm đạm trong những ngày tháng ba
Không phải là bóng hình thân thương, quen thuộc “ngõ trúc quanh co, khách vẳng teo”, “đường thôn xanh thẫm một màu cỏ non ”, “hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy ”, tất cả đã có sự đổi khác, thay thế bởi cuộc sống xô bồ, ồn
ào của lối sống bon chen Có cái gì đó như là một dự cảm về cuộc đời nhiều chông gai, khó khăn Đường quê hiện ra như là đường đời, nó éo le, thảm thương và không kém khúc khuỷu
2.1.1.2 Cánh đồng với mưa, nắng, gió
Nhà thơ Đồng Đức Bốn đã khái quát về đồng đất chốn quê nhà:
Câu ca mẹ hát như đùa
Mà làm nước mặn đồng chua đổi đời
(Câu ca mẹ hát như đùa)
Ở từng thời điểm khác nhau cánh đồng ấy lại có những diện mạo riêng
Đó là lúc cánh đồng thảnh thơi khi lúa đã gặt xong chỉ còn sót lại chút ít rơm
rạ cho bầy trẻ trâu tội nghiệp:
Chăn trâu đắt lửa trên đồng
Rạ rơm thì ít gió đông thì nhiều
(Chăn trâu đốt lửa)
Trang 34Sau mùa vụ cánh đồng trở thành sân chơi lý tưởng cho trẻ nhỏ, cánh
đồng chỉ còn lại gốc rạ nhưng số lượng cũng không nhiều, rạ rơm thì ừ mà gió đông thì nhiều khiến cho chúng ta liên tưởng tới một làng quê cũng mang
trong nó những nỗi cơ cực nhọc nhằn trong quá trình mưu sinh
Nhưng ở rất nhiều bài thơ của ông cánh đồng quê lại xuất hiện ở một diện mạo hoàn toàn khác Cánh đồng đang oằn mình ừong mưa bão, với cảnh lam lũ của người dân quê Đó là cánh đồng mẹ đi cất vó với bước chân liêu xiêu:
Trong mưa bão cánh đồng phải gánh chịu những hậu quả khôn lường,
cánh đồng ừong mùa mưa bão hiện lên thông qua hình ảnh mẹ đi cất vó lội xiêu gió đồng; hay cảnh đồng ta trắng xóa cả trời nước trong Những thiên tai
khiến cho cánh đồng bị tàn phá thảm khốc, cuộc sống dân làng vô vàn những khổ cực lao đao Hình ảnh cánh đồng là hình ảnh tượng trưng cho số phận của người nông dân cũng đang phải oằn mình chống chọi với vô vàn những khó khăn từ thiên nhiên, từ cuộc sống mưu sinh vất vả
Sở dĩ mà những cánh đồng phải oằn mình hứng chịu những tai biến đó
là bởi “cái nắng, cái gió” nơi quê nhà của thi sĩ cũng rất khắc nghiệt Khi nhớ
về mối tình cũ, Đồng Đức Bốn có nhắc đến một thứ nắng rất dịu nhẹ:
vẫn còn trong nắng thấp tho Tôi và em xuống con đò ban mai
(Qua nhà người yêu cũ)
Trang 35Khi nhớ tình cũ là cảm xúc ùa về, dưới cái nắng dịu nhẹ hình ảnh tôi và
em cùng xuống con đò ban mai gợi nên sự nhẹ nhàng tiếc nuối trong lòng thi
nhân Cái nắng dịu dàng, e ấp mang trong nó vẻ đẹp tinh khôi mang nét tương đồng với người yêu cũ của nhà thơ
Trong khi đó mùa hạ là những trận mưa rào (Đêm qua đỗ trận mưa rào) và đặc biệt là cảnh vỡ đê đầy tang thương:
Trâu bò thất thểu long đong Trên bè tre rối bòng bong xoong nồi
(Vỡ đê)
Nắng mưa khắc nghiệt đã làm thôn quê kiệt sức, ngã quỵ, vòng tuyến
đê điều đã bị nó phá vỡ , khiến cho cảnh tượng đau lòng đã xảy đến trâu bò thất thểu vì thiếu ăn, người vật cùng đồ dùng vật dụng bấp bênh trên bè tre lửng lơ giữa cảnh màn trời chiếu đất
Đọc thơ ông nguời ta có cảm giác gió mưa như là một thứ định mệnh vừa có thể biết trước nhưng không thể chạy trốn hay dứt bỏ nó được:
Chốc nữa thể nào cũng giông Sang đò tôi đến giữa đồng là mưa
(Đì đò)
Biết trước thể nào lát nữa cũng xảy ra cơn giông ấy thế mà vẫn cứ đi,
kết quả như dự đoán đến giữa đồng là mưa Biết trước là có gió mưa vất vả
nhưng vẫn không dừng lại, vẫn cố tiến về phía trước Điều này cũng có sự tương đồng trong cảm thức của thi nhân, cuộc sống biết trước là vất vả, nhọc nhằn vậy, ấy thế mà thi nhân vẫn miệt mài tiến về phía trước, tiến bước không buông bỏ Từ thực tại cuộc sống ảnh hưởng rất nhiều tới thơ Đồng đức Bốn
Thế nhưng cũng có lúc thi nhân nhớ về cánh đồng quê trong mùa thu khi cơn gió thổi một trời heo may:
Trang 36Hãy về đây với bến sông Với tôi ở giữa cánh đồng heo may
(Hãy về đây với bến sông)
Nhớ quê khắc khoải, hoài niệm ùa về với cảm nhận cánh đồng ngập tràn gió heo may trong tiết trời thu Sự nhớ nhung, yêu quê da diết đã góp phần làm nên một tâm hồn thi sĩ đa cảm, lãng mạn, khao khát uống cả cánh đồng heo may, như muốn níu chặt tình cảm của ai đó trong lòng:
Bên nhà núi đã theo sông Anh ngồi uổng cả cánh đồng heo may
(Anh ngồi uống cả cánh đằng heo may)
Cái dự cảm về những rủi ro thiên tai và những khó khăn mà thiên nhiên
đã gây ra cho con người xuất hiện trong thơ của Đồng Đức Bốn gần giống với
ca dao:
Người ta đi cấy lấy công Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề Trông trời trông đất trông mây Trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm
(Ca dao)
Thiên nhiên trong thơ Đồng Đức Bốn rất gần gũi với những người dân quê nhưng nó phong phú và nhiều màu sắc hơn Không nhìn làng quê bằng con mắt thi vị, thi nhân đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên làng quê bằng những nét vẽ thân thuộc Đồng Đức Bốn viết mỗi câu thơ giống như lời nói của các bà nông dân lam lũ yếm ừễ ngực, váy xắn quai cồng, đòn gánh oằn vai Mỗi bài thơ giống như là lời nói của hời, của đất, của cậu bé chăn hâu ít chữ, của người khách lang thang vô định, góp phần cho vị trí của thơ ông vững chắc trong lòng bạn đọc
Trang 372.1.1.3 Trăng, sao chốn nhà quê
Đến với thơ Đồng Đức Bốn, chúng ta bắt gặp tầng tầng lớp lớp hình ảnh quen thuộc của làng quê Thiên nhiên làng quê trong thơ ông đuợc nhìn bằng cái tình của người trong cuộc Vì thế nắng, gió, trăng sao, cỏ cây không còn là cảnh sắc của đất trời nữa mà nó đã ữở thành máu thịt của con người, nhuốm đầy tâm ừạng Phiêu du vào thơ Đồng Đức Bốn, được đẫm mình trong bức tranh thơ tràn ngập ánh trăng, ánh sao Ai đã từng sống ở làng quê, từng trải lòng mình trong những đêm trăng sáng, được ngắm thứ ánh sáng xanh huyền bí đầy quyến rũ đó mới cảm nhận được hết vẻ dịu dàng, huyền ảo đến say lòng của thiên nhiên Đồng Đức Bốn phải lòng trăng quê từ
lâu lắm rồi nên đi Đã đành ngang dọc sơn hà, ông vẫn thiết tha về lại quê
nhà để được thăng hoa cùng vẻ đẹp lunh linh, quyến rũ của trăng quê:
Đã đành ngang dọc sơn hà Cũng nên về chẩn quê nhà ngắm trăng
Tuy nhiên ừăng trong thơ ông không chỉ hiện lên với vẻ đẹp vốn có của
nó mà nó còn mang nhiều hình dáng, tâm ừạng, là trăng gầy, trăng cong, trăng tròn, trăng khuyết, trăng vàng, trăng liềm, trăng ngà:
Chênh vênh một chiếc trăng gầy Đường non khúc khuỷu hương bay nhạt nhòa
(Thức với Côn Sơn)
Vầng trăng gầy cảm thấy cô lẻ khi trước mặt là cảnh khúc khuỷu của đường non, sự mênh mông nhạt nhòa của không gian Côn Sơn
Muôn vàn ngọn giáo rung cây Trả em trăng khuyết mưa mây sao đành
(Nợ em)
Rồi khi xuất hiện dưới hình hài trăng khuyết, vầng trăng lại mang những xúc cảm khác, cảm thấy không vừa lòng khi muôn vàn ngọn giáo rung cây vậy mà cuối cùng vẫn còn nợ em
Trang 38Rồi có lúc vầng ừăng ấy lại đầy nỗi xót xa vì nó gắn với tâm trạng buồn đau, nỗi cô đơn mất mát:
Tôi từ ngõ nhỏ ra đi Gặp trăng trên sóng những khi rất buồn
(Tôi từ ngõ nhỏ ra đi)
Bởi khi còn ở quê mình thi nhân đã gặp vầng trăng ấy:
Không em ra ngõ kéo diều Nào ngờ được mảnh trăng chiều trên tay
(Sông Thương ngày không em)
Đang cô đơn, mất mát ừong tình trường, bỗng đâu ra ngõ lại gặp sắc
vàng, lạnh của trăng đã khiến cho thi nhân gặp trăng trên sóng những khỉ rất buồn Ấy vậy mà khi không còn em, thi sĩ ra ngõ kéo diều, gửi nhớ thương
qua cánh diều, nào ngờ mảnh trăng chiều đang đè nặng cánh diều nhớ thương, khiến cho nỗi cô đơn như nhiều hơn, sâu đậm hơn
Vầng ừăng nơi quê nhà là mảnh trăng bị chém đứt ừong “Cái đêm em ở với chồng” bằng “tiếng vạc” thảm thương:
Ngang trời tiếng vạc mảnh mai Chém trăng đã đứt làm hai mảnh rồi
(Cái đêm em ở với chằng)
Nhưng trước khi gặp phải những tổn thương ấy, vầng trăng quê vẫn là
trăng của những tâm hồn ừẻ thơ {Mồng một lưỡi chai, mồng hai lá lúa, mồng
ba câu liêm, mồng bốn lưỡi liềm ):
Nếu không trả được bằng tiền Tôi lẩy trăng liềm bím tóc cho em
(Tìm em ở bến sông Mẽ)
Trong một trường họp khác “trăng liềm” hay “trăng cong ” ấy lại khiến người đọc nhớ đến câu thành ngữ “Mượn gió bẻ măng” Tác giả thay búp
Trang 39măng ấy bằng trăng, dùng hình ảnh trăng ngà để nói lên thực tại của bản thân trong chuyện tình cảm:
Tôi giờ còn có ai mong
Mà người mượn gió bẻ cong trăng ngà
(Đời tôi)
“Trăng” quê mảnh mai là vậy còn những ánh “sao” quê trong thơ Đồng Đức Bốn là những “sao dột”, “sao rơi”:
Sao rơi cháy cả đôi bờ
Mà anh thì cứ bơ vơ giữa trời
(Đêm sông cầu)
Sao nhiều vô kể trên bầu trời, nhưng hỡi ôi sao không đứng yên tại
một vị trí, sao rơi cháy cả đôi bờ Ngược lại với sự đông đảo của sao là sự bơ
vơ giữa trời của nhân vật trữ tình, hình ảnh sao rơi như nhấn mạnh sự bơ vơ,
lẻ loi của con người trước thiên nhiên
Nhìn chung, trăng ở thời điểm nào cũng đẹp, cũng đem đến cho con người nhiều cảm xúc, trăng giúp cho cuộc sống thi vị hơn, ngay cả cuộc sống vất vả mà đan cài ánh trăng cũng trở nên nhẹ nhàng, đầy lạc quan
Trăng sao trong thơ Đồng Đức Bốn thường gợi những cảm giác cô đơn,
lẻ loi nên toàn là mảnh ừăng, trăng buồn đó là tâm trạng và nỗi niềm của thi sĩ
2.1.1.4 Sông quê, đò quê
Hình ảnh dòng sông và con đò rất phổ biến trong ca dao, không chỉ là hình ảnh thiên nhiên mà nó còn biểu hiện bao tâm tư, tình cảm của nhân dân
ta xưa:
Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
(Ca dao)
Trang 40Ba hình ảnh quen thuộc: cây đa, bến nuớc, con đò vẫn xuất hiện ừong thơ Đồng Đức Bốn nhưng hiện lên bằng một nhịp sống rất nhanh:
Cây đa mong chuyến đò ngang
Đò ngang nhớ gió rộn ràng qua sông
(Đã đành ngang dọc sơn hà)
Con đò khỏe khoắn rộn ràng qua sông, đò mang nỗi nhớ gió gấp gáp, khẩn trương mong về gần với gốc đa hiền lành, tạo nên cảm giác của sự sum vầy sau những khi ngang dọc sơn hà
Sông quê ừong thơ ông là “sông mưa” với nỗi thất vọng khi mong
ngóng người tình, sông mưa tầm tã trong chiều ngồi chờ hoài chờ mãi người
tình nhưng cuối cùng người ta vẫn không về, chỉ còn lại sông mưa lẻ loi vẫn
cứ mong cứ chờ:
Sông mưa tầm tã trong chiều Tỏi ngồi tôi đợi người yêu tôi về Tôi ngồi đợi chán đợi chê Người yêu tôi vẫn chưa về sông mưa
(Viết ở bờ sông)
Nhưng có khi đó lại là con sông đọng phù sa:
Sông giờ đã lẳng phù sa Sao mà cây cải nở hoa vẫn buồn
Sông mang nặng phù sa màu mỡ, cung cấp nguồn sinh lực cho cây cải ven sông đơm hoa kết trái Ấy thế mà không hiểu sao cây cải nở hoa vẫn buồn
Nỗi buồn ấy có thể cảm nhận được bằng xúc giác khi nó hiện hữu như thân bèo ừôi dạt, bơ vơ khi chỉ mình tôi giữa dòng:
Vớt buồn trên mặt sông trôi Bây giờ vẫn chỉ mình tôi giữa dòng
(Sang sông)