1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LV Thạc sỹ_quá trình đổi mới chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào trung quốc

92 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 527 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngô Thu Hà với đề tài: “Chính sách thu hút vốnđầu tư nước ngoài vào Trung Quốc và khả năng vận dụng tại Việt Nam” Luận án đã khái quát được những chính sách cơ bản, làm rõ một số vấn đề

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ra đời cùng với việc hoàn thiện chínhsách đổi mới, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế do Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VI của Đảng năm 1986 khởi xướng Một năm sau đó, Quốc hội khóa VIII đãthông qua Luật Đầu tư nước ngoài tạo cơ sở pháp lý cho thu hút đầu tư nước ngoài.Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) bắt nguồn tự xu hướng tự do hóa đầu tư và liênkết kinh tế quốc tế với sự bùng nổ của các ngành công nghệ mới, đặc biệt là côngnghệ thông tin đã góp phần làm cho hoạt động đầu trực tiếp nước ngoài ngày càngphát triển Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò to lớn đối với sự tăng trưởng vàphát triển kinh tế cũng như trong quá trình không ngừng nâng cao khả năng cạnhtranh của các quốc gia ngay cả đối với những nước có trình độ phát triển cao như

Mỹ, Nhật Bản, EU Đầu tư trực tiếp nước ngoài lại càng có ý nghĩa quan trọng đốivới các nước đang phát triển trong quá trình xây dựng nền kinh tế Tuy nhiên, dòngvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn di chuyển trong nội bộ các nước phát triển nhấttrong khi nguồn cung vốn có hạn, vì vậy sẽ dẫn đến tình trạng các quốc gia khôngngừng cạnh tranh với nhau trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn và có tiềm lực về kinh tế Sau khi trởthành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO vào năm 2001 TrungQuốc đã thu hút được một khối lượng lớn FDI trên thế giới Cùng với Mỹ, TrungQuốc đã trở thành một trong hai quốc gia thu hút được nhiều FDI nhất trên thế giớibởi lẽ chính sách thu hút FDI của Trung Quốc luôn luôn được điều chỉnh và đổi mớiđảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư cũng như bên nhận đầu tư Giống như TrungQuốc, Việt Nam đã thực hiện đổi mới kinh tế dưới ánh sáng của Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ VI của Đảng, từ đó việc thu hút FDI luôn luôn đạt được những kếtquả khá khả quan Với xuất phát điểm ở trình độ thấp, giữa Việt Nam và TrungQuốc có nhiều điểm khá tương đồng nên việc tham khảo kinh nghiệm của TrungQuốc về điều chỉnh và đổi mới chính sách thu hút FDI đặc biệt là trong giai đoạn từ

Trang 2

năm 2001 đến năm 2009 có ý nghĩa hết sức quan trọng và rất hữu ích đối với ViệtNam Chính vì những lý do như trên nên em đã lựa chọn đề tài: “Quá trình đổi mớichính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc”.

2 Tổng quan một số công trình đã nghiên cứu

- Luận án tiến sỹ của TS Đặng Thu Hương với đề tài: “Thu hút đầu tư trựctiếp nước ngoài trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Trung Quốc thời kỳ1978-2003 thực trạng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam”

Luận án đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về thu hút đầu tư trực tiếpnước ngoài và phân tích được hiện trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài củaTrung Quốc thời kỳ 1978-2003 đồng thời rút ra những đánh giá về những ưu điểm,hạn chế cũng như những nguyên nhân của những hạn chế trong thu hút đầu tư trựctiếp nước ngoài vào Trung Quốc trong thời kỳ này

Trên cơ sở đó luận án chỉ ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam vềthu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Luận án tiến sỹ của TS Ngô Thu Hà với đề tài: “Chính sách thu hút vốnđầu tư nước ngoài vào Trung Quốc và khả năng vận dụng tại Việt Nam”

Luận án đã khái quát được những chính sách cơ bản, làm rõ một số vấn đề lýluận cơ bản về chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của một quốc gia, phân tíchđược hiện trạng chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc (cả chínhsách thu hút đối với đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp) và rút ra một số đánh giá về

ưu điểm, hạn chế cũng như những nguyên nhân tồn tại của những chính sách đóđồng thời rút ra một số bài học kinh nghiệm về hoàn thiện chính sách để đẩy mạnhthu hút đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc trong những năm tới

Luận án đã trình bày rất khái quát chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nướcngoài vào Việt Nam và đã đưa ra những giải pháp hoàn thiện chính sách để tăngcường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam một cách có hiệu quả trên

cơ sở những bài học kinh nghiệm của Trung Quốc

Các công trình trên mới chỉ đi sâu nghiên cứu hiện trạng thu hút đầu tư trựctiếp nước ngoài vào Trung Quốc từ 1978-2003 hoặc khái quát rất ngắn gọn về hiện

Trang 3

trạng thu hút đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc và vào Việt Nam làm cơ sở choviệc nghiên cứu chính sách thu hút đầu tư mà chưa đi sâu làm rõ hiện trạng thu hútđầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc trong những năm gần đây đặc biệt làtrong giai đoạn khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu và tiếp sau đó.

Hiện trạng phân tích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam cũng chưagắn nhiều với giai đoạn khủng hoảng và suy thoái hiện nay cũng như quá trình điềuchỉnh chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Vì vậy em đã chọn đề tài:

“Quá trình đổi mới chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc”

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Làm rõ thêm một số vấn đề về tư tưởng cải cách và mở cửa trong thu hútFDI của Trung Quốc qua các giai đoạn

- Phân tích hiện trạng đổi mới chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoàivào Trung Quốc và rút ra một số bài học hữu ích cho Việt Nam

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư trựctiếp nước ngoài vào Việt Nam một cách có hiệu quả trên cơ sở bài học kinh nghiệmcủa Trung Quốc

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài củamột quốc gia

- Phạm vi nghiên cứu: Chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài vào TrungQuốc từ năm 2001 đến năm 2009, trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm

và đưa ra những giải pháp phù hợp cho Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu sử dụng các phương pháp truyền thống như phương pháp

hệ thống, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp

so sánh, diễn dịch, quy nạp, phương pháp xin ý kiến của các chuyên gia để rút racác nhận xét, kết luận về các vấn đề nghiên cứu

6 Kết cấu của đề tài

Trang 4

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo đề tài được kết cấugồm ba chương:

Chương 1 Những tư tưởng của Trung Quốc trong mở cửa và thu hút đầu

tư trực tiếp nước ngoài

Chương 2 Thực trạng đổi mới chính sách thu hút FDI của Trung Quốc

từ năm 2001 – 2009 và bài học kinh nghiệm của Trung Quốc về đổi mới chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Chương 3 Giải pháp đổi mới và hoàn thiện chính sách thu hút FDI của Việt Nam trên cơ sở kinh nghiệm của Trung Quốc

Trang 5

CHƯƠNG 1 NHỮNG TƯ TƯỞNG CỦA TRUNG QUỐC

TRONG MỞ CỬA VÀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP

NƯỚC NGOÀI

1.1 Sự cần thiết phải cải cách và mở cửa kinh tế ở Trung Quốc

Công cuộc cải cách và mở cửa của Trung Quốc là hướng đi tất yếu, hoàntoàn đúng đắn, có đầy đủ cơ sở lý luận và thực tiễn phong phú Trong quá trình pháttriển của xã hội loài người, các hình thái và quan hệ kinh tế luôn vận hành theophương thức mở, cho dù bình diện và trình độ mở có sự khác nhau Những nền kinh

tế càng phát triển càng cần và buộc phải mở rộng hơn các mối giao lưu, hội nhậpvới thế giới bên ngoài Từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX trở lại đây, xu thế mở cửa hộinhập đã trở thành hướng đi chung, thay thế dần tình trạng đóng cửa lỗi thời, bế tắccủa một số nền kinh tế trên thế giới Sau nhiều năm dài đóng cửa, Trung Quốc đãphải trả giá quá đắt cho sự trì trệ, bảo thủ của mình Đặng Tiểu Bình - người đượcmệnh danh là công trình sư của công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc đãkhẳng định: “Hiện nay, bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển đều không thểđóng cửa, bài học kinh nghiệm trong lịch sử cho thấy không thể không mở cửa”.Chính sách mở cửa của Trung Quốc thật sự và chính thức được mở đầu từ Hội nghịTrung ương 3 khóa XI Đảng cộng sản Trung Quốc Hội nghị nêu rõ: “Thực hiện mởcửa với bên ngoài là một quốc sách cơ bản mà nước ta phải giữ vững trong một thờigian dài, là biện pháp chiến lược để đẩy nhanh xây dựng hiện đại hóa XHCN” Đểthực hiện mục tiêu trên, Trung Quốc vấp phải khó khăn hết sức to lớn và nan giải làthiếu trầm trọng nguồn vốn và công nghệ kỹ thuật tiên tiến Bởi thế, mở cửa giaolưu quốc tế, thu hút ĐTNN là nhu cầu cấp bách, cũng là yếu tố cực kỳ quan trọngđối với Trung Quốc - một quốc gia đã từng đóng cửa “tự lập tự cường” trong nhiềuthập kỷ Tuy nhiên, Trung Quốc đã không mở cửa ồ ạt cùng một lúc các vùng kinh

tế Quá trình mở cửa của Trung Quốc bắt đầu từng bước từ mở cửa vùng ven biển,tiến đến mở cửa các vùng ven sông, ven biên giới và mọi vùng trong nội địa Những

Trang 6

bước đi trên đã dần hình thành hình thế mở cửa đối ngoại nhiều tầng nấc, ra mọihướng, theo phương châm mở cửa từ điểm đến tuyến, từ tuyến đến diện.

Trong ba vùng của Trung Quốc, vùng ven biển có trình độ phát triển cao hơn

cả Các tỉnh ven biển phía Đông Nam là Quảng Đông và Phúc Kiến nổi tiếng thếgiới về truyền thống kinh doanh, có nhiều hải cảng, dễ thông thương với thế giới và

là quê hương của hàng triệu người Hoa kiều trên thế giới Vì vậy tháng 7/1979Quốc vụ viện Trung Quốc chuẩn y đề nghị cho phép hai tỉnh trên thực hiện chínhsách đặc biệt và biện pháp linh hoạt, được quyền tương đối lớn trong các hoạt độngkinh tế đối ngoại Quốc vụ viện cũng đồng ý thử nghiệm lập các “đặc khu xuấtkhẩu” trước hết ở Thâm Quyến và Chu Hải thuộc tỉnh Quảng Đông và sau đó là haiđặc khu ở Sán Đầu thuộc tỉnh Quảng Đông và ở Hạ Môn thuộc tỉnh Phúc Kiến

Loại hình “đặc khu xuất khẩu” bị hạn chế ở chức năng chế biến và xuất khẩunên Quốc vụ viện Trung Quốc quyết định đổi “đặc khu xuất khẩu” thành “đặc khukinh tế” Vì vậy, tháng 8/1979, Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân TrungQuốc đã thông qua “Điều lệ về đặc khu kinh tế tỉnh Quảng Đông” Trong năm

1980, Trung Quốc lần lượt thành lập bốn đặc khu kinh tế: Thâm Quyến, Chu Hải,Sán Đầu ở Quảng Đông, Hạ Môn ở Phúc Kiến Để đẩy mạnh các hoạt động kinh tếđối ngoại, tháng 4/1988 Trung Quốc quyết định chuyển toàn bộ tỉnh đảo Hải Namthành đặc khu kinh tế thứ năm của Trung Quốc

Trên cơ sở kinh nghiệm thu được từ những thành công của các đặc khu kinh

tế, năm 1984 Trung Quốc lại quyết định mở ra thêm 14 thành phố mở cửa ven biển.Trong quá trình phát triển mô hình kinh tế hướng ngoại, 14 thành phố mở cửa venbiển lại lập ra những khu khai thác phát triển kinh tế kỹ thuật, được thi hành nhiềuchính sách ưu đãi, đã trở thành điểm nóng của ĐTNN với hiệu quả cao

Sau những thành công bước đầu của các đặc khu kinh tế, năm 1985 TrungQuốc quyết định tiếp tục mở cửa 3 đồng bằng: đồng bằng sông Châu Giang, đồngbằng sông Trường Giang và đồng bằng Nam Phúc Kiến, lại mở thêm bán đảo SơnĐông, bán đảo Liêu Đông và mở một loạt khu khai thác phát triển kinh tế kỹ thuật

Trang 7

tại tỉnh Hà Bắc và Quảng Tây, hình thành một vùng mở cửa kinh tế ven biển rộngtới 320.000 km2.

Năm 1990, Chính phủ Trung Quốc quyết định mở khu mới Phố Đông thuộcthành phố Thượng Hải, cho nơi này thực hiện chính sách cởi mở như tại các đặckhu kinh tế, đồng thời mở cửa một loạt thành phố ven sông Trường Giang, hìnhthành vùng mở cửa Trường Giang “coi Phố Đông là đầu rồng” nhằm biến ThượngHải thành một trong những trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại quốc tế thúcđẩy lưu vực sông Trường Giang có bước nhảy vọt mới

Để tạo điều kiện cho các địa phương trong quá trình thu hút FDI đặc biệt lànguồn vốn và công nghệ kỹ thuật hiện đại, tháng 3/1992 Quốc vụ viện Trung Quốc

đã quyết định thành lập 13 thành phố mở cửa ven biên giới, các thành phố này cóthể lập ra những khu hợp tác kinh tế biên giới, thi hành những chính sách kinh tế ưuđãi như của những khu khai thác phát triển kinh tế kỹ thuật ven biển

Để mở rộng hơn nữa hoạt động kinh tế đối ngoại, thu hút vốn đầu tư nướcngoài, Trung Quốc đã lần lượt mở 13 khu bảo thuế Đó là những khu vực đặc biệt

có chức năng tương tự như các cảng tự do, khu vực mậu dịch tự do của các nướckhác, vừa làm nhiệm vụ chế biến xuất khẩu vừa kinh doanh ngoại thương, thực hiệnchức trách hải quan với chính sách và biện pháp quản lý thuế đặc biệt Từ sau năm

1992, Trung Quốc đã quyết định mở cửa nốt toàn bộ các thành phố cấp tỉnh và cácthủ phủ khu tự trị trong nội địa Như vậy là Trung Quốc đã hoàn thành về cơ bảnquá trình mở cửa kinh tế đối ngoại trên phạm vi cả nước ở những mức độ khác nhautùy điều kiện của từng nơi

1.2 Những tư tưởng của Trung Quốc trong mở cửa và thu hút FDI qua các giai đoạn

1.2.1 Giai đoạn 1979-1991

1.2.1.1 Phương châm “dò đá qua sông”

Năm 1977, sau khi Đặng Tiểu Bình lên làm Chủ tịch nước, Ông đã luôn suynghĩa vấn đề làm thế nào để có thể tận dụng nguồn vốn nước ngoài để thúc đẩyTrung Quốc phát triển Đặng Tiểu Bình cho rằng: “Bất kỳ một quốc gia nào không

Trang 8

thể phát triển được, không thể độc lập được khi thực hiện bế quan tỏa cảng, khôngtăng cường giao lưu quốc tế, không tiếp thu những kinh nghiệm hay, những khoahọc kỹ thuật tiên tiến và vốn đầu tư từ các nước phát triển Chúng ta cần thiết phải

mở rộng đối ngoại, thu hút nguồn vốn và khoa học kỹ thuật từ nước ngoài đến giúp

đỡ chúng ta phát triển trên cơ sở tự lực cánh sinh” Vì vậy, trong Đại hội Đảng toànquốc tháng 12/1978, ý kiến cải cách mở cửa của Đặng Tiểu Bình đã được thôngqua Nhưng vấn đề quan trọng là làm sao có thể thu hút được nguồn vốn và kinhnghiệm của các nước phát triển vào Trung Quốc Do diện tích đất nước Trung Quốcrộng lớn, dân số đông, nếu muốn phát triển đồng bộ thì sẽ không dễ dàng gì Bởivậy, Đặng Tiểu Bình nghĩ: “Đầu tiên hãy để một bộ phận nhỏ giàu lên trước, sau đó

họ sẽ quay lại giúp đỡ tất cả mọi người cùng phát triển”

Thử nghiệm chính sách đặc thù và biện pháp linh hoạt ở hai tỉnh QuảngĐông và Phúc Kiến Tháng 7/1979, Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc vàQuốc vụ viện dựa vào tình hình thực tế của Quảng Đông và Phúc Kiến đã quyếtđịnh cho hai tỉnh này được thực hiện chính sách đặc thù và biện pháp linh hoạttrong kinh tế đối ngoại nhằm phát huy ưu thế dựa vào cửa cảng, vào Hoa kiều đông

có nguồn vốn phong phú để làm kinh tế thật nhanh và đi trước một bước thửnghiệm về thể chế kinh tế Việc thử nghiệm này có một số đặc điểm sau:

+ Thực hiện khoán định mức tài chính và thu nhập ngoại tệ

+ Điều tiết thích hợp thị trường vật tư, thương nghiệp dưới sự chỉ đạo kếhoạch của Nhà nước

+ Quản lý kế hoạch, vật giá, tiền lương lao động và hoạt động kinh tế đốingoại của doanh nghiệp, mở rộng quyền hạn địa phương

+ Thử làm đặc khu kinh tế, tích cực thu hút vốn của kiều bào, của nướcngoài, đưa vào những kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, mở rộng chế biếnxuất khẩu

Việc thực hiện chính sách đặc thù và biện pháp linh hoạt đối với hai tỉnh này

là một loạt thử nghiệm về cải cách thể chế kinh tế ở Trung Quốc Với thành công

đó, hai tỉnh đã đề nghị Trung ương cho xây dựng các đặc khu kinh tế nhằm xây

Trang 9

dựng những khu kinh tế có chức năng tổng hợp để phát triển các ngành côngnghiệp, nông nghiệp, giao thông, du lịch chứ không chỉ có chức năng chế biến vàxuất khẩu như trước.

1.2.1.2 Chính sách xây dựng các đặc khu kinh tế

Dưới sự chỉ đạo của Đặng Tiểu Bình, sau khi quyết định cho hai tỉnh QuảngĐông và Phúc Kiến “giàu lên trước” sẽ có điều kiện giúp đỡ các vùng khác cùngphát triển Ngày 26/08/1980, Hội nghị lần thứ 15 của Ủy ban thường vụ Đại hội đạibiểu nhân dân Trung Quốc đã thông qua “Điều lệ về đặc khu kinh tế của QuảngĐông”, quyết định chính thức thành lập ba đặc khu kinh tế Thâm Quyến, Chu Hải,Sán Đầu Đồng thời cũng quyết định cho tỉnh Phúc Kiến xây dựng đặc khu kinh tế

Hạ Môn

Tháng 4/1988, để đáp ứng yêu cầu mở cửa đối ngoại hơn nữa, Trung Quốc

đã thành lập tỉnh đảo Hải Nam và toàn tỉnh đã trở thành đặc khu kinh tế thứ nămkhiến cho quy mô của đặc khu ngày càng mở rộng Các đặc khu kinh tế của TrungQuốc được thành lập để thu hút FDI, áp dụng và chuyển giao công nghệ mới và kỹnăng quản lý, mở rộng xuất khẩu và thu ngoại tệ, tạo công ăn việc làm, tạo thuận lợicho nền kinh tế thông qua những liên kết kinh tế trong và ngoài đặc khu, thửnghiệm và quan sát chủ nghĩa tư bản hoạt động

1.2.1.3 Chính sách xây dựng 14 thành phố mở cửa ven biển

Sau những thành công bước đầu của SEZs, nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình đãnêu lên tư tưởng chỉ đạo chiến lược quan trọng: Xây dựng đặc khu thực hiện chínhsách mở cửa “không thu mà lại bung ra”, và ông cho rằng mở cửa thêm một sốthành phố ven biển là bố trí quan trọng trong việc tiếp tục thực hiện chính sách mởcửa

Với tinh thần đó, tháng 4/1984, Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc vàQuốc vụ viện quyết định mở cửa 14 thành phố ven biển nhằm mở rộng việc hợp tác

kỹ thuật và giao lưu kinh tế với bên ngoài, bước những bước lớn hơn trong việc lợidụng FDI, đưa vào khoa học kỹ thuật tiên tiến

Trang 10

Trung Quốc còn cho phép trong 14 thành phố trên có thể xây dựng các khukhai thác và phát triển kỹ thuật Trong các khu khai phát, khu khai phát Phố Đông -Thượng Hải có quy mô lớn và có tác dụng quan trọng trong chiến lược mở cửa đốingoại của Trung Quốc Tháng 4/1990, Quốc vụ viện Trung Quốc đã phê chuẩn mởcửa khu này Mục đích của việc xây dựng Phố Đông là nâng cao hơn nữa chức năngtổng hợp của Thượng Hải, đặt nền tảng cho việc xây dựng Thượng Hải trở thànhmột trong những trung tâm kinh tế, mậu dịch và tiền tệ lớn nhất bên bờ Tây TháiBình Dương Chính vì vậy, Đại hội 14 Đảng cộng sản Trung Quốc tháng 10/1992,xác định: “Lấy việc phát triển mở cửa Phố Đông Thượng Hải làm đầu tàu, mở cửahơn nữa các thành phố ven Trường Giang, nhanh chóng xây dựng Thượng Hảithành một trung tâm kinh tế, tài chính, mậu dịch quốc tế, lôi cuốn bước nhảy vọtcủa kinh tế khu vực châu thổ Trường Giang và toàn bộ lưu vực Trường Giang”.Việc mở cửa khai phát Phố Đông đã đánh dấu công cuộc cải cách và mở cửa củaTrung Quốc chuyển lên một tầng thứ cao hơn nhằm thúc đẩy công cuộc mở cửa vớibên ngoài của Trung Quốc ngày càng tăng lên nhanh chóng.

1.2.1.4 Chính sách và chiến lược khai thác kinh tế “ba ven”: ven biển, ven sông, ven biên giới

Dưới sự lãnh đạo tài tình của Chủ tịch nước Đặng Tiểu Bình, chính sách xâydựng các đặc khu kinh tế và 14 thành phố mở cửa ven biển đã thu hút được khốilượng lớn nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là từ cộng đồng người Hoa kiềutrên thế giới Để tạo điều kiện thu hút FDI từ các quốc gia khác trên thế giới, TrungQuốc đưa ra chiến lược khai thác kinh tế “ba ven” nhằm thúc đẩy kinh tế của cáckhu vực này tăng đồng thời giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng kinh tế nhất làgiữa miền Đông và miền Tây Nó phù hợp với yêu cầu đoàn kết các dân tộc và ổnđịnh chính trị vùng biên giới trong tình hình cải cách và mở cửa

+ Chiến lược khai thác ven biển (1990)

+ Chiến lược khai thác ven sông

+ Chiến lược khai thác ven biên giới

Mở cửa ven biên giới cùng với mở cửa ven biển góp phần vào sự hoàn thiện

Trang 11

và phát triển công cuộc mở cửa trong cả nước, chúng hỗ trợ và bổ sung cho nhauthúc đẩy cải cách mở cửa phát triển.

Theo đà mở cửa các khu vực “ba ven”, trong đất liền 36 tỉnh của nội địa (baogồm cả các khu tự trị, thành phố trực thuộc) đều lần lượt mở cửa thu hút FDI, đặcbiệt là khu vực miền Trung và miền Tây nhằm giảm bớt sự chênh lệch giữa cácvùng miền trong cả nước Như vậy, Trung Quốc đã hoàn thành cơ bản quá trình mởcửa trong phạm vi các nước ở những mức độ khác nhau và tùy theo điều kiện củatừng vùng

Tóm lại, với những bước đi thận trọng nhưng khẩn trương, Trung Quốc đãtiến hành mở cửa từng khu vực, bắt đầu từ điểm (5 đặc khu kinh tế), đến tuyến (14thành phố mở cửa ven biển), đến diện (3 vùng mở cửa ven biển, ven sông, ven biêngiới), từng bước hình thành cục diện mở cửa toàn diện, nhiều tầng nấc từ Nam đếnBắc, từ Đông sang Tây, từ ven biển vào nội địa theo kiểu cuốn chiếu tạo nên khônggian thông thoáng cho các nhà đầu tư

1.2.2 Giai đoạn 1992-2000

Bước sang thập kỷ 90, sau chuyến đi thăm các tỉnh phía Nam của ông ĐặngTiểu Bình tháng 1/1992, Đại hội XIV năm 1992 Đảng cộng sản Trung Quốc quyếtđịnh thực hiện đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc Trung Quốc tiếp tụccải thiện môi trường đầu tư ngày càng phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi của kinh tếthị trường, mở rộng thêm các lĩnh vực đầu tư, quyết định đẩy nhanh sự phát triểncủa ngành nghề thứ ba và đặc biệt là mở rộng thị trường nội địa Các nhà đầu tư đãnhìn thấy thị trường nội địa có tiềm lực rất lớn, vì vậy họ đã đầu tư ồ ạt vào thịtrường Trung Quốc Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc tăng cao đã gây ranhững cơn sốt đầu tư, gây ra tình trạng rối loạn về bất động sản, về mở khu chếxuất, khu khai thác kinh tế kỹ thuật…Trước tình hình này, Hội nghị Trung ương 3khóa XIV Đảng cộng sản Trung Quốc ngày 14/11/1993 đã đề ra phương hướngđiều chỉnh chính sách thu hút FDI là: “Tích cực thu hút vốn, kỹ thuật, nhân tài vàkinh nghiệm quản lý từ bên ngoài Cải thiện môi trường đầu tư và cải tiến biện phápquản lý đầu tư, mở rộng quy mô thu hút đầu tư, khai thác các lĩnh vực đầu tư, mở

Trang 12

cửa hơn nữa thị trường trong nước Tạo điều kiện và thực hiện chế độ đãi ngộ quốcdân đối với các doanh nghiệp ĐTNN, dựa vào luật pháp hoàn thiện khâu quản lýđối với các doanh nghiệp đó Hướng dẫn vốn bên ngoài đầu tư vào các công trình

cơ bản, ngành nghề cơ sở, ngành nghề kỹ thuật cao và kỹ thuật mới, cải tạo cácdoanh nghiệp cũ, khuyến khích thành lập những doanh nghiệp thuộc loại hình xuấtkhẩu phát huy ưu thế tương đối của tài nguyên và thị trường trong nước, thu hút vốn

và kỹ thuật bên ngoài để thúc đẩy nền kinh tế phát triển”

Năm 1993, Giang Trạch Dân - thế hệ lãnh đạo thứ 3 của Trung Quốc sau khitrúng cử chức chủ tịch nước, ông đã tổng kết những thành công của các đặc khukinh tế vùng duyên hải và những kinh nghiệm thành công do được ứng dụng trêncác khu vực trung bộ Phát triển mạnh mẽ Trung Quốc nội địa, chủ tịch GiangTrạch Dân đề xuất: “Trung Quốc cải cách mở cửa, phát triển kinh tế đã có bước đầuthành công, giờ đây phải đem những kinh nghiệm thành công này đến thực hiện ởcác vùng nội địa Xây dựng mọi ưu thế phát triển kinh tế trên toàn đất nước TrungQuốc” Trong thời gian phát triển Trung Quốc nội địa, Giang Trạch Dân vô cùngcoi trọng công tác giáo dục, ông cho biết: “Con người là lực lượng mang tính quyếtđịnh trong sản xuất, nhân tài là nguồn tài nguyên hàng đầu của quốc gia, khoa học

kỹ thuật là tiêu chí chủ yếu và thể hiện tập trung của lực lượng sản xuất tiên tiến,sáng tạo là linh hồn của sự tiến bộ dân tộc và là động lực của một quốc gia giàu có

và thịnh vượng

Để khai thác được nguồn vốn và nâng cao hàm lượng kỹ thuật trong thu hútFDI, tháng 9/1993, Bộ hợp tác kinh tế mậu dịch đối ngoại Trung Quốc đã cho phépcác công ty xuyên quốc gia được đến Trung Quốc xây dựng các công ty đầu tư vànới lỏng hơn phạm vi kinh doanh Nắm bắt được sự di chuyển làn sóng đầu tưnguồn vốn quốc tế và cơ hội có lợi từ việc điều chỉnh cơ cấu ngành nghề của TNCs,Trung Quốc đã lựa chọn chính sách “Lấy thị trường đổi lấy kỹ thuật”, “lấy thịtrường đổi lấy vốn”, “lấy thị trường để phát triển” Bởi vì, điều mà các TNCs quantâm khi đến Trung Quốc đầu tư là triển vọng thị trường mở rộng của Trung Quốc,thông qua thị trường Trung Quốc tiến thêm một bước chiếm lĩnh thị trường Đông

Trang 13

Nam Á và Châu Á Thái Bình Dương Qua việc nhường thị trường này, Trung Quốc

đã nhập khẩu, thu hút và sử dụng kỹ thuật tiên tiến, nâng cao khả năng sản xuất vàkhai thác sản phẩm thúc đẩy sự phát triển của một loạt ngành nghề và các doanhnghiệp có liên quan

Để giúp cho cơ cấu nguồn vốn nước ngoài phù hợp với nhu cầu điều chỉnh

cơ cấu kinh tế của Trung Quốc, tháng 6/1995 Trung Quốc đã ban hành văn bản

“Mục lục chỉ đạo ngành nghề đầu tư cho thương nhân nước ngoài” Văn bản này đãquy định rõ các ngành nghề Trung Quốc khuyến khích, hạn chế và cấm đối với đầu

tư của thương nhân nước ngoài Các dự án có thương nhân nước ngoài đầu tư màNhà nước khuyến khích và giúp đỡ là các dự án kỹ thuật cao, kỹ thuật mới, nôngnghiệp, năng lượng, giao thông, dự án nguyên liệu quan trọng, dự án nâng cao chấtlượng sản phẩm, phát triển xuất khẩu, các dự án ngăn chặn và giảm ô nhiễm môitrường và dự án phát huy ưu thế của khu vực miền Tây và miền Trung

Từ 1/4/1996, Trung Quốc thực hiện việc xóa bỏ các điều khoản miễn giảmthuế nhập khẩu thiết bị và nguyên vật liệu cho các xí nghiệp có vốn nước ngoài.Đồng thời Trung Quốc cũng ra quyết định chống thu thuế bừa bãi đối với các doanhnghiệp có vốn ĐTNN Đặc biệt Trung Quốc khuyến khích các thương gia nướcngoài đầu tư vào khu vực miền Trung và miền Tây nhằm từng bước rút ngắnkhoảng cách trong phát triển kinh tế giữa vùng miền Trung và miền Tây với vùngven biển

Tháng 9/1996, Quốc vụ viện Trung Quốc đã mở rộng quyền phê duyệt dự án

sử dụng vốn ĐTNN của các tỉnh, khu tự trị và thành phố trong nội địa từ 10 triệuUSD lên đến 30 triệu USD Với chủ trương này, Trung Quốc khuyến khích họ đầu

tư có trọng điểm vào khai thác những hạng mục than, dầu khí, điện, phát triển cáchạng mục khai thác công nghiệp nặng, hóa chất, công nghiệp nguyên vật liệu, kimloại màu, các ngành công nghiệp đồng bộ cùng những ngành nghề phụ nông lâm…Trung Quốc có sự ưu đãi, mở rộng quyền hạn thẩm tra phê duyệt những hạng mụcnội địa với quy mô phương thức đồng bộ của tiền vốn trong nước, mở rộng tỷ lệtiêu thụ trong nước của hạng mục, thúc đẩy kinh tế khu vực phát triển cân đối

Trang 14

Từ 1/12/1996, Trung Quốc thực hiện chuyển đổi đồng NDT trong tài khoảnvãng lai đã giúp các doanh nghiệp có vốn nước ngoài loại trừ được những hạn chếtrong thanh toán quốc tế, chi trả cho các đối tác nước ngoài và chuyển lợi nhuận vềnước Một số các ngân hàng nước ngoài bắt đầu được phép kinh doanh bằng đồngNDT Các liên doanh hoạt động trong lĩnh vực thương mại còn được phép thành lậpcác cơ sở kinh doanh ở Phố Đông Thượng Hải và ở đặc khu Thâm Quyến trênnguyên tắc thử nghiệm Những cải cách này càng làm cho Trung Quốc có thêm sứchấp dẫn đối với các nhà ĐTNN

Từ tháng 7/1997, cuộc khủng hoảng tiền tệ xảy ra ở Châu Á đã làm biến đổihướng lưu thông của tiền vốn thế giới Lượng tiền vốn của các nước phát triển đổvào khu vực Châu Á giảm dần Trước tình hình đó, Trung Quốc chủ trương lợidụng FDI một cách tích cực, hợp lý và có lợi Trung Quốc đã đưa ra một số biệnpháp khuyến khích các nhà đầu tư nhằm làm cho tiền vốn nước ngoài liên tục chảy

về Trung Quốc như:

+ Từ 1/1/1998 Trung Quốc đã khôi phục chế độ miễn giảm thuế đối với cácthiết bị nhập khẩu cho các xí nghiệp do nước ngoài đầu tư (Trung Quốc bãi bỏ từ1/4/1996), chỉ còn 10% vào năm 2005

+ Trung Quốc chỉ thu 11 loại thuế với thương nhân nước ngoài, trong đóTrung ương chỉ quản lý thuế giá trị gia tăng còn giao cho các địa phương thu, đồngthời ban hành quy định chống thu thuế bừa bãi đối với ĐTNN

+ Ngày 27/12/1997, Chính phủ Trung Quốc đã công bố danh mục 29 lĩnhvực ngành nghề, 440 sản phẩm kỹ thuật thiết bị cơ bản và dịch vụ trọng điểm màTrung Quốc ưu tiên phát triển trong đó có sản phẩm công nghệ cao, mới là nhữnghạng mục được ưu đãi thuế khi nhập khẩu

+ Về tiền tệ, Trung Quốc đã tăng cường quản lý giám sát tiền tệ, đổi mới chế

độ lưu thông tiền tệ, thúc đẩy thương nghiệp hóa ngân hàng, tăng cường các biệnpháp quản lý ngoại hối Việc quản lý vốn ra vào rất chặt chẽ, đồng NDT khôngđược chuyển đổi tự do, nó chỉ được chuyển đổi ra ngoại tệ khi thanh toán

Để tăng đầu tư vào các dự án loại khuyến khích của Nhà nước, ngày

Trang 15

1/1/1998 Quốc vụ viện bắt đầu thực hiện điều chỉnh chính sách thu thuế nhập khẩuthiết bị, đối với các dự án đầu tư của thương nhân nước ngoài loại khuyến khích

và loại hạn chế thuộc trong mục lục chỉ đạo, các thiết bị tự dùng mà các dự án nàynhập khẩu trong tổng mức đầu tư được miễn thuế quan và thuế giá trị gia tăngnhập khẩu

Từ năm 1999, Chính phủ Trung Quốc đã cho ra đời hàng loạt các chính sáchtăng cường sự hỗ trợ về tiền tệ cho các doanh nghiệp có vốn FDI phát triển và sángtạo kỹ thuật, khuyến khích các nhà ĐTNN đầu tư vào khu vực miền Tây, đơn giảnhóa các thủ tục xin phép của các hạng mục ĐTNN và những hạng mục do doanhnghiệp thành lập, đẩy nhanh tiến độ phê duyệt dự án

Tóm lại, việc điều chỉnh chính sách thu hút FDI vào Trung Quốc đã mangtính chất toàn diện trên các mặt: trọng điểm đưa tiền vốn vào từ công nghiệp giacông thông thường chuyển sang các ngành nghề cơ sở, ngành nghề tập trung nhiềuvốn và kỹ thuật, từ tiếp nhận những hạng mục vừa và nhỏ sang tiếp nhận nhữnghạng mục lớn và vừa, từ thu hút tiền vốn ngành nghề chuyển sang thu hút tiền vốnlưu thông quốc tế, từ xây dựng doanh nghiệp mới là trọng tâm chuyển sang cải tạonhững doanh nghiệp cũ, từ việc đưa đầu tư vào tương đối bị động chuyển sang đưavào chủ động có lựa chọn…Chính sách điều chỉnh này phù hợp với nhu cầu nângcấp ngành nghề, phù hợp với nhu cầu mở rộng tiền vốn lưu thông quốc tế, phù hợpvới yêu cầu đẩy nhanh tốc độ của cải cách và mở cửa ở Trung Quốc

1.2.3 Giai đoạn 2001-2009

Đại hội XVI của Đảng cộng sản Trung Quốc đã đề ra mục tiêu phấn đấu xâydựng Trung Quốc trở thành một xã hội khá giả toàn diện, đẩy mạnh công cuộc hiệnđại hóa xã hội chủ nghĩa trong hai mươi năm đầu của thế kỷ XXI Để đạt được mụctiêu trên, Trung Quốc không ngừng cải thiện môi trường đầu tư, sửa đổi và bổ sungcác chính sách, luật pháp phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của đất nước vàthông lệ quốc tế, sẵn sàng đối phó với những khó khăn thách thức khi gia nhập WTO

Cuối năm 2001, Trung Quốc chính thức gia nhập WTO và đã cam kết mởcửa đối với các lĩnh vực đầu tư theo khuôn khổ luật pháp Các doanh nghiệp có vốn

Trang 16

FDI được quyền phân phối sản phẩm trên phạm vi toàn đất nước Đồng thời, TrungQuốc đã sửa đổi các đạo luật và chính sách nhằm khuyến khích đầu tư vào cácngành công nghiệp có hàm lượng kỹ thuật và công nghệ cao như Luật Sở hữu trítuệ, chính sách thúc đẩy kinh tế tư nhân.

Năm 2000 và 2001, Trung Quốc đã sửa đổi một cách cơ bản các đạo luật vềdoanh nghiệp 100% vốn ĐTNN và các liên doanh có vốn cổ phần nước ngoài, loại

bỏ những yêu cầu bắt buộc về cân đối ngoại tệ, tỷ lệ nội địa hóa, sử dụng nguyênliệu, vật tư trong nước, xuất khẩu và chuyển giao công nghệ Ngoài ra, Trung Quốccòn điều chỉnh lại quy định sáp nhập và quy định bảo hộ đối với nhà ĐTNN

Những sửa đổi và điều chỉnh này dựa trên các cam kết của Chính phủ TrungQuốc trong quá trình đàm phán gia nhập WTO và đã nhận được sự tán đồng của cácnhà ĐTNN Theo các văn bản Luật sửa đổi, các doanh nghiệp liên doanh và 100%vốn ĐTNN sẽ không cần báo cáo kế hoạch sản xuất và điều hành tới các cơ quanliên quan Ngoài ra, để phù hợp với những cam kết trong quá trình đàm phán gianhập WTO, Trung Quốc còn ban hành một số văn bản mới về hướng dẫn đầu tưtrực tiếp nước ngoài (có hiệu lực từ ngày 1/4/1002) So với hướng dẫn cũ, hướngdẫn mới đưa ra nhiều cơ hội hơn theo hướng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cácnhà đầu tư Cụ thể là chia các dự án ĐTNN thành 4 loại: khuyến khích đầu tư, đượcphép đầu tư, hạn chế đầu tư và cấm đầu tư, bao gồm 371 khoản mục Số hạng mụckhuyến khích đầu tư tăng từ 116 hạng mục lên 262 hạng mục Hướng dẫn mới đặcbiệt tập trung thu hút đầu tư vào công nghệ, phục vụ nông nghiệp, công nghệ cao,vận tải, năng lượng, vật liệu mới và bảo vệ môi trường Theo đó, các doanh nghiệpđầu tư vào những lĩnh vực khuyến khích nói trên có thể được hưởng mức thuế thunhập doanh nghiệp 15%, các dự án ĐTNN xuất khẩu trực tiếp các sản phẩm đượccoi là những dự án khuyến khích đầu tư, các dự án trước đây bị hạn chế đầu tưnhưng có doanh thu xuất khẩu từ 70% trở lên có thể được phép đầu tư với sự chấpthuận của chính quyền tỉnh, khu tự trị hoặc cơ quan có thẩm quyền của Hội đồngnhân dân Hướng dẫn mới quy định nhiều dự án khuyến khích đầu tư nhằm tự dohơn nữa lĩnh vực dịch vụ bao gồm hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, thương mại,

Trang 17

ngoại thương, du lịch, truyền thông, vận tải Số ngành bị hạn chế đầu tư giảm mạnh

từ 112 hạng mục xuống còn 75 hạng mục, còn các ngành được phép đầu tư tăng lên.Một số ngành cấm đầu tư trước đây được phép đầu tư như bưu chính viễn thông,khí đốt, cung cấp hơi nóng, cấp thoát nước và mạng lưới đường ống trong thànhphố Ngành bị hạn chế đầu tư sẽ từng bước được mở cửa theo lộ trình quy định của

Tổ chức Thương mại Thế giới WTO như ngân hàng, bảo hiểm, thương mại, ngoạithương, du lịch, viễn thông, vận tải, kế toán, kiểm toán và dịch vụ tư vấn pháp luật

Bên cạnh đó, hướng dẫn mới còn khuyến khích các nhà ĐTNN tham gia vàocải cách doanh nghiệp Nhà nước Ngoài ra, các nhà ĐTNN còn được phép giữ cổphần chi phối ở những doanh nghiệp Nhà nước lớn, trừ những doanh nghiệp đặcbiệt quan trọng đối với an ninh quốc gia và kinh tế

* Kế hoạch 5 năm về sử dụng vốn nước ngoài

Vào tháng 11/2006, Ủy ban cải cách và phát triển quốc gia Trung Quốc đãcông bố chính sách về FDI trong kế hoạch 5 năm lần thứ 11 (kế hoạch cho giai đoạn2006-2010) nhấn mạnh nhu cầu chuyển sang cách tiếp cận “chất lượng hơn sốlượng” trong thu hút FDI đồng thời đã đưa ra các chỉ dẫn nhằm cải thiện công bằngtrong việc sử dụng vốn nước ngoài và sự hội nhập của thuế thu nhập công ty Điềunày cho thấy các mục tiêu trong thu hút FDI của Trung Quốc sẽ đồng bộ với cácmục tiêu tổng quát của bản kế hoạch

Kế hoạch đưa ra một khung khổ rộng các chính sách thu hút vốn nước ngoàiđến năm 2010, trong đó bao gồm quản lý rủi ro thích đáng các khoản nợ nước ngoài

và thúc đẩy hợp tác đa phương trong lĩnh vực đầu tư và thương mại Trong bản kếhoạch, chính sách cơ bản của Chính phủ liên quan đến việc thu hút đầu tư trực tiếpđược tập trung vào ba điểm chính: (1) sự dịch chuyển trong ưu tiên từ thu hút vốnsang thu hút các công nghệ tiên tiến, các kỹ thuật quản lý và lao động có trình độcao; (2) ưu tiên cho bảo vệ môi trường và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tự nhiên

và năng lượng; (3) sự đóng góp vào tiến bộ của cơ cấu công nghiệp và trình độ kỹthuật công nghệ của đất nước Theo chính sách cơ bản này, Kế hoạch 5 năm về sửdụng vốn nước ngoài đặt ra các biện pháp chính sách cụ thể Từ việc hoàn thành các

Trang 18

ảnh hưởng tiềm năng đến sự phát triển kinh doanh của các công ty ở Trung Quốc,

ba điểm dưới đây đặc biệt thu hút sự chú ý:

- Một là, liên quan đến quy định về môi trường đầu tư Một điều rõ ràng làcông bằng sẽ được ưu tiên và các mức thuế suất doanh nghiệp sẽ được thống nhất.Bên cạnh đó, còn một số điểm cũng rất đáng biểu dương đó là việc nới lỏng các luật

và quy định như những nỗ lực để giảm số khoản mục mà giấy phép đầu tư yêu cầu

và đơn giản hóa một loạt các thủ tục hành chính, và những nỗ lực để tăng cườngbảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

- Hai là, kế hoạch khuyến khích vốn trực tiếp nước ngoài tham gia vào pháttriển các ngành và các vùng đặc biệt và cải thiện trình độ kỹ thuật công nghệ.Những ngành đặc biệt được khuyến khích bao gồm nông nghiệp, dịch vụ, sản xuất ô

tô liên doanh…Kế hoạch cũng kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vựcgóp phần cải thiện cách sống của người dân như xử lý rác thải và nước thải Đồngthời, cùng với việc thành lập các trung tâm nghiên cứu và triển khai, kế hoạch đềxuất gắn kết việc nghiên cứu và triển khai với các công ty trong nước, xuất phát từquan điểm nâng cao trình độ công nghệ của các công ty trong nước và ngăn chặnnguy cơ độc quyền hóa thị trường nội địa của các công ty tư bản nước ngoài Cácchính sách cũng hạn chế đầu tư vào các ngành sản xuất dư thừa và kiểm soát chặtchẽ hơn sự tham gia của các công ty tư bản nước ngoài trong các lĩnh vực liên quanđến an ninh quốc gia Kế hoạch ưu tiên cho các vùng Trung du, Tây và Đông BắcTrung Quốc, những vùng mà từ trước đến nay vốn nhận được rất ít đầu tư từ cáccông ty tư bản nước ngoài, thúc đẩy sự phân bổ lại cho các khu vực này từ khu vựcduyên hải miền Đông nơi mà đầu tư trực tiếp vẫn thường tập trung vào

- Ba là, kế hoạch kêu gọi quản lý chặt chẽ hơn việc sử dụng các nguồn lực vàbảo vệ môi trường Các tiêu chí bao gồm việc sử dụng nước, năng lượng và đất sẽđược sử dụng trong giai đoạn thanh tra hồ sơ đầu tư mới của các công ty tư bảnnước ngoài Hơn nữa, kế hoạch cũng trình bày chi tiết các biện pháp để tăng cườnggiám sát tất cả các công ty, bao gồm cả các công ty trong nước, để đảm bảo rằng

Trang 19

các hoạt động sản xuất có ý thức về môi trường và buộc phải đóng cửa các nhà máytiêu dùng một khối lượng lớn nước và năng lượng

* Điều chỉnh chính sách thuế

Một lo ngại khác là nhiều chính sách miễn giảm thuế mà các doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài hiện đang được hưởng có thể sẽ bị xóa bỏ khi Chính phủthống nhất các mức thuế suất Sau thời điểm đó, các doanh nghiệp nước ngoài sẽchịu thuế suất ngang bằng với các công ty Trung Quốc Hiện nay, các doanh nghiệpnước ngoài có mức thuế suất tính trung bình chỉ bằng một nửa so với các doanhnghiệp trong nước Bên cạnh việc chi phí sản xuất tăng và lo ngại rủi ro tranh chấpthương mại chống lại hàng hóa Trung Quốc khiến cho các công ty nước ngoài có xuhướng chuyển một số hoạt động sang các quốc gia khác (như Việt Nam), các công

ty nước ngoài còn lo ngại việc suy giảm khả năng cạnh tranh do Chính phủ tăngthuế

Tất cả những nhân tố trên có thể làm chậm dòng vốn FDI chảy vào TrungQuốc Tuy nhiên, biện pháp hài hòa hóa thuế suất được xem là một công cụ đểhướng luồng FDI vào những ngành ưu tiên thông việc duy trì hoặc tăng mức ưu đãithuế trong những ngành được Trung Quốc khuyến khích trong khi giảm thiểu/xóa

bỏ những ưu đãi đối với đầu tư vào những ngành Trung Quốc không khuyến khíchhoặc đã có quá nhiều dự án đầu tư vào Mặc dù có những dấu hiệu của chủ nghĩabảo hộ, Trung Quốc vẫn tiếp tục là địa điểm đầu tư hấp dẫn đối với luồng vốn FDI.Đặc biệt, vốn FDI có ảnh hưởng không nhỏ đến khu vực xuất khẩu quan trọng củaTrung Quốc (các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm đến 62% tổng kimngạch xuất khẩu của Trung Quốc trong năm 2008)

1.3 Vai trò của điều chỉnh và đổi mới chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển của quốc gia

Việc điều chỉnh và đổi mới chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽtác động trực tiếp đến vốn FDI từ hai góc độ: thu hút dòng vốn FDI và vốn thựchiện

Trang 20

1.3.1 Đối với Chính phủ nước sở tại

- Thứ nhất, tạo khuôn khổ ổn định để điều tiết hiệu quả hoạt động FDI.

Chính sách FDI thể hiện rõ ràng, công khai thái độ và quan điểm của Chính phủnước sở tại đối với việc thu hút FDI Đây là căn cứ để nhà đầu tư hiểu rõ mục đích,lĩnh vực, phương thức tổ chức thực hiện, mức độ bảo hộ và thái độ thiện chí củaChính phủ nước sở tại đối với nhà ĐTNN Chính sách FDI là căn cứ pháp lý và hợp

lý để các cơ quan quản lý duy trì hoạt động ĐTNN trong một trật tự và có địnhhướng nhất định, gắn với mục tiêu phát triển quốc gia Đặc biệt, chính sách FDI làcông cụ bảo vệ quyền sở hữu, lợi ích của nước sở tại Mặt khác, việc thực hiệnchính sách FDI tốt sẽ làm gia tăng hiệu quả của chính sách tiền tệ - tài khóa (tăngthu ngân sách nhà nước, ổn định giá trị đồng tiền, lãi suất và khống chế lạm phát,cải thiện cán cân thanh toán…) Trên cơ sở chính sách đã được ban hành, cơ quanquản lý Nhà nước đề xuất các công cụ và biện pháp để tổ chức hoạt động vận động

và xúc tiến đầu tư thích hợp, đào tạo nguồn nhân lực, thay đổi quy trình vận hành.Chính sách FDI hoàn thiện và vận hành hiệu quả còn là điều kiện để hoàn thiện vàthực hiện tốt các chính sách khác trong hệ thống chính sách

- Thứ hai, điều tiết các nguồn lực đầu tư nước ngoài phù hợp với định hướng

phát triển chung của nền kinh tế Chính sách FDI được xây dựng căn cứ vào nhucầu về ĐTNN đối với sự phát triển kinh tế xã hội của nước sở tại Việc thu hút FDI

là quá trình sử dụng hiệu quả nguồn vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiếncủa nước ngoài nhằm giúp nước sở tại bổ sung sự thiếu hụt về các yếu tố đó và tạo

ra những lợi thế mới

Chính sách FDI được hoạch định khoa học góp phần tạo thế chủ động choChính phủ và cơ quan quản lý đầu tư có căn cứ đủ độ tin cậy để điều tiết hợp lý cácnguồn lực như vốn, đất đai, công nghệ, nhân lực…vào các ngành, vùng theo quyhoạch được xây dựng, bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà ĐTNN, bảo vệ quyền sởhữu của nhà đầu tư, bảo vệ các ngành sản xuất trong nước và phát huy được lợi thế

so sánh của từng ngành, vùng cũng như khả năng của doanh nghiệp và tổ chức, hình

Trang 21

thành cơ cấu đầu tư hợp lý và bền vững Ngoài ra, chính sách còn là công cụ hữuhiệu để quản lý các hoạt động ĐTNN phù hợp với mục tiêu phát triển của đất nước.

- Thứ ba, nâng cao tính hiệu quả của các hoạt động thu hút và sử dụng nguồn

vốn FDI Chính sách FDI đưa ra các nguyên tắc, công cụ và biện pháp điều chỉnhhoạt động ĐTNN rõ ràng, tránh tình trạng đầu tư tràn lan, thực hiện quy hoạchĐTNN có cơ sở khoa học, tạo nền tảng sử dụng nguồn vốn đầu tư tối ưu Các ngànhđược coi trọng có khả năng thu hút nhiều vốn đầu tư hơn và đó là động lực để pháttriển các ngành còn lại

Chính sách đầu tư được soạn thảo phù hợp là một lợi thế trong cạnh tranhnhằm thu hút đầu tư, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến ĐTNN Chính sách FDI phù hợpcòn tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, thu nhập của Chính phủ vàcộng đồng, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực hiệu quả, tăng tính ổn định củanền kinh tế, tăng khả năng cạnh tranh quốc gia và mở rộng xuất khẩu, bảo vệ môitrường, thúc đẩy quá trình hội nhập của nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế thếgiới, nâng cao vị thế quốc gia

1.3.2 Đối với các nhà Đầu tư nước ngoài

Chính sách FDI đóng vai trò quan trọng đối với các nhà ĐTNN Đây là đốitượng chịu sự tác động của chính sách và chính sách điều chỉnh đến luồng vốn dichuyển, công nghệ và kinh nghiệm quản lý, đặc biệt là mức độ bảo hộ tài sản củanhà đầu tư cũng như các khoản lợi ích mà nhà đầu tư thu được từ tài sản đó Các vaitrò này làm tăng thêm tính hiệu quả của những biện pháp điều chỉnh mà Chính phủ

áp dụng đối với nhà ĐTNN

- Thứ nhất, Chính sách FDI tạo căn cứ để nhà ĐTNN và doanh nghiệp trong

nước lựa chọn được đối tác đầu tư phù hợp về công nghệ, ngành hàng, khả năngquản lý, chiến lược kinh doanh, văn hóa…Chính sách đầu tư hướng vào các công tyxuyên quốc gia (TNCS) sẽ tạo căn cứ để các doanh nghiệp nội địa xây dựng chiếnlược tiếp cận tập đoàn, có giải pháp xúc tiến và quảng bá hợp lý để thu hút vốn đầu

tư lớn, công nghệ nguồn, kinh nghiệm quản lý hiện đại, thương hiệu nổi tiếng cũngnhư các quan hệ kinh doanh trong và ngoài nước

Trang 22

- Thứ hai, Chính sách FDI là văn bản pháp lý để các nhà ĐTNN và doanh

nghiệp sở tại áp dụng các biện pháp xử lý tranh chấp phát sinh bao gồm các hìnhthức xử lý tranh chấp, các bước xử lý tranh chấp, cơ quan xử lý tranh chấp và cácchế tài áp dụng Quy định về xử lý tranh chấp thể hiện trực tiếp và rõ ràng về thái

độ và mức độ chấp nhận hoạt động ĐTNN cũng như cơ chế bảo vệ lợi ích hợp phápcủa nhà ĐTNN theo đúng pháp luật trong nước và thông lệ quốc tế

- Thứ ba, Chính sách FDI bảo vệ và phát huy lợi thế sở hữu của nhà ĐTNN

bao gồm sở hữu về các tài sản hữu hình và vô hình, tài sản vật thể và tài sản trítuệ…Khi lợi thế sở hữu được bảo hộ và phát huy hiệu quả, lợi ích trước mắt và lâudài của nhà ĐTNN được bảo đảm, họ có thêm nguồn lực để đầu tư vào những dự ánlớn hơn với hiệu quả cao hơn hoặc tăng vốn đối với các dự án hiện tại Kết quả làchính sách FDI tạo động lực cho dòng đầu tư mới, gia tăng lòng tin đối với các nhàĐTNN, tạo sức cạnh tranh cao hơn để họ đưa vốn vào nước sở tại, chứ không phảiđối thủ ở các quốc gia, khu vực khác

Trang 23

đa dạng hóa hình thức đầu tư Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫnđến việc thành công trong thu hút FDI của Trung Quốc là vai trò của Chính phủTrung Quốc thông qua việc coi trọng sự chỉ đạo của thị trường trong thu hút FDI.Đặc biệt, thông qua các giai đoạn phát triển đầu tư, Trung Quốc đã kịp thời điềuchỉnh những chính sách thu hút FDI, làm cho FDI dần từng bước phù hợp với yêucầu của nền kinh tế thị trường.

Trang 24

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH THU HÚT FDI CỦA TRUNG QUỐC TỪ NĂM 2001-2009 VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC VỀ ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC

NGOÀI

2.1 Phân tích quá trình đổi mới chính sách thu hút FDI của Trung Quốc

Sau hơn 30 năm cải cách và mở cửa, Trung Quốc đã đạt được những thànhtựu đáng kể về thu hút vốn đầu tư nước ngoài Kể từ khi thực hiện chính sách mởcửa, tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào năm 1979, luồng vốn FDI vàoTrung Quốc liên tục tăng lên Tính đến cuối năm 2001, Trung Quốc đã cấp giấyphép cho hơn 410.000 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, với tổng số vốncam kết là 807,6 tỷ USD và số vốn giải ngân là 429,64 tỷ USD Trung Quốc luôn lànước nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất trong số các nước đang pháttriển kể từ năm 1993 Năm 2002, Trung Quốc trở thành nước đứng đầu thế giới vềthu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, vượt cả vị trí dẫn đầu của Mỹ Kể từ đó,Trung Quốc luôn trở thành một trong những nước thu hút FDI hàng đầu thế giới.Năm 2001, Trung Quốc được xếp hạng mức tín nhiệm đứng thứ hai thế giới, nhưng

từ năm 2002 trở đi, mức tín nhiệm này đã tăng lên mức cao nhất thế giới, vượt cả

Mỹ Đặc biệt, từ sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, vốn FDI vào Trung Quốc lạitiếp tục có xu hướng gia tăng, đạt 52,7 tỷ USD năm 2002; 57 tỷ USD năm 2003;60,6 tỷ USD năm 2004; 72,4 tỷ USD năm 2005; 60 tỷ USD năm 2006; 74,8 tỷ USDnăm 2007; 92,4 tỷ USD năm 2008 Trong giai đoạn 2008-2011, dự báo mỗi nămTrung Quốc sẽ nhận được khoảng 87 tỷ USD vốn FDI và tiếp tục là quốc gia thuhút FDI lớn nhất thế giới Quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Trung Quốc

kể từ khi tiến hành công cuộc cải cách kinh tế và mở cửa năm 1979 cho đến nay, cóthể chia thành ba giai đoạn:

Trang 25

2.1.1 Giai đoạn 1979-1991

Đây là giai đoạn thử nghiệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài với phươngchâm “dò đá qua sông” Đây là giai đoạn Trung Quốc tiến hành xây dựng và cảithiện môi trường đầu tư nước ngoài Trong giai đoạn này, nguồn vốn đầu tư chủ yếuđược thu hút từ cộng đồng người Hoa ở nước ngoài vốn có hàng loạt quan hệ “họhàng, huyết thống” với đất nước Trung Hoa Từ năm 1979-1992, khối lượng vốnđầu tư nhận được từ các khoản vay nước ngoài cao hơn nhiều so với vốn đầu tư trựctiếp và các nhà đầu tư nước ngoài chủ yếu thăm dò thị trường Trung Quốc khi mớithử nghiệm chính sách cải cách và mở cửa nền kinh tế Chính phủ Trung Quốc sửdụng nguồn vốn vay nước ngoài chủ yếu để cấp vốn cho các dự án về cơ sở hạ tầng.Nhìn chung, đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc trong giai đoạn này phát triển ổnđịnh có sự tăng trưởng cao Theo báo cáo điều tra của Cục mậu dịch Hồng Kông, từnăm 1979-1991, Trung Quốc đã phê chuẩn 12100 hạng mục vốn nước ngoài, kimngạch ký kết theo hiệp định là 121,5 tỷ USD, vốn lợi dụng thực tế là 79,6 tỷ USD.Lĩnh vực đầu tư chủ yếu trong giai đoạn này là các hoạt động chế biến, chuyển giaocông nghệ và phát triển kỹ năng, các hạng mục mang tính sản xuất ngày càng tăng(riêng năm 1991 chiếm trên 90%) và thuộc loại hình xuất khẩu ngày càng nhiều.Song cơ cấu đầu tư còn chưa hợp lý, mất cân đối, nghiêng về các ngành côngnghiệp trong khi nông nghiệp nhận được vốn đầu tư ít nhất

2.1.2 Giai đoạn 1992-2000

Đây là giai đoạn gia tăng quy mô đầu tư trực tiếp theo chiến lược thâm nhập

và phát triển thị trường Trung Quốc lâu dài của các nhà đầu tư nước ngoài Đây làgiai đoạn khẳng định những thành công và tiến bộ bước đầu của chính sách cải cáchkinh tế và mở cửa nền kinh tế Trung Quốc cũng như quá trình tự do hóa thương mại

và đầu tư ngày càng tăng lên Cơ sở hạ tầng kinh tế đã được cải thiện cơ bản.Chuyến đi thăm khu vực phía Nam Trung Quốc của Đặng Tiểu Bình đã tạo bướcngoặt rất lớn trong hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp của Trung Quốc Một khốilượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đổ vào Trung Quốc Trong giai đoạn này,Trung Quốc thực hiện chính sách tín dụng nới lỏng; một số thành phố và lĩnh vực

Trang 26

mới đã được mở cửa cho nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm cả các lĩnh vực được coi

là nhạy cảm (mặc dù chỉ mới ở mức độ hạn chế và mang tính chất thử nghiệm) nhưlĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông…Trung Quốc đã đưa ra nhữngkhuyến khích mới đối với hoạt động đầu tư nước ngoài nhiều hơn vào các lĩnh vựccông nghệ cao Lượng vốn đầu tư trực tiếp di chuyển vào Trung Quốc đã thực sựtăng nhanh từ 4,4 tỷ USD lên hơn 10 tỷ USD vào năm 1992 và đạt mức 27,5 tỷUSD vào năm 1993 Nguồn vốn đầu tư trong giai đoạn này đã được đa dạng hóachủ yếu là nguồn vốn từ các công ty xuyên quốc gia Châu Âu và Mỹ, tập trung vàongành công nghiệp chế tạo Theo báo cáo của UNCTAD, đầu tư trực tiếp nướcngoài của thế giới vào Trung Quốc luôn giữ vị trí hàng đầu trong số các nước đangphát triển Sau khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực năm 1997, luồng đầu tư trựctiếp nước ngoài vào Châu Á có giảm xuống một chút song mức giảm lớn lại tậptrung chủ yếu vào các nước ASEAN Trên thực tế, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đãquay trở lại Trung Quốc sau khi các nước Đông Nam Á đã phục hồi nền kinh tế saukhủng hoảng

2.1.3 Giai đoạn 2001-2009

Đây là giai đoạn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia hoàntoàn vào nền kinh tế Trung Quốc Đây là giai đoạn Trung Quốc gia nhập WTO,trong giai đoạn này Trung Quốc thực hiện những cam kết quan trọng với WTO như

mở cửa toàn bộ các lĩnh vực mà trước đây mở cửa hạn chế, từ mở cửa theo chínhsách thử nghiệm chuyển sang mở cửa có thể dự đoán trước theo khuôn khổ phápluật, tức là mở cửa theo lộ trình đã cam kết, việc mở cửa đơn phương chủ yếu từphía Trung Quốc chuyển sang mở cửa đa phương giữa Trung Quốc với các nướcthành viên trong WTO Căn cứ vào cam kết mà Trung Quốc đã đưa ra với các nướckhác và nhu cầu của việc phát triển kinh tế, Trung Quốc sẽ không ngừng nâng caomức độ mở cửa và tham gia vào quá trình toàn cầu hóa kinh tế với thái độ tích cựchơn và phạm vi rộng lớn hơn

- Về thuế quan, hiện mức thuế quan trung bình của tất cả các sản phẩm củaTrung Quốc là 17,5% (trong đó các sản phẩm thô là 17,9% và các sản phẩm chế tạo

Trang 27

là 17,4%) và khi Trung Quốc gia nhập WTO, mức này bắt buộc phải giảm tới 10%

và lần lượt cho sản phẩm thô là 15% và sản phẩm chế tạo là 9,4% Mức giảm thuếnày sẽ có ý nghĩa cho việc mở cửa thị trường, lôi cuốn các nhà đầu tư tích cực mởrộng đầu tư vào Trung Quốc vì điều đó sẽ giúp họ giảm thiểu được chi phí, tự dođầu tư và khai thác được các nguồn lực nội tại của thị trường Trung Quốc

- Về cơ cấu ngành kinh tế, việc gia nhập WTO của Trung Quốc sẽ có lợi lớntrong các ngành dệt may, điện tử, mô tô - xe máy, đồ chơi là những ngành TrungQuốc đang có ưu thế: giá nhân công rẻ, tỷ lệ nội địa hoá cao, thị phần trong vàngoài nước rộng lớn và theo đó, giá trị gia tăng xuất khẩu cao Lợi thế này càng hấpdẫn các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài khiến cho họ tích cực đẩy mạnh đầu tư vàonhững ngành này trên cơ sở các lợi thế vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý.Điều dễ nhận thấy là cho đến năm 1995, 85% tổng kim ngạch xuất khẩu của TrungQuốc đã thuộc về các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và do đó, việc TrungQuốc gia nhập WTO sẽ tạo cho họ cơ hội duy trì lợi thế này để thụ hưởng ưu đãitừng bước kiểm soát nhiều thị phần thế giới Theo khuynh hướng này, các nhà đầu

tư trực tiếp nước ngoài sẽ tích cực đẩy mạnh đầu tư vào Trung Quốc

- Trung Quốc đã có những điều chỉnh về chính sách thu hút FDI như điềuchỉnh chính sách miễn giảm thuế đối với các nhà doanh nghiệp có đầu tư nướcngoài; tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước cạnh tranh bình đẳngbằng cách loại bỏ các chính sách ưu đãi về thuế nhập khẩu; mở rộng chế độ mở tàikhoản bằng đôla Đài Loan để đảm bảo mậu dịch được phát triển lành mạnh Những nỗ lực này càng trở nên nổi bật khi Trung Quốc thực hiện cam kết với WTO

về mở cửa thị trường dịch vụ cho các nhà đầu tư nước ngoài Cụ thể là:

+ Trong lĩnh vực viễn thông: Trung Quốc cho phép 49% sở hữu nước ngoài(ở năm đầu tiên) và 50% (từ năm thứ 2) về dịch vụ cơ bản; cho phép 25% sở hữunước ngoài ngay sau khi gia nhập, tăng lên 35% sau một năm và đến 49% sau 3năm đối với điện thoại di động; thực hiện mở cửa thị trường cho thuê tài chính trongviễn thông và dịch vụ điện thoại vô tuyến sau 3 năm và 6 năm

Trang 28

+ Về lĩnh vực tài chính: Tiến hành xoá bỏ hạn chế về địa lý và mở cửa 85%thị trường trong 3 năm đối với bảo hiểm, cho phép 50% sở hữu nước ngoài đối vớibảo hiểm nhân thọ và 50% đối với bảo hiểm phi nhân thọ, nước ngoài được phépkinh doanh bằng bản tệ sau 2 năm và được quyền tiếp cận thị trường không hạn chếsau 5 năm; được phép vay ngay sau khi gia nhập thị trường tài chính phi ngân hàng.

+ Về thương mại: tiến hành mở cửa sau 3 năm, xoá bỏ các hạn chế trong liêndoanh, trao quyền kinh doanh và phân phối cho các cửa hàng thuộc sở hữu nướcngoài

+ Các lĩnh vực khác: mở cửa cho các Công ty luật nước ngoài hành nghềpháp lý, mở cửa cho các kế toán viên nước ngoài và cho phép 100% sở hữu nướcngoài sau 3 năm trong lĩnh vực lữ hành và du lịch

Nguồn: Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng (2006), Những vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài – kinh nghiệm Trung Quốc và thực tiễn Việt Nam

Biểu đồ 2.1 Ba giai đoạn của chiến lược thu hút FDI ở Trung Quốc

Chiến lược thu hút vốn

đầu tư nước ngoài của

Trung Quốc

Giai đoạn 1993 – 2000 FDI là hình thức chính, mở cửa lĩnh vực chế tạo

Giai đoạn từ 2001 đến nay mở cửa toàn diện (từ Đông sang Tây), đa lĩnh vực (mở cửa khu vực dịch vụ), đa thành phần (bình đẳng về gia nhập)

Giai đoạn 1979 – 1992 chủ yếu dựa vào vay nợ nước ngoài, FDI đóng vai trò bổ sung

Trang 29

2.2 Các chính sách, biện pháp mà Trung Quốc đã điều chỉnh và đổi mới qua các giai đoạn

2.2.1 Hợp lý

2.2.1.1 Về chính sách đảm bảo đầu tư

Trong quá trình thu hút ĐTNN, việc đảm bảo sở hữu cho các nhà ĐTNNluôn là nhân tố hàng đầu đối với các nước tiếp nhận đầu tư Việc đảm bảo đầu tưđược quyết định trong các văn bản pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư cũng nhưquy định trong các hiệp định đầu tư song phương hoặc hiệp định đảm bảo đầu tư đaphương Các nhà ĐTNN rất quan tâm đến việc Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư cóthái độ như thế nào đối với tài sản của họ trong trường hợp quốc hữu hóa, trưng thu,trưng mua, trưng dụng hay do những nguyên nhân khác như chiến tranh, thiên tai,khủng bố…Để đảm bảo quyền lợi về tài sản cho các nhà ĐTNN, Nhà nước đảm bảokhông quốc hữu hóa các doanh nghiệp FDI, cho phép tự do hồi hương lợi nhuận,Nhà nước đặc biệt ưu tiên những nhà đầu tư lớn có công nghệ hiện đại, có khả năngthu hút nhiều nhân công và sản phẩm phải được xuất khẩu toàn bộ Để khuyếnkhích thu hút FDI, các quốc gia phải có sự đảm bảo quyền sở hữu về sáng chế, nhãnhiệu thương mại hàng hóa để bảo hộ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư

Điều 18, Hiến pháp năm 1992 của Trung Quốc quy định về sự đảm bảo tàisản cho các nhà ĐTNN ở Trung Quốc như sau: “Nước Cộng hòa nhân dân TrungHoa cho phép các cơ sở kinh doanh nước ngoài, các tổ chức kinh tế nước ngoàikhác và những người nước ngoài với tư cách cá nhân được tiến hành đầu tư tạiTrung Quốc và được tham gia vào hàng loạt hình thức hợp tác kinh tế với các cơ sởkinh doanh và các tổ chức kinh tế khác của Trung Quốc tuân theo luật pháp củanước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tất cả các cơ sở kinh doanh nước ngoài và các

tổ chức kinh doanh nước ngoài và các tổ chức kinh tế của nước ngoài khác, cũngnhư các cơ sở đầu tư liên doanh với người Trung Quốc và ĐTNN tại Trung Quốcphải tuân theo luật pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Các quyền và lợi íchhợp pháp của họ được luật pháp của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa bảo vệ

Trang 30

Ngoài ra, trong Luật liên doanh giữa nhà ĐTNN và Trung Quốc ban hànhnăm 1979 quy định: các doanh nghiệp liên doanh Trung Quốc với nước ngoài làpháp nhân Trung Quốc, chịu sự quản lý và bảo vệ của pháp luật Trung Quốc, cácdoanh nghiệp này được phép kinh doanh ở các ngành khai thác năng lượng, côngnghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp hóa chất, công nghiệp nhẹ, điện tử, thiết bịthông tin, trồng trọt, du lịch, dịch vụ (1)

2.2.1.2 Về các hình thức ĐTNN

Trong nỗ lực thu hút vốn ĐTNN, Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra nhiềuhình thức đầu tư khác nhau nhằm thu hút nhiều hơn nữa các luồng vốn từ bên ngoài.Cũng như ở các nước khác, các hình thức ĐTNN chủ yếu ở Trung Quốc là liêndoanh hợp tác, liên doanh hợp đồng (hợp đồng hợp tác kinh doanh), sở hữu 100%vốn nước ngoài Vào thời gian đầu cải cách và mở cửa, Trung Quốc hạn chế hìnhthức sở hữu 100% vốn nước ngoài và yêu cầu các nhà ĐTNN muốn gia nhập thịtrường phải thành lập lien doanh với các doanh nghiệp Trung Quốc Chỉ đến giữanhững năm 1990, Trung Quốc mới cho phép thành lập các doanh nghiệp 100% vốnĐTNN, hiện là hình thức phổ biến nhất trong số các hình thức đầu tư trực tiếp nướcngoài Ngoài ba hình thức ĐTNN phổ biến trên, Trung Quốc còn cho phép đầu tưgián tiếp, khuyến khích các nhà ĐTNN tham gia vào quá trình cải cách doanhnghiệp Nhà nước, cho phép họ trở thành cổ đông của những doanh nghiệp Nhànước then chốt Từ năm 1992, bên cạnh cổ phiếu loại A (chứng khoán nội tệ) TrungQuốc đã thiết lập thị trường cổ phiếu loại B (chứng khoán ngoại tệ) cho phép cácnhà DDTNN kinh doanh chứng khoán, đồng thời các doanh nghiệp có vốn ĐTNNđược niêm yết trên thị trường chứng khoán Từ năm 1995, Trung Quốc cho phépthành lập các công ty quản lý tài chính và từ năm 2002 bắt đầu thí điểm các hìnhthức đầu tư mới như quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ tương hỗ

Nhận xét về việc mở cửa rộng hơn cho sự gia nhập của đầu tư nước ngoàidưới nhiều hình thức đầu tư đa dạng, Ông Đặng Tiểu Bình cho rằng “phát triển là lýluận bất di bất dịch, là để đất nước tiến lên”, và “không cần phải tranh cãi là chủ

(1) Luận án Tiến sỹ của Ngô Thu Hà

Trang 31

nghĩa xã hội hay tư bản chủ nghĩa nữa” mà cần làm những gì “có lợi cho sức sảnxuất” Quan điểm đó không chỉ thúc đẩy sự lớn mạnh của khu vực có vốn đầu tưnước ngoài, mà còn có tác động khuyến khích sự phát triển mạnh mẽ của khu vựckinh tế tư nhân và tiến trình cải cách sâu rộng của doanh nghiệp Nhà nước

* Liên doanh hợp tác giữa Trung Quốc và nước ngoài

Tháng 7/1979, Luật liên doanh cổ phần giữa nhà ĐTNN và Trung Quốc banhành, được đánh giá là khuôn khổ pháp lý đầu tiên cho ĐTNN đổ vào Trung Quốcthông qua việc cho phép các nhà ĐTNN được góp vốn liên doanh với các doanhnghiệp Trung Quốc để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh Đây là hình thứcđầu tư được thành lập bởi doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp và các tổchức kinh tế khác hoặc các cá nhân và đối tác Trung Quốc cùng đầu tư vào TrungQuốc (quyền và nghĩa vụ của mỗi bên quy định trong hợp đồng được các bên TrungQuốc và nước ngoài nhất trí thỏa thuận) Đặc điểm này có nghĩa là tất cả các bêncùng đầu tư, cùng quản lý, chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ đầu tư, chia sẻ lỗ và lợi nhuận.Đầu tư của các bên sẽ được chuyển thành tỷ lệ đầu tư và phần đầu tư này của đầu tưnước ngoài không được xem là tỷ lệ đáng kể trong thu hút đầu tư nước ngoài Luậtnăm 1979 chỉ cho phép ĐTNN được thực hiện trong một số đặc khu kinh tế (SEZs).Năm 1982, Chính phủ Trung Quốc quyết định mở cửa nền kinh tế ra thị trường thếgiới và sửa đổi Hiến pháp cho phù hợp với hoàn cảnh mới Năm 1983, “những quyđịnh về thực hiện Luật liên doanh cổ phần giữa các nhà ĐTNN với Trung Quốc”chính thức được ban hành nhằm tự do hóa hơn nữa thị trường trong nước và lànhmạnh hóa môi trường kinh doanh cho nhà ĐTNN Đây được coi là lần bổ sung, sửađổi luật lần thứ nhất của Trung Quốc Kể từ năm 1984, Trung Quốc quyết định mởcửa hơn nữa đối với dòng vốn FDI

Tháng 4/1990, Trung Quốc tiến hành sửa đổi chính sách liên quan đếnĐTNN lần thứ ba khi sửa đổi Luật liên doanh cổ phần giữa ĐTNN với Trung Quốc,đồng thời cụ thể Luật thành các điều khoản như: không thực hiện quốc hữu hóa xínghiệp có vốn ĐTNN, giới hạn thời gian thực hiện hợp đồng, miễn giảm thuế…Năm 1994, Hội đồng Nhà nước bổ sung danh mục các ngành thu hút vốn ĐTNN,

Trang 32

bao gồm nông nghiệp, năng lượng, viễn thông; đồng thời ban hành một số biệnpháp tăng cường giám sát quy định đăng ký và ký kết hợp đồng của các doanhnghiệp có vốn ĐTNN.

Trước năm 1986, Trung Quốc hạn chế hình thức sở hữu 100% vốn nướcngoài Luật Đầu tư năm 1979 quy định: tỷ lệ góp vốn tối thiểu của nhà ĐTNN trongcác liên doanh phải dưới 25% Trong giai đoạn 1979-1982, liên doanh hợp tácchiếm tới 46% tổng khối lượng FDI vào Trung Quốc, sau đó giảm dần còn 18% vàonăm 1992 và 20% vào năm 1998 Hình thức liên doanh hợp tác chiếm 8,4% tổngFDI trong giai đoạn 1979-1982, còn trong giai đoạn 1987-1989 chiếm tới trên 60%

* Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là các doanh nghiệp được thànhlập ở Trung Quốc bởi nhà đầu tư nước ngoài với 100% vốn của nhà đầu tư, tuân thủtheo luật pháp của Trung Quốc Điều khoản này không quy định đối với các chinhánh của các doanh nghiệp nước ngoài và các tổ chức kinh tế khác được thành lập

ở Trung Quốc Một doanh nghiệp đầu tư nước ngoài sẽ tự đưa ra các quyết địnhquản lý trong khuôn khổ hoạt động kinh doanh được cho phép sẽ không bị thay thếtheo quy định của Luật doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Theo Luật WFOE sửa đổi,cách diễn đạt yêu cầu “các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài ở TrungQuốc xuất khẩu tất cả hoặc hầu hết sản phẩm, hoặc phải sử dụng công nghệ hiện đại

và thiết bị tiên tiến” được thay bằng câu “Nhà nước khuyến khích việc thành lập cácliên doanh sản xuất sản phẩm phục vụ xuất khẩu hoặc với công nghệ hiện đại”

Năm 1986, Trung Quốc tiến hành bổ sung, sửa đổi luật lần thứ hai khi banhành Luật doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN và những điều khoản thi hành Luật sửa

Trang 33

đổi năm 1986 đưa ra những quy định cởi mở và ưu đãi hơn đối với ĐTNN trong cáclĩnh vực liên doanh cổ phần ưu tiên cho xuất khẩu và sử dụng công nghệ cao Đặcbiệt, lần đầu tiên luật sửa đổi năm 1986 cho phép các doanh nghiệp 100% vốnĐTNN được thành lập ở Trung Quốc Tháng 10/1986, Hội đồng Nhà nước ban hànhcác điều khoản khuyến khích ĐTNN cung cấp những ưu đãi về thuế, tự do nhậpkhẩu nguyên liệu đầu vào, quyền lợi trao đổi ngoại hối, thủ tục cấp giấy phép đơngiản hơn, đảm bảo tính tự chủ cho các địa phương trong việc thu hút ĐTNN, xóa bỏmột số bất công bằng về chi phí đầu tư trong nước và nước ngoài, ưu tiên về chi phíđiện, nước, vận tải cho ĐTNN theo đúng giá của doanh nghiệp Nhà nước, cho vayvới lãi suất hấp dẫn.

Hình thức sở hữu 100% vốn nước ngoài được chính thức khuyến khích bằngluật từ năm 1986 Trước đó, trong giai đoạn 1979-1988, sở hữu 100% vốn nướcngoài chỉ chiếm 3% tổng FDI Sau khi ban hành luật năm 1986, hình thức sở hữu100% vốn nước ngoài tăng mạnh, các công ty xuyên quốc gia có mặt trong hầu hếtcác ngành công nghệ cao của Trung Quốc, chiếm tới 47% tổng FDI

Năm 2006, Chính phủ Trung Quốc có bước điều chỉnh luật ĐTNN lần thứ tưthông qua hai biện pháp điều chỉnh cơ bản: (1) ban hành các điều khoản cho phépnhà ĐTNN mua lại và sáp nhập doanh nghiệp Nhà nước, nhằm quản lý tốt hơnĐTNN và tăng cường tính minh bạch trong quá trình điều tiết và quản lý vốn đầutư; (2) ban hành danh mục các chỉ dẫn ĐTNN trong các ngành công nghiệp, nhằmgiới hạn ĐTNN trong những ngành cụ thể theo ba loại: khuyến khích đầu tư, hạnchế đầu tư và ngăn cấm đầu tư

Trang 34

2.2.1.3 Về đa dạng hóa chủ đầu tư

* Chính sách khuyến khích đầu tư của Hoa kiều

Chính sách FDI của Trung Quốc thời kỳ đầu là nhằm thu hút vốn của Hoakiều từ Đài Loan, Hongkong, Macao đầu tư vào các SEZs Với mục đích tiếp cậnnguồn vốn, khoa học kỹ thuật hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến và bí quyếtsản xuất kinh doanh của cộng đồng người Hoa và Hoa kiều trên thế giới, đặc biệt làmuốn có sự hợp tác của họ trong việc thâm nhập vào thị trường thế giới, TrungQuốc đã có những biện pháp và chính sách ưu đãi đối với các chủ thể đầu tư nàynhư: Luật và các quy định khuyến khích các nhà đầu tư Đài Loan vào Đại lục, banhành năm 1988; Luật và các quy định về khuyến khích đầu tư của Hoa kiều và đồngbào Hongkong, MaCao, ban hành năm 1990, cụ thể như sau:

+ Người đầu tư là Hoa kiều có thể đầu tư vào các tỉnh, khu tự trị, thành phốtrực thuộc của Trung Quốc

+ Khích lệ các nhà đầu tư Hoa kiều mở các doanh nghiệp xuất khẩu sảnphẩm, các doanh nghiệp kỹ thuật tiên tiến và có những ưu đãi tương ứng

+ Nhà nước không thực hiện quốc hữu hóa, không trưng thu tài sản của cácnhà đầu tư Hoa kiều

+ Các doanh nghiệp Hoa kiều về nước đầu tư được hưởng chính sách ưu đãithuế: 2 năm đầu được miễn thuế, 3 năm sau được giảm ½

+ Các doanh nghiệp Hoa kiều có thể nhập khẩu nguyên vật liệu, nhiên liệu,các loại linh kiện sử dụng vào sản xuất

+ Có thể thế chấp tài sản doanh nghiệp đầu tư để vay vốn trong và ngoài nước

Vì vậy, trong thập niên 1980-1990, vốn ĐTNN của ba nền kinh tế này đóngvai trò rất quan trọng ở Trung Quốc Trong giai đoạn 1983-2000, Hongkong chiếmkhoảng ½ vốn ĐTNN vào Trung Quốc Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan lần lượt đứng vị tríthứ hai, ba và bốn, chiếm khoảng 1/3 vốn ĐTNN vào Trung Quốc Vị trí tiếp theothuộc về Singapore, Macao, Hàn Quốc…

* Chính sách khuyến khích đầu tư của các công ty đa quốc gia, xuyên quốc giaTháng 9/1993, Bộ hợp tác kinh tế mậu dịch đối ngoại Trung Quốc đã cho

Trang 35

phép các công ty xuyên quốc gia được đến Trung Quốc xây dựng các công ty đầu tư

và nới lỏng hơn phạm vi kinh doanh Là một quốc gia đang phát triển, trình độ khoahọc kỹ thuật còn tương đối lạc hậu trong quá trình cải cách và mở cửa, Trung Quốcđặt ra mục tiêu là phải thu hút nguồn vốn và công nghệ của các công ty xuyên quốcgia và của các nhà tư bản lớn nhất là Mỹ và phương Tây để nâng cấp kết cấu kỹthuật và ngành nghề, phát triển các ngành kỹ thuật cao Trung Quốc xác định pháttriển các ngành kỹ thuật cao là cơ sở chiến lược để thu hẹp khoảng cách thực hiệncông nghiệp hóa đất nước và là hạt nhân của mục tiêu điều chỉnh kết cấu kinh tế.Hiện nay các TNCs nắm trong tay 40% sản xuất của thế giới, 60-70% mậu dịch kỹthuật quốc tế, 90% đầu tư trực tiếp của quốc tế với các nước đang phát triển Nắmbắt được sự di chuyển làn sóng đầu tư nguồn vốn quốc tế và cơ hội có lợi từ việcđiều chỉnh cơ cấu ngành nghề của TNCs, Trung Quốc đã lựa chọn chính sách “Lấythị trường đổi lấy kỹ thuật”, “lấy thị trường đổi lấy vốn”, “lấy thị trường để pháttriển” Vì vậy, để thu hút nguồn vốn và nâng cao hàm lượng kỹ thuật trong thu hútFDI, Trung Quốc đã áp dụng chính sách kích thích, tạo điều kiện thuận lợi cho cáccông ty TNCs:

+ Các doanh nghiệp chung vốn với các công ty TNCs được độc lập và tự chủtrong các hoạt động sản xuất kinh doanh

+ Cho phép các công ty TNCs được tiêu thụ một phần sản phẩm của mìnhtrên thị trường Trung Quốc

+ Đảm bảo các quyền lợi hợp pháp của các công ty TNCs

Vào thập niên 1990, nhận thức được tầm quan trọng của vốn và công nghệ từ

Mỹ và Tây Âu, chính sách thu hút FDI bắt đầu có sự thay đổi theo hướng ưu tiêncác đối tác có công nghệ cao Nếu như năm 1992, Mỹ là nhà đầu tư đứng vị trí thứ

tư ở Trung Quốc, chiếm 4,6% tổng FDI, thì năm 2000 đã vươn lên vị trí thứ hai, sauHongkong, chiếm 10,8% tổng FDI Tương tự, tỷ lệ vốn đầu tư và thứ hạng của cácnước EU như Anh, Pháp, Đức, Hà Lan…cũng dần gia tăng Năm 2005, thứ hạngđầu tư vào Trung Quốc của các quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp như sau:Hongkong (17,95 tỷ USD), Virgin Islands – Anh (9,02 tỷ USD), Nhật Bản (6,53 tỷ

Trang 36

USD), Hàn Quốc (5,17 tỷ USD), Mỹ (3,06 tỷ USD), Singapore (2,2 tỷ USD), ĐàiLoan (2,15 tỷ USD), Đức (1,53 tỷ USD)…

Để giúp cho cơ cấu nguồn vốn nước ngoài phù hợp với nhu cầu điều chỉnh

cơ cấu kinh tế của Trung Quốc, tháng 6/1995 Trung Quốc đã ban hành văn bản

“Mục lục chỉ đạo ngành nghề đầu tư cho thương nhân nước ngoài” Văn bản này đãquy định rõ các ngành nghề Trung Quốc khuyến khích, hạn chế và cấm đối với đầu

tư của thương nhân nước ngoài Theo hướng dẫn của văn bản này, Trung Quốcphân ngành nghề đầu tư của thương nhân nước ngoài thành 5 loại: loại khuyếnkhích, loại hạn chế A và B, loại cấm, loại cho phép Các dự án có thương nhân nướcngoài đầu tư mà Nhà nước khuyến khích và giúp đỡ là các dự án kỹ thuật cao, kỹthuật mới, nông nghiệp, năng lượng, giao thông, dự án nguyên liệu quan trọng, dự

án nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển xuất khẩu, các dự án ngăn chặn vàgiảm ô nhiễm môi trường và dự án phát huy ưu thế của khu vực miền Tây và miềnTrung

Kể từ năm 2001 đến nay, sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc buộc phải mởcửa cho ĐTNN trong một số ngành nhạy cảm, do vậy các công ty ĐTNN đã thật sựcoi quốc gia này là sân chơi của mình Nếu như trong thập niên 1980, FDI tập trungchủ yếu ở các ngành thu hút nhiều lao động, thì từ đầu thập niên 1990, FDI chuyểnsang các ngành cần nhiều vốn, còn hiện nay Trung Quốc đang trở thành địa bàn thuhút các công ty đa quốc gia tập trung nhiều công nghệ Các hãng hàng đầu thế giớinhư: Microsoft, General Motors, Simens…không ngần ngại đầu tư nghiên cứu côngnghệ tại Trung Quốc Hiện nay, trên toàn lãnh thổ Trung Quốc có tới 400 trung tâmR&D do công ty nước ngoài tham gia thành lập

2.2.1.4 Về lĩnh vực đầu tư

Trong thời kỳ đầu (1979-1985), lĩnh vực đầu tư ở Trung Quốc chưa đượccông bố thành danh mục để khuyến khích nhà ĐTNN đầu tư vào các ngành ưu tiên.Chính sách đầu tư thời kỳ đầu chỉ thực hiện theo hướng mở rộng địa bàn thu hútđầu tư, củng cố cơ sở hạ tầng cứng, từng bước xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng

Trang 37

mềm Vì vậy, lĩnh vực đầu tư được các nhà đầu tư quan tâm trong thời kỳ này làkhách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí, xây dựng cao ốc vì dễ thu hồi vốn

Từ năm 1986, Trung Quốc có sự đổi mới và điều chỉnh về lĩnh vực đầu tư.Tháng 4/1986, Quốc hội thông qua “Luật các doanh nghiệp sử dụng vốn nướcngoài”, đồng thời Hội đồng Nhà nước đưa ra 22 điều khoản khuyến khích ĐTNNtrong các dự án sản xuất sản phẩm xuất khẩu và sử dụng kỹ thuật mới Năm 1996,Trung Quốc chính thức công bố chỉ dẫn danh mục ĐTNN vào các ngành, trong đó

ưu tiên nông nghiệp, các loại vật liệu xây dựng mới và dịch vụ Đồng thời, TrungQuốc nới lỏng những hạn chế về các lĩnh vực đầu tư Sau khi gia nhập WTO, TrungQuốc đã ban hành Danh mục đầu tư mới (có hiệu lực từ ngày 1/4/2002) với nhữngsửa đổi cơ bản là:

+ Danh mục khuyến khích đầu tư từ 116 hạng mục tăng lên 262 hạng mụctrong các ngành và lĩnh vực sau: cải tạo nông nghiệp truyền thống, phát triển nôngnghiệp hiện đại; cơ sở hạ tầng và năng lượng; nguyên vật liệu; kỹ thuật cao và mới(thông tin điện tử, công nghệ sinh học, hàng không, vũ trụ), R&D, công nghiệptruyền thống (cơ khí, công nghiệp nhẹ, dệt, nâng cấp thiết bị); công nghiệp sử dụngtài nguyên và tái sinh tài nguyên, bảo vệ môi trường; công trình quản lý đô thị; dự

án xuất khẩu 100% sản phẩm

+ Danh mục hạn chế đầu tư giảm từ 112 hạng mục xuống 75 hạng mục Một

số ngành trước đây cấm đầu tư, nay được phép đầu tư là bưu chính viễn thông, khíđốt, cung cấp hơi nóng, cấp thoát nước, mạng lưới đường ống thành phố Các ngànhhạn chế đầu tư là ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ tư vấn pháp luật…cũng từng bướcđược mở cửa theo lộ trình của WTO

Năm 2006, danh mục chỉ dẫn ĐTNN trong các ngành công nghiệp được banhành, phân loại các ngành khuyến khích, hạn chế và ngăn cấm ĐTNN Các ngànhcông nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, tiêu thụ nhiều tài nguyên,năng lượng như điện, nước, xăng dầu…sẽ bị hạn chế trong việc thu hút ĐTNN Cácngành không được phép ĐTNN là xây dựng và quản lý sân gôn, khai thác khoángsản quý hiếm không có khả năng phục hồi và tái chế, xây dựng và vận hành các nhà

Trang 38

máy lọc dầu quy mô trung bình và nhỏ, kinh doanh cà phê Internet, kinh doanh bảohiểm quy mô nhỏ…Các ngành khuyến khích đầu tư đòi hỏi cao hơn về vốn, kỹthuật, các dịch vụ hậu cần, kho bãi, sản xuất vật liệu mới

2.2.1.5 Về đổi mới và điều chỉnh địa bàn đầu tư

Về đổi mới và điều chỉnh các biện pháp đầu tư vào vùng ưu tiên, chính sáchFDI ở Trung Quốc được thực hiện dựa trên nguyên tắc: bắt đầu từng bước từ mởcửa vùng ven biển, tiến đến mở cửa các vùng ven sông, ven biên giới và mọi vùngtrong nội địa Những bước đi trên đã dần hình thành hình thế mở cửa đối ngoạinhiều tầng nấc, ra mọi hướng, theo phương châm mở cửa từ điểm đến tuyến, từtuyến đến diện, mở cửa từng điểm, tiến tới mở cửa tuyến, diện, rồi nhân rộng ra cácvùng khác

* Chính sách xây dựng các đặc khu kinh tế

Luật Đầu tư năm 1979 quy định: FDI vào Trung Quốc được khuyến khích ởmột số đặc khu kinh tế, tiếp đó là ở các thành phố ven biển trên cơ sở thử nghiệm.Luật này cho phép một số tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến được quyền tự quản trongkinh doanh ngoại thương và được phép thành lập các đặc khu kinh tế (SEZs) làThâm Quyến, Sán Đầu, Chu Hải, Hạ Môn vào năm 1980 để thu hút FDI

Tháng 4/1988, Trung Quốc đã thành lập tỉnh đảo Hải Nam và toàn tỉnh đã trởthành đặc khu kinh tế thứ năm khiến cho quy mô của đặc khu ngày càng mở rộng.Các đặc khu kinh tế của Trung Quốc được thành lập để thu hút FDI, áp dụng vàchuyển giao công nghệ mới và kỹ năng quản lý, mở rộng xuất khẩu và thu ngoại tệ,tạo công ăn việc làm, tạo thuận lợi cho nền kinh tế thông qua những liên kết kinh tếtrong và ngoài đặc khu, thử nghiệm và quan sát chủ nghĩa tư bản hoạt động Mụctiêu của SEZs (Special Economic Zones - đặc khu kinh tế) nhằm thực hiện nhữngnhiệm vụ kép bao gồm “ngoại diên” (đưa đầu tư và kỹ thuật từ nước ngoài vào) và

“nội liên” (thiết lập các mối quan hệ với các xí nghiệp nội địa Trung Quốc), cónghĩa là những kỹ thuật hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến du nhập từ nướcngoài thông qua tiêu hóa, hấp thụ, truyền đạt được chuyển vào nội địa phát triểnkinh tế nội địa theo mô hình hướng ra bên ngoài Như vậy, SEZs của Trung Quốc

Trang 39

ngoài chế biến xuất khẩu còn khuyến khích các nhà đầu tư vào nhiều lĩnh vực nhưnông nghiệp, công nghiệp, du lịch…

* Chính sách xây dựng 14 thành phố mở cửa ven biển

Năm 1984, khái niệm SEZs được mở rộng, Chính phủ lần lượt mở cửa vàthành lập SEZs sang 14 thành phố ven biển Tháng 4/1984, Trung ương Đảng cộngsản Trung Quốc và Quốc vụ viện quyết định mở cửa 14 thành phố ven biển: ThiênTân, Đại Liên, Tần Hoàng Đảo, Yên Đài, Thanh Đảo, Liên Vân Cảng, Nam Thông,Ninh Ba, Ôn Châu, Phúc Châu, Quảng Châu, Trạm Giang, Bắc Hải Mục đích mởcửa những thành phố này là để mở rộng việc hợp tác kỹ thuật và giao lưu kinh tếvới bên ngoài, bước những bước lớn hơn trong việc lợi dụng FDI, đưa vào khoa học

kỹ thuật tiên tiến Nội dung cơ bản của nó bao gồm: (1) mở rộng quyền hoạt độngkinh tế đối ngoại của các thành phố và tăng thêm quyền tự chủ của chúng, chủ yếu

là nới rộng quyền xét duyệt và phê chuẩn các hạng mục xây dựng bằng vốn FDI; (2)cho các nhà đầu tư được hưởng những chính sách ưu đãi

Trung Quốc còn cho phép trong 14 thành phố trên có thể xây dựng các khukhai thác và phát triển kỹ thuật Mục đích xây dựng khu khai phát là nhằm tích cựcthu hút kỹ thuật tiên tiến cần thiết cho việc xây dựng “bốn hiện đại hóa của TrungQuốc”, đặc biệt là các hạng mục tập trung nhiều trí thức kỹ thuật và hạng mục côngnghiệp mới Trung Quốc khuyến khích các nhà đầu tư hợp tác nghiên cứu khoa học,hợp tác phát triển sản xuất, hợp tác nghiên cứu thiết kế tìm ra những kỹ thuật mới,nghiên cứu chế tạo sản phẩm mới, khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn kinh doanh

xí nghiệp bằng kỹ thuật và thiết bị tiên tiến

Trong các khu khai phát, khu khai phát Phố Đông - Thượng Hải có quy môlớn và có tác dụng quan trọng trong chiến lược mở cửa đối ngoại của Trung Quốc.Tháng 4/1990, Quốc vụ viện Trung Quốc đã phê chuẩn mở cửa khu này Khu nàyhình tam giác có sông Hoàng Phố ở phía Đông, sông Trường Giang ở phía TâyNam, sông Xuyên Dương ở phía Bắc Mục đích của việc xây dựng Phố Đông lànâng cao hơn nữa chức năng tổng hợp của Thượng Hải, đặt nền tảng cho việc xâydựng Thượng Hải trở thành một trong những trung tâm kinh tế, mậu dịch và tiền tệ

Trang 40

lớn nhất bên bờ Tây Thái Bình Dương.

Việc mở cửa 14 thành phố ven biển vào năm 1984, đặc biệt là việc mở cửaquận Phố Đông – thành phố Thượng Hải, đã khiến FDI dịch chuyển dần sang cácthành phố ven biển này Năm 1991, FDI đổ vào Thượng Hải, Giang Tô và TriếtGiang chiếm 12% tổng FDI của cả nước, năm 1993 tăng lên 26% Một số tỉnh venbiển phía Bắc cũng là địa bàn ngày càng thu hút nhiều FDI nhờ sự điều chỉnh cơcấu vùng đầu tư của Chính phủ Cho đến nay, chính sách khuyến khích FDI vào cácvùng nội địa bắt đầu được Chính phủ chú trọng với hàng loạt chính sách khác nhau,

do vậy địa bàn đầu tư của Trung Quốc dần dần được mở rộng, tuy nhiên FDI vàocác tỉnh miền Đông và Tây vẫn còn nhiều hạn chế

* Chính sách và chiến lược khai thác kinh tế “ba ven” : ven biển, ven sông,ven biên giới

Trung Quốc đưa ra chiến lược khai thác kinh tế “ba ven” nhằm thúc đẩy kinh

tế của các khu vực này tăng đồng thời giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng kinh tếnhất là giữa miền Đông và miền Tây Nó phù hợp với yêu cầu đoàn kết các dân tộc

và ổn định chính trị vùng biên giới trong tình hình cải cách và mở cửa

+ Chiến lược khai thác ven biển (1990): là sự kết hợp của SEZs, ba vùngđồng bằng sông Châu Giang, Trường Giang, Vân Nam, hai bán đảo Liêu Đông, SơnĐông và 14 thành phố ven biển hình thành một dải mở cửa ven biển từ Bắc xuốngNam nhằm mục tiêu xây dựng cơ cấu ngành sản xuất và khai thác thị trường thếgiới, thúc đẩy nâng cấp kỹ thuật Vùng này giao thông thuận lợi, cơ sở công nghiệp,nông nghiệp tương đối tốt, kinh tế hàng hóa khá phát triển, trình độ văn hóa khoahọc kỹ thuật khá cao, thông tin tương đối thông suốt và mau lẹ, có mối liên hệ rộngrãi với nước ngoài và có địa vị hết sức quan trọng trong xây dựng kinh tế của TrungQuốc Vùng kinh tế này được xây dựng không những có thể thúc đẩy kinh tế venbiển phát triển trở thành khu vực mở cửa văn minh, giàu có hiện đại, giao lưu trong

và ngoài nước, kết hợp công nghiệp với nông nghiệp thành thị với nông thôn màcòn có thể thúc đẩy nội địa phát triển khiến cho ưu thế của nội địa và ven biển bổsung cho nhau

Ngày đăng: 11/08/2020, 15:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Hoàng Anh (2007), Những bài học kinh nghiệm từ cải cách kinh tế ở Trung Quốc, Nxb Tổng hợp TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài học kinh nghiệm từ cải cách kinh tế ởTrung Quốc
Tác giả: Dương Hoàng Anh
Nhà XB: Nxb Tổng hợp TPHCM
Năm: 2007
2. Lê Xuân Bá, Nguyễn Thị Tuệ Anh (2006), Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Dự án SIDA-CIEM về “Nâng cao năng lực nghiên cứu chính sách để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam thời kỳ 2001-2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của đầu tư trực tiếp nướcngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam", Dự án SIDA-CIEM về “Nâng caonăng lực nghiên cứu chính sách để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hộicủa Việt Nam thời kỳ 2001-2010
Tác giả: Lê Xuân Bá, Nguyễn Thị Tuệ Anh
Năm: 2006
3. Nguyễn Kim Bảo (2001), Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Trung Quốc từ năm 1979 đến nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Trung Quốc từ năm1979 đến nay
Tác giả: Nguyễn Kim Bảo
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
4. Nguyễn Kim Bảo (2004), Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Kim Bảo
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
5. Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng (2004), Kinh tế Quốc tế, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Quốc tế
Tác giả: Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng
Nhà XB: Nxb Lao động Xãhội
Năm: 2004
6. Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng (2006), Những vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài – kinh nghiệm Trung Quốc và thực tiễn Việt Nam, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề kinh tế xã hội nảysinh trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài – kinh nghiệm Trung Quốc vàthực tiễn Việt Nam
Tác giả: Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2006
7. CIEM & UNDP (2004a), Chính sách phát triển kinh tế - kinh nghiệm và bài học ở Trung Quốc, tập 1, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phát triển kinh tế - kinh nghiệm và bàihọc ở Trung Quốc
Nhà XB: Nxb Giao thông vận tải
8. CIEM & UNDP (2004b), Chính sách phát triển kinh tế - kinh nghiệm và bài học ở Trung Quốc, tập 2, NxB Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phát triển kinh tế - kinh nghiệm và bàihọc ở Trung Quốc
9. Nguyễn Tiến Cơi (2007), Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Malaysia trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế - thực trạng, kinh nghiệm và khả năng vận dụng vào Việt Nam, Luận án Tiến sỹ kinh tế Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài củaMalaysia trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế - thực trạng, kinh nghiệm vàkhả năng vận dụng vào Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Cơi
Năm: 2007
10. Đại sứ quán Trung Quốc (2010), “Ba mươi năm phát triển của nền kinh tế Trung Quốc”, Bài phát biểu của Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ba mươi năm phát triển của nền kinh tếTrung Quốc”
Tác giả: Đại sứ quán Trung Quốc
Năm: 2010
11. Ngô Thu Hà (2009), Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Luận án Tiến sỹ kinh tế Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc vàbài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Ngô Thu Hà
Năm: 2009
12. Nguyễn Văn Hồng (2008), Trung Quốc cải cách mở cửa những bài học kinh nghiệm, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc cải cách mở cửa những bài học kinhnghiệm
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2008
13. Đỗ Thu Hương (2008), Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Trung Quốc thời kỳ 1978-2003 - Thực trạng và bài học kinh nghiệm với Việt Nam, Luận án Tiến sỹ kinh tế Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong quá trình hộinhập kinh tế quốc tế của Trung Quốc thời kỳ 1978-2003 - Thực trạng và bàihọc kinh nghiệm với Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thu Hương
Năm: 2008
14. Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc 15. Tạp chí Kinh tế và Phát triển 16. Tạp chí Kinh tế và Dự báo 17. Một số website:- http:// www.unctad. org - http:// www.fdi.gov.cn - http:// www.fia.mpi.gov.vn Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w