1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận tiền tệ ngân hàngtự do hoá lãi suất

14 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 105 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại sao lại xuất hiện tự do hóa lãi suất Xét về khía cạnh khách quan, sẽ gần như không thể có một mức trần lãi suất hợp lý với tất cả mọi đối tượng, bởi nó còn tùy thuộc vào diễn biến th

Trang 1

1 CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TỰ DO

HÓA LÃI SUẤT

1.1 Những lý thuyết chung

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Lãi suất

Lãi suất là chi phí mà người đi vay phải trả cho người cho vay để có quyền sử dụng quỹ tiền của người cho vay trong một khoảng thời gian đã thỏa thuận

Lãi suất được biểu hiện bằng tỉ lệ phần trăm so sánh giữa

số tiền lãi (lợi tức) thu được (hoặc phải trả) với số vốn cho vay phát ra, trong một kỳ nhất định

Kí hiệu : r (rate of return) hoặc I (interest rate) Công thức : Lãi suất = Tiền lãi/ Tiền gốc

1.1.1.2 Tự do hóa lãi suất

Tự do hóa lãi suất – hạt nhân của tự do hóa tài chính là để cho lãi suất tự hình thành thị trường trên cơ sở : cung cầu

về vốn, mức tiết kiệm, thu nhập, chi tiêu của cá nhân và những nhân tố khác

Tự do hóa lãi suất loại bỏ những áp đặt mang tính hành chính lên quá trình hình thành lãi suất, cho phép các tổ chức tín dụng tự chủ trong việc ấn định các mức lãi suất NHTW chỉ gián tiếp tác động lên lãi suất thông qua các công cụ mang tính định hướng, dấu hiệu cho thị trường là công cụ tái chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở, hợp đồng mua lại và

dự trữ bắt buộc

1.2 Tại sao lại xuất hiện tự do hóa lãi suất

Xét về khía cạnh khách quan, sẽ gần như không thể có một mức trần lãi suất hợp lý với tất cả mọi đối tượng, bởi nó còn tùy thuộc vào diễn biến thị trường tài chính và năng lực tài chính của mỗi

tổ chức tín dụng (TCTD) hay mỗi cá nhân tham gia thị trường

Bài học thực tế ở Anh đã cho thấy điều đó Trước đây, để quản lý thị trường cho vay, đặc biệt đối với lĩnh vực tài chính tiêu dùng, Chính phủ nước này đã đưa ra một mức lãi suất trần cụ thể Tuy nhiên, không lâu sau khi ban hành quy định này, một bộ phận lớn

Trang 2

người dân Anh có nhu cầu vay tài chính đã không được đáp ứng, vì khi ấy các TCTD ở Anh buộc phải siết chặt quy trình xét duyệt hồ

sơ cũng như đòi hỏi cao hơn từ phía khách hàng để đáp ứng các quy định khắt khe của nhà quản lý Nhu cầu vay tài chính trong dân quá lớn trong khi TCTD bị kìm hãm năng lực hoạt động đã khiến cho nạn tín dụng đen đã gia tăng nhanh chóng để lại những hệ quả nghiêm trọng trong đời sống kinh tế - xã hội ở Anh

Tự do hoá lãi suất cũng xuất phát từ một thực tế là không một chính phủ hay một NHTW nào có đủ khả năng để phân bổ và kiểm soát

sự phân bổ nguồn vốn một cách có hiệu quả cho hàng ngàn nhu cầu

sử dụng vốn khác nhau

Trong bối cảnh thế giới đang diễn ra quá trình toàn cầu hóa nhanh chóng mà toàn cầu hóa tài chính là điển hình nhất của quá trình này Trong lĩnh vực tài chính, toàn cầu cầu hoá đặt ra những cơ hội

và thách thức mới, trong đó một thách thức lớn là việc làm xói mòn

và giảm hiệu quả của việc kiểm soát tiền tệ bằng các công cụ trực tiếp, như các quy định trần sàn lãi suất Thay vào đó để đảm bảo kiểm soát tiền tệ các nước dần chuyển sang thực hiện công cụ kiểm soát lãi suất gián tiếp như nghiệp vụ thị trường mở, tái chiết khấu, hợp đồng mua lại , tức là các công cụ định hướng thị trường để đảm bảo hội nhập thành công trong lĩnh vực tài chính, trước hết lãi suất phải được tự do hoá

1.3 Chức năng của tự do hóa lãi suất

Đảm bảo điều chỉnh tự động và tức thì, do đó giảm rủi ro đối

với những sai lầm về chính sách

Truyền tải các tín hiệu chính sách và tác động tới tất cả các bộ phận của nền kinh tế

Đảm bảo việc phân bổ tiền tệ và tín dụng tối ưu trên cơ sở lãi suất, mức độ rủi ro tương đối và lợi nhuận thu được

Đảm bảo nhất quán giữa chính sách tiền tệ, ngân sách và tỷ

giá Làm cho áp lực thị trường tiền tệ thể hiện rõ tức thì

Hỗ trợ và bổ sung cho việc quản lý tỷ giá hối đoái

Làm giảm sự nhạy cảm chính trị đối với những thay đổi lãi suất

Cho phép NHTW rút về sau thị trường mà không mất khả năng kiểm soát

1.4 Những thách thức khi thực hiện tự do hóa lãi suất

Tự do hóa lãi suất là mục tiêu của chính sách tiền tệ, song với các quốc gia đang phát triển thì việc chuyển ngay từ thái cực kiềm chế sang thái cực tự do là

Trang 3

một việc làm không khả thi Tự do hóa lãi suất có xu hướng làm bộc lộ những yếu kém về thể chế và cơ cấu trong khu vực tài chính và có thể làm tổn hại đến

hệ thống ngân hàng do những cơn sốc vĩ mô xuất phát từ bên ngoài và chính sách vĩ mô không thích hợp Do vậy, cải cách lãi suất nhanh không gắn liền với củng cố qui chế phòng ngừa và khuôn khổ thanh tra thường kéo theo sự chấn động tài chính

Thứ nhất, tự do hóa lãi suất tạo sức ép thanh khoản lớn cho các ngân hàng Sức hấp dẫn của lãi suất mới do cạnh tranh giữa các ngân hàng có thể làm gia tăng các hoạt động rút vốn của người gửi từ ngân hàng có lãi suất thấp để gửi vào ngân hàng có lãi suất cao Về cả lý thuyết và thực tiễn, thông thường người gửi tiền không phân biệt lãi suất cơ bản với trần lãi suất thậm chí cũng mơ hồ về các hoạt động, tính thanh khoản và trạng thái lành mạnh cụ thể của các ngân hàng Đối với đa số đám đông, ai huy động cùng lãi suất cao hơn thì gửi, thậm chí không cần biết tư cách pháp nhân và mục tiêu huy động vốn của người huy động

Thứ hai, chính sách này gây ra mất cân bằng cung – cầu Số lượng ngân hàng nhỏ, chưa đáp ứng được yêu cầu tái cơ cấu vốn điều lệ tối thiểu theo quy định Nhà nước, hoặc gặp khó khăn chưa xử lý triệt để về thanh khoản, nhưng lại không muốn giải thể, sáp nhập hoặc cổ phần hóa theo yêu cầu… Do vậy, việc tự

do hóa lãi suất huy động có thể làm gia tăng ít nhiều một số hoạt động huy động vốn với lãi suất cao trong thời gian đầu, gây sốc vốn và thanh khoản cho các ngân hàng và có thể dẫn đến hành vi tìm cách lách luật hoặc vi phạm luật

Thứ ba, nền tài chính lãi suất tự do yêu cầu hệ thống thông tin, công tác kế toán

rõ ràng và thích hợp, các kiểm toán nên được quan tâm đúng mức, việc kiểm soát nội bộ các tổ chức tài chính đầy đủ sẽ đáp ứng được yêu cầu của công tác thanh tra, giám sát và kiểm soát nội bộ Bên cạnh đó, hệ thống thanh toán cũng cần được nâng cấp, giúp cho công tác quản lí tiền tệ hiệu quả, từ đó cải thiện chức năng của lãi suất trong việc phân bổ các nguồn lực Đồng thời, người vay

sẽ tránh được những rủi ro lãi suất quá mức, hoặc tiếp cận dễ dàng với các nguồn vốn của các tổ chức tài chính chính thức

Cuối cùng, chính là xây được chính sách lãi suất phù hợp Với những trường hợp tự do lãi suất trước đây, chưa có một sự thỏa thuận nào về một chiến lược tốt nhất để đạt được mục tiêu này: lãi suất nên tự do hóa từ từ hay trong một khoảng thời gian ngắn? Trình tự chính sách cho các nước có mức lạm phát khác nhau sẽ như thế nào?

1.5 Những điều kiện chung để một quốc gia thực hiện tự do hóa lãi suất

Hiện nay, không chỉ các nước phát triển mà ngay cả các nước đang phát triển cũng đang dần hướng đến tự do hóa các chính sách tài chính và hạn chế can thiệp biện pháp hành chính vào thị trường cũng như gỡ bỏ việc sử dụng trần lãi suất Cùng với tiến trình hội nhập nhanh như vũ bão, Việt Nam được các chuyên gia kinh tế nhận định trước sau gì cũng phải tiến tới tự do hóa lãi suất

Trang 4

Câu hỏi đặt ra là: Điều kiện để thực hiện tự do hóa lãi suất là gì?

Thứ nhất, sự ổn định kinh tế vĩ mô đủ chắc chắn để chịu đựng được các tác động, các cú sốc từ bên ngoài có thể xảy ra khi tự do hóa hoàn toàn lãi suất Với các thách thức đã trình bày bên trên, có thể rõ ràng thấy, một nền kinh tế non nớt sẽ hoàn toàn bị đánh gục bởi chính sách tài chính này

Thứ hai, nền kinh tế còn có sự hiện diện đầy đủ các công cụ của chính sách tiền tệ hữu hiệu, sự hình thành các quy trình nghiệp vụ phù hợp Bởi, vai trò của lãi suất trong việc điều hành chính sách tiền tệ cần được thay thế bởi các công cụ khác phù hợp và có chức năng tương đương như các công cụ kiểm soát tiền tệ gián tiếp VD: lãi suất tái chiết khấu

Thứ ba, có môi trường pháp lí và thể chế hoàn thiện, đủ khả năng điều chỉnh các quan hệ kinh tế Có quy chế phòng ngừa, bù đắp rủi ro hoàn thiện, hữu hiệu, đảm bảo hạn chế và bù đắp được những hạn chế có thể xảy ra trong hoạt động của các trung gian tài chính

Thứ tư, hệ thống các cơ quan tài chính phát triển lành mạnh, có uy tín Các cơ quan này đòi hỏi không chỉ có công nghệ hiện đại (máy móc thiết bị) mà còn phải có sự phát triển về bề sâu, có kinh nghiệm lâu dài về quản lý ở nhiều khía cạnh

Thứ năm, sự thanh tra giám sát của NHTW đối với các tổ chức tín dụng trong hoạt động kinh doanh nói chung và thực thi chính sách tiền tệ nói riêng phải thật chặt chẽ

Thứ sáu, chọn thời điểm bắt đầu, tốc độ và trật tự sử dụng các công cụ tự do hóa lãi suất phù hợp với bối cảnh của nền kinh tế Kinh nghiệm về tự do hóa lãi suất

ở một số nước vào những năm 80 cho thấy tự do hóa không đúng thời điểm sẽ làm tăng tính bất ổn định kinh tế vĩ mô thông qua việc làm tăng lạm phát và nợ nước ngoài, giảm sức sản xuất trong nước

Thứ bảy, tự do hóa lãi suất gắn liền với tự do hóa tỷ giá hối đoái

Trang 5

2 CHƯƠNG 2: NHỮNG BÀI HỌC TỪ THỰC TẾ

2.1 Trung Quốc và những thành công đem lại từ chính sách tự do hóa lãi suất

2.1.1 Tình hình TQ trước khi đi đến quyết định thực hiện khi tự do hoá lãi suất

Trước năm 1979, Trung Quốc thực hiện chính sách tỷ giá cố định và đa tỷ giá

Cơ chế này đã làm cho các doanh nghiệp mất đi quyền chủ động trong kinh doanh, không gắn kết lợi ích kinh tế với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, làm cho các doanh nghiệp không chú ý đến hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng tính ỷ lại vào sự bao cấp của nhà nước, chính điều này đã làm cho Trung Quốc rơi vào suy thoái , khủng hoảng kinh tế sâu sắc

Nhận ra sự yếu kém của cơ chế quản lý kinh tế theo kế hoạch, từ năm 1979 Trung Quốc đã thực hiện cải cách kinh tế, thực hiện chuyển đổi nền kinh tế Chính sách tỷ giá cũng được cải cách cho phù hợp với những chuyển đổi của nền kinh tế Củ thể:

Ngày 1/1/1994, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc công bố thống nhất tỷ giá chính thức và tỷ giá trao đổi thực tế trên thị trường của đồng NDT Tỷ giá này được thiết lập ở mức 8,7 NDT đổi 1 USD và nằm dưới chế độ thả nổi có kiểm soát của nhà nước

Từ 5,8 ND2T xuống 8,7 NDT đổi một USD, đây được coi là một trong những lần phá giá mạnh nhất với tỷ lệ lên tới 50% Nhiều người cho rằng Chính phủ Trung Quốc không chỉ đơn thuần muốn điều chỉnh để đồng NDT phản ánh đúng sức mua của nó, mà còn có một chủ ý khác Đó là thúc đẩy mạnh xuất khẩu và tạo thặng dư thương mại

Đến cuối năm 1996, NDT đã có thể được chuyển đổi hoàn toàn trên tài khoản vãng lai để phục vụ cho các mục đích liên quan đến thương mại Tỷ giá hối đoái danh nghĩa của NDT so với USD tăng ở mức chậm nhưng đều đặn lên 8,3 NDT đổi một USD vào năm 1997 Sau khủng hoảng tài chính châu Á, Chính phủ Trung Quốc đã cố định tỷ giá ở mức 8,27 NDT một USD Trong 8 năm tiếp theo (đến tháng 7/2005), tỷ giá này vẫn được duy trì nhằm tạo ra môi trường ổn định cho ngoại thương và đầu tư vào quốc gia này

Ngày 21/7/2005, Trung Quốc lại tiếp tục đưa vào một chính sách tiền tệ mới, chấm dứt việc áp dụng một tỷ giá hối đoái danh nghĩa không thay đổi trong suốt gần 10 năm Theo đó, sự chuyển đổi sang cơ chế tỷ giá mới này đã đem lại ba thay đổi quan trọng Thứ nhất, giá trị đồng NDT sẽ được tham chiếu với một rổ gồm nhiều đồng tiền khác theo quy luật cung cầu của thị trường Thứ hai, tỷ giá trao đổi chính thức xuống 8,11 NDT đổi một USD với iên độ dao động hàng ngày là 0,3% Thứ ba, cơ chế tỷ giá cố định được thay thế bằng cơ chế tỷ giá thả nổi có kiểm soát

Trang 6

Tháng 5/2007, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã điều chỉnh biên độ dao động hàng ngày của NDT lên 0,5% Những đổi mới này đã làm tăng tính linh hoạt cho tỷ giá Vào cuối năm 2008, một USD chỉ còn đổi được 6,83 NDT Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã gây nên một cơn chấn động trên toàn thế giới Trong tình hình đó, các nhà cầm quyền Trung Quốc đã giới hạn phạm vi dao động của NDT và giữ ở khoảng 6,84 NDT đổi một USD trong vòng 2 năm, đồng thời quay trở lại định giá NDT theo USD Cho đến ngày 19/6/2010, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc mới khởi động lại các cuộc cải cách nhằm vào tỷ giá đồng NDT Theo đó, tỷ giá hối đoái của NDT so với USD tiếp tục tăng Ngày 16/4/2012, biên độ dao động của NDT so với USD được nới rộng lên 1% mỗi ngày

Tuy nhiên, gần đây, vấn đề đang gây tranh cãi là trong thời gian qua là Trung Quốc luôn duy trì chính sách tỷ giá ấn định ở mức thấp nhằm làm tăng cầu hàng hóa của các quốc gia khác và chiếm được ưu thế trong hoạt động xuất khẩu Do thị phần Trung Quốc có tỷ trọng lớn trong thương mại thế giới, việc đồng NDT

bị định giá thấp hơn giá trị thực tế đã dẫn đến mất cân bằng trong cán cân thương mại trên toàn cầu

Trong ba ngày từ 11-13/8/2015, PBOC đã liên tiếp hạ giá đồng NDT, trước khi tăng trở lại vào ngày 14/8 Đây là đợt phá giá mạnh nhất từ sau khi Trung Quốc thành lập hệ thống quản lý ngoại hối hiện đại năm 1994 Giới phân tích cho rằng đợt phá giá lần này là nước cờ tương tự giai đoạn 1994-1997

Các nhà phân tích xem động thái này là một cách để Trung Quốc cùng một lúc có thể đẩy mạnh xuất khẩu, khi hàng hóa của họ rẻ hơn nước khác Đồng thời, họ muốn nâng cao quyền lực cho đồng NDT, giúp dễ dàng thực hiện các mục tiêu ngoại giao và củng cố vai trò trung tâm của mình trong nền kinh tế toàn cầu

2.1.2 Những chuyển biến tích cực trong nền kinh tế trung Quốc khi thực hiện tự do hoá lãi suất

Việc Trung Quốc bỏ trần lãi suất huy động do việc đó đem lại nhiều lợi ích cho nước này

Thứ nhất, trước đây, trần lãi suất huy động tại Trung Quốc thường ở mức bằng hoặc thấp hơn so với lạm phát, khiến lãi suất thực nhận của người gửi tiền rất thấp, thậm chí là âm, nên làm giảm mức chi tiêu hộ gia đình Trong khi đó, người vay lại được hưởng lãi suất thấp, hoặc ngân hàng được hưởng biên lợi nhuận cao Từ thực tế đó, việc bỏ trần lãi suất huy động sẽ phân phối lại thu nhập theo hướng có lợi cho các hộ gia đình

Thứ hai, trần lãi suất huy động giúp người vay tiền được vay với lãi suất thấp hơn, do đó thúc đẩy hoạt động vay nợ và sử dụng vốn một cách tràn lan Đầu tư gia tăng quá mức, đồng thời tỷ lệ nợ/GDP đã lên mức rất cao, tới 232% năm 2014 Trong khi đó, hệ thống ngân hàng của Trung Quốc thường ưu tiên cho các doanh

Trang 7

nghiệp quốc doanh vay vốn, với phần lớn lợi ích từ lãi suất cho vay thấp rơi vào các doanh nghiệp nhà nước, mà phần nhiều trong số đó hoạt động hiệu quả thấp Điều này làm gia tăng rủi ro chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng

Thứ ba, việc kiểm soát lãi suất phải đi kèm với việc hạn chế dòng vốn ra ngoài

để tìm kiếm lợi suất cao hơn Cùng với sự phát triển của thương mại, du lịch và

di dân, việc kiểm soát lãi suất ngày càng kém hiệu quả Ví dụ, một số cơ chế có thể chuyển vốn ra nước ngoài như khai tăng hóa đơn nhập khẩu hoặc khai giảm giá trị hàng xuất khẩu, rút tiền chi tiêu thẻ tín dụng tại nước ngoài… Những biện pháp này ngày càng được sử dụng rộng rãi, khiến việc kiểm soát lãi suất và kiểm soát dòng vốn ra bên ngoài trở nên kém hiệu quả hơn

Các biện pháp hạ lãi suất khác có thể áp dụng như tăng hiệu quả đầu tư, giảm thâm hụt ngân sách, hạ giá dịch vụ công và nguyên nhiên liệu thiết yếu để giảm lạm phát…

Mặc dù tự do hóa lãi suất sẽ đem lại lợi ích dài hạn cho nền kinh tế, song nó cũng có thể tạo áp lực giảm tăng trưởng và tăng sự biến động của thị trường tài chính trong ngắn hạn Đây chính là khó khăn và thách thức với cơ quan quản lý

để thực hiện cải cách mà vẫn duy trì được tăng trưởng kinh tế

2.2 Mỹ và những mặt trái của chính sách tự do hóa lãi suất

Nhờ tự do hóa tài chính, nhiều nước đang phát triển đã thu hút được lượng vốn đầu tư rất lớn và tiếp nhận nền tảng công nghệ hiện đại Tuy nhiên, dòng vốn vào tăng mạnh cũng gây khó khăn cho các cơ quan quản lý tài chính trong việc duy trì ổn định giá trị bản tệ và ngăn chặn nguy cơ đào thoát của dòng vốn đầu

tư, gây ra tình trạng thâm hụt kép triền miên và ngày càng trầm trọng,

Mỹ và tình trạng thâm hụt kép 4 năm sau khi thực hiện tự do hoá lãi suất

Kể từ đầu những năm đầu thế khỉ 21, do sự ngập tràn hàng hóa giá rẻ từ các nước đang phát triển, tác động tiêu cực đến cán cân thương mại và thị trường lao động Mỹ, chưa hết, các nước đang phát triển còn sử dụng nguồn USD thu được để mua trái phiếu chính phủ Mỹ, gây khó khăn cho việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương liên bang, đầu tiên là các nước châu Âu

và các nước xuất khẩu dầu mỏ, tiếp đến là Nhật Bản, Mexico và nhiều nước khác, đặc biệt là Trung Quốc từ sau năm 1999, khi quốc gia này chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

Hậu quả là, thâm hụt ngân sách của Mỹ đã vượt 1 nghìn tỷ USD trong bốn năm liên tiếp kể từ năm 2008; nợ nước ngoài lập kỷ lục 5.430 tỉ USD vào tháng

8, tăng 1,5% so tháng 7/2012 Trong đó, hai quốc gia chủ nợ lớn nhất là Trung Quốc và Nhật Bản với lượng trái phiếu đang nắm giữ lần lượt là 1.150 tỉ USD

và 1.120 tỉ USD

Trang 8

Thâm hụt tài chính của Mỹ còn do các biện pháp giảm thuế đầu tư và kinh doanh cũng như chi phí chiến tranh Trung Đông kể từ năm 2001, với tổng mức giảm thuế khoảng 3.400 tỉ USD Chi phí chiến tranh tăng thêm 2.100 tỉ USD,

mà đều được tài trợ bằng thâm hụt ngân sách

Việc đẩy mạnh đầu tư từ các nước phát triển sang các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển đã giúp các doanh nghiệp tăng thu lợi nhuận nhờ chi phí lương thấp, nhưng không khuyến khích đầu tư cải tiến công nghệ và nâng cao năng suất lao động Trong khi đó, làn sóng mở rộng đầu tư sang các nước chậm phát triển với môi trường pháp lý chưa hoàn thiện đã buộc các doanh nghiệp phải

“lách luật” và điều này làm phát sinh tiêu cực Xu hướng này đã từng bước làm thui chột động lực tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của chính các nước phát triển, triệt tiêu chính sách tiền tệ và tỉ giá do mỗi biện pháp nới lỏng tiền tệ tại các nước phát triển đều gây ra hiệu ứng lan chuyền tại các nước còn lại trên thế giới nhằm hỗ trợ xuất khẩu vốn rất mong manh, các nỗ lực cân bằng kinh tế và thương mại toàn cầu vì thế đều thất bại Trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng phải theo sau các doanh nghiệp và cũng phải trải qua nhiều sóng gió trong quá trình hoạt động tại các nước đang phát triển để qua mặt các nhà điều hành, một yếu tố dẫn đến sự hình thành và phát triển các hoạt động tài chính bất hợp pháp, một trong những nguyên nhân cơ bản của khủng hoảng tài chính vừa qua và cho tới nay vẫn chưa có biện pháp hiệu quả, cải cách tài chính quốc tế tiếp tục là thách thức ở phía trước

Có thể thấy rõ mặt trái này tại châu Âu hiện nay với tình trạng nợ nần, thất nghiệp ngày càng tăng, mà nguyên nhân chính bắt nguồn từ sự suy kiệt dần của năng lực cạnh tranh, các biện pháp cải cách cơ cấu theo hướng thắt chặt chi tiêu chỉ làm cho tình hình thêm trầm trọng Nhiều nước châu Âu tiếp tục trượt dốc

và tăng trưởng thụt lùi, tình trạng suy thoái có thể kéo dài cho tới năm 2020 Sau khủng hoảng kinh tế 2008, Mỹ và các nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới đã thấy rõ mặt trái của tự do hóa tài chính và đang thay đổi chính sách đầu tư theo hướng khuyến khích các doanh nghiệp Mỹ trở lại đất nước, qua đó phục hồi vai trò của nghiên cứu khoa học công nghệ, góp phần củng cố năng lực cạnh tranh và tạo việc làm với mức lương cạnh tranh so với tại các nước có nền tảng công nghệ thấp hơn Mặc dù đây là quá trình lâu dài, nhưng những kết quả ban đầu đã phát đi tín hiệu tích cực về sự phục hồi các chỉ số tăng trưởng của nền kinh tế thứ nhất thế giới này

Có thể thấy, xu hướng tự do hóa tài chính bắt đầu được các nước xem xét lại Điều này đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi chiến lược chứ không chỉ dừng lại

ở các biện pháp tái cơ cấu đơn thuần, nhất là về tài chính và đầu tư phát triển sản xuất trong bối cảnh các luồng tài chính bị kiểm soát chặt chẽ hơn, qua đó sẽ nhanh chóng tránh được những tác động tiêu cực từ bên ngoài

3 CHƯƠNG 3: VIỆT NAM VÀ CHÍNH SÁCH TỰ DO HÓA LÃI SUẤT

Trang 9

3.1 Diễn biến lãi suất qua các giai đoạn

Cùng với tiến trình mở của hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, thị trường tiền tệ cũng có sự biến động với những tác động từ thị trường quốc tế, trong

đó biểu hiện rõ nhất là những diễn biến của lãi suất qua từng giai đoạn

Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 1993

Từ ngày 26/3/1988, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã đổi mới cơ cấu tổ chức theo Nghị định 53/HĐBT, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của ngân hàng cũng như điều hành về lãi suất Theo đó, nếu trước đây hệ thống ngân hàng hoạt động độc quyền thì nay đã hình thành nên ngân hàng thương mại (NHTM) hoạt động dưới sự kiểm soát của NHNN

Theo đó, Quyết định số 25-NH/QĐ ngày 12/5/1980 của NHNN quy định lãi suất tiền gửi không kỳ hạn là 0,6%/tháng; lãi suất tiền gửi kỳ hạn 1-3 tháng là 0,9%/tháng; 2-6 tháng là 1,05%/tháng; từ 6-12 tháng là 1,2%/tháng; trên 12 tháng là 1,5%/tháng Trong giai đoạn này, chính sách lãi suất dần thể hiện được vai trò của mình trong công cuộc kiềm chế lạm phát, đồng thời đã hình thành nhiều loại lãi suất phù hợp với yêu cầu thị trường như lãi suất liên ngân hàng Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa lãi suất tiền gửi của các tổ chức kinh tế

và lãi suất tiết kiệm, lãi suất huy động cao hơn lãi suất cho vay, hơn nữa có sự phân biệt lãi suất cho vay giữa khu vực quốc doanh và ngoài quốc doanh gây ra tình trạng bất bình đẳng trong nền kinh tế

Giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2000

Năm 1996, theo nghị quyết của Quốc hội, NHNN bãi bỏ chính sách thu thuế doanh thu của các hoạt động tín dụng nhằm giảm chi phí cho vay, song lãi suất cho vay vẫn tăng đột biến trên 20%/năm Lãi suất cho vay duy trì có sự khác nhau giữa nông thôn và thành thị, trong khi tại khu vực nông thôn, NHNN duy trì lãi suất cao hơn để kích thích nguồn vốn vay về khu vực này

Quyết định số 39/1998/QĐ/NHNN ban hành nhằm xóa bỏ cách biệt giữa lãi suất cho vay ở cả hai khu vực, đồng thời thu hẹp lãi suất trần và bãi bỏ chênh lệch 0,35%/tháng nhưng trên thực tế càng đưa khu vực nông thôn vào tình cảnh thiếu vốn, không đảm bảo an toàn tín dụng ở nông thôn, vì không áp dụng chính sách ưu đãi về lãi suất Từ sau năm 1997, các NHTM đã giảm lãi suất cho vay như gia hạn các khoản nợ từ 1-3 năm cho DN lên đến 5 năm, cho các tập đoàn nhà nước vay không thế chấp đẩy lãi suất cho vay từ 20,1%/năm trong năm

1996 giảm còn 14,4%/năm duy trì trong 2 năm 1997-1998

Lãi suất tín dụng tăng trong thời gian này đến trực tiếp từ việc vay mượn bởi các DNNN nhằm tái cấu trúc hệ thống tài chính của mình được vững vàng hơn

để vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế Trong năm 1999, việc mở rộng chính

Trang 10

sách tín dụng không làm kích thích tăng trưởng kinh tế, lãi suất huy động vốn

và lãi suất tín dụng đã giảm lần lượt 2%/năm so với những năm trước

Tuy nhiên, năm 2000 đánh dấu bước phát triển mới trong cơ chế điều hành lãi suất Theo đó, NHNN đã chấp nhận thay đổi lãi suất cho vay không được vượt qua lãi suất cơ bản cộng thêm 0,3% mỗi tháng cho vay ngắn hạn và 0,5% mỗi tháng cho vay trung và dài hạn Về cơ bản, quyết định này không khác mấy so với quyết định áp trần lãi suất như trước kia nhưng các NHTM có thể chủ động hơn trong việc đưa ra lãi suất cho vay tương ứng với từng đối tượng khách hàng mà họ hướng tới

Giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2008

Từ năm 2001 - 2008, có sự tăng lên nhịp nhàng giữa lãi suất huy động và cho vay tăng giảm nhịp nhàng Chính sách bỏ trần sàn lãi suất, áp dụng lãi suất cơ bản làm

cơ sở tham chiếu, nên các ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng (TCTD) đua nhau thiết lập lãi suất của mình Trong 7 năm, mức lãi suất tăng lên lần lượt là 97% đối với lãi suất huy động vốn và 67% đối với lãi suất cho vay

Mức tăng kỷ lục này báo động một khoảng hở trong quản lý và điều hành lãi suất của NHNN, đẩy lãi suất tăng cao trên thị trường Tuy nhiên, việc thiết lập lãi suất của các NHTM lại làm cho bài toán quản lý trở nên khó hơn trong vấn

đề tự do hóa lãi suất Năm 2008 là năm Việt Nam bị tác động gián tiếp bởi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu buộc NHNN phải “bơm” gói kích cầu 30.000 tỷ đồng để kích thích thị trường tiêu dùng Cùng với việc tăng lãi suất 3 lần (đỉnh điểm của mức lãi suất huy động là 14% vào tháng 6/2008, cao nhất tại châu Á), NHNN cũng thực hiện giảm giá VND xuống 2% để giải tỏa áp lực của đồng tiền trong nước (NHNN, 2010) Việc thắt chặt chính sách tiền tệ cũng là giải pháp để giải cứu thị trường trước đà tăng của lạm phát, dù chưa đủ tạo áp lực giảm nhiệt của lãi suất cho vay

Cụ thể, Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam do NHNN ban hành nhằm điều hành lãi suất cho vay của các TCTD không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản Diễn biến của thị trường lãi suất năm 2008 đã đi ngược với mong đợi của NHNN, lãi suất không phản ánh đúng quan hệ cung-cầu, bất cập về trần lãi suất cũng đẩy các TCTD bước vào thời kỳ mất cân đối trong cầu vốn vay tín dụng trung dài hạn rất lớn, gia tăng rủi ro trong kỳ hạn vốn

Giai đoạn từ năm 2009 đến nay

NHNN ban hành Thông tư 07/2010/TT-NHNN quy định về cho vay bằng đồng Việt Nam thu lãi suất thỏa thuận nhằm giải quyết vấn đề về lãi suất, cho phép ngân hàng được phép áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận với các khách hàng trung

và dài hạn vay phục vụ cho mục đích kinh doanh, mở rộng sản xuất Tình

Ngày đăng: 10/07/2020, 07:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w