Chính sách lãi suất, nếu tạo ra được mức lãisuất cho vay thấp hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân sẽ có tác dụng thúc đẩy kíchthích các doanh nghiệp tăng nhu cầu đầu tư, mở rộng sản xuất, đổ
Trang 11 Khái niệm chung về lãi suất:
Có nhiều quan điểm khác nhau về lãi suất vốn vay, dưới đây là một số quanđiểm hay sử dụng:
Theo K Marx: Lãi suất là một phần giá trị thặng dư mà nhà tư bản sản xuấtphải trả cho nhà tư bản tiền tệ vì đã sử dụng vốn trong một thời gian nhất định Theo quan điểm của các nhà kinh tế học lượng cầu về tài sản: Các nhà kinh tếhọc về lượng cầu về tài sản chia thế giới tài sản thành hai phần Phần thứ nhất làtiền mặt, phần thứ hai là những tài sản không phải tiền măt như trái phiếu, cổphiếu và các hình thức đầu tư tài sản khác… Theo quan điểm này lãi suất là chiphí cơ hội cho việc nắm giữ tài sản tài chính tiền mặt, phiếu, hệ vay mượn hoặccho thuê các dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ cổ phiếu hay các hình thức tàisản khác
Theo quan điểm của ngân hàng thế giới (WB): lãi suất là tỷ lệ phần trăm của tỷ
lệ tiền lãi so với tiền vốn
Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về lãi suất nhưng theo nghĩa chung nhất lãisuất là giá cả của tín dụng – giá cả của quan hệ vay mượn hoặc cho thuê nhữngdịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc các dạng thức tài sản khác nhau Khiđến hạn, người ta sẽ phải trả cho người cho vay một khoản tiền dôi ra ngoài số tiềnvốn gọi là tiền lãi Tỷ lệ phần trăm của số tiền lãi trên số tiền vốn gọi là lãi suất
2 Vai trò của lãi suất:
Trong nền kinh tế thị trường, lãi suất giữ vị trí khá quan trọng, nó được thể hiệnnhư sau:
Lãi suất là đòn bẩy, kích thích sự tăng trưởng kinh tế, góp phần thực hiện mụctiêu của chính sách tiền tệ quốc gia Chính sách lãi suất, nếu tạo ra được mức lãisuất cho vay thấp hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân sẽ có tác dụng thúc đẩy kíchthích các doanh nghiệp tăng nhu cầu đầu tư, mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị,trang bị công nghệ sản xuất hiện đại bằng nguồn vốn vay ngân hàng Hiệu quảcuối cùng sẽ tạo ra một nguồn vốn của cải cho xã hội, tổng thu nhập quốc dân tănglên rất nhiều
Lãi suất là công cụ thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại, lãisuất là giá cả của vốn, do vậy thông qua lãi suất các ngân hàng thương mại sẽ tự
Trang 2điều chỉnh hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng của mình mà kếtquả cuối cùng là nền kinh tế, các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư được lợi hơn
vì sẽ được hưởng giá rẻ và chất lượng dịch vụ cao
Lãi suất là công cụ dùng để điều chỉnh các hoạt động đầu tư trong nền kinh tế,hay nói cách khác, khi các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư có vốn, muốn đầu tưvào lĩnh vực nào cũng phải lấy lãi suất tín dụng trong nền kinh tế làm cơ sở vàquyết định, ít nhất hiệu quả đầu tư vào các lĩnh vực khác để sinh lời phải có tỷ lệlớn hơn hoặc cùng lắm phải bằng lãi suất tín dụng
Lãi suất còn là công cụ để kềm chế lạm phát rất hữu hiệu thông qua chính sáchtiền tệ của ngân hàng trung ương Trong trường hợp nền kinh tế có lạm phát, ngânhàng trung ương sẽ sử dụng chính sách thắt chặt tiền tệ, tăng lãi suất để thu húttiền nhàn rỗi trong lưu thông về, nhằm điều hòa lượng tiền trong lưu thông, cânđối với khối lượng hàng hóa
Vậy với mức lãi suất cho vay hợp lý, sẽ kích thích các nhà đầu tư vay vốn mởrộng và phát triển sản xuất kinh doanh cho xã hội, tăng thu nhập quốc dân,
Hạn chế thất nghiệp tăng mức sống của người đó tạo điều kiện cho nền kinh tếphát triển Và khi nền kinh tế phát triển, thu nhập quốc dân tăng, sẽ tác động trở lạikích thích đầu tư phát triển
Chính vì những điều như vậy mà ở các nước kinh tế thị trương phát triển vàtheo đuổi chính sách tự do hóa tài chính (financial liberalization), lãi suất đượchình thành trên cơ sở thị trường, tức là giữa cung và cầu về vốn trên thị trươngquyết định
3 Phân loại lãi suất:
3.1 Phân loại theo nguồn sử dụng:
- Lãi suất huy động: là loại lãi suất quy định tỉ lệ lãi phải trả cho các hình thứcnhận tiền gửi của khách hàng
- Lãi suất cho vay: là loại lãi suất quy định tỷ lệ lãi mà người đi vay phải trả chongười cho vay Về mặt lý thuyết, các mức lãi suất cho vay khác nhau được căn cứvào tỷ suất lợi nhuận bình quân của đối tượng đầu tư và thời hạn cho vay Tuynhiên với ý nghĩa là một công cụ điều tiêt vĩ mô nền kinh tế, điều đó không phải
Trang 3Thông thường, lãi suất cho vay và lãi suất huy động có mối quan hệ được xácđịnh như sau:
3.2 Phân loại theo giá trị thực:
- Lãi suất danh nghĩa: là loại lãi suất được xác định cho mỗi kỳ hạn gửi hoặcvay, thể hiện trên quy ước giấy tờ được thoả thuận trước
- Lãi suất thực: là loại lãi suất xác định giá trị thực của các khoản lãi được trảhoặc thu được
Với in: lãi suất danh nghĩaIr: lãi suất thực tế
dự đoán được tương lai có lạm phát và trong suốt thời gian đó lãi suất cho vaykhông đổi hoặc có tăng nhưng tốc độ tăng không bằng lạm phát tăng thì họ có thểyên tâm vay để kinh doanh mà không sợ lỗ vì trượt giá khi trả nợ
3.3 Phân loại theo phương pháp tính lãi:
- Lãi suất đơn: là tỷ lệ theo năm, tháng, ngày của số tiền lãi so với số tiền vayban đầu không gộp lãi vào tiền vay ban đầu để tính lãi thời hạn kế tiếp
- Lãi suất ghép: là tỷ lệ theo năm, tháng, ngày của số tiền lãi so với số tiền vay,
số tiền vay này tăng lên do có gộp lãi qua từng thời kỳ cho vay (lãi mẹ đẻ lãi con)
3.4 Phân loại theo loại tiền:
- Lãi suất nội tệ: là loại lãi suất áp dụng để tính toán cho đồng nội tệ (kể cả lãisuất huy động và lãi suất cho vay)
- Lãi suất ngoại tệ: là lãi suất áp dụng để tính toán cho đồng ngoại tệ
Trang 43.5 Phân loại theo độ dài thời gian:
- Lãi suất ngắn hạn: là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và khoản vayngắn hạn, có thời hạn dưới 1 năm
- Lãi suất trung hạn: là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và khoảnvay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm
- Lãi suất dài hạn: là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và khoản chovay có thời hạn trên 5 năm
4 Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất:
4.1 Cung cầu các quỹ cho vay:
Lãi suất là giá cả của tín dụng, do vậy, bất kì sự thay đổi nào của cung cầu quĩcho vay không cùng một tỷ lệ đều sẽ làm thay đổi lãi suất trên thị trường
Tuy nhiên, mức độ biến động của lãi suất ít nhiều còn phụ thuộc vào các quyếtđịnh của chính phủ và NHTW Điều đó cho thấy, chúng ta có thể tác động vàocung hay cầu vốn để thay đổi lãi suất trong nền kinh tế cho phù hợp với mục tiêuchiến lược từng thời kì
4.2 Lạm phát kì vọng:
Khi lạm phát tăng, dù ở từng mức lãi suất riêng lẻ hay ở tất cả mọi lãi suất, yếu
tố kích thích làm tăng cung quỹ cho vay gần như triệt tiêu bởi giá trị thực tế củavốn gốc và tiền lời thu được đã bị hao mòn do tác động của lạm phát TheoFriedman, ông cho rằng trong mọi trường hợp tỷ lệ lạm phát của một nước là cực
kỳ cao trong bất cứ thời kỳ kéo dài nào, thì tỷ lệ tăng trưởng của cung ứng tiền tệ
Trang 54.3 Bội chi ngân sách:
Bội chi ngân sách của NHTW sẽ trực tiếp làm cho cầu của quĩ cho vay tăng làmtăng lãi suất
Bội chi ngân sách cũng tác động đến tâm lý dân chúng về mức gia tăng lạmphát gây ra áp lực làm tăng lạm phát
Về phía Chính phủ, khi bội chi NSNN thì Chính phủ thường gia tăng phát hànhtrái phiếy làm cung trái phiếu trên thị trường tăng, giá trị trái phiếu có xu hướnggiảm xuống Chính điều này đã làm cho lãi suất trên thị trường tăng lên
Về phía các NHTM, tài sản có của họ tăng ở mục trái phiếu Chính phủ, dự trữvượt quá của họ bị giảm Do đó, lãi suất ngân hàng tăng lên
4.4 Những thay đổi về thuế:
Thuế thu nhập cá nhân và thuế lợi tức công ty luôn tác động đến lãi suất giốngnhư khi thuế tác động đến giá cả hàng hóa
Đối với các doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanhnghiệp luôn tác động đến lợi nhuận của họ Cho nên nếu các hình thức thuế nàytăng lên cũng có nghĩa là nó sẽ điều tiết bớt một phần thu nhập của cá nhân doanhnghiệp làm nhiệm vụ kinh doanh tiền tệ, kinh doanh chứng khoán tức là cácNHTM và các công ty Chứng khoán
Thông thường, ai cũng quan tâm đến thu nhập thực tế hơn thu nhập danh nghĩathì đương nhiên các tổ chức kinh doanh chứng khóan phải cộng thêm vào lãi suấtcho vay những sự thay đổi về thuế làm lãi suất tăng lên
4.5 Những thay đổi trong đời sống xã hội:
Ngoài những yếu tố kể trên, sự thay đổi của lãi suất còn chịu tác động củanhững sự thay đổi trong đời sống xã hội Ví dụ như sự phát triển của thị trường tàichính với các công cụ tài chính đa dạng
Thêm nữa, tình hình về kinh tế, chính trị của cũng như những biến động tàichính quốc tế như các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trên thế giới, các luồngvốn đầu tư ra vào đối các nước đều ít nhiều tác động đến sự thay đổi lãi suất củacác nước khác
Tất cả các vấn đề này đều gợi ý cho tất cả những nghiên cứu, soạn thảo và điềuhành về chính sách lãi suất phải có sự nhìn nhận và đánh giá một cách tổng thểtrước khi đưa ra bất kì kết luận hoặc quyết định nào đến lãi suất
Trang 7Phần 2: Tự do hóa lãi suất trong nền kinh tế
1 Khái niệm tự do hoá lãi suất:
Tự do hoá lãi suất là một phần quan trọng của tự do hoá tài chính, tự do hoálãi suất là cơ chế điều hành lãi suất hoàn toàn để cho cung cầu về vốn trên thịtrường xác định lãi suất cân bằng, ngân hàng trung ương chỉ can thiệp gián tiếpbằng các công cụ điều chỉnh xu hướng mà thôi
5 Bản chất và điều kiện tự do hoá lãi suất:
Bản chất của tự do hoá lãi suất là việc trao cho thị trường vốn toàn bộ việcxác định lãi suất cân bằng Ngân hàng trung ương chỉ sử dụng các công cụ canthiệp một cách gián tiếp để điều chỉnh phù hợp chiến lược và mục tiêu đặt ra trongtừng thời kì
Điều kiện tự do hoá lãi suất:
Tự do hoá lãi suất là mục tiêu của chính sách tiền tệ, song với các quốc giađang phát triển việc ngay lập tức từ thái cực này - kiềm chế sang thái cực khác - tự
do là một việc làm không khả thi Tự do hoá lãi suất cần có một trình tự bước đihợp lý , nếu không sẽ gây ra những đổ vỡ to lớn cho nền kinh tế
Những cơ sở lý lụân và thực tiễn của các nước đã và đang thực hiện tự dohoá lãi suất theo cơ chế thị trường chính minh rằng: tuy mức độ, lộ trình, thời gian,biện pháp tiến hành ở mỗi nước khác nhau; thậm chí có nội dung tiến hành tráingược nhau Song những điều kiện cần thiết, chủ yếu, có tính nguyên tắc đều đượctính toán, tôn trọng khi tiến hành tự do hoá lãi suất là:
• Môi trường kinh tế vĩ mô tương đối ổn định: về nhịp độ tăng trưởng, pháttriển kinh tế, giá cả, lạm phát… Bởi nếu, môi trường vĩ mô không ổn định do tácđộng nào đó sẽ ảnh hưởng tới tiến trình tự do hoá lãi suất Đồng thời, các luậtpháp, chính sách, nhất là các cơ chế chính sách có liên quan, tác động trực tiếp đếnlãi suất, tỷ giá… phải thích ứng, đảm bảo việc điều hành linh hoạt, nhanh, kịp thờikhi có tác động bất lợi đến lãi suất
• Hệ thống tài chính đủ mạnh thể hiện ở năng lực tài chính, khả năng thanhtoán đảm bảo hoạt động có hiệu quả, an toàn, lành mạnh, có thể chủ động đối phóvới diễn biến xấu có thể xảy ra khi thực hiện tự do hoá lãi suất, dù với bất luận lànguyên nhân chủ quan, khách quan do bên trong nước hay bên ngoài nước gây ra
Trang 8• Hoạt động sản suất kinh doanh của các doanh nghiệp, cá nhân đảm bảo cóhiệu quả; khả năng tài chính đáp ứng đến mức cần thiết cho các nhu cầu thanhtoán, có thể đối phó, xử lý được khi có tác động bất lợi do lãi suất gây ra đượchình thành tương đối phong phú, đa dạng; vận động một cách minh bạch và cạnhtranh đã trở thành bình thường, không có gì xa lạ với các nhà kinh doanh trongthương trường.
• Vai trò và khả năng điều hành, giám sát, tác động vào mục tiêu chính sáchtiền tệ quốc gia ở mức có thể can thiệp kịp thời, nhanh hiệu quả khi có biến độngbất lợi liên quan đến tự do hoá lãi suất
• Hệ thống môi trường luật pháp ổn định, đồng bộ, đầy đủ, minh bạch, phùhợp thông lệ quốc tế Hệ thống pháp luật phải tạo ra được cơ chế giám sát tàichính đối với nền kinh tế, đảm bảo công bằng, bình đẳng giữa các ngân hàngthương mại quốc doanh và các ngân hàng thương mại cổ phần cũng như các chinhánh ngân hàng thương mại nước ngoài hay liên doanh
• Xây dưng và phát triển thị trường vốn và thị trường chứng khoán thôngsuốt trong nước và hoà nhập với thị trường tài chính quốc tế, nó trở thành mộtkênh huy động và điều tiết vốn trung dài hạn hữu hiệu
• Phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm toán các doanh nghiệp tốt đểđảm bảo tính toàn diện, sâu rộng, độ tin cậy của các báo cáo tài chính phải mangtính pháp lệnh và hiệu lực
6 Tác động của tự do hoá lãi suất đến nền kinh tế:
Tự do hoá lãi suất có ý nghĩa vô cùng quan trọng: thứ nhất, trả về cho lãisuất đúng vai trò đòn bẩy kích thích nền kinh tế của nó; thứ hai, thông qua tự dohóa lãi suất khơi thông dòng vốn và huy động tối đa nguồn vốn xã hội; thứ ba, tự
do hoá lãi suất tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại chủ động hơn trongkinh doanh và bình đẳng hơn trong cạnh tranh, phù hợp với hệ thông lệ quốc tế
Tự do hoá lãi suất nói riêng và tự do hoá lãi suất tài chính nói chung hết sức
có ý nghĩa với các quốc gia trong gia đoạn phát triển và hội nhập vào nền kinh tếthế giới vì những tác dụng to lớn của nó đối với nền kinh tế trên phương diện vĩ
mô lẫn vi mô
Trang 96.1 Trên phương diện vĩ mô của nền kinh tế:
Việt Nam chúng ta vừa qua đã hết sức thành công trong việc hội nhập trởlại với nền kinh tế thế giới và khu vực sau rất nhiều năm gián đoạn Bằng chứng làchúng ta nối lại mối quan hệ với IMF, WB, ADB, chúng là thành viên của ASEAN
từ 1997, gia nhập AFTA, gia nhập WTO, ký kết BTA rõ ràng là bước đầu hoànhập chúng ta đã thành công to lớn, kế tiếp chúng ta chuyển đổi một số hoạt độngcho phù hợp thông lệ quốc tế trong đó có tài chính ngân hàng Chính vì vậy, tự dohoá lãi suất cũng như tự do hoá tài chính có tác dụng to lớn trong việc chuyển đổi
cơ chế điều hành lãi suất, hệ thống kế toán, tạo hành lang pháp lý cho phù hợpthông lệ quốc tế
Ngân hàng nhà nước thông qua tự do hoá lãi suất chuyển dần sang thựchiện các công cụ gián tiếp điều hành chính sách lãi suất, giảm sự can thiệp và điềuhành bằng các công cụ hành chánh trực tiếp Thông qua việc trả lãi suất về đúngvai trò của nó có tác dụng như đòn bẩy kích thích sự tăng trưởng kinh tế
Thông qua tự do hoá lãi suất, khơi thông dòng vốn và huy động tối đanguồn vốn xã hội, thúc đẩy chu chuyển vốn trong nền kinh tế, giữa các khu vực,các vùng, miền và các đối tượng Vốn được luân chuyển từ nơi thừa sang nơithiếu, từ nơi có lãi suất thấp nơi có lãi suất cao, từ đó hình thành lãi suất bình quânhợp lý trong nền kinh tế theo tín hiệu thị trường
6.2 Trên phương diện vi mô
Tự do hóa nghiệp Các tầng lớp dân cư xã hội được hưởng sản phẩm dịch
vụ tài chính, ngân hàng chất lượng hơn, giá cả hợp lý hơn
Tự do hóa tài chính đi kèm tự do hoá lãi suất tạo ra sự bình đẳng giữa cácngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng trong nước với các ngân hàng thươngmại nước ngoài, tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các tổ chức này Giúp cácngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng trong nước có điều kiện phát triển, đadạng hoá nghiệp vụ, tăng tính chuyên nghiệp, tiếp cận công nghệ tiến tiến hơn
Tự do hoá lãi suất giúp cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
dễ dàng tiếp cận nguồn vốn phù hợp với tình hình kinh doanh và tài chính củamình hơn, có điều kiện phát triển và mở rộng sản xuất hơn
Trang 10Các tầng lớp dân cư cũng chủ động hơn trong việc lựa chọn cho mình mộtngân hàng thương mại tốt nhất để phục vụ mình trong việc gửi tiền xin vay, chấtlượng tốt hơn, dịch vụ đa dạng và tốt hơn, giá cả cạnh tranh hơn
Trang 11Phần 3: Tự do hóa lãi suất ở Việt Nam
1 Diễn biến tự do hóa lãi suất ở Việt Nam từ trước đến nay:
6.3 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 1993:
Từ ngày 26/3/1988, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã đổi mới cơ cấu tổchức theo Nghị định 53/HĐBT, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sửphát triển của ngân hàng cũng như điều hành về lãi suất Theo đó, nếu trước đây
hệ thống ngân hàng hoạt động độc quyền thì nay đã hình thành nên ngân hàngthương mại (NHTM) hoạt động dưới sự kiểm soát của NHNN
Theo đó, Quyết định số 25-NH/QĐ ngày 12/5/1980 của NHNN quy định lãisuất tiền gửi không kỳ hạn là 0,6%/tháng; lãi suất tiền gửi kỳ hạn 1-3 tháng là0,9%/tháng; 2-6 tháng là 1,05%/tháng; từ 6-12 tháng là 1,2%/tháng; trên 12 tháng
là 1,5%/tháng Trong giai đoạn này, chính sách lãi suất dần thể hiện được vai tròcủa mình trong công cuộc kiềm chế lạm phát, đồng thời đã hình thành nhiều loạilãi suất phù hợp với yêu cầu thị trường như lãi suất liên ngân hàng Tuy nhiên, có
sự khác biệt giữa lãi suất tiền gửi của các tổ chức kinh tế và lãi suất tiết kiệm, lãisuất huy động cao hơn lãi suất cho vay, hơn nữa có sự phân biệt lãi suất cho vaygiữa khu vực quốc doanh và ngoài quốc doanh gây ra tình trạng bất bình đẳngtrong nền kinh tế
6.4 Giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2000:
Năm 1996, theo nghị quyết của Quốc hội, NHNN bãi bỏ chính sách thuthuế doanh thu của các hoạt động tín dụng nhằm giảm chi phí cho vay, song lãisuất cho vay vẫn tăng đột biến trên 20%/năm Lãi suất cho vay duy trì có sự khácnhau giữa nông thôn và thành thị, trong khi tại khu vực nông thôn, NHNN duy trìlãi suất cao hơn để kích thích nguồn vốn vay về khu vực này
Quyết định số 39/1998/QĐ/NHNN ban hành nhằm xóa bỏ cách biệt giữa lãisuất cho vay ở cả hai khu vực, đồng thời thu hẹp lãi suất trần và bãi bỏ chêch lệch0,35%/tháng nhưng trên thực tế càng đưa khu vực nông thôn vào tình cảnh thiếuvốn, không đảm bảo an toàn tín dụng ở nông thôn, vì không áp dụng chính sách ưuđãi về lãi suất Từ sau năm 1997, các NHTM đã giảm lãi suất cho vay như gia hạncác khoản nợ từ 1-3 năm cho DN lên đến 5 năm, cho các tập đoàn nhà nước vay
Trang 12không thế chấp đẩy lãi suất cho vay từ 20,1%/năm trong năm 1996 giảm còn14,4%/năm duy trì trong 2 năm 1997-1998.
Lãi suất tín dụng tăng trong thời gian này đến trực tiếp từ việc vay mượnbởi các DNNN nhằm tái cấu trúc hệ thống tài chính của mình được vững vàng hơn
để vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế Trong năm 1999, việc mở rộng chính sáchtín dụng không làm kích thích tăng trưởng kinh tế, lãi suất huy động vốn và lãisuất tín dụng đã giảm lần lượt 2%/năm so với những năm trước
Tuy nhiên, năm 2000 đánh dấu bước phát triển mới trong cơ chế điều hànhlãi suất Theo đó, NHNN đã chấp nhận thay đổi lãi suất cho vay không được vượtqua lãi suất cơ bản cộng thêm 0,3% mỗi tháng cho vay ngắn hạn và 0,5% mỗitháng cho vay trung và dài hạn Về cơ bản, quyết định này không khác mấy so vớiquyết định áp trần lãi suất như trước kia nhưng các NHTM có thể chủ động hơntrong việc đưa ra lãi suất cho vay tương ứng với từng đối tượng khách hàng mà họhướng tới
6.5 Giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2008:
Từ năm 2001 - 2008, có sự tăng lên nhịp nhàng giữa lãi suất huy động vàcho vay tăng giảm nhịp nhàng Chính sách bỏ trần sàn lãi suất, áp dụng lãi suất cơbản làm cơ sở tham chiếu, nên các ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng(TCTD) đua nhau thiết lập lãi suất của mình Trong 7 năm, mức lãi suất tăng lênlần lượt là 97% đối với lãi suất huy động vốn và 67% đối với lãi suất cho vay
Mức tăng kỷ lục này báo động một khoảng hở trong quản lý và điều hànhlãi suất của NHNN, đẩy lãi suất tăng cao trên thị trường Tuy nhiên, việc thiết lậplãi suất của các NHTM lại làm cho bài toán quản lý trở nên khó hơn trong vấn đề
tự do hóa lãi suất Năm 2008 là năm Việt Nam bị tác động gián tiếp bởi cuộckhủng hoảng kinh tế toàn cầu buộc NHNN phải “bơm” gói kích cầu 30.000 tỷđồng để kích thích thị trường tiêu dùng Cùng với việc tăng lãi suất 3 lần (đỉnhđiểm của mức lãi suất huy động là 14% vào tháng 6/2008, cao nhất tại châu Á),NHNN cũng thực hiện giảm giá VND xuống 2% để giải tỏa áp lực của đồng tiềntrong nước (NHNN, 2010) Việc thắt chặt chính sách tiền tệ cũng là giải pháp để
Trang 13Cụ thể, Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN về cơ chế điều hành lãi suất cơbản bằng đồng Việt Nam do NHNN ban hành nhằm điều hành lãi suất cho vay củacác TCTD không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản Diễn biến của thị trường lãisuất năm 2008 đã đi ngược với mong đợi của NHNN, lãi suất không phản ánhđúng quan hệ cung-cầu, bất cập về trần lãi suất cũng đẩy các TCTD bước vào thời
kỳ mất cân đối trong cầu vốn vay tín dụng trung dài hạn rất lớn, gia tăng rủi rotrong kỳ hạn vốn
6.6 Giai đoạn từ năm 2009 đến nay:
NHNN ban hành Thông tư 07/2010/TT-NHNN quy định về cho vay bằngđồng Việt Nam thu lãi suất thỏa thuận nhằm giải quyết vấn đề về lãi suất, cho phépngân hàng được phép áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận với các khách hàng trung
và dài hạn vay phục vụ cho mục đích kinh doanh, mở rộng sản xuất Tình hình lãisuất năm 2011 không mấy khả quan, khi chịu ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảngkinh tế cũng là một trong những lý do đẩy mức lãi suất huy động và cho vay tăngcao, trong khi lãi suất thực trên thị trường phải duy trì ở ngưỡng âm 3,55%
Trong khi NHNN đã quy định mức trần lãi suất huy động là 14%/nămnhưng các NHTM vẫn lách luật và huy động trượt lãi suất 2%-5% nữa để thu hútkhách hàng Ngày 21/12/2012, NHNN ban hành Quyết định số 2646/QĐ-NHNN
về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanhtoán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bùtrừ của NHNN đối với các ngân hàng nhằm giảm lãi suất tái cấp vốn từ 10%/nămxuống còn 9%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 8%/năm xuống còn 7%/năm, lãi suấtcho vay qua đêm giữa các liên ngân hàng giảm từ 11% còn 10% năm Như vậy,với chính sách thắt chặt tiền tệ, đến nay lãi suất có xu hướng giảm trên thịtrường…
Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự sửa đổi được ban hành năm 2015 đã quy địnhtrần lãi suất không vượt quá 20%/năm đối với các khoản vay tín dụng, được ápdụng vào ngày 1/1/2017 Tuy nhiên, việc áp trần lãi suất không phải là giải pháptối ưu như đã phân tích, nhưng bộ luật này cũng đã “mở đường” cho các TCTD đó
là được phép thỏa thuận lãi suất theo cơ chế thị trường với điều khoản “trừ trườnghợp luật khác có liên quan quy định khác” (NHNN, 2015)