-Thu nhập hoạt động hoạt động của NHTM bao gồm: thu nhập từ hoạt động tín dụng, thu từ dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, thu từ hoạt động khác -Chi phí hoạt động của NHTM bao gồm: chi phí
Trang 1THẠNH HOÀNG ĐĂNG KHOA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2003
Trang 2MỤC LỤC
1.CHƯƠNG 01: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI, LÃI SUẤT, TỰ DO HÓA LÃI SUẤT VÀ RỦI RO LÃI
SUẤT TRONG NỀN KINH TẾ
01 1.1.Hoạt động kinh doanh của NHTM trong nền kinh tế thị trường 01
1.1.1.Bản chất của NHTM 01
1.1.2.Các nghiệp vụ của NHTM 01
1.1.3.Kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM 06
1.2.Lãi suất trong nền kinh tế thị trường 06
1.2.1.Lãi suất được biểu hiện dưới dạng số tuyệt đối- lợi tức tín dụng 06
1.2.2.Bản chất lãi suất 06
1.2.3.Sự biến động lãi suất trong nền kinh tế 07
1.2.4.Những nhân tố tác động đến lãi suất trong nền kinh tế 08
1.2.5.Vai trò lãi suất trong nền kinh tế 10
1.3.1.Khái niệm rủi ro lãi suất 12
1.3.2.Phương pháp đánh giá rủi ro lãi suất 12
1.4.Vấn đề tự do hóa lãi suất 23
1.4.1.Khái niệm tự do hóa lãi suất 23
1.4.2.Bản chất và điều kiện tự do hóa lãi suất 23
1.4.3.Tác dụng của tự do hóa lãi suất 24
2.CHƯƠNG 02: CƠ CHẾ QUẢN LÝ LÃI SUẤT TRONG THỜI GIAN
QUA CỦA NHNN VIỆT NAM VÀ QUÁ TRÌNH TỰ DO HÓA LÃI
2.1.Cơ chế quản lý lãi suất trước thời kỳ đổi mới (1988 trở về trước) 27
2.2.Cơ chế quản lý lãi suất sau thời kỳ đổi mới (1988-2000) 31
2.3.2.Giai đoạn từ 06.2002 đến nay 49
3.CHƯƠNG 03: TỰ DO HÓA LÃI SUẤT VÀ NHỮNG BIỆN PHÁP
HẠN CHẾ RỦI RO LÃI SUẤT TRONG HỌAT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA NHTM
53 3.1.Những giải pháp tự do hóa lãi suất trong tiến trình tự do hóa tài chính
Trang 33.2.Một số biện pháp nghiệp vụ nhằm hạn chế rủi ro lãi suất trong hoạt
động kinh doanh của NHTM 58 3.2.1.Bảo hiểm rủi ro bằng hợp đồng kỳ hạn 58 3.2.2.Bảo hiểm rủi ro bằng hợp đồng tương lai 61 3.2.3.Bảo hiểm rủi ro bằng hợp đồng quyền chọn 65 3.2.4.Bảo hiểm rủi ro bằng hợp đồng hoán đổi 69
Tài liệu tham khảo
Phần phụ lục
1.CHƯƠNG 01:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, LÃI SUẤT,
TỰ DO HOÁ LÃI SUẤT VÀ RỦI RO LÃI SUẤT TRONG NỀN KINH TẾ
1.1.Hoạt động kinh doanh của NHTM trong nền kinh tế thị trường
1.1.1 Bản chất của NHTM:
-Thực chất, NHTM là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ NHTM thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội rồi cho vay đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đang cần vốn Đó là hoạt động kinh doanh đặc biệt- kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ Xét về bản chất của doanh nghiệp đặc thù này, thì phải xét trên hai khía cạnh:
1.Khía cạnh kinh tế : thông qua nghiệp vụ nợ, NHTM “vay” “quyền sử dụng tiền tệ” từ công chúng và các thành phần kinh tế trong một thời gian nhất định; rồi thông qua nghiệp có, NHTM lại đi “cho vay” lại chính “quyền sử dụng tiền tệ” này trong một thời gian nhất định đối với các khu vực cần vốn Quan hệ kinh doanh giữa NHTM và các đối tác của nó dựa trên lòng tin; NHTM vay vốn trong
xã hội và luôn mong muốn người đi vay sử dụng vốn đúng mục đích, trả vốn đúng thời hạn cam kết để NHTM hoàn trả vốn cho người ký thác; ngược lại khách hàng vay vốn cũng luôn mong làm ăn có hiệu quả để có tiền trả nợ ngân hàng, vừa có tích lũy để tồn tại và phát triển
2.Khía cạnh xã hội: qua hoạt động kinh của mình, NHTM thiết lập nên mối quan
hệ giữa NHTM và các đối tượng khác trong xã hội Những quan hệ này gắn chặt với từng phương thức sản xuất xã hội Do vậy về mặt xã hội, hoạt động NHTM phục vụ cho mục đích của Nhà nước và Đảng cầm quyền
Trang 43.Nguồn vốn vay :
1.1.2.1.a.Nguồn vốn pháp định :
Vốn điều lệ, hay vốn pháp định hoặc vốn tự có của NHTM phải lớn hơn mức tối thiểu quy định cho hoạt động kinh doanh ngân hàng bởi chính phủ nước sở tại Qua thời gian hoạt động, vốn điều lệ được bổ sung và tăng dần dưới nhiều hình thức khác nhau Vốn pháp định của NHTM hình thành do tính chất sở hữu của NHTM quy định: NHTM quốc doanh,100% vốn điều lệ do Nhà Nước cấp;
NHTM cổ phần, vốn pháp định hình thành từ sự đóng góp của cổ đông; NHTM liên doanh, là vốn đóng góp cổ phần của các bên tham gia liên doanh
1.1.2.1.b.Nguồn vốn ký thác :
Bao gồm các loại ký thác không kỳ hạn, ký thác có kỳ hạn và tiết kiệm, ký thác
và tiền gửi khác Nguồn vốn ký thác là nguồn vốn mà xã hội, công chúng, các tầng lớp dân cư, các doanh nghiệp gửi vào NHTM Thực chất đây là nguồn vốn NHTM đi vay từ xã hội Dựa vào thời gian hoàn trả và một số yếu tố khác mà chia thành các loại ký thác có kỳ hạn và không kỳ hạn, tiết kiệm Đặc biệt ký thác không kỳ hạn không có ngày đáo hạn, chủ thể ký thác có thể đòi hoàn lại bất
cứ lúc nào, đảm bảo nguyên tắc khả dụng, nó có ý nghĩa như một khoản NHTM giử hộ mà thôi
1.1.2.1.c.Nguồn vốn vay :
-Các khoản vay trên thị trường tiền tệ chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng
nguồn vốn hoạt động của NHTM Nghiệp vụ vay mượn của NHTM trên thị trường tiền tệ thường được thực hiện dưới dạng phát hành các phiếu nợ như chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, mại lai thục Đặc điểm các khoản vay này là ngắn hạn
-Các khoản vay từ NHTW: trong quá trình hoạt động của mình, những lúc quá
kẹt vốn hoặc thiếu hụt dự trữ tiền mặt, NHTM có thể vay ở NHTW dưới các hình thức tái chiết khấu hay chiết khấu hay còn gọi là tái cấp vốn, vay thế chấp hay ứng trước có bảo đảm hay không bảo đảm
-Các khoản vay từ các NHTM khác và thị trường vốn :vay trên thị trường vốn
bằng cách phát hành các phiếu nợ dài hạn bao gồm các chứng chỉ tiền gửi dài hạn, các kỳ phiếu ngân hàng, các loại trái phiếu Vay từ các NHTM khác nhằm
bổ sung nguồn dự trữ bắt buộc tại NHTW hay cho hoạt động kinh doanh trên TTTT LNH
1.1.2.2.Nghiệp vụ có
-Nghiệp vụ có của NHTM cung cấp vốn vay cho các khu vực trong nền kinh tế
và góp phần hình thành tài sản có trong bảng cân đối kế toán Ngân hàng thương mại ở các quốc gia phát triển thường có một nhóm các tài sản có như sau:
Trang 51.1.2.2.a.Dự trữ tiền mặt
Nghiệp vụ dự trữ tiền mặt nhằm duy trì khả năng đáp ứng cao nhất việc rút vốn của người gửi tiền vào bất cứ lúc nào Mức dự trữ này tùy thuộc vào quy mô hoạt động, mối quan hệ thanh toán bằng tiền mặt và chuyển khoản, tính thời vụ của
các khoản chi tiền mặt Dự trữ tiền mặt bao gồm: dự trữ tiền mặt tại kho ngân
hàng vào mỗi ngày để đề phòng những chi trả bất ngờ vào ngày hôm sau và dự
trữ tiền mặt tại kho NHTW theo quy định của NHTW và nhằm phục vụ việc
thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng thương mại, hoặc chuyển nhượng liên hàng, vay mượn lẫn nhau để dự trữ bắc buộc…
Tiền mặt trên đường thu hồi, có ý nghĩa tương tự như một khoản tiền đang
chuyển trong kế toán doanh nghiệp, cũng được xem như một lượng tiền mặt dự trữ
1.1.2.2.b.Đầu tư chứng khoán
Chứng khoán cũng là một bộ phận cấu thành quan trọng trong danh mục tài sản
có của ngân hàng thương mại, danh mục đầu tư chứng khoán của các ngân hàng thường tìm thấy các loại chứng khoán sau : các trái phiếu Kho bạc, trái phiếu chính quyền địa phương và trung ương, các cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, các thương phiếu
1.1.2.2.c.Nghiệp vụ cho vay
-Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại để tạo ra lợi nhuận Cho vay của ngân hàng thương mại hay nói rộng ra là tín dụng ngân hàng thương mại bao gồm các hình thức sau:
1.Tín dụng ngân quỹ hay cho vay vốn lưu động
3.Tín dụng trung dài hạn
2.Tín dụng tiêu dùng
4.Tài trợ cho hoạt động ngoại thương
1.Tín dụng ngân quỹ: đây là các loại tín dụng ngắn hạn NHTM tài trợ cho các
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoặc bổ sung vốn lưu động, chúng có thời hạn đáo hạn không quá 1 năm Tín dụng ngân quỹ bao gồm nhiều hình thức như tín dụng ứng trước, tín dụng chuyển nhượng trái quyền, tín dụng bảo lãnh cung cấp cho các doanh nghiệp, tín dụng cho vay lẫn nhau giữa các NHTM
3.Tín dụng tiêu dùng: hình thức NHTM tài trợ cho nhu cầu mua sắm của các hộ
gia đình hay cá nhân Ở các nước phát triển, tín dụng tiêu dùng chiếm từ 12-15% tổng tài sản có của NHTM
Trang 64.Tín dụng tài trợ hoạt động ngoại thương: Nghiệp vụ tài trợ cho ngoại thương
của NHTM bao gồm tài trợ xuất khẩu và tài trợ nhập khẩu.Tài trợ xuất khẩu như: cho vay làm hàng xuất khẩu, chiết khấu bộ chứng từ; Tài trợ cho hoạt động nhập khẩu : tài trợ thanh toán bộ chứng từ giao hàng, cho vay bắt buộc thanh toán bộ chứng từ, cho vay ký quỹ mở L/C
1.1.2.2.4.Nghiệp vụ trung gian của NHTM:
Nghiệp vụ trung gian của NHTM gồm rất nhiều loại, đa dạng phóng phú, đây là các nghiệp vụ mà NHTM thực hiện để hưởng hoa hồng theo sự ủy nhiệm của khách hàng Bao gồm: dịch vụ chuyển khoản, chi hộ, thu hộ, dịch vụ chi trả lương cho các doanh nghiệp, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ khấu trừ tự động, dịch
vụ nhận giữ hộ tài sản hay cho thuê két sắt, dịch vụ tư vấn về tài chính cho doanh nghiệp, đảm nhận về đầu tư tài chính (thường do các công ty đầu tư tài chính của NHTM đãm trách )
1.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM :
-Đứng trên gốc độ bản thân NHTM, thì kết quả hoạt động kinh doanh của
NHTM chính là lợi nhuận của nó.Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh; nó phản ánh đầy đủ các mặt số lượng và chất lượng hoạt động của doanh nghiệp, của ngân hàng; phản ánh kết quả việc sử dụng các yếu tố cơ bản đầu vào và trình độ quản lý điều hành của ban quản trị Như bao doanh nghiệp khác, lợi nhuận hoạt động của NHTM là phần chênh lệch giữa thu nhập và chi phí hoạt động
-Thu nhập hoạt động hoạt động của NHTM bao gồm: thu nhập từ hoạt động tín dụng, thu từ dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, thu từ hoạt động khác
-Chi phí hoạt động của NHTM bao gồm: chi phí hoạt động huy động vốn, chi phí
về dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, chi phí về các hoạt động khác, chi nộp thuế, các khoản phí, lệ phí, chi cho nhân viên…
-Lợi nhuận NHTM:
Lợi nhuận trước thuế = Tổng thu nhập - Tổng chi phí
Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế - Thuế thu nhập
1.2.Lãi suất trong nền kinh tế thị trường:
1.2.1.Lãi suất được biểu hiện dưới dạng số tuyệt đối- đó chính là lợi tức tín dụng :
Lợi tức tín dụng là khoản tiền phải trả cho việc vay mượn quyền sở hữu và sử dụng vốn trong một thời gian nhất định Về bản chất, nó là “giá trị “ quyền sở hữu và sử dụng vốn trong một thời gian nhất định mà chủ thể vay mượn phải trả cho chủ thể cho vay Tỷ lệ phần trăm giữa lợi tức tín dụng với toàn bộ vốn gốc đã vay mượn hay khoản tín dụng trong một thời gian nhất định chính là lãi suất Lãi suất là một phạm trù kinh tế mang tính chất tổng hợp và đa dạng Lãi suất chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố tác động đến sự phát triển của nền kinh tế nên
nó mang tính chất tổng hợp Mặc khác, lãi suất mang tính đa dạng do xuất phát
từ sự đa dạng của các loại tín dụng khác nhau trong nền kinh tế thị trường với những cách đo lường khác nhau Cuối cùng, do lãi suất là giá cả của tín dụng,
Trang 7nên nó là một phạm trù giá cả; sự biến động của nó chịu tác động của các quy luật khách quan của thị trường, lãi suất mang tính phức hợp
1.2.3.Sự biến động lãi suất trong nền kinh tế:
Lãi suất như đã nói là giá cả của tín dụng, mà đã là giá cả thì phải chịu tác động của quy luật giá cả, quy luật cung cầu Sự biến động của giá cả trong nền kinh tế
là một hiện tượng tất yếu Sự biến động của lãi suất được giải thích bằng lý thuyết quỹ cho vay Lý thuyết này dựa trên nền tảng lưu lượng tài chính của các khu vực khác nhau trong nền kinh tế bao gồm cung cầu quỹ cho vay của các doanh nghiệp, hộ gia đình và chính quyền Nó tìm cách giải thích những thay đổi của lãi suất bằng cách xem xét sự tổng hợp cung cầu của các khu vực nói trên Tại một thời điểm nào đó trên thị trường vốn, cung và cầu quỹ cho vay cùng thiết lập trạng thái cân bằng, điểm cân bằng này xác lập lãi suất cân bằng của thị trường vốn Sau đó vì một lý do nào đó khiến cung hoặc cầu quỹ cho vay thay đổi; Nếu tăng, đường cung hoặc cầu dịch chuyển về bên phải; hay giảm -đường cung hoặc cầu dịch chuyển về bên trái; thị trường mất trạng thái cân bằng Bây giờ do áp lực của giá –lãi suất, đường cầu hoặc đường cung sẽ thay đổi để xác lập trạng thái cân bằng mới; Nếu cung tăng, lãi suất giảm, nhu cầu vay nhiều hơn, áp lực này là đường cầu dịch sang phải thiết lập trạng thái cân bằng mới ; nếu cung giảm, lãi suất tăng, nhu cầu vay giảm bớt, đường cầu dịch sang trái tạo
ra trạng thái cân bằng mới Thành phần của cung và cầu quỹ cho vay bao gồm:
Cung cầu quỹ cho vay
Số cung quỹ cho vay Sốcầu quỹ cho vay
-Các khoản tiết kiệm cá nhân -Nhu cầu tín dụng cá nhân -Các khoản tiết kiệm doanh
nghiệp
-Đầu tư kinh doanh -Thặng dư ngân sách chính phủ -Thâm hụt ngân sách chính phủ -Thặng dư ngân sách địa
b.Tính thanh khoản: khả năng thanh tiêu của một tài sản tài chính tức khả năng chuyển đổi tài sản đó thành tiền mặt; khả năng này càng thấp thì lãi suất càng cao
vì rủi ro thanh khoản của tài sản này càng cao
c.Rủi ro: có nhiều rủi ro, rủi ro không thu hồi được vốn đầu tư, vốn đầu tư mất giá, lợi tức bị âm do lạm phát Lãi suất phải bù đắp phần nào mức độ rủi ro này cho nên rủi ro càng lớn, lãi suất càng cao
Trang 8Cấp độ vĩ mô:
a.Cung cầu quỹ cho vay: cung cầu quỹ cho vay tác động trực tiếp làm thay đổi lãi
suất như đã trình bày phần trên, cung quỹ cho vay tăng thì lãi suất giảm và ngược
lại Cầu quỹ cho vay tăng thì lãi suất tăng và ngược lại
b.Lạm phát : lạm phát ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất, thực nghiệm lịch sủ đã
minh chứng hùng hồn rằng khi lạm phát tăng bao nhiêu thì lãi suất tăng lên bấy
Biểu 1.2: trạng thái cân bằng lãi suất và sự biến động để thiết lập cân bằng mới
Từ biểu đồ 1.2, giả sử nền kinh tế cân bằng tại một mức nhất định i0 và lạm phát
cũng được dự đoán không đáng kể Nhưng nếu lạm phát xảy ra kéo theo giá cả
tăng lên, lúc đó đường cung quỹ cho vay dịch chuyển về bên trái- cung quỹ cho
vay giảm, các NHTM, TCTD không muốn cho cho vay do lạm phát làm triệt tiêu
thu nhập lãi suất của họ, giá trị đồng tiền sụt giảm , giá thị trường của các món
nợ cũng biến đổi theo, một khoảng vay ngày hôm nay sẽ bị triệt tiêu hoàn toàn
giá trị thực tế của các khoản vốn gốc và lãi ngày đáo hạn, tâm lý lo ngại về tổn
thất khi phải đưa ra vốn cho vay khiến các những người muốn cho vay trước đây
chuyển sang đầu tư vào các tài sản, hàng hóa để hưởng chênh lệch giá điều này
xảy ra không phải với một mức lãi suất mà tất cả mọi lãi suất khiến cho cung quỹ
cho vay sụt giảm; Ngược lại với cầu quỹ cho vay, trong bất kỳ hoàn cảnh nào,
lạm phát bao giờ cũng có tác dụng kích thích cầu quỹ cho vay vì lý do giá trị
hàng hóa được tài trợ từ các khoản vay mượn mua về vẫn giử nguyên giá trị của
nó trong khi lạm phát đã làm giảm rất nhẹ gánh nặng nợ nần, cầu quỹ cho vay từ
đó tăng lên ồ ạt Tác động ngược chiều nhau của cung và cầu quỹ cho vay khiến
lãi suất tăng Mặt khác, lãi suất trong nền kinh tế bao gồm lãi suất thực và lãi suất
danh nghĩa, lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực cộng tỷ lệ lạm phát; do đó một
khi lạm phát tăng cao, lãi suất danh nghĩa cũng tăng theo Mọi diễn biến theo
chiều ngược lại sẽ có tác động làm lãi suất giảm thấp; điều này xảy ra trong thời
kỳ suy thoái, tình trạng thiểu phát trong nền kinh tế
Trang 9c.Các chính sách kinh tế của Nhà nước: bao gồm các chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính sách thu nhập và chính sách quản lý ngoại hối Trong đó các chính sách tiền tệ, tài chính và thu nhập nếu điều chỉnh theo hướng mở rộng, có nghĩa là bơm tiền vào lưu thông được nhiều hơn, làm cho lãi suất giảm và ngược lại Chính sách quản lý ngoại hối và tỷ giá hối đoái xác lập quan hệ giữa sức mua đồng nội tệ và đồng ngoại tệ.Theo hiệu ứng Fisher quốc tế, một khi tỷ giá tăng thì để đảm bảo ngang giá sức mua do lạm phát, lãi suất sẽ tăng
1.2.5.Vai trò đòn bẩy của lãi suất trong nền kinh tế:
-Trước hết lãi suất góp phần giử vững cân đối giữa cung cầu hàng hóa: tổng lượng hàng hóa sản xuất ra phải cân bằng với tổng lượng hàng hóa yêu cầu Một khi lãi suất thay đổi làm thay đổi làm thay đổi nhu cầu đầu tư, xuất khẩu
ròng ảnh hưởng đến tổng sản phẩm quốc dân theo chiều hướng tổng sản phẩm quốc dân tăng khi lãi suất giảm và ngược lại Mặt khác, lãi suất thay đổi làm thay đổi cầu tiền tệ theo hướng lãi suất tăng, công chúng sẽ tập trung đầu tư vào
chứng khoán, tiền gửi ngân hàng mà giảm bớt chi tiêu làm tổng cầu hàng hoá giảm, tổng cung tiền tệ sẳn sàng cho vay tăng
-Lãi suất là đòn bẩy kích thích tăng trưởng kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia Một khi ngân hàng trung thay đổi chính sách tiền
tệ sẽ dẩn đến lãi suất thay đổi làm thay đổi tổng cầu xã hội về đầu tư và phát triển kinh tế ; một khi tổng cầu này thay đổi sẽ tác động làm tổng cung của nền kinh tế bao gồm lao động, tài nguyên, tư liệu tiêu dùng, tư liệu sản xuất thay đổi tạo nên các hiện tượng kinh tế như thay đổi sản lượng quốc gia, tỷ lệ thất nghiệp, thu nhập quốc dân Chính sách lãi suất tạo ra lãi suất cho vay thấp hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân có tác dụng kích thích các doanh nghiệp tăng nhu cầu đầu tư,
mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị, trang bị công nghệ hiện đại hơn một sự giảm nhẹ của lãi suất sẽ tạo ra một nhu cầu to lớn về đầu tư mở rộng cho cả một hệ thống doanh nghiệp trong nền kinh tế, với một lượng nhu cầu đầu vào này của hệ thống doanh nghiệp, sẽ tạo ra một lượng vô cùng lớn đầu ra của cải cho xã hội, tổng mức thu nhập quốc dân tăng lên rất rất nhiều; vậy cho nên lãi suất có vai trò đòn bẩy Tất nhiên là hiệu ứng cũng sẽ ngược lại, nếu không kiểm soát và duy trì lãi suất hợp lý thì nền tổng sản lượng kinh tế sẽ sụt giảm đi rất nhiều
-Lãi suất là công cụ đo lường sức khỏe của nền kinh tế :đối với các quốc gia phát triển, lãi suất và các chỉ số TTCK là hàn thử biểu đo lường sức khỏe nền kinh tế quốc gia Một sự sụt giảm của lãi suất hay chỉ số của TTCK chứng tỏ nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thóai; và ngược lại, một khi lãi suất tăng hay chỉ số TTCK chứng tỏ nền kinh tế trong trạng thái tăng trưởng rất tốt
-Lãi suất là công cụ thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các NHTM, lãi suất là giá cả của vốn Sự cạnh tranh giữa các NHTM ngoài các yếu tố khác còn bằng giá; kết quả của sự cạnh tranh này là nền kinh tế, các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư được lợi hơn vì được hưởng giá rẽ và chất lượng dịch vụ cao Lãi suất còn là công cụ kiềm chế lạm phát rất hữu hiệu thông qua chính sách tiền tệ của NHTW Nền kinh tế có lạm phát cao, NHHTW lập tức sử dụng chính sách tiền tệ thắt chặt, tức
Trang 10tăng lãi suất để hút tiền từ lưu thông về dự trữ để điều hòa lượng tiền trong lưu thông cân xứng với khối lượng hàng hóa nhằm kiềm chế và kiểm soát lạm phát
1.3.Rủi ro lãi suất:
1.3.2.Phương pháp xác định rủi ro lãi suất:
- Để đo lường rủi ro lãi suất, các NHTM sử dụng các mô hình sau :
1.Mô hình kỳ hạn đến hạn
2.Mô hình thời lượng
3 Mô hình định giá lại
a.Mô hình kỳ hạn đến hạn:
Khái niệm:
Mô hình kỳ hạn đến hạn dựa vào thời hạn của tài sản và thời điểm đáo hạn của tài sản để đo lường sự biến động của giá trị tài sản trước sự biến động của lãi suất
Mô hình kỳ hạn đến hạn đối với một danh mục tài sản hay bảng cân đối:
Để áp dụng mô hình kỳ hạn đến hạn đối với một danh mục tài sản, trước hết ta phải xác định được kỳ hạn bình quân của danh mục tài sản, mỗi tài sản có hay tài sản nợ trong danh mục đều có kỳ hạn đến hạn riêng biệt, và mỗi chúng chiếm một tỷ trọng nhất định
Giả sử ta gọi MAi là kỳ hạn đến hạn của tài sản có thứ i, tài sản này chiếm tỷ trọng WAi trong nhóm tài sản có; tương tự là MLi là kỳ hạn đến hạn của tài sản nợ thứ i có tỷ trọng WLi trong danh mục tài sản nợ Kỳ hạn đến hạn trung bình của tất cả các tài sản có và tất cả các tài sản nợ trong bảng cân đối tài sản ngân hàng
- Đặc điểm của sự biến động giá trị (danh mục) tài sản trong mô hình:
a Mỗi sự tăng hoặc giảm của lãi suất thị trường đều dẫn tới một sự giảm hoặc tăng giá trị danh mục tài sản có và giá trị danh mục tài sản nợ của ngân hàng
b Kỳ hạn đến hạn (trung bình) của danh mục tài sản có và danh mục tài sản nợ
có thu nhập cố định càng dài thì khi lãi suất thị trường thay đổi (tăng hoặc
giảm), giá trị của chúng biến động càng lớn
c.Lãi suất thị trường thay đổi, kỳ hạn của danh mục tài sản có hoặc tài sản nợ càng dài thì mức độ biến động giá trị của chúng càng giảm
- Như vậy ảnh hưởng của lãi suất lên bảng cân đối tài sản phụ thuộc vào mức độ
và tính chất của sự không cân xứng kỳ hạn giữa danh mục tài sản có và danh mục
Trang 11tài sản nợ Có nghĩa là nhân tố quyết định cho sự ảnh hưởng là chênh lệch giữa
kỳ hạn đến hạn bình quân của tài sản có và kỳ hạn đến hạn bình quân của tài sản
nợ
-Mặt khác, trong bảng cân đối tài sản ngân hàng, chênh lệch giữa giá trị tài sản
có và giá trị tài sản nợ (A-L) chính là giá trị vốn tự có hay vốn cổ phần của ngân hàng (E) Điều cần lưu ý là tất cả các giá trị này được đo lường bằng giá trị thị trường Ta có :
ΣE = ΣA – ΣL (1.3.2)
Ý nghĩa: mức thay đổi vốn tự có hay vốn cổ phần bằng chênh lệch mức thay đổi
giá trị tài sản có và mức chênh lệch giá trị tài sản nợ
Ví dụ: Ta xem xét một bảng cân đối ngân hàng như sau :
-Đây là trạng thái ban đầu của bảng cân đối khi lãi suất thị trường chưa thay
đổi (giá trị tài sản trong bảng cân đối được tính theo giá trị thị trường ) Giả sử tài sản có 100.000,00 được đầu tư vào trái phiếu có kỳ hạn 3 năm, mức trái tức cố định 10%/năm Tài sản nợ 80.000,00 là vốn huy động kỳ hạn một năm, mức lãi suất huy động cố định 10%/năm (giả sử để đơn giản, ta giả định lãi suất huy động
và lãi suất cho vay bằng nhau) Khi lãi suất thị trường tăng 1%, trạng thái bảng cân đối thay đổi :
+Sự thay đổi của tài sản có :
Trang 12Nhận xét:
-Sau khi lãi suất thị trường thay đổi 1% Giá trị bảng cân đối cũng thay đổi Cụ thể: tài sản có giảm 2,44% , từ 100.000,00 xuống còn 97.556,29; Tài sản nợ có thời hạn ngắn hơn, nên mức nhạy cảm với lãi suất cũng nhẹ hơn, tài sản nợ chỉ giảm 0.90% từ 80.000 xuồng còn 79.279,28; và do đó vốn tự có cũng giảm 8,61% từ 20.000 xuống còn 18.277,01; tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có giảm từ 20% xuống còn 18.73%
* Đặc điểm mô hình
-Một hình kỳ hạn đến hạn là một mô hình đơn giản Về bản chất, phương pháp tính toán của mô hình là định giá lại tài sản tài chính khi lãi suất thị trường thay đổi, phương pháp tính dựa vào nguyên tắc chiết khấu dòng lưu kim (DCF) Khi lãi suất thị trường thay đổi, hệ số chiết khấu các dòng tiền cũng thay đổi và do đó làm thay đổi thị giá tài sản, hay danh mục tài sản
-Tài sản tài chính có lãi suất cố định với kỳ hạn càng dài thì càng biến động mạnh trước sự biến động một đơn vị lãi suất thị trường
-Khoảng cách chênh lệch về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ càng cao thì mức biến động đối vốn tự có càng cao
-Phương pháp tốt nhất để phòng ngừa rủi ro lãi suất là cân xứng kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ
-Mô hình kỳ hạn đến hạn cho phép đánh giá tài sản của ngân hàng nhạy cảm với lãi suất thế nào, và đề nghị giải pháp phòng ngừa rủi ro bằng cách cân xứng kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ Tuy nhiên mô hình này vẫn chưa đề cập đến một số yếu tố cực kỳ quan trọng đối với hoạt động của ngân hàng như :
+ Thời lượng của luồng tiền thuộc tài sản có và tài sản nợ
+ Tỷ lệ vốn huy động trên tài sản nợ ra sao ?
b.Mô hình thời lượng:
Khái niệm thời lượng(Duration):
-Một tài sản tài chính luôn có một luồng ngân lưu trong suốt thời gian tồn tại của
nó Nếu mang chiết khấu luồng ngân lưu này về giá trị hiện tại ta xác định được thời gian tồn tại của nó- đó chính là thời lượng của tài sản tài chính ấy Công thức xác định thời lượng như sau:
(1.3.3) _PVt :giá trị hiện tại của luồng ngân lưu thời điểm t, t=1,N
Σ PV t (t/n)
Σ PV t
_N :tổng số luồng tiền xảy ra trong suốt kỳ hạn của tài sản
_n :số lần luồng tiền xảy ra trong một năm
_M :kỳ hạn của tài sản tính theo năm; M=N/n
_t :thời điểm xảy ra luồng tiền
* Định nghĩa: thời lượng tồn tại của tài sản là thước đo thời gian tồn tại
luồng tiền của tài sản này, được tính trên cơ sở các giá trị hiện tại của nó
Trang 13-Thời lượng một tài sản được đo lường bằng sự nhạy cảm lãi suất của tài sản đó:
(1.3.4)
dP/P -D =
dR/(1+R)
*Ý nghĩa kinh tế của thời lượng : Khi lãi suất thị trường biến động thì thời
lượng (D) là phép đo độ nhạy cảm của thị giá tài sản (P)
-Bây giờ ta nghiên cứu mối liên hệ giữa thời lượng và giá trị danh mục tài sản có
và tài sản nợ khi lãi suất thị trường thay đổi thế nào?
Thời lượng đối với bảng cân đối tài sản ngân hàng hay một danh mục tài sản:
-Nếu ta gọi DiA và XiA là thời lượng và tỷ trọng của tài sản có thứ i; thì thời lượng của toàn bộ tài sản có là :
DA = X1A.D1A + X2A.D2A +X3A.D3A +…XNA.DNA
DA = ΣX1A.D1A (1.3.5) -Tương tự, nếu ta gọi DiL và XiL là thời lượng và tỷ trọng của tài sản nợ thứ i; thì thời lượng của toàn bộ tài sản nợ là :
DL = X1L.D1L + X2L.D2L +X3L.D3L +…XNL.DNL
DL = ΣX1L.D1L (1.3.6) -Ta có : ΔE = ΔA – ΔL; từ công thức 1.3.2, ta có :
ΔE = ΔA – ΔL =[- DA ΔR/(1+R) ]-[- DL ΔR/(1+R) ] = ΔR/(1+R) [ DLL – DA A ]
= -ΔR/(1+R).A [ DAA/A – DL L/A]
Trong đó k là tỷ lệ huy động vốn trên tổng tài sản gọi là hệ số đòn bảy k
ΔE = -( DA-DL.k).A ΔR/(1+R)
= -(5 – 3.0,8) 100.000,00 (0.01/1.10) = -2.364,00
%ΔE = (2.364,00/20.000,00).100% = 11.82%
Trang 14-Như vậy nếu lãi suất thị trường tăng lên 1% thì giá trị vốn tự có của ngân hàng giảm sút 11,82%, ngân hàng bị thiệt 2.364,00 Trạng thái bảng cân đối sau khi lãi suất biến động tăng Tổng tài sản có cũng biến động :
2.Quy mô ngân hàng thể hiện bằng tổng tài sản có A; quy mô càng lớn thì tiềm
ẩn rủi ro đối với lãi suất càng cao
3.Mức độ thay đổi lãi suất ΔR/(1+R) càng nhiều thì tiềm ẩn rủi ro đối với lãi
suất càng cao Mức độ thay đổi vốn tự có hay vốn điều lệ cũng được đo lường:
Mức dộ thay đổi vốn tự có hay vốn điều lệ=
(chênh lệch thời lượng đã điều chỉnh) x(Quy mô tài sản )x( Mức độ thay đổi lãi suất)
4.Để chống rủi ro, chống tổn thất, các nhà quản trị ngân hàng phải điều chỉnh sao cho chênh lệch thời lượng điều chỉnh bằng không vì đó là nhân tố duy nhất được đặt dưới sự kiểm soát của ngân hàng Vấn đề khó khăn là ở chổ hệ số đòn bẩy k luôn khác 1 vì đặc trưng của hoạt động ngân hàng thương mại là tổng tài sản có A luôn lớn hơn tổng vốn huy động L Do đó các nhà quản trị ngân hàng thường sử dụng một trong ba cách sau:
a.Điều chỉnh D A để bằng giá trị DL k đã được xác định trước
b.Điều chỉnh cả D A và DL để có D A =DL k (k đã được xác định trước)
c.Cố định D A , đồng thời điều chỉnh cả D L lẫn k
Đặc điểm của mô hình thời lượng:
1.Mối quan hệ giữa thời lượng và kỳ hạn tài sản: thời lượng tăng lên cùng với kỳ hạn tài sản có hoặc nợ có thu nhập lãi cố định nhưng với một tỷ lệ tăng giảm dần 2.Mối quan hệ giữa thời lượng và mức lãi suất thị trường hiện hành :khi lãi suất thị trường tăng, thì thời lượng giảm
3.Mối quan hệ giữa thời lượng và lãi suất coupon: lãi suất coupon càng cao thì thời lượng càng giảm
Trang 15c.Mô hình định giá lại:
Khái niệm mô hình định giá lại:
-Mô hình định giá lại đo lường sự thay đổi giá trị tài sản khi lãi suất biến động
dựa vào sự phân nhóm tài sản mà tiêu thức phân nhóm là các kỳ hạn định giá lại
của tài sản Nội dung của mô hình là phân tích các luồng tiền dựa trên nguyên tắc
giá trị ghi sổ nhằm xác định chênh lệch giữa thu nhập lãi suất từ tài sản có và chi
phí lãi suất phải trả cho tài sản nợ sau một thời gian nhất định Phân loại các
nhóm tài sản trên theo tiêu thức kỳ hạn định giá nhằm đưa các tài sản có và tài
sản nợ về cùng một nhóm, có cùng kỳ hạn từ đó đo lường sự thay đổi của thu
nhập ròng từ lãi suất của các nhóm với sự thay đổi lãi suất của thị trường Giá trị
tài sản trong các nhóm dùng để tính chênh lệch là giá trị lịch sử của tài sản Ta có
công thức đo lường sự nhạy cảm lãi suất này:
(1.3.6
-Trong đó : -ΔNIIi : sự thay đổi thu nhập ròng từ lãi suất nhóm tài sản thứ
i-nhóm có cùng kỳ hạn định giá lại
- GAPi : chênh lệch giá trị lịch sử giữa nhóm tài sản có và
nhóm tài sản nợ thứ i-chính bằng chênh lệch số dư trên sổ
sách của nhóm tài sản có thứ i và số dư trên sổ sách của nhóm tài
ΔNII i = GAP i Δ R i
= (RSA i – RSL i ) Δ R i
Trang 16-Giả sử các nhà quản trị ngân hàng dự đoán lãi suất thị trường trong năm tới sẽ thay đổi 1% Họ tiến hành tính mức chênh lệch giá trị (lịch sử) giữa tài sản có nhạy lãi và tài sản nợ nhạy lãi
- Các tài sản có nhạy lãi: tín dụng tiêu dùng ngắn hạn + tín phiếu kho bạc kỳ hạn
3 tháng + tín phiếu kho bạc kỳ hạn 6 tháng + tín dụng có thế chấp 30 năm
50 + 30 + 35 + 40 = 155 -Các tài sản nợ nhạy lãi : tiền gửi kỳ hạn 3 tháng + tiền gửi phát hành hối phiếu ngân hàng + chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn 6 tháng + tiền gửi kỳ hạn 1 năm
40 +30 + 30 + 20 = 120 -Các tài sản trên là các tích sản và tiêu sản nhạy lãi có kỳ hạn được định giá là một năm CGAP là chênh lệch giữa các tài sản có nhạy lãi và các tài sản nợ nhạy lãi trong nhóm này Giả sử lãi suất thị trường thay đổi +/1%
CGAP = RSA – RSL = 155 –120 = 35 -Tỷ lệ % CGAP/A : (35/270)100 = 12,96%
-Thay đổi thu nhập ròng từ lãi suất :
ΔNII = CGAP.ΔR = 12,96%(+/-0,01)= +/-129.600,00
-Như vậy, nếu lãi suất tăng thị trường1% thì thu nhập ròng từ lãi suất cũng tăng lên 129.600,00, trường hợp này có lợi cho ngân hàng Nhưng ngược lại, nếu lãi suất biến động theo chiều ngược lại,giảm 1% thì ngân hàng sẽ bị thiệt mất thu nhập từ lãi suất ròng 129.600,00
Đặc điểm của mô hình định giá lại:
Nguyên tắc của mô hình là dựa vào thời hạn đến hạn của tài sản hay thời hạn đến hạn của các dòng ngân lưu của tài sản với nguyên tắc tái đầu tư trong suốt kỳ hạn định giá lại, đó cũng là kỳ hạn dự kiến có sự biến động lãi suất thị trường; các nhà quản trị ngân hàng tính toán mức chênh lệch tích lũy giữa giá trị (lịch sử) của tài sản có nhạy lãi và tài sản nợ nhạy lãi, từ đó tính toán được mức thay đổi của thu nhập ròng
-Trong mô hình, giá trị tài sản có và giá trị tài sản nợ được xác định dựa trên giá trị sổ sách tại thời điểm tính toán, do đó hiệu ứng lãi suất thay đổi trên vốn tự có
là không xuất hiện Như vậy, khi lãi suất thay đổi, thì chỉ có thay đổi thu nhập ròng từ lãi suất mà thôi
-Mô hình định giá lại tương đối đơn giản, dễ dàng , trực quan song lại bộc lộ một
sử vào đầu kỳ hạn và cuối kỳ hạn thì trở nên không cân xứng với nhau nhưng mô hình định giá lại lại bỏ qua vấn đề này Nếu kỳ định giá càng ngắn, thì những hạn
Trang 17chế này càng nhỏ Nếu định giá hàng ngày thì mô hình phản ánh trung thực hơn nhưng nếu định giá với thời kỳ càng xa chẳng hạn 3 tháng, 6 tháng, 1 năm thì những hạn chế càng bộc lộ rõ ràng
1.4.Vấn dề tự do hóa lãi suất:
1.4.1.Khái niệm :
Tự do hóa lãi suất là một phần quan trọng của tự do hóa tài chính, tự do hóa lãi suất là cơ chế điều hành lãi suất hoàn toàn để cho cung cầu vốn trên thị trường xác định lãi suất cân bằng, NHTW chỉ can thiệp gián tiếpbằng các công cụ để điều chỉnh xu hướng mà thôi
1.4.2.Bản chất và điều kiện tự do hóa lãi suất :
Bản chất của tự do hoá lãi suất là việc trao cho thị trường vốn toàn bộ việc xác định lãi suất cân bằng NHTW chỉ sử dụng các công cụ can thiệp một cách gián tiếp để điều chỉnh cho phù hợp chiến lược và mục tiêu đặt ra trong từng thời kỳ Điều kiện để tự do hóa lãi suất: qua các bài học kinh nghiệm của các quốc gia đi trước, các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách rút ra được các điều kiện sau :
+Hệ thống và môi trường luật pháp phải ổn định, đồng bộ , đầy đủ, minh bạch, phù hợp thông lệ quốc tế, hệ thống luật pháp phải tạo ra được cơ chế giám sát tài chính đối với nền kinh tế, đảm bảo công bằng, bình đẳng giữa các NHTM quốc doanh và các NHTMCP cũng như các chi nhánh NHTM nước ngoài hay liên doanh
+ Hệ thống ngân hàng phải được cũng cố, nâng cao khả năng cạnh tranh, đảm bảo an toàn trước sự hội nhập và tự do hóa
+Quan trọng nhất là môi trường vĩ mô phải được ổn định, phải kiểm soát được lạm phát, cải thiện được tình trạng thâm hụt ngân sách, cơ cấu lại và lành mạnh hóa các doanh nghiệp
+ Phát triển đúng mức khu vực tư nhân vì đây là khu vực hình thành các quyết định đầu tư có hiệu quả , đóng góp một phần chủ yếu cho tăng trưởng kinh tế + Xây dựng và phát triển thị trường vốn và thị trường chứng khóan thông suốt trong nước và hòa nhập với thị trường tài chính quốc tế, nó trở thành một kênh huy động và điều tiết vốn trung dài hạn hữu hiệu
+Phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm toán các doanh nghiệp tốt để đảm bảo tính toàn diện, sâu rộng, độ tin cậy của các báo cáo tài chính phải mang tính pháp lệnh và hiệu lực
1.4.3.Tác dụng của tự do hóa lãi suất :
Tự do hóa lãi suất có ý nghĩa vô cùng quan trọng: thứ nhất trả về cho lãi suất đúng vai trò đòn bẩy kích thích nền kinh tế của nó; Thứ hai thông qua tự do hóa lãi suất khơi thông dòng vốn và huy động tối đa nguồn vốn xã hội; Thứ ba, tự do hóa lãi suất tạo điều kiện cho các NHTM chủ động hơn trong kinh doanh và bình đẳng hơn trong cạnh tranh, trong hoạt động, phù hợp với thông lệ quốc tế
Tự do hóa lãi suất nói riêng và tự do hóa tài chính nói chung hết sức có ý nghĩa đối với các quốc gia trong giai đoạn phát triển và chuẩn bị hội nhập vào
Trang 18nền kinh tế thế giới vì những tác dụng to lớn của nó đối với nền kinh tế trên phương diện vĩ mô lẫn vi mô
a.Trên phương diện vĩ mô của nền kinh tế:
-Việt Nam chúng ta vừa qua đã hết sức thành công trong việc hội nhập trở lại với nền kinh tế thế giới và khu vực sau rất nhiều năm gián đoạn Bằng chứng là chuang ta nối lại mối quan hệ với IMF, WB, ADB, chung ta là thành viên của ASEAN từ 1997, gia nhập AFTA, chuẩn bị gia nhập WTO, ký kết BTA rõ ràng
là bước đầu hòa nhập chúng ta đã thành công to lớn, kế tiếp chúng ta chuyển đổi một số hoạt động cho phù hợp thông lệ quốc tế, trong đó có tài chính ngân hàng Chính vì lẽ đó, tự do hóa lãi suất cũng như tự do hóa tài chính có tác dụng to lớn trong việc chuyển đổi cơ chế điều hàngchính sách lãi suất, hệ thống kiểm toán,
kế toán, hành lang pháp lý cho phù hợp thông lệ quốc tế
-NHNN thông qua tự do hóa lãi suất chuyển dần sang thực hiện các công cụ gián tiếp điều hành chính sách lãi suất, giảm sự can thiệp và điều hành bằng các công
cụ hành chánh trực tiếp, từ đó trả lãi suất về đúng vai trò đòn bẩy kích thích nền kinh tế của nó, tác dụng kích thích sự tăng trưởng kinh tế
-Thông qua tự do hóa lãi suất, khơi thông dòng vốn và huy động tối đa nguồn vốn xã hội, thúc đẩy chu chuyển vốn trong nền kinh tế, giữa các khu vực, các vùng, miền và các đối tượng Vốn được luân chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu,
từ nơi có lãi suất thấp sang nơi có lãi suất cao, từ đó hình thành lãi suất bình quân hợp lý trong nền kinh tế theo tín hiệu thị trường
b.Trên phương diện vi mô:
-Tự do hoá lãi suất cũng như tự do hoá tài chính thúc đẩy cạnh tranh giữa các NHTM, các TCTD trên mọi phương diện mà kết quả của sự cạnh tranh lành mạnh này là các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư, xã hội được hưởng sản phẩm dịch vụ tài chính, ngân hàng chất lượng hơn, giá cả hợp lý hơn
- Tự do hóa tài chính đi kèm tự do hóa lãi suất tạo ra sự bình đẳng giữa các
NHTM, các TCTD trong nước với các NHTM nước ngoài, tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các tổ chức này, giúp cho các NHTM, các TCTD trong nước có điều kiện phát triển, đa dạng hóa nghiệp vụ, tăng tính chuyên nghiệp, tiếp cận công nghệ tiên tiến hơn
-Tự do hóa lãi suất giúp cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế dễ dàng tiếp cận nguồn vốn phù hợp với tình hình kinh doanh và tài chính của mình hơn, có điều kiện phát triển, mở rộng sản xuất hơn
- Các tầng lớp dân cư cũng chủ động hơn trong việc lựa chọn cho mình một NHTM tốt nhất để phục vụ mình trong việc gửi tiền hau xin vay: chất lượng tốt hơn, dịch vụ đa dạng và tốt hơn, giá cả cạnh tranh hơn
Trang 192.CHƯƠNG 02: CƠ CHẾ QUẢN LÝ LÃI SUẤT CỦA NHNN
VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA VÀ QUÁ TRÌNH TỰ
DO HOÁ LÃI SUẤT Ở VIỆT NAM.
Quá trình quản trị và điều hành lãi suất của NHNN Việt Nam có thể chia thành
nhiều giai đoạn ứng với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam trong từng thời kỳ
2.1.Cơ chế quản lý lãi suất trước thời kỳ đổi mới (từ năm 1988 trở về
trước)-thời kỳ lãi suất ấn định:
-Bối cảnh lịch sử và tình hình kinh tế xã hội: miền Bắc nước ta từ sau khi độc lập
đã phát triển theo con đường XHCN, thực hiện nền kinh tế kế hoạch hóa cao độ
Cơ chế kinh tế kế hoạch này thành công trong giai đoạn đầu ở miền Bắc và được
tiếp tục duy trì đến sau năm 1975, khi mà cả nước thống nhất, thì áp dụng trong
cả nước
Cơ chế kinh tế kế hoạch hóa cao độ kéo dài đến những năm 90 của thế kỷ 20 thì
bắt đầu chuyển sang cơ chế thị trường định hướng XHCN Nền kinh tế nước ta
giai đoạn 1988 trở về trước đề hoạt động theo chỉ tiêu pháp lệnh; hệ thống ngân
hàng là hệ thống ngân hàng một cấp kéo dài từ khi miền Bắc độc lập đến nay;
NHNN điều hành CSLS cố định, ấn định tất cả các loại lãi suất một cách chi tiết
như lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay, lãi suất tiết kiệm, cụ thể cho từng đối
tượng, từng thành phần kinh tế Các TCTD đều phải thực hiện một cách tuyệt
đối lãi suất quy định của NHNN
Ngày 14.09.1985, cuộc cải cách giá-lương-tiền đã làm giảm giá trị đồng nội tệ
xuống 10 lần, giá cả hàng hóa tăng lên từ 3 đến 4 lần; mục đích của CSLS trong
lúc này là làm giảm bội chi ngân sách Song tình trạng lạm phát không kiểm soát
được đã làm méo mó kết quả ngõ hầu đạt được của NHNN Năm 1985, lạm phát
là 190%, sang năm 1986, tỷ lệ lạm phát tăng lên 715%, tiền lương thực tế chỉ còn
18%-20% so với năm 1985 Nền kinh tế lâm vào tình trạng khó khăn lớn, mất
cân đối nghiêm trọng, bội chi ngân sách lớn Nhiệm vụ cấp bách của NHNN lúc
này là khẩn trương phối hợp với các tổ chức kinh tế khác tìm mọi cách ngăn chặn
lạm phát Tuy nhiên vai trò của NHNN lúc ấy còn mờ nhạt, tư tưởng bao cấp vẫn
còn đè nặng lên CSLS
Bảng 2.1a Lãi suất năm 1985-1988 (Nguồn: NHNN )
Năm Diễn giải các chỉ tiêu
Trang 20Qua bảng trên cho thấy lãi suất huy động và cả lãi suất cho vay thấp hơn rất
nhiều so với tỷ lệ lạm phát, chính vì điều này mà lãi suất thực trong giai đoạn này
âm, nên còn có thể gọi đây là giai đoạn lãi suất thực âm; Sang năm 1987 trở đi,
lãi suất cho vay có được cải thiện song vẫn không theo kịp lạm phát nên lãi suất
thực âm vẫn hoàn thực âm
Diễn biến trong xã hội: vì lãi suất huy động quá thấp, dân chúng không gửi tiền
mà chuyển sang đầu cơ tích trữ để hưởng chênh lệch giá do tác động của lạm
phát Hệ thống NHTM không huy động được vốn, không hút được tiền từ lưu
thông về nên cuộc chiến chống lạm phát ngày càng trở vô cùng khó khăn; lãi suất cho vay cũng thấp hơn tỷ lệ lạm phát, quy luật ngàn đời của tình trạng này lại
phát tác, các doanh nghiệp và công chúng đổ xô đi vay tiền không phải để sản
xuất mà để tập trung nguồn hàng, đầu cơ tích trữ tìm lợi lộc, các NHTM không
thể thu hồi các khoản tín dụng này nên xảy ra tình trạng mất cân đối; NHNN lại
phát hành tiền để bù đắp, điều này chẳng khác nào chấp thêm cánh cho “con
diều” lạm phát Dư nợ của hệ thống NHTM tăng liên tục: 31.12.1985 là 100%;
2-Lãi suất cho vay
Trong hạn mức vốn lưu
động
2.4-3.7 2.77-4.2 Ngoài hạn mức vốn lưu
động
4.Tỷ lệ trượt gia tháng
07.1987
4
Biểu lãi suất ban hành ngày 02.07.1987 cũng có một số mặt tích cực Cụ thể: lãi
suất cho vay đã được quy định cao hơn lãi suất huy động, song vẫn chưa vượt
qua được tỷ lệ lạm phát; đồng thời có quy định trong, ngoài hạn mức Đặc biệt
quy định lãi suất cho vay quá hạn cao để khống chế bớt số dư nợ Lãi suất cho
vay cao hơn lãi suất huy động đã tạo điều kiện để các ngân hàng lấy thu bù chi;
song trong quy định, lãi suất vẫn còn mang tính chất phân biệt giữa các thành
phần kinh tế và vẫn chưa đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc lãi suất phải cao
hơn tỷ lệ lạm phát
Như vậy hướng đi trong việc điều hành CSLS của NHNN rõ ràng là có khắc
phục hậu quả của giai đoạn trước, tìm cách kiềm chế lạm phát song vẫn chưa đủ
khả năng thực hiện được mục tiêu thứ hai là kiềm chế lạm phát Do đó mà trong
thu chi ngân sách, vẫn chưa khắc phục được tình trạng mất cân đối Để giải quyết vấn đề này; NHNN lại trở về giải pháp phát hành thêm tiền và điều này khiến
Trang 21cho mục tiêu kiềm chế lạm phát ngày càng rời xa tầm tay; con đường đi đến kiềm
chế và kiểm soát của NHNN xem ra ngày càng nhiều khó khăn hơn
bảng 2.1c: Tỷ lệ thu chi ngân sách so với GDP (Nguồn: Tổng Cục thống kê)
Chuyển sang một thời kỳ đổi mới từ 1986, CSLS của NHNN cũng cải cách dần
theo hướng tích cực hơn, phù hợp hơn với cơ chế thị trường song vẫn chưa hoàn
toàn mà vẫn còn mang nặng tính bao cấp và phải dần dần từng bước cải cách;
CSLS có hướng tới mục tiêu kiềm chế lạm phát nhưng vẫn chưa đạt được, có
điều chỉnh lãi suất tiền gửi nhỏ hơn lãi suất tiền vay, tạo điều kiện cho các
NHTM lấy thu bù chi và lãi suất đã dần được sử dụng như một đòn bẩy kích
thích các doanh nghiệp sử dụng vốn có kế hoạch
Lãi suất không vượt qua được tỷ lệ lạm phát lại quy định lãi suất cho vay quá
thấp khiến gây ra hiện tượng đầu cơ tích trữ trong nền kinh tế vốn gặp nhiều khó
khăn trong giai đoạn này
Những thành tựu đạt được và những tồn tại của CSLS trong thời kỳ trước
đổi mới (từ 1988 về trước):
a.Thành tựu:
Chuyển dần từng bước từ một nền kinh tế kế hoạch hóa cao độ sang nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần, chính sách lãi suất của NHNN từ một hình thái cứng
ngắc, cố định lãi suất ( những năm 1985,1986) đã dần điều chỉnh với mục tiêu
kiềm chế và dần kiểm soát lạm phát (những năm 1987, 1988), chuyển dần cho
phù hợp với kinh tế thị trường, lãi suất cho vay cao hơn lãi suất huy động, áp
dụng lãi suất trong ngoài hạn mức,áp dụng lãi suất quá hạn để khống chế số dư
nợ CSLS đã được cải thiện dần dần, từng bước theo hướng phù hợp với CSLS
của cơ chế thị trường, NHNN quy định lãi suất ấn định chặt chẽ từng loại, từng
đối tượng và có điều chỉnh theo tốc độ trượt giá tuy không được thành công như
đã kỳ vọng do lúc đó chưa thật sự kiểm soát được lạm phát; điều hành lãi suất có
chú trọng đến vai trò đòn bẩy của lãi suất để kích thích các doanh nghiệp sử dụng
vốn có hiệu quả
b.Tồn tại:
Lãi suất ấn định và hệ thống ngân hàng một cấp chỉ phù hợp với cơ chế kinh tế
kế hoạch hóa những năm đầu sau giải phóng ở miền Bắc, sau đó và đặc biệt là
sau khi thống nhất đất nước, cơ chế lãi suất và hệ thống ngân hàng một cấp
không còn phù hợp, không theo sát tín hiệu thị trường, không kiểm soát được
lạm phát và còn làm thui chột đi nhiều động lực phát triển kinh tế, khiến nền kinh
tế trì trệ kéo dài
2.2.Cơ chế quản lý lãi suất sau thời kỳ đổi mới (từ năm 1988-1999)-thời kỳ lãi
suất linh hoạt:
-Bối cảnh lịch sử và tình hình kinh tế: thời kỳ đổi mới của nền kinh tế bắt đầu
1988; từ năm 1987, NHNN đã có biện pháp kiềm chế lạm phát song không mấy
Trang 22thành công, kinh tế tiếp tục suy thoái, đình đốn, sản xuất trì trệ, ngân sách thâm hụt nghiêm trọng các hiện tượng tiêu cực của nền kinh tế lạm phát vẫn tồn tại trong đời sống hàng ngày, lạm phát vẫn là lạm phát phi mã, đời sống nhân dân khó khăn Trước tình hình như vậy, mục tiêu của CSLS cua NHNN cũng
không nằm ngoài mục tiêu của các chính sách kinh tế khác: tiếp tục kiềm chế lạm phát trước mắt, sau đó tìm cách ổn định và kích thích tăng trưởng kinh tế
- Trong hoạt động ngân hàng và hệ thống tài chính nói chung, cũng có một sự kiện quan trọng, đánh dấu giai đoạn này: trước tình hình kinh tế, trước nhu cầu đổi mới, nhận định rõ vai trò quản lý của Nhà nước, vai trò trực tiếp kinh doanh tiền tệ tín dụng và nghiệp vụ ngân hàng, HĐBT ra nghị định 53/HĐBT ngày 06.03.1988 chính thức phân chia hệ thống NHNN Việt Nam thành hai cấp :
NHNN và NHTM Cả một thời kỳ dài này có thể chia thành nhiều gia đoạn
2.2.1.Giai đoạn từ 1988 đến 1990:
Ngày 16.03.1989, NHNN ban hành quyết định số 29/NH-QĐ thay đổi lãi suất quy định, đến 01.04.1989, Hội đồng bộ trưởng quyết định thay đổi chính sách lãi suất
Bảng 2.2a:Biểu lãi suất ban hành ngày 16.03.1989 và 01.04.1989(Nguồn: NHNN)
Lãi suất huy động (%tháng) Lãi suất tiền
ng
Không
kỳ hạn
Kỳ hạn
3 thán
g
Không
kỳ hạn
Lãi suất cho vay (%tháng)
Chỉ số giá
cả (%tháng)
Như vậy chỉ trong vòng quý 01 năm 1989, NHNN đã 02 lần thay đổi CSLS theo hướng nâng cao lãi suất tiền gửi và cả cho vay với mục đích là hút bớt lượng tiền mặt ra khỏi lưu thông nhằm kiềm chế lạm phát, nhưng tình hình lạm phát trong năm 1989 lại diễn biến rất phức tạp
Bảng 2.2b: Diễn biến lạm phát năm 1989 (nguồn: Tổng cục thống kê)
0
9.
20
5 4
0
3.
50
0.
-20
2.
-90
1.
-50
0 2
0
1 6
0
1.
50
2 6
lý vì cao hơn tỷ lệ lạm phát và tạo ra lãi suất thực dương nhưng thực tình mà nói thì CSLS này vẫn chưa hoàn toàn hợp lý vì quá cao so với lạm phát Song các
Trang 23tháng sau đó, tỷ lệ lạm phát lại diễn biến thất thường nên CSLS cũng phải được
điều chỉnh liên tục cho phù hợp
Bảng 2.2c: Điều chỉnh lãi suất năm 1989-1990(Nguồn: NHNN)
Lãi suất huy động(%tháng) Lãi suất tiền gửi Lãi suất tiết
kiệm Thời điểm Kỳ
hạn
3 thán
g
Không
kỳ hạn
Kỳ hạn
3 thán
g
Không
kỳ hạn
Lãi suất cho vay (%tháng)
Chỉ số giá
cả (%tháng)
Giai đoạn 1988-1990, cùng với Nghị định 53/HĐBT ra đời và đi vào thực tiển,
hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có mô hình phù hợp với cơ chế thị trường,
NHNN đã rất nhiều lần thay đổi CSLS theo hướng tích cực hơn, song lạm phát
vẫn chưa thật sự được kiềm chế
Tháng 05.1990, Pháp lệnh NHNN và pháp lệnh NHTM, công ty tài chính và
HTXTD ra đời và có hiệu lực thi hành trong năm 1991, là cột mốc đánh dấu một
bước ngoặc trong lịch sử cho sự nghiệp đổi mới thực sự về tổ chức và hoạt động
của ngành ngân hàng Việt Nam, pháp lệnh ngân hàng ra đời đã tách hệ thống
ngân hàng thành hai cấp: NHNN và hệ thống NHTM, phù hợp với tập quán kinh
tế thị trường Cũng thời điểm này, nền kinh tế Việt Nam dần dần chuyển sang cơ
chế thị trường; Tuy nhiên cho đến thời điểm này, CSLS áp dụng điều hành cho
nền kinh tế Việt Nam vẫn được áp dụng theo quyết định 18 ngày 19.03.1990,
trong khi đó lạm phát leo thang dần dần, chỉ số giá cả tăng dần qua từng tháng
một và lên đến tột đỉnh vào 01.1991 là 13.20%, đến 09.1991, chỉ số giá lúc đó là
3.70% thì NHNN có quyết định 202 tháng 10.1991 chính thức thay đổi lãi suất
ngân hàng như sau:
Bảng 2.2đ: Lãi suất ngân hàng theo quyết định 202 tháng10.1991(Nguồn: NHNN)
Trang 24Chỉ tiêu- diễn giải Giá trị
-Lãi suất tiền gửi (%tháng):
_Không kỳ hạn 1.00 _Kỳ hạn 03 tháng 2.10 -Lãi suất tiết kiệm (%tháng):
_Không kỳ hạn 2.10 _Kỳ hạn 03 tháng 3.50 -Lãi suất cho vay (%tháng):
_Hộ kinh doanh 2.70-3.70 _Kinh tế tư nhân 4.00-5.00 _Kinh tế quốc doanh 2.10-2.40
Kết quả thực tế của quyết định 202:
-Lãi suất tiết kiệm giảm trong khi lạm phát tăng cao khiến cho một số cá nhân và
doanh nghiệp không gửi tiền vào hệ thống ngân hàng mà quyết định đầu tư vào
bất động sản, nhà đất gây ra cơn số giá trên thị trường nhà đất
-Cuối năm 1991 đầu năm 1992, Nghị quyết TW Đảng ra chủ trương không phân
biệt các thành phần kinh tế, mọi thành phần kinh tế đều phải bình đẳng trước
pháp luật; trong khi quyết định 202 lại có sự phân biệt các thành phần kinh tế
trong lãi suất
Một sự chuyển biến tích cực hơn trong CSLS chỉ đến vào 01.1992 sau một quyết
định thay đổi lãi suất của NHNN; Mặt tích cực của nó được thể hiện qua các khía
cạnh sau:
-Lạm phát đã được kiềm chế nên có thể đảm bảo lãi suất thực dương
-Bảo đảm thực hiện CSLS theo đúng nguyên tắc: lạm phát < lãi suất huy
động < lãi suất cho vay
Bảng 2.2e: Biểu lãi suất thời kỳ 01.1992 (Nguồn: NHNN)
CSLS trong giai đoạn này đã xóa bỏ mọi sự phân biệt giữa các thành phần kinh
tế theo đúng chủ trương của Đảng, kết quả khả quan nhất trong giai đoạn này là
nhiều DNTN ra đời, khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất, Nhà nước thông
qua NHTM huy động được nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân
Bảng 2.2g: Biểu chỉ số giá cả các tháng trong thời kỳ 1991-1993
ĐVT: % tháng
1.50
-0.30
0.20
0.50
-0.10
0.30
Trang 25-Nguồn : Tổng cục thống kê Ngày 19.10.1992, bằng quyết định số 140/KH, NHNN Việt Nam điều chỉnh suất
và lãi suất tiết kiệm :
Lãi suất huy động không kỳ hạn 0.80
Kỳ hạn 03 tháng 1.70
Kỳ hạn 06 tháng 1.70 Lãi suất cho vay quy định 2.00-2.70
thỏa thuận 3.00-3.50
Kết quả CSLS trong giai đoạn này: lạm phát giảm từ 67.60% năm 1991 xuống
còn 17.50% năm 1992- một thành tựu của CSLS trong giai đoạn này của NHNN
hết sức nổi bậc Bắt đầu tư đây, nền kinh tế Việt Nam chuyển sang một giai đoạn
mới: giai đoạn của ổn định, kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kéo dài
Bước vào năm 1993, tình hình kinh tế vĩ mô vẫn khả quan, tổng sản phẩm nội địa
vẫn tăng trưởng đều, kinh tế ổn định, lạm phát đã được kiềm chế Hàng loạt các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế ra đời và phát triển, góp phần tăng
trưởng cho nền kinh tế Cũng trong giai đoạn này, Nhà nước có chủ trương tinh
giảm biên chế, cộng với đội ngũ các quân nhân giải ngũ sau khi hoàn thành nghĩa
vụ quân sự trở về đã góp phần đưa tỷ lệ thất nghiệp lên khá cao Mục tiêu của
CSLS cũng không nằm ngoài mục tiêu chung của các chính sách kinh tế khác là
góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp
Ngày 20.04.1993, bằng quyết định số 90/KH, NHNN điều chỉnh hạ lãi suất và
duy trì lãi suất cho đến cuối năm 1995, trong khoản thời gian này chỉ điều chỉnh
lãi suất cho vay trung dài hạn lên 1.40%/tháng vào 07.1994
Từ 1993, cùng với việc chấm dứt không phát hành thêm tiền bù đắp thâm hụt
ngân sách, NHNN đã thực hiện hiệu quả quản lý điều hành lượng tiền cung ứng,
sử dụng linh hoạt các công cụ của chính sách tiền tệ, góp phần duy trì tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao và ổn định, kiểm soát lạm phát ở một con số
CSLS cũng có nhiều thay đổi như hạ dần lãi suất cho vay, rút ngắn khoảng cách
giữa lãi suất tiết kiệm và lãi suất tiền gửi của các tổ chức kinh doanh
Bảng 2.2.h: Biểu lãi suất ban hành ngày 20.04.1993(Nguồn: NHNN)
Những thành tựu đạt được từ 1993 tiếp tục được phát huy, kéo dài cho đến hết
năm 1995, đặc biệt giai đoạn này, nền kinh tế Việt Nam có tốc độ tăng trưởng rất
cao, hầu như cao nhất trong khu vực ASEAN, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế
Trang 26quốc tế có chiều hướng suy thoái Những thành quả đạt được trong nổ lực không ngừng của NHNN Việt Nam trong điều hành CSLS nói riêng cũng như của
Chính phủ Việt Nam trong điều hành các chính sách kinh tế xã hội nói chung đã
mang lại kết quả hết sức mỹ mãn, thành công của chúng ta khiến thế giới kính nể
và xếp chúng ta vào một trong những nền kinh tế năng động nhất thế giới giai
đoạn này
Bảng 2.2k: tốc độ tăng trưởng GDP và cơ cấu giai đoạn 1991-1996
Tốc độ tăng GDP (%)
Cơ cấu Năm
Năm 1996, thực hiện nghị quyết QH khóa IX, NHNN bắt đầu thực hiện tự do
hóa lãi suất tiền gửi, chỉ quy định trần lãi suất cho vay đồng nội tệ mà thôi, tạo
điều kiện cho các NHTM quốc doanh chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh
của mình Kể từ 01.01.1996, NHNN thực hiện chính sách trần lãi suất như sau:
Lãi suất cho vay ngắn hạn cao nhất : 1.75%tháng
Lãi suất cho vay trung dài hạn cao nhất: 1.70%tháng
Khống chế mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay bình quân và lãi suất huy động
bình quân là 0.35%tháng Cơ chế lãi suất trần là một bước tự do hóa lãi suất, hơn nữa với cơ chế này làm cho lãi suất gắn liền với tín hiệu thị trường hơn Cơ chế
lãi suất trần tồn tại gần 05 năm Thực ra quy định trần lãi suất cho vay nhưng quy định khống chế mức chênh lệch 0.35%tháng giữa mức lãi suất cho vay bình quân
và mức lãi suất huy động bình quân là không hợp lý, bởi vì khoảng chênh lệch ít
ỏi này bao gồm toàn bộ chi phí hoạt động, lợi nhuận, rủi ro, thuế Như vậy thực chất mà nói, vẫn có sự hiện diện của sàn lãi suất đâu đó trong CSLS của NHNN
Ngày 1.10.1996, NHNN lại điều chỉnh trần lãi suất cho vay, lần điều chỉnh này
có phần biệt khu vực cho vay: thành thị-nông thôn và đối tượng cho vay Như
vậy từ 01.10.1996, lãi suất cho vay đã có phần biệt khu vực, đối tượng cho vay
và quy định lãi suất cho vay ngắn hạn < lãi suất cho vay trung dài hạn
Cho đến 01.07.1997, NHNN lại tiếp tục điều chỉnh hạ thấp trần lãi suất cho vay
xuống đến mức tối thiểu kể từ 1985 Đặc điểm môi trường vĩ mô trong thời gian
từ 1997, xảy ra “cơn bảo “ tài chính tiền tệ Đông Á trên bình diện rất rộng, gây
thiệt hại rất nhiều cho các quốc gia nằm trong “tâm bảo” như Thái Lan, Philipine, Hàn Quốc, Indonesia Việt Nam chúng ta tuy chỉ chịu ảnh hưởng gián tiếp song tác động cũng khá nặng, tốc độ tăng trưởng GDP giảm, dòng vốn đầu tư nước
ngoài đổ vào sụt giảm mạnh Mục tiêu của CSLS trong giai đoạn này là góp
phần hạn chế tác động của khủng hoản tài chính tiền tệ và tìm mọi biện pháp
Trang 27khắc phục hậu quả Lần điều chỉnh này dĩ nhiên là NHNN phải hạ trần lãi suất
cho vay để kích thích tăng trưởng kinh tế trở lại
Bảng 2.2l: Điều chỉnh lãi suất ngày 1.10.1996(Nguồn: NHNN)
Ngắn hạn vùng nội thi 1.25
Ngắn hạn vùng nông thôn 1.50 Lãi suất cho vay (% tháng)
Quỹ tín dụng nhân dân và hợp
Biểu lãi suất ngày 01.07.1997 chỉ tồn tại 6 tháng để cầm cự với khủng hoản tài
chính tiền tệ, ngày 17.08.1998 bằng quyết định 39/01/1998/QĐ-NHNN, NHNN
lại điều chỉnh tăng trần lãi suất trở lại, xóa bỏ mức chênh lệch giữa lãi suất cho
vay bình quân và lãi suất huy động bình quân, xóa bỏ phân biệt giữa các khu vực
Bảng 2.2m: Biểu trần lãi suất ngày 01.07.1997 và 17.08.1998 (Nguồn : NHNN)
Một cột mốc thời gian đáng ghi nhớ: từ 01.10.1998, luật NHNN Việt Nam đã đi
vào hiệu lực, tuy nhiên CSLS trần cho đến thời điểm này vẫn còn đó giá trị của
nó, CSLS cơ bản được quy định trong luật NHNN vẫn chưa thể đi vào thực tiển
nền kinh tế Mặt khác từ trước đó, CSLS còn gánh vác cả trọng trách chính sách
xã hội, NHTM trong hoạt động tín dụng cũng gánh vác trách nhiệm này, biểu
hiện là NHTM quốc doanh phải bao cấp lãi suất cho vay với lãi suất ưu đãi cho
các đối tượng chính sách, cho vay khắc phục hậu quả thiên tai và lãi suất ưu đã
tất nhiên là không cao và không vượt qua lãi suất huy động khiến cho NHTM
quốc doanh gặp rất nhiều khó khăn trong kinh doanh Trong năm 1999, NHNN
đã 5 lần điều chỉnh để duy trì chính sách lãi suất trần trong bối cảnh luật NHNN
đã có hiệu lực:
Trang 28Bảng 2.2n: 5 lần điều chỉnh trần lãi suất của NHNN trong năm 1999 (Nguồn: NHNN)
thôn
1.25 1.15 1.15 1.05 1.00
Cho vay Quỹ TDND và HTX
tín dụng 1.50 1.50 1.50 1.50 1.50 Với điều chỉnh lần đầu tiên đầu năm1999, NHNN lại đưa ra tới 4 trần lãi suất,
cao nhất là 1.50%tháng và thấp nhất là 1.10%tháng; những lần điều chỉnh sau đó theo hướng hạ thấp dần trần lãi suất và giảm bớt số trần lãi suất Lần cuối cùng
ngày 25.10, NHNN đưa ra 3 trần lãi suất và áp dụng cho đến khí kết thúc thời kỳ đầy biến động này
Những thành tựu đạt được và những tồn tại của CSLS trong thời kỳ sau
-Thành tựu to lớn nhất của CSLS là chặng đứng được lạm phát Bắt đầu năm
1985, lạm phát nền kinh tế là 3 con số, CSLS của NHNN Việt Nam trong giai
đoạn này liên tục điều chỉnh tăng dần lãi suất để hút bớt lượng tiền trong lưu
thông, đưa vào dự trữ nhằm điều phối cân xứng tổng khối lượng tiền tệ trong lưu thông và tổng khối lượng hàng hoá của nền sản xuất Mặc dù phải điều chỉnh
nhiều lần nhưng đây là một bước đi thận trọng , từng bước và kết quả rõ ràng
nhất là chặng đứng được lạm phát từ 3 con số xuống còn 2 con số, mặc dù chưa thể có kết quả ngay trong những lần điều chỉnh CSLS đầu tiên
.Giai đoạn 1993-1999:
Sau đó, cùng với việc kiềm chế lạm phát, CSLS cũng được cải thiện theo hướng tiến bộ hơn từ lãi suất ấn định sang lãi suất trần (1992-1993), NHNN đã thực sự thành công khi điều hành CSLS từ thực âm sang thực dương Việc này thực sự có
ý nghĩa:
-CSLS góp phần ổn định kinh tế và giá trị đồng nội tệ Việc kiềm chế lạm phát và chuyển sang cơ chế lãi suất thực dương đã vực lại được niềm tin của công chúng vào đồng nội tệ, CSLS thực dương đã thu hút công chúng và doanh nghiệp gửi
tiền vào hệ thống ngân hàng, tạo nguồn hình thành quỹ cho vay đồng thời đảm
bảo được nguyên tắc lạm phát < lãi suất huy động < lãi suất cho vay < tỷ suất lợi nhuận bình quân, đã có tác dụng khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh việc đầu tư phát triển góp phần tăng trưởng kinh tế những năm sau đó