Khái niệm Tự do hóa lãi suất là một bộ phận quan trọng của tự do hóa tài chính, là việc trao cho thị trường vốn toàn bộ việc xác định lãi suất cân bằng, ngân hàng trung ương chỉ sử dụng
Trang 1PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I Lãi suất
1 Khái niệm
Lãi suất là giá cả của quyền sử dụng một đơn vị vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định như ngày, tuần, tháng hay năm
Đây là loại giá cả đặc biệt, được hình thành trên cơ sở giá trị sử dụng chứ không phải trên
cơ sở giá trị Giá trị sử dụng của khoản vốn vay là khả năng mang lại lợi nhuận cho người
đi vay khi sử dụng vốn vay trong hoạt động kinh doanh hoặc mức độ thỏa mãn một hoặc một số nhu cầu nào đó của người đi vay Khác với giá cả hàng hóa, lãi suất không được biểu diễn dưới dạng số tuyệt đối mà dưới dạng tỷ lệ phần trăm (%) Lãi suất (interest rate) cũng được xem là tỷ suất sinh lời (rate of return) mà người chủ sở hữu thu được từ khoản vốn cho vay
Diễn biến lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hàng ngày của mỗi chủ thể kinh tế, tác động đến những quyết định cá nhân như chi tiêu hay để dành mua nhà, mua trái phiếu hay gửi tiết kiệm Lãi suất cũng tác động đến những quyết định kinh tế của các doanh nghiệp như dùng tiền để đầu tư mua thiết bị mới hay gửi tiền vào ngân hàng lấy lãi Do đó, lãi suất là một trong những biến số được theo dõi chặt chẽ nhất trong nền kinh
tế và diễn biến của nó được đưa tin hầu như hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng
2 Cơ chế
Cơ chế tác động trực tiếp:
NHTW sử dụng lãi suất với vai trò là một công cụ trực tiếp của chính sách tiền tệ NHTW với hành động mang tính chủ quan áp đặt một khung lãi suất, chênh lệch lãi suất tiền gửi- tiền vay hoặc trần- sàn lãi suất và buộc các tổ chức tín dụng phải tuân theo Công cụ này mang tính cưỡng bức với sự đảm bảo bằng quyền lực nhà nước, đặc trưng của cơ chế kiểm soát lãi suất
Cơ chế tác động gián tiếp:
NHTW sử dụng công cụ gián tiếp- mang tính thị trường- của chính sách tiền tệ để tác động đến lãi suất thông qua hành vi của hệ thống ngân hàng
3 Vai trò
i Lãi suất với đầu tư và tăng trưởng kinh tế Đầu tư là một biến số quan trọng của kinh tế vĩ mô và có mối quan hệ hai chiều với tăng trưởng kinh tế Có nhiều yếu tố tác động đến việc đưa ra quyết dịnh đầu tư, song có 3 yếu
tố chính là: lãi suất thực, lạm phát dự tính và lợi nhuận dự tính
Trong 3 yếu tố trên, lãi suất thực là một yêu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết diinhj đầu tư vì lãi suất chính là chi phí cơ hội của đầu tư Nếu chi phí cơ hội của một quyết
Trang 2định đầu tư thấp thì đầu tư sẽ tăng và ngược lại Như vậy, lãi suất thực và đầu tư có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau
ii Lãi suất với tiết kiệm và tiêu dùng Tiết kiệm và tiêu dùng cũng là hai biến số được các nhà kinh tế dành nhiều sự quan tâm
vì vai trò quan trọng của chúng trong nền kinh tế
Tỷ lệ giữa tiêu dùng và tiết kiệm trong tổng thu nhập của một hộ gia đình là không có định và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thu nhập, sở thích, xu hướng tiêu dùng cận biên,
xu hướng tiết kiệm cân biên, đặc biệt là lãi suất
Trong khi lãi suất có mối quan hệ cùng chiều với tiết kiệm thì tiêu dùng và lãi suất lại vận động ngược chiều hau Nếu lãi suất ở mức cao thì người dân sẽ dành nhiều tiền hơn để gửi vào ngân hàng vì lúc này lợi tức tiền gửi nhận được là cao, kết quả là tiết kiệm có xu hướng tăng lên trong khi tiêu dùng có xu hướng giả xuống và ngược lại Đến đây, một lần nữa, lãi suất được xem như chi phí cơ hội của tiêu dùng, vì khi dành tiên để chi tiêu cho một món hàng đồng nghĩa với việc xuất hiện một chi phí cơ hội là lợi tức của món tiền đó khi gửi vào ngân hàng Trong trường hợp đi vay để chi tiêu cũng tương tư, tiền lãi suất phải trả của món tiền đi vay để chi tiêu chính là chi phí cơ hội của quyết định chi tiêu đó
iii Lãi suất với chỉ số giá tiêu dùng Lãi suất và CPI có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, điều này đã được chứng minh trong cả
lý luận và thực tiễn
Lãi suất thường tăng trong thời lỳ lạm phát cao, lãi suất thường giảm nếu nền kinh tế trong thời kỳ giả phát, Vậy lãi suất tác động tới CPI theo cơ chế nào? Giả sử nền kinh tế đang trong thời kỳ lạm phát cao, NHTW sẽ tăng lãi suất chiết khấu đối với các NHTM, khi lãi suất chiết khấu tăng, các NHTM sẽ giảm các khoản tiền vay chiết khấu, dẫn đến mức cung tiền giảm, làm giảm phát và ngược lại
iv Lãi suất với tỉ giá hối đoái Với các nhân tố khác không đổi (giá hàng hóa trong nước và ở nước ngoài không đổi), nếu lãi suất nội tệ tăng nhanh hơn lãi suất ngoại tệ sẽ làm cho tỷ giá giảm, tức nội tệ lên giá; ngược lại, nếu lãi suất nội tệ giảm giá nhanh hơn lãi suất ngoại tệ sẽ làm tỷ giá tăng, tức nội tệ giảm giá
v Lãi suất với hoạt động của ngân hàng thương mại Ngân hàng là một trong số những phát minh có ý rất quan trọng đối với nhân loại Với chìa khóa trong tay là lãi suất, các NHTM đóng vai trò rất quan trọng trong việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ các cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức để phân bố đến nơi thiếu vốn, đang cần vốn để mở rộng sản xuất hoặc tiêu dùng Để hoạt động hiệu quả, các
Trang 3NHTM phải đặt ra các mức lãi suất huy động không được quá thấp vì như thế sẽ không khuyến khích dân chúng gửi tiền vào ngân hàng Kết quả là NHTM gặp khó khắn trong việc huy động vốn để cho vay Một mức lãi suất huy động hợp lý sẽ giúp các NHTM huy động được nguồn vốn nhàn rỗi từ dân chúng Lãi suất cho vay của NHTM phải cao hơn lãi suất huy động và phải bù đắp được các chi phí cũng như rủi ro khác Tuy nhiên lãi suất cho vay không được quá cao vì như thế các doanh nghiệp, hộ gia đình sẽ tìm các phương án thay thế khác thay vì vay tiền từ ngân hàng Một mức lãi suất cho vay hợp lí
đủ để bù đắp các chi phí, rủi ro nhưng vẫn đảm bảo khả năng vay vốn của các doanh nghiệp, các hộ gia đình sẽ giúp NHTM thu hút được nhiều khách hàng, góp phần vào quá trình phân bố vốn hiệu quả cho nền kinh tế
II Tự do hóa lãi suất
1 Khái niệm
Tự do hóa lãi suất là một bộ phận quan trọng của tự do hóa tài chính, là việc trao cho thị trường vốn toàn bộ việc xác định lãi suất cân bằng, ngân hàng trung ương chỉ sử dụng các công cụ can thiệp một cách gián tiếp để điều chỉnh cho phù hợp chiến lược và mục tiêu đặt ra trong từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế
2 Bản chất
Thực chất của tự do hóa lãi suất chính là cơ chế điều hành lãi suất hoàn toàn để cho cung cầu vốn trên thị trường xác định lãi suất cân bằng Ngân hàng trung ương chỉ can thiệp bằng các công cụ để điều chỉnh theo định hướng mà thôi Tự do hóa lãi suất nói riêng và
tự do hóa tài chính nói chung có ý nghĩa quan trọng đối với các quốc gia trong giai đoạn phát triển và chuẩn bị hội nhập vào nền kinh tế thế giới trên phương diện vĩ mô lẫn vi
mô
3 Vai trò
Trong quá trình phát triển nền kinh tế và hội nhập, VN đã có những thành công bứơc đầu trong việc hội nhập với nền kinh tế thế giới sau nhiều năm bị gián đoạn Hiện nay, chúng
ta đã có mối quan hệ với IMF, WB, ADB, v.v và là thành viên của ASEAN từ năm 1997, gia nhập AFTA và đang chuẩn bị gia nhập WTO, bước đầu hòa nhập như vậy chúng ta đã
có những thành công lớn, kế tiếp là chúng ta đã chuyển đổi một số hoạt động cho phù hợp với thông lệ quốc tế, trong đó có lĩnh vực tài chính, ngân hàng Như vậy tự do hóa lãi suất, chuyển dần sang thực hiện các công cụ gián tiếp điều hành chính sách lãi suất, giảm
sự can thiệp và điều hành bằng các công cụ hành chính trực tiếp, từ đó sẽ trả lãi suất đúng vai trò là đòn bẩy kích thích nền kinh tế phát triển, nhằm kích thích sự tăng trưởng kinh tế
Tự do hóa lãi suất sẽ thúc đầy cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng trong nước và các chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài tại VN, giúp các ngân hàng trong nước có điều kiện phát triển, đa dạng hóa nghiệp vụ, tiếp cận công nghệ tiên tiến hơn Đối với các khách hàng của ngân hàng thương mại đó là các doanh nghiệp,
Trang 4các tầng lớp dân cư sẽ chủ động hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời được quyền lựa chọn các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng để giao dịch, hoạt động
4 Điều kiện
(1) Môi trường kinh tế vĩ mô đã ổn định và khá chắc chắn
(2) Hành lang pháp lý đã tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh
(3) Hệ thống ngân hàng ổn định, hoạt động hữu hiệu
(4) Thị trường tài chính (bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán) đã hình thành và đã vận hành có hiệu quả
(5) Các nguồn lực trong nước đã được phân phối và sư dụng hợp lý
(6) Các tổ chức kinh tế đều đảm bảo khả năng sư dụng vốn triệt để, có hiệu quả
Trang 5PHẦN II: THỰC TRẠNG CON ĐƯỜNG TIẾN TỚI TỰ DO HÓA LÃI SUẤT
CỦA VIỆT NAM
I Quá trình tự do hóa lãi suất qua các thời kì
1 Giai đoạn 1988-1995: Đánh dấu những nỗ lực đầu tiên
Năm 1988 đánh dấu nỗ lực tự do hóa tài chính đầu tiên của Việt Nam bằng quyết định
của Hội đồng Bộ trưởng (9/3/1988) cho phép tất cả các tổ chức kinh tế, bao gồm cả các đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh, được vay tiền và huy động vốn từ công chúng Có ba đặc điểm đáng chú ý ở đây:
- Thứ nhất, giai đoạn 1986-1988 là thời gian mất ổn định kinh tế vĩ mô nhất mà nền kinh tế Việt Nam từng trải qua Với việc chính phủ sử dụng in tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách, lạm phát ở mức phi mã ba chữ số trong cả ba năm này
- Thứ hai, nỗ lực tự do hóa tài chính này được tiến hành trong khi hầu như chưa có cải cách trong khu vực công nghiệp, DNNN và hoạt động ngoại thương Thực tế là mới chỉ có khu vực nông nghiệp được tự do hóa, và rất nhiều loại giá vẫn bị biến dạng nghiệm trọng
- Thứ ba, tự do hóa đã đi quá xa đến nỗi cho phép tất cả tổ chức kinh tế đều có thể kinh doanh tiền tệ, trong khi hệ thống điều tiết tài chính thì hoàn toàn không tồn tại Các tổ chức huy động vốn từ công chúng dưới dạng tiền gửi tiết kiệm để cho vay không phải tuân thủ các quy định truyền thống của ngân hàng, như dự trữ bắt buộc và tỷ lệ vốn/dư nợ vay
Bắt đầu từ tháng 6/1992, NHNN thực hiện bước chuyển đổi căn bản từ cơ chế lãi suất
thực âm sang lãi suất thực dương - bước khởi đầu để thực hiện mục tiêu tự do hoá lãi suất, tạo đòn bẩy cho các NHTM chuyển hoạt động kinh doanh từ thua lỗ sang có lãi Những điểm cơ bản của chính sách lãi suất mới là như sau:
- Một là, NHNN quy định khung lãi suất của NHTM đối với nền kinh tế (lãi suất tối thiểu đối với tiền gửi và lãi suất tối đa đối với tiền cho vay)
- Hai là, lãi suất cho vay bình quân phải lớn hơn lãi suất huy động bình quân, chấm dứt sự bao cấp về vốn qua kênh tín dụng ngân hàng
- Ba là, đối với lãi suất ngoại tệ, NHNN quy địng lãi suất cho vay tối đa bằng ngoại tệ Lãi suất huy động bằng ngoại tệ do các NHTM quyết định trên cơ sở lãi suất thị trường tiền tệ quốc tế và cung-cầu vốn ngoại tệ trong nước
Từ tháng 6/1992 đến cuối năm 1993, NHNN đã 5 lần điều chỉnh giảm lãi suất cho phù hợp với chỉ số lạm phát và hiệu quả sản xuất kinh doanh của nền kinh tế Lãi suất cho vay tối đa bằng ngoại tệ được điều chỉnh tăng từ 6,5% năm lên tới 7,5% năm, phù hợp với lãi suất trên thị trường quốc tế
Vào năm 1993, việc phân biệt lãi suất cho vay theo khu vực kinh tế được loại bỏ và chỉ
còn được phân biệt theo cho vay đầu tư cố định và cho vay vốn lưu động Tuy vậy, lãi
Trang 6suất cho vay đầu tư vốn cố định lại thấp hơn cho vay vốn lưu động, tạo ra một cơ cấu lãi suất không phù hợp Tức là, lãi suất dài hạn thấp hơn lãi suất ngắn hạn Chính sách này làm cho các ngân hàng không không hề có động cơ khuyến khích cho vay dài hạn
1995, Các ngân hàng được tự do định mức lãi suất tiền gửi nhưng nhà nước vẫn kiểm
soát sàn tiền gửi và trần cho vay Từ năm 1995, NHNN cho phép các ngân hàng thương mại được tự do định mức lãi suất tiền gửi với mục tiêu tăng cường cạnh tranh trong huy động vốn Tuy nhiên, mức chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi tối đa được phép là 0,35% tháng Như vậy, về một khía cạnh nào đó, các ngân hàng vẫn phải chịu cả lãi suất tiền gửi và cho vay, cho dù mức chênh lệch lãi suất thực tế có thể khác nhau giữa các ngân hàng tuỳ thuộc vào cơ cấu chi phí cụ thể Trong hai năm 1994-1995, cơ chế lãi suất tiếp tục được điều chỉnh theo hướng thích ứng với cơ chế thị trường, phù hợp với quan hệ cung cầu vốn, đồng thời hạn chế sự can thiệp trực tiếp của NHNN vào hoạt động kinh doanh của các TCTD NHNN chỉ khống chế mức lãi suất cho vay tối đa của các TCTD đối với nền kinh tế Các mức lãi suất tiền gửi và cho vay cụ thể do TCTD ấn định Cho phép các TCTD điều chỉnh lãi suất tiền gửi của các tổ chức kinh tế lên sát gần với mức lãi suất tiền gửi dân cư Tăng lãi suất cho vay trung và dài hạn lên 1,7% tháng Lãi suất ngoại tệ được điều chỉnh 3 lần từ 7,5% năm lên 9,5% năm phù hợp với sự biến động của lãi suất thị trường quốc tế
Cho đến hết năm 1995, NHNN vẫn thực hiện kiểm soát cả sàn lãi suất tiền gửi (tiết kiệm của dân cư và tiền gửi của doanh nghiệp) và trần lãi suất cho vay đối với nền kinh tế Do
cơ chế lãi suất trần bộc lộ một số bất cập, Thống đốc NHNN cho phép các TCTD cho vay theo lãi suất thoả thuận với nguồn vốn huy động dưới hình thức kỳ phiếu, nhằm khai thác khả năng tiếp cận thị trường của các TCTD trong thời gian kinh tế chuyển đổi Trong thời gian này, tỷ trọng huy động kỳ phiếu đạt khoảng 23% tổng số vốn huy động bằng đồng Việt Nam, như vậy có thể nói 23% thị trường thị trường đã được tự do hoá lãi suất Tuy nhiên, do NHNN chưa có công cụ kiểm soát gián tiếp mức lãi suất thoả thuận cùng với việc thị trường tín dụng chưa được tự do hoá và các DNNN còn hoạt động trong cơ chế bao cấp đã dẫn đến thực trạng việc cho vay thoả thuận đã đẩy mặt bằng lãi suất trên thị trường nông thôn lên quá cao, chênh lệch quá nhiều so với lãi suất quy định Mặt khác nhiều DNNN vay lãi suất thoả thuận không tính đến hiệu quả kinh doanh nên khó có khả năng trả nợ Do vậy, NHNN đã chấm dứt cho phép các TCTD được cho vay thoả thuận từ nguồn vốn huy động kỳ phiếu từ 1/1/1996
2 Giai đoạn 1996-2000: Tập trung điều chỉnh trần lãi suất nhằm giảm mức khống chế tiến đến hình thành lãi suất cơ bản
Trần lãi suất được điều hành linh hoạt trong thời kỳ từ năm 1996 đến tháng 7-2000.
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng đã bước đầu thực hiện tự do hóa lãi suất huy động Thay thế cho khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi và tối đa về tiền vay, NHNN chỉ quy định các mức lãi suất "trần" theo thời hạn cho vay và khống chế chênh lệch giữa lãi suất cho vay với lãi suất huy động vốn bình quân ở mức 0,35%/tháng (tương đương 4,2%/năm) Quy định này nhằm khắc phục tình trạng hầu hết các ngân hàng thương mại đều có mức lợi nhuận cao trong khi doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn do biến động
Trang 7kinh tế khu vực và thế giới Tới cuối tháng 1-1998, quy định chênh lệch lãi suất được xóa
bỏ, chỉ giữ lại quy định trần lãi suất cho vay
Lý do căn bản của trần lãi suất là để hạn chế vấn đề lựa chọn bất lợi; tức là hạn chế xu hướng các ngân hàng nâng lãi suất để cạnh tranh huy động vốn rồi cho vay rủi ro, một tình trạng đã xảy ra trong cuộc đổ vỡ quỹ tín dụng vào năm 1990 Tuy vậy, trong trường hợp của Việt Nam, chính sách trần lãi suất là một bộ phận không thể thiếu của hệ thống
áp chế tài chính (ít nhất là trong đầu thập niên 90) và kết hợp với sự chỉ định tín dụng nhằm đảm bảo các khu vực ưu tiên của chính phủ nhận được vốn vay với lãi suất vừa phải
Song hành với việc nới lỏng kiểm soát lãi suất, NHNN liên tục điều chỉnh trần lãi suất cho vay theo hướng giảm ngưỡng trần và mức khống chế, đặc biệt trong hai năm
1998-1999 Lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh giảm để phù hợp với chỉ số lạm phát, quan hệ cung - cầu vốn trên thị trường và thực hiện giải pháp kích cầu của Chính phủ Lãi suất tái cấp vốn năm 1997 là 1,1%/tháng, giảm xuống còn 0,7%/tháng kể từ ngày 4-9-1999
Các nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá cho ngân hàng thương mại cũng được đưa vào sử dụng để bổ sung thêm công cụ điều chỉnh lãi suất Lãi suất tái chiết khấu được qui định ở mức thấp hơn 0,05%/tháng so với lãi suất tái cấp vốn Từ tháng 7-2000, nghiệp vụ thị trường mở được áp dụng với lãi suất hình thành qua các phiên giao dịch Trong một thời gian dài, từ cuối những năm 80 cho tới năm 2000, cơ chế lãi suất của Việt Nam luôn cố gắng duy trì mức lãi suất thực dương - như một giải pháp cho vấn đề lạm phát Mục tiêu kiểm soát lạm phát đã đạt được Thậm chí, có những thời điểm còn xuất hiện thiểu phát Nếu chia lãi suất dương cho tỷ lệ lạm phát thì tỷ lệ này rất cao Năm
1999 là 5.350% và năm 2000 là trên 6.000% (2) Lãi suất cao, trong tương quan với các nền kinh tế khu vực, là cơ hội tốt đầu tư vào trái phiếu Việt Nam trong thời kỳ này
Cơ chế điều hành lãi suất với một mức cơ bản kèm biên độ dao động được NHNN áp dụng kể từ tháng 8-2000 thay cho cơ chế lãi suất trần ( Ngân hàng Nhà nước đưa ra một
cơ chế lãi suất mới trong đó lãi suất cho vay nội tệ của ngân hàng được điều chỉnh theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố) Tuy nhiên, các ngân hàng không được tính lãi suất cho vay vượt quá lãi suất cơ bản cộng 0,3%/tháng đối với vốn ngắn hạn và 0,5%/tháng đối với vốn trung, dài hạn Hai chỉ tiêu này được công bố chính thức định kỳ hàng tháng và điều chỉnh kịp thời trong trường hợp cần thiết Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, về cơ bản, các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung - cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ Đây là nền tảng cho việc xác định điểm cân bằng tỷ giá theo cách tính sức mua tương đương (PPP), từ đó, hình thành một cơ chế tự điều chỉnh
Cơ chế giới hạn biên độ lãi suất so với lãi suất cơ bản về bản chất không khác gì so với trần lãi suất áp dụng trước đây Tuy nhiên, trên thực tế mức trần (lãi suất cơ bản cộng
Trang 8biên độ) được định ở mức cao hơn trần lãi suất theo cơ chế cũ rất nhiều Một điểm đáng chú ý nữa là lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại, mặc dù luôn cao hơn lãi suất
cơ bản, nhưng thay đổi theo lãi suất cơ bản Trong năm 2000 , cả hai mức lãi suất này đều giảm Nhưng trong thời gian đó, lãi suất tiền gửi lại tăng lên Cạnh tranh giữa các ngân hàng đã dẫn tới gia tăng lãi suất huy động vốn, nhưng lãi suất cho vay vẫn không tăng và nằm trong biên độ lãi suất cơ bản Chênh lệch lãi suất, do vậy, đã giảm đi rõ rệt
Nói chung, có ba ý kiến khác nhau bình luận về cơ chế điều hành lãi suất bằng lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước Ý kiến thứ nhất cho rằng lãi suất cơ bản cộng với biên độ không có gì khác với trần lãi suất trước đây và, do vậy, sẽ không tạo ra tác động gì nhiều tới các mức lãi suất cũng như hành vi huy động và cho vay vốn của các ngân hàng Đặc biệt, chính sách này cũng như trần lãi suất, hoàn toàn loại bỏ những người vay vốn nhỏ (như tiểu thương, hộ sản xuất nhỏ và cá nhân) ra khỏi thị trường tài chính chính thức Đó
là do chi phí cho vay các đối tượng này thường lớn nên không thể cho vay trong khuôn khổ trần lãi suất hay lãi suất cơ bản cộng biên độ
Ý kiến thứ hai nhấn mạnh tính tích cực của cơ chế lãi suất cơ bản Trong phạm vi biên độ cho phép,8 các ngân hàng giờ đây có thể định mức lãi suất cho vay khác nhau tùy theo mức độ rủi ro, chứ không còn áp dụng một mức chung cho tất cả các khách hàng như trước đây Như vậy, cạnh tranh trong hệ thống các tổ chức tín dụng sẽ gia tăng và hiệu quả phân bổ vốn cũng sẽ được cải thiện Hơn thế nữa, lãi suất cho vay thực tế của ngân hàng mặc dù không đụng giới hạn biên độ nhưng có xu hướng thay đổi cùng với lãi suất
cơ bản Thực ra, Ngân hàng Nhà nước trong nhiều trường hợp đã thay đổi lãi suất cơ bản theo tình hình thay đổi lãi suất trên thị trường Đây là tín hiệu để có thế tiến tới tự do hóa hoàn toàn lãi suất
Ý kiến thứ ba lại mang tính bi quan trước cơ chế lãi suất mới Theo ý kiến này, việc các ngân hàng được tự do định đoạt lãi suất trong khi các doanh nghiệp nhà nước chậm đổi mới sẽ chỉ làm trầm trọng thêm quan hệ tài chính vốn không được lành mạnh giữa hai thực thể này Đó là vì, ngân hàng sẽ sẵn sàng cho những doanh nghiệp nhà nước được chính phủ bảo lãnh ngầm vay vốn với lãi suất trong khoảng 0,6-0,65%/tháng trong khi khu vực tư nhân có thể phải trả lãi suất tới 0,75- 0,8%/tháng vì các ngân hàng coi cho khu vực này vay vốn là rủi ro hơn
3 Giai đoạn 2001-2002: Tiến đến tự do hóa lãi suất hoàn toàn
Vào tháng 11 năm 2001, trần lãi suất cho vay ngoại tệ được xóa bỏ, mức lãi suất cho
vay và huy động ngoại tệ do các NHTM tự quyết định theo cung – cầu vốn trên thị trường trong từng thời kỳ, từ đó cho phép những người vay ngoại tệ trong nước có thể thương lượng lãi suất với các ngân hàng nội địa và ngân hàng nước ngoài Các ngân hàng
đã chủ động xác định lãi suất tiền gửi và cho vay từ thời điểm áp dụng lãi suất cơ bản Với việc chính thức tự do hóa lãi suất thì lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố chỉ còn tính chất tham khảo Lãi suất tiền gửi tiếp tục gia tăng Đồng thời, ngay sau khi ra quyết định tự do hóa, lãi suất cho vay của các ngân hàng đã lập tức nhích lên Quan điểm
Trang 9hoài nghi về tự do hóa lãi suất cho rằng, cạnh tranh giữa các ngân hàng khi không còn kiểm soát lãi suất sẽ dẫn tới tình trạng “cá lớn nuốt cá bé” Các ngân hàng nhỏ khó có khả năng cho vay với lãi suất thấp để cạnh tranh với các ngân hàng lớn Đặc biệt, các ngân hàng thương mại cổ phần dường như không thể giảm lãi suất huy động tiền gửi để giảm lãi suất cho vay vì sẽ ngay lập tức bị người tiết kiệm rút tiền Ngược lại, khi không còn trần về lãi suất hay giới hạn lãi suất cơ bản cộng biên độ, họ có thể có xu hướng tăng lãi suất huy động rồi đầu tư rủi ro cao (do tác động của lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại) trước sức ép cạnh tranh Sự gia tăng lãi suất tiền gửi và cho vay sau quyết định tự do hóa minh chứng cho lập luận này
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB), chỉ trong vòng 1 tháng đã liên tục tăng lãi suất huy động VND Vào ngày 10/7, ngân hàng này công bố, mức lãi suất tiết kiệm tiền đồng Việt Nam được tăng lên cao nhất trong số các ngân hàng quốc doanh và cao hơn nhiều ngân hàng cổ phần (3 tháng là 0,6%/tháng; 6 tháng 0,65%; 12 tháng 0,67%) Kế hoạch huy động kỳ phiếu với lãi suất cao nhất trong toàn hệ thống ngân hàng được VCB công bố trước đó cũng khiến các đối thủ cạnh tranh thực sự choáng váng Cho đến ngày 29/7, VCB bắt đầu tung ra loại kỳ phiếu 3 kỳ hạn (6, 9 và 12 tháng) này với mức lãi suất lần lượt là 0,67%, 0,69% và 0,7%/tháng
Thông thường, trong những đợt phát hành kỳ phiếu VND, các ngân hàng đều nêu rõ khối lượng dự kiến cũng như thời gian huy động và chỉ ở 1 kỳ hạn Vậy mà kỳ phiếu của VCB
là 3 kỳ hạn, và thời gian cũng như khối lượng dự kiến huy động cũng không được tiết lộ Giới chuyên môn cho rằng, VCB làm như vậy chẳng khác nào tăng lãi suất tiết kiệm lần thứ hai trong vòng 1 tháng Lãnh đạo cấp cao của một ngân hàng cổ phần tại Hà Nội cho biết: “Quyết định tăng lãi suất tiết kiệm rồi phát hành kỳ phiếu VND với mức lãi suất quá cao của VCB không chỉ gây sốc đối với chúng tôi mà với tất cả các ngân hàng khác trong
hệ thống” Một tuần lễ kể từ ngày VCB phát hành kỳ phiếu, thị trường đã có những biến động lớn Vào cuối giờ chiều ngày 2/8, thị trường tiền tệ trở nên nhốn nháo Nguồn vốn tiết kiệm tại các ngân hàng thương mại bị dịch chuyển khá mạnh Kế hoạch phát hành kỳ phiếu của một số đơn vị quốc doanh cũng bị tác động rất lớn Cùng trong thời gian này, Ngân hàng Công thương Việt Nam (ICB) phát hành kỳ phiếu VND 6 tháng nhưng lãi suất chỉ là 0,65%/tháng (thấp hơn VCB) và bắt đầu từ ngày 1/8 (chậm hơn VCB 3 ngày) Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam ở một số chi nhánh phát hành kỳ phiếu 3 tháng lãi suất trả trước 0,65%/tháng (tương đương 0,66%/tháng lãi trả sau)… Một chuyên viên tiền tệ nhận định, các ngân hàng quốc doanh sẽ buộc phải thay đổi lãi suất huy động nếu không muốn lâm vào cảnh thiếu hụt VND Bà Bùi Thị Mai, Tổng giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần nhà Hà Nội (Habubank), cho biết: “Trong khi không thể tăng được lãi suất đầu ra, chúng tôi vẫn buộc phải tăng mạnh lãi suất huy động bởi hiệu ứng tăng lãi suất quá mạnh của các ngân hàng khác Nếu chúng tôi không tăng thì khách hàng sẽ bỏ đến với ngân hàng khác” Vì vậy, kể từ hôm nay, lãi suất tiết kiệm của Habubank cũng được tăng lên (mức lãi suất tiết kiệm 12 tháng là 0,7%/tháng, bằng mức kỳ phiếu của VCB)
Trang 10Mặt khác, trong giai đoạn này, lãi suất tiền gửi bằng ngoại tệ của các doanh nghiệp tại NHTM và tiền gửi ngoại tệ của NHTM tại NHNN chưa được tự do hóa mà vẫn do NHNN quy định, nhằm khuyến khích các doanh nghiệp bán ngoại tệ cho các NHTM và
các NHTM không gửi ngoại tệ ra nước ngoài Cụ thể, NHNN đã liên tục thực hiện tăng tỷ
lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 5% lên 15% và giữ nguyên tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng VND là 5% để hạn chế dòng chuyển dịch từ VND sang USD và việc các TCTD huy động tiền gửi ngoại tệ gửi ra nước ngoài Từ tháng 12/2001 và trong năm 2002, trong điều kiện lãi suất trên thị trường quốc tế giảm mạnh, tác động nhất định đến tình hình tài chính của các TCTD, NHNN đã giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từng bước từ 15% xuống 10%, sau đó xuống 8% (4/2002) và xuống 5% (12/2002), đồng thời giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng VND từ 5% xuống 3% để tạo điều kiện hỗ trợ cho hoạt động của các TCTD
Ngày 30 tháng 5 năm 2002, NHNN đưa ra Quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN về việc thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng đối với khách hàng Theo đó, các TCTD xác định lãi suất cho vay bằng VND trên cơ sở cung cầu vốn thị trường và mức độ tín nhiệm của khách hàng NHNN không quy định biên độ lãi suất cho vay so với lãi suất cơ bản nhưng vẫn tiếp tục công bố lãi suất cơ bản để làm tham khảo và định hướng lãi suất thị trường
Như vậy, cùng với việc trần lãi suất cho vay ngoại tệ được xóa bỏ và việc thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với VNĐ thì lãi suất đã được tự do hóa hoàn toàn Lãi suất cơ bản NHNN công bố làm tham khảo và định hướng lãi suất thị trường Do đó, về cơ bản
từ tháng 6/2002, lãi suất ở nước ta được tự do hóa theo thông lệ Quốc tế.
Một số ý kiến phản đối tự do hóa lãi suất cho rằng từ khi thực hiện lãi suất thỏa thuận cho vay bằng VND, các tổ chức tín dụng cạnh tranh với nhau bằng lãi suất huy động vốn rất quyết liệt Với lãi suất huy động vốn bằng VND quá cao của NHTM quốc doanh, các NHTM cổ phần đành chịu thua Hiệu ứng của việc cạnh tranh huy động vốn bằng VND với lãi suất cao đã phát sinh việc di chuyển tiền tệ từ NHTM này sang NHTM khác, thậm chí từ vùng này đến vùng khác Giá cả của nguồn vốn huy động bằng VND của các tổ chức tín dụng tăng lên, khiến lãi suất cho vay bằng VND của các tổ chức tín dụng cũng tăng lên Chính lãi suất thỏa thuận đã làm mất vai trò quản lý Nhà nước trong lĩnh vực lãi suất tín dụng ngân hàng bằng VND của các tổ chức tín dụng
Trái ngược với những ý kiến phản đối, những người ủng hộ đưa ra các lập luận tương tự như các lý lẽ ủng hộ cơ chế lãi suất cơ bản trước đây Các nhà hoạch định chính sách hy vọng rằng lãi suất giờ đây sẽ phản ánh cung cầu trên thị trường vốn vay Hơn thế nữa, khi lãi suất cơ bản chỉ còn tính chất tham khảo thì các ngân hàng hoàn toàn có thể cho các đối tượng kinh doanh nhỏ hay nông dân vay với lãi suất phản ánh các chí phí cho vay và rủi ro Những người ủng hộ tự do hóa lãi suất cũng không coi việc bỏ quy định biên độ lãi suất cho vay so với lãi suất cơ bản là nguyên nhân dẫn tới tình trạng gia tăng lãi suất Theo họ, sự gia tăng lãi suất phản ánh tình trạng khan hiếm vốn vay trong năm 2002, và thực tế là lãi suất đã tăng trước quyết định tự do hóa lãi suất nhiều tháng