Ngày nay, không còn ai có thể phủ nhận bằng việc điều chỉnh lãi suất cho phù hợp vớinhu cầu của nền kinh tế là một trong những vấn đề thiết yếu mà tổ chức của các hệ thống tiền tệ - tự d
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với công cuộc đổi mới và mở cửa ở nước ta, có nhiều yêu cầu phải giải quyếtcùng một lúc: Vừa ổn định, vừa phát triển kinh tế trong nước, vừa mở rộng giao lưu quan hệquốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài… Nhu cầu mở rộng lượng tiền cung ứng ngày cànglớn, dẫn đến sự xác lập quan hệ cung - cầu mới về tiền trong khi đó vẫn phải tiếp tục ổn địnhkinh tế vĩ mô với hạt nhân là ổn định tiền tệ, tạo lập nền tảng cho sự phát triển chung
Ngày nay, không còn ai có thể phủ nhận bằng việc điều chỉnh lãi suất cho phù hợp vớinhu cầu của nền kinh tế là một trong những vấn đề thiết yếu mà tổ chức của các hệ thống tiền
tệ - tự do hóa lãi suất phải tuân thủ mà chính sách tự do hóa luôn phải theo đuổi
Trong cơ chế thị trường, chính sách lãi suất - tự do hóa lãi suất là một trong những biến
số được theo dõi một cách chặt chẽ nhất trong nền kinh tế Diễn biến của nó được đưa tinhàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng Sự dao động của lãi suất ảnh hưởng trựctiếp đến các quyết định của cá nhân, doanh nghiệp cũng như hoạt động của các tổ chức tíndụng và toàn bộ nền kinh tế Chính sách lãi suất là một trong những công cụ quan trọng trongviệc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, nhằm thúc đầy tăng trưởng và kiềm chế lạm phát.Một mặt, lãi suất được sử dụng đúng đắn uyển chuyển, linh hoạt cần phù hợp với những điềukiện, tình hình kinh tế trong từng thời kỳ nhất định sẽ có tác động tích cực tới các mục tiêukinh tế vĩ mô Ngược lại, nếu sử dụng công cụ lãi suất - công cụ tài chính một cách cố định thìrất có thể chỉ có tác dụng tích cực ở thời kỳ này nhưng chuyển sang thời kỳ khác với nhữngđiều kiện kinh tế xã hội thay đổi lại trở thành vật cản cho sự phát triển của nền kinh tế
Chính vì vậy, để có chính sách lãi suất phù hợp với nguyên tắc thị trường, đảm bảo nguồn lựctài chính được sử dụng và phân bổ một cách hiệu quả hơn thì Việt Nam luôn phải linh độngvới các chính sách lãi suất, để có được chính sách lãi suất phù hợp với từng giai đoạn ngắncủa nền kinh tế
Qua quá trình học tập môn học Tiền tệ ngân hàng cùng với mong muốn được tìm hiểu
thêm về vấn đề này, chúng em xin làm đề tài “Tự do hóa lãi suất của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập”
Do trình độ kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế, nên không tránh khỏi những sơ sóttrong quá trình nghiên cứu đề tài Chúng em rất mong được sự nhận xét, đánh giá, đóng góp ýkiến của cô để bài tập này được hoàn thành
Chúng em xin chân thành cảm ơn cô!
Trang 2 Lãi suất: là giá cả sử dụng tiền vốn, gắn liền với hoạt động tín dụng ngân hàng, đồng
thời gắn liền với hoạt động kinh tế liên quan đến hoạt động gửi tiền và vay tiền Đồngthời, lãi suất còn là công cụ điều hành chính sách tiền tệ của NHTW mỗi nước
Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất được ấn định trên thị trường, không được điều chỉnh
theo sự thay đổi của mức giá
Lãi suất thực: là lãi suất được điều chỉnh cho đúng theo những thay đổi dự tính về
mức giá, do đó nó phản ánh chính xác hơn chi phí thật của việc vay tiền Theo Fisher,lãi suất danh nghĩa (i) bằng lãi suất thực (r ) cộng với mức lạm phát dự tính
Lãi suất hoàn vốn: là lãi suất làm cân bằng giá trị hiện tại của tiền thanh toán nhận
được theo một công cụ nợ với giá trị hôm nay của công cụ đó Đây là phép đo đượccác nhà kinh tế coi là phép đo lãi suất chính xác nhất
Lãi suất tái chiết khấu: là hình thức tái cấp vốn được áp dụng khi ngân hàng nhà
nước tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn khác cho các tổ chức tíndụng
Lãi suất tái cấp vốn: là lãi suất do ngân hàng Nhà nước áp dụng khi tái chiết khấu
Lãi suất liên ngân hàng: là mức lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, nơi các
ngân hàng thực hiện việc cho vay và cho vay lẫn nhau Nó chỉ chính xác hơn về chiphí vốn vay của ngân hàng và cung cấp vốn trên thị trường
1.2 Cơ chế xác định lãi suất
1.2.1 Thị trường
Trang 3 Người cho vay: những người dư thừa vốn
Người đi vay: những người cần vốn để kinh doanh, tiêu dùng
Các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính trung gian: những chủ thể tham
gia và thị trường tài chính, hoạt động tín dụng, huy động vốn để cho vay nhằm mụcđích kinh doanh thu lợi nhuận Họ có những vai trò, vị trí, lợi thế mà tài chính trực tiếpkhông có được
Những thành phần này tham gia vào việc xác định lãi suất tuân theo quy luật thị trường Khi nhucầu về vốn được đáp ứng bằng cung về vốn ở mức toàn dụng vốn thì lãi suất cân bằng được hìnhthành Những biến động của biến số kinh tế vĩ mô sẽ ảnh hưởng đến hành vi của các thành phầnnày, thay đổi cung cầu về vốn và lãi suất cân bằng được điều chỉnh cho phù hợp
1.2.2 Chính sách tiền tệ
Ngân hàng trung ương (NHTW) - Cơ quan có nhiệm vụ phát hành tiền, quản lý hành chính hệthống ngân hàng, vai trò người cho vay cuối cùng, xây dựng chính sách tiền tệ Nó tác độngđến lãi suất bằng các công cụ mang tính quyền lực nhà nước hoặc các công cụ mang tính thịtrường
NHTW sử dụng công cụ lãi suất để tác động vào lượng tiền cung ứng và các biến số kinh tế vĩ
mô khác nhằm đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ:
Các học thuyết, nghiên cứu về cơ chế điều hành lãi suất chỉ ra rằng, NHTW có thể trực tiếphoặc gián tiếp tác động lên lãi suất
Trang 4a Cơ chế tác động trực tiếp: NHTW sử dụng lãi suất với vai trò là một công cụ trực tiếpcủa chính sách tiền tệ, NHTW với hành động mang tính chủ quan áp đặt một khung lãi suất,chênh lệch lãi suất tiền gửi - tiền vay hoặc trần - sàn lãi suất và buộc các tổ chức tín dụng phảituân theo Công cụ này mang tính cưỡng bức với sự đảm bảo bằng quyền lực nhà nước, đặctrưng của cơ chế kiểm soát lãi suất.
b Cơ chế tác động gián tiếp: NHTW sử dụng công cụ gián tiếp - mang tính thị của chính sách tiền tệ để tác động đến lãi suất thông qua hành vi của hệ thống ngân hàng
trường-Các công cụ đó là:
Dự trữ bắt buộc: là công cụ của chính sách tiền tệ Các ngân hàng thương mại được
yêu cầu phải giữ lại một tỷ lệ phần trăm các khoản tiền gửi của họ dưới dạng dự trữhoặc là bằng tiền mặt tại quỹ hoặc là bằng tiền gửi tại quỹ dự trữ của NHTW Sự thayđổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc có tác động mạnh mẽ lên khả năng cho vay của các tổ chức tíndụng và cho cả hệ thống tài chính
Lãi suất tái chiết khấu: Đây là lãi suất phạt đối với ngân hàng thương mại khi thiếu
hụt khả năng thanh toán, NHTW thông qua lãi suất tái chiết khấu tác động vào lãi suấtthị trường Ví dụ, việc NHTW nâng lãi suất tái chiết khấu buộc các ngân hàng thươngmại phải tăng dự trữ bắt buộc để đảm bảo khả năng thanh toán Đồng thời ngân hàngthương mại cũng phải tăng lãi suất cho vay để bù đắp chi phí cho những khoản tăngthêm dự trữ, do vậy mà lãi suất thị trường tăng lên Ngược lại, việc giảm lãi suất táichiết khấu của NHTW cho phép ngân hàng thương mại giảm dự trữ và hạ lãi suất chovay, do đó mà hạ lãi suất thị trường
Nghiệp vụ thị trường mở: là nghiệp vụ mua bán chứng khoán trên thị trường tiền tệ
ngắn hạn NHTW muốn đẩy mạnh tăng trưởng, mở rộng tín dụng, bằng cách mua vàocác khoản chứng khoán có giá làm cho cung về tiền tệ tăng lên, dẫn tới làm giảm lãisuất và ngược lại
Hợp đồng mua lại: là hợp đồng bán những chứng khoán, trong đó người bán cam kết
sẽ mua lại chứng khoán này vào một thời điểm trong tương lai với mức giá được xácđịnh trước trong hợp đồng Như vậy, thực chất hợp đồng mua bán lại là hợp đồng cho
Trang 5NHTW bơm tiền vào thị trường tài chính và do vậy làm giảm lãi suất ngắn hạn và ngược lại.
2 Tự do hóa lãi suất
2.1 Khái niệm
Tự do hóa lãi suất là một bộ phận quan trọng của tự do hóa tài chính, là việc trao cho thịtrường vốn toàn bộ việc xác định lãi suất cân bằng, ngân hàng trung ương chỉ sử dụng cáccông cụ can thiệp một cách gián tiếp để điều chỉnh cho phù hợp chiến lược và mục tiêu đặt ratrong từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế
Thực chất của tự do hóa lãi suất chính là cơ chế điều hành lãi suất hoàn toàn để cho cung cầuvốn trên thị trường xác định lãi suất cân bằng Ngân hàng trung ương chỉ can thiệp bằng cáccông cụ để điều chỉnh theo định hướng mà thôi
Tự do hóa lãi suất nói riêng và tự do hóa tài chính nói chung có ý nghĩa quan trọng đối với cácquốc gia trong giai đoạn phát triển và chuẩn bị hội nhập vào nền kinh tế thế giới trên phươngdiện vĩ mô lẫn vi mô
2.2 Tính tất yếu của tự do hóa lãi suất
2.2.1 Xét diện vĩ mô của nền kinh tế
Trong quá trình phát triển nền kinh tế và hội nhập, VN đã có những thành công bước đầutrong việc hội nhập với nền kinh tế thế giới sau nhiều năm bị gián đoạn Hiện nay, chúng ta đã
có mối quan hệ với IMF, WB, ADB,… và là thành viên của ASEAN từ năm 1997, gia nhậpAFTA và WTO, bước đầu hòa nhập như vậy chúng ta đã có những thành công lớn, kế tiếp làchúng ta đã chuyển đổi một số hoạt động cho phù hợp với thông lệ quốc tế, trong đó có lĩnhvực tài chính, ngân hàng
Như vậy, tự do hóa lãi suất chuyển dần sang thực hiện các công cụ gián tiếp điều hành chínhsách lãi suất, giảm sự can thiệp và điều hành bằng các công cụ hành chính trực tiếp, từ đó sẽtrả lãi suất đúng vai trò là đòn bẩy kích thích nền kinh tế phát triển, nhằm kích thích sự tăngtrưởng kinh tế
Trang 62.2.2 Xét diện vi mô của nền kinh tế
Tự do hóa lãi suất sẽ thúc đẩy cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụngtrong nước và các chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài tại Việt Nam, giúp các ngânhàng trong nước có điều kiện phát triển, đa dạng hóa nghiệp vụ, tiếp cận công nghệ tiên tiếnhơn Đối với các khách hàng của ngân hàng thương mại đó là các doanh nghiệp, các tầng lớpdân cư sẽ chủ động hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn phù hợp với đặc điểm hoạt động kinhdoanh của mình, đồng thời được quyền lựa chọn các ngân hàng thương mại, các tổ chức tíndụng để giao dịch, hoạt động
2.3 Điều kiện cơ bản để thực hiện tự do hóa lãi suất
Sự ổn định kinh tế vĩ mô đủ chắc chắn để chịu đựng được các tác động, các cú sốc từ bên ngoài đối với nền kinh tế có thể xảy ra khi tự do hóa hoàn toàn lãi suất
Sự hiện diện đầy đủ các công cụ của chính sách tiền tệ hữu hiệu, sự hình thành các quy trình nghiệp vụ phù hợp với đòi hỏi của nền kinh tế thị trường
Có môi trường pháp lý và thể chế hoàn thiện, đủ khả năng điều chỉnh các quan hệ kinh
tế Có quy chế phòng ngừa, bù đắp rủi ro hoàn thiện, hữu hiệu, đảm bảo hạn chế và bùđắp được những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động của các trung gian tài chính
Hệ thống các cơ quan tài chính phát triển lành mạnh, có uy tín Các cơ quan này đòi hỏikhông chỉ có công nghệ hiện đại mà còn phải có sự phát triển về bề sâu, có kinh nghiệmlâu dài về quản lý ở nhiều khía cạnh
Sự thanh tra giám sát chặt chẽ của ngân hàng TW đối với các tổ chức tín dụng trong hoạt động kinh doanh nói chung và thực thi chính sách tiền tệ nói riêng
Chọn thời điểm bắt đầu, tốc độ và lộ trình tự do hóa lãi suất phù hợp với bối cảnh củanền kinh tế Kinh nghiệm về tự do hóa lãi suất ở một số nước vào những năm 80 chothấy tự do hóa không đúng thời điểm sẽ làm tăng tính bất ổn định kinh tế vĩ mô thôngqua việc làm tăng lạm phát và nợ nước ngoài, giảm sức sản xuất trong nước
Tự do hóa lãi suất gắn liền với tự do hóa tỷ giá hối đoái
Trang 72.4 Ưu, nhược điểm của tự do hóa lãi suất
2.4.1 Ưu điểm
Đảm bảo điều chỉnh tự động và tức thì, do đó giảm rủi ro đối với những sai lầm về chính sách
Truyền tải các tín hiệu chính sách và tác động tới tất cả các bộ phận của nền kinh tế
Đảm bảo việc phân bổ tiền tệ và tín dụng tối ưu trên cơ sở lãi suất, mức độ rủi ro tươngđối và lợi nhuận thu được
Đảm bảo nhất quán giữa chính sách tiền tệ, ngân sách và tỷ giá
Làm cho áp lực thị trường tiền tệ thể hiện rõ tức thì
Cho phép ngân hàng TW rút về sau thị trường mà không mất khả năng kiểm soát
2.4.2 Nhược điểm
Tự do hoá lãi suất là mục tiêu của chính sách tiền tệ, song với các quốc gia đang phát triểnviệc ngay lập tức từ thái cực này - kiềm chế sang thái cực khác - tự do là một việc làm khôngkhả thi Tự do hoá lãi suất cần có một trình tự bước đi hợp lý , nếu không sẽ gây ra những đổ
vỡ to lớn cho nền kinh tế
Nguyên nhân của việc cần có một bước trung gian là:
Thứ nhất, những thuận lợi do tự do hoá lãi suất mang lại là rất cơ bản , nhưng cũng tồn tại
những trường hợp mà ở đó tự do hoá lãi suất không được thực hiện tốt vai trò của mình, như:
Các nước đang phát triển luôn phải đối mặt với hệ thống tài chính còn kém phát triển
và tình trạng thiếu thông tin về thị trường tài chính , các sản phẩm tài chính Do đó để
tự do hoá lãi suất làm tròn chức năng của mình thì thị trường tài chính cần được củng
cố và phát triển Hơn nữa trong nền kinh tế, thị trường tín dụng không phải lúc nàocũng đủ nhanh để điều chỉnh cân bằng cung cầu thị trường khi điều kiện thay đổi, vàtình trạng mất cân bằng vẫn là phổ biến của các nên kinh tế đang phát triển
Tự do hoá lãi suất sẽ kém hiệu quả nếu áp đặt vào hệ thống tài chính quá nhiều các mụctiêu quốc gia Ở các nước đang phát triển những chính sách ưu đãi và tạo điều kiện lạiluôn cần phải
Trang 8Thứ hai, các công cụ kiểm soát tiền tệ gián tiếp như lãi suất tái triết khấu còn chưa có để thay
thế cho vai trò của lãi suất trong việc điều hành chính sách tiền tệ Do đó, công cụ kiểm soátlãi suất vẫn được coi là một công cụ duy nhất và khả thi để thực hiện chính sách tiền tệ
Thứ ba, các nước đang phát triển có nền tảng kinh tế vĩ mô chưa thực sự vững chắc đủ để chịu những áp lực của việc tự do hoá lãi suất hoàn toàn: chúng có thể làm mất ổn định vĩ mô
qua việc tăng lạm phát, nợ nước ngoài và làm suy giảm tăng trưởng kinh tế
Phần II Thực trạng tự do hóa lãi suất ở Việt Nam
1 Tiến trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam
Chính sách lãi suất Việt Nam được thi hành qua 2 thời kỳ chính Trước năm 1988, với cơchế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, lãi suất thực âm, được nhà nước ấn định một cách cứngnhắc và thoát ly khỏi lãi suất thế giới Từ sau năm 1988 đến nay, khi bắt đầu nền kinh tế thịtrường có định hướng xã hội chủ nghĩa, với bước ngoặt là nghị định phân định rõ ràng nhiệm
vụ và chức năng của ngân hàng nhà nước và ngân hàng liên doanh, nhà nước đã từng bướctiến hành tự do hóa lãi suất, cụ thể qua các giai đoạn sau:
1.1 Cơ chế thi hành chính sách cố định ( 1989 - 1992) Đặc
trưng thời kỳ này là NHNN điều hành cơ chế lãi suất âm
Đây là thời kỳ Ngân hàng bước đầu thực hiện chính sách 2 cấp: Ngân hàng Nhà nước vàNgân hàng chuyên doanh trực thuộc Tuy vậy trong bối cảnh này, cấu trúc NHVN vẫn là “1 hệthống thống nhất trong cả nước” được chia cắt hành chính Do vậy, lãi suất thời kỳ này đượcđặc trưng bởi các đặc điểm sau:
Lãi suất thực âm và cố định, được quy định một cánh cứng nhắc bởi nhà nước nhằmphục vụ cho các mục tiêu phát triển của doanh nghiệp quốc doanh, phản ánh cơ chế baocấp qua tín dụng Thời kỳ này các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ, vay ngânhàng không trả được nợ và cuối cùng các ngân hàng phải xoá nợ
Lãi suất cho vay ngân hàng nhỏ hơn lãi suất tiền gửi
Trang 9 Lãi suất cho vay dài hạn nhỏ hơn lãi suất cho vay ngắn hạn Đây là cơ chế lãi suất đã có từtrước nhưng có sự thay đổi căn bản, theo nguyên tắc của việc xác định lãi suất là: Bảo toànđược vốn và có lãi, được áp dụng ở các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế Cơ chếlãi suất này được điều chỉnh theo biến động của chỉ số giá, đặc biệt là lãi suất ngoại tệđược áp dụng theo mức lãi suất của thị trường tiền tệ quốc tế Thực tế vận hành trong mộtthời gian (1989-1992), cơ chế lãi suất thời kỳ này đã bắt đầu phát huy tác dụng, là bướcchuyển của cơ chế lãi suất thực âm sang cơ chế lãi suất thực dương.
Bảng 1: Các lần điều chỉnh lãi suất tín dụng 1989 – 1990
Đơn vị: %/tháng
quânThời gian của tổ chức kinh Thời gian cả dân cư
Trang 101.2 Cơ chế điều hành khung lãi suất (1992-1995)
Đặc trưng thời kỳ này là NHNN điều hành cơ chế lãi suất theo khung lãi suất
Năm 1992-1993, NHNN bắt đầu chuyển sang lãi suất thực dương, vẫn qui định mức lãi suấttiền gửi và lãi suất cho vay cụ thể, có sự phân biệt lãi suất giữa các thành phần kinh tế
Năm 1992-1995, sàn lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay được NHNN quy định cụ thể Đồngthời gắn liền lãi suất doanh nghĩa với chỉ số giá nhằm giữ lãi suất thực dương, hạn chế sựchênh lệch lãi suất cho vay giữa các thành phần kinh tế, đảm bảo cho vay không quá trần lãisuất cho vay NHNN cho phép NHTM thỏa thuận lãi suất với khách hàng, đây có thể coi là tự
do hóa 1 phần lãi suất, khống chế mức lãi suất huy động và lãi suất cho vay là 0,35%/tháng
Bảng 2: Diễn biến lãi suất bình quân các năm 1986 – 1995
Đơn vị tính: %/thángLãi suất/năm 86-90 91 92 93 94 95Cho vay BQ 4,3 2,5 2,5 1,8 1,6 1,7Tiền gửi BQ 6 2,9 1,9 1,4 1,3 1,4Chênh lệch -1,7 -0,4 +0,4 +0,3 +0,3
(Nguồn ngân hàng nhà nước Việt Nam)Tuy nhiên, đến năm 1995, chính sách lãi suất này đã bộc lộ những nhược điểm của nó Saugần chục năm chuyển sang kinh tế thị trường, nền kinh tế đang trên đà tăng trưởng, các thànhphần kinh tế phát triển đa dạng, do đó nhu cầu về vốn cũng rất khác nhau Khung lãi suất khôngđược linh động, các ngân hàng vẫn bị phụ thuộc nhiều vào Nhà nước Mặt khác, NHNN khốngchế chặt chẽ mức trần lãi suất cho vay ở mức thấp đã khuyến khích sự vay mượn lòng vòng trênthị trường không chính thức, trốn tránh sự kiểm soát, lãi suất tiền gửi tăng nhanh nhưng lãi suấtcho vay lại không tăng được và chênh lệch lãi suất chỉ để bù đắp chi phí kinh doanh, lợi nhuận rấtthấp, khả năng tài chính của các NHTM bị yếu đi, gây xáo trộn trên thị
Trang 11trường tài chính Vì vậy, chính sách lãi suất đã không còn phù hợp với nhu cầu phát triển củathị trường tài chính và mục tiêu phát triển kinh tế.
1.3 Cơ chế điều hành lãi suất trần (1996-2000)
Đặc trưng thời kỳ này là NHNN vẫn thực hiện chính sách lãi suất thực dương nhưng làm thayđổi căn bản trần lãi suất
Năm 1996, NHNN thực hiện tự do hóa lãi suất tiền gửi nhằm tạo cạnh tranh giữa các NH huy
động vốn, thực hiện linh hoạt trần lãi suất cho vay; tuy nhiên vẫn qui định mức chênh lệch lãisuất cho vay và lãi suất tiền gửi là 0.35%/tháng
Năm 1997, việc nới lỏng chính sách lãi suất, tăng trần lãi suất tạo điều kiện cho các NH tăng
lãi suất tiền gửi gây ra mất công bằng giữa các tổ chức tín dụng vì mỗi tổ chức có đặc thùriêng về chi phí và huy động vốn Do đó, mức chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất chovay không còn tác dụng
Năm 1998, NHNN xóa bỏ quy định chênh lệch lãi suất, chỉ còn quy định trần lãi suất cho vay.
Mức lãi suất cho vay tăng từ 1%/tháng lên 1.2%/tháng, cho vay trung và dài hạn tăng từ 1.1%/tháng lên 1.25%/tháng Qua đó tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng huy động và cho vayphù hợp với đặc điểm của mình, tạo điều kiện huy động vốn đủ đáp ứng các nhu cầu cho vay,phát triển kinh tế Đồng thời Ngân hàng Nhà nước còn quy định lãi suất tiền gửi tối đa chopháp nhân tại tổ chức tín dụng, nhằm hạn chế việc găm giữ ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi,góp phần tăng cường chính sách quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước
Năm 1999, NHNN đưa vào sử dụng nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá cho các
NHTM, lãi suất tái chiết khấu được quy định ở mức thấp hơn 0.05%/tháng so với lãi suất táicấp vốn Nền kinh tế có dấu hiệu thiểu phát, nhằm kích cầu Ngân hàng Nhà nước liên tục điềuchỉnh giảm trần lãi suất, lãi suất cuối năm giảm 0,35%-0,4% so với đầu năm và ở mức thấp sovới những năm trước:
Cho vay khu vực thành thị: 0,85% /tháng
Cho vay khu vực nông thôn:1%/tháng