dân tộc dao tiền
Trang 2Các tên tự gọi của dân tộc dao đó là: Kiêm, Mun, Mân, Miền
Thể hiện sự tự giác dân tộc sâu sắc, là ý thức cộng đồng tập thể được hình thành
ở đồng bào trong quá trình lịch sử lâu dài và anh dũng của dân tộc
Tên gọi của dân tộc Dao:
Từ trước đến nay có rất nhiều tên gọi Trước cách mạng tháng 8 trong việc giaodịch hàng ngày, người ta dùng danh từ Mán để chỉ dân tộc Dao Tuy nhiên đây làmột danh từ có nghĩa tổng hợp , không những để chỉ dân tộc Dao mà còn để chỉmột số tộc người khác du canh du cư ở miền núi rừng
Ta có nhiều cơ sở khoa học để gọi dân tộc Dao Trước hết mọi người đều biếtrằng quê hương xa xa của họ là ở miền nam Trung Quốc Từ đấy họ di cư sang ViệtNam Hiện nay ở Trung Quốc họ có tên là dân tộc Dao
Không có lí do gì để gọi họ khác với những người có chung nguồn gốc lịch sửTuy nhiên trong các sách của Trung Quốc vẫn chưa giải thích được một cáchthỏa đáng ý nghĩa của tộc danh Dao
Nhóm địa phương:
Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt(Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanhphán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng(Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài)
Dân số:
Ở Việt Nam dân tộc Dao có dân số là 751.067 người theo kết qua điều tra dân sốcủa năm 2009
Phân bố : Dân tộc Dao cư trú chủ yếu ở biên giới Việt-Trung, Việt-Lào và ở một
số tỉnh trung du và ven biển Bắc bộ Việt Nam Cụ thể, đa phần tại các tỉnh như HàGiang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn, LaiChâu, Hòa Bình…
+ Hà Giang (109.708 người, chiếm 15,1% dân số toàn tỉnh và 14,6% tổng số
người Dao tại Việt Nam)
+ Tuyên Quang (90.618 người, chiếm 12,5% dân số toàn tỉnh và 12,1% tổng sốngười Dao tại Việt Nam)
Trang 3+ Lào Cai (88.379 người, chiếm 14,4% dân số toàn tỉnh và 11,8% tổng số ngườiDao tại Việt Nam)
+ Yên Bái(83.888 người, chiếm 11,3% dân số toàn tỉnh và 11,2% tổng số ngườiDao tại Việt Nam)
+ Quảng Ninh (59.156 người, chiếm 5,2% dân số toàn tỉnh)
+ Bắc Kạn (51.801 người, chiếm 17,6% dân số toàn tỉnh),
+ Cao Bằng (51.124 người, chiếm 10,1% dân số toàn tỉnh)
+ Lai Châu (48.745 người, chiếm 13,2% dân số toàn tỉnh)
+ Lạng Sơn (25 666 người)
+ Thái Nguyên(25.360 người)
• Người Dao cư trú trên cả 3 vùng địa hình: vùng cao, vùng giữa, và vùng thấp.
+ Vùng cao có nhiều núi đá vôi thuộc các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn,Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Quảng Ninh và các vùng cao Tây Bắc.Vùng này núi non hiểm trở, độ cao rung bình từ 800m đến 1.000m, đất feralit núi
có mùn, khí hậu mát mẻ, độ ảm cao do mưa nhiều Ở vành đai này có nhiều ngườiDao Đỏ, một bộ phận Dao Tiền và một số ít Dao Làn Tẻn
+ Vùng giữa là vùng có núi đá vôi xen vói núi đát thuộc thượng du Bác Bộ vàTrung Bộ có độ cao khoảng 400m đến 600m Vành đai này có đất feralit núi, tươngđối thấp, khí hậu và thực vật thuộc miền nhiệt đới Vùng này là địa bàn cư trú chủyếu của người Dao Quần Chẹt, Dao Lô Giang, Dao Tiền, Dao Thanh Y
+ Vùng thấp, vùng chuyển tiếp giữa núi và dồng bằng, có độ cao khoảng 200mtrở xuống Trước đây vùng này hầu như chỉ có nhóm Dao Quần Trắng, nhưng nay
có thêm một số nhóm Dao như: Dao Quần Chẹt, Dao Tiền, Dao Làn Tẻn
Lịch sử hình thành:
Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dàisuốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX Họ tự nhận mình là con cháucủa Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ởngười Dao
Trang 4II/ VĂN HÓA
A )VĂN HÓA MƯU SINH
1.Nông nghiệp
a/ Trồng trọt:
Nguồn sống chính của dân tộc Dao tiền cũng như các dân tộc khác ở nước ta lànông nghiệp do cư trú ở nhiều tỉnh, lại có địa hình: vùng núi cao ( núi đá, núi đất),vùng núi giữa, vùng núi thấp và khí hậu ở các vùng đó cũng khác nhau, cho nêncanh tác nông nghiệp của người Dao tiền rất đa dạng Đồng bào làm nương ducanh, nương định canh và làm ruộng nước
Đồng bào Dao tiền trồng trọt
Ở vùng núi giữa là địa bàn sinh sống chủ yếu của Dao tiền Đây là vùng núi đất,người Dao tiền thường làm nương du canh, sống du cư Nương khai phá ra chỉ làmđược vài vụ, sau đó nương cằn đất không còn màu mỡ cho cây trồng nữa, đồng bàolại bỏ hóa nương đi tìm rừng để khai phá nương mới và chuyền cả nhà du cư theonương Chưa có tập quán dùng phân bón trong trồng trọt Cây trồng chính là câylúa nương Công cụ lao động chính là rìu, dao, gậy chọc lô, nạo và hái nhắt
Ở vùng cao núi đá (tỉnh Hà Giang), đồng bào Dao tiền làm nương đị h canh.ոsống định cư hoặc luân canh định cư Họ trồng trọt trên những thửa nương nhỏ,hẹp, trên nương có nhiều đá to, nhỏ, cao, thấp lởm chởm Việc trồng trọt ở đây rấtkhó khăn, đôi khi phải trồng trọt trên các miếng đất nhỏ giữa các khối đá, cho nêncòn gọi là thổ canh hốc đá Cây trồng chủ yếu trong vùng này la cây ngô Ngoài rathể trồng kê, ca lương, tam giác mạch Công cụ sản xuất cũng tương tự như sảnօxuất ở vùng núi thấp Chỉ một số nơi (huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, huyệnĐồng Văn, tỉnh Hà Giang) đồng bào có tập quán bón phân cho cây trồng Tuynhiên độ nghiêng của mặt nương khá cao, cho nên đất bị xói mòn nhanh, vả lại ởvùng này thường thiếu nước nghiêm trọng, nhất là vào mùa khô, cho nên năng suấtcây trồng không cao,
Đồng bào Dao tiền dù canh tác trên nương dụ canh hay trên nương định canhđều có kinh nghiệm trồng xen canh gối vụ Lên nương ngô hay nương lúa củangười Dao tiền vào vụ hè thu, ta thường thấy dưới gốc cây lúa, cây ngô đều có cáccây được trồng xen canh như cây khoai lang, cây đậu tương, cây dưa chuột; quanhnương có các cây rau xanh như cay rau dền, cây bí đỏ, bí xanh
Ở vùng núi thấp, đồng bào Dao tiền làm ruộng nước là chính Đồng bào khaiphá ruộng bậc thang ở chân núi ven sông, suối và cấy lúa Mùa vụ trồng, cấy cũng
Trang 5như các dân tộc khác trong vùng Để làm ruộng, người Dao tiền sử dụng sức kéo làcon trâu, bò Các cộng cụ sản xuất cỏ cây cuốc, dao, liềm Người Dao tiền cũng cónhiều giải pháp để giải quyết thuỷ lợi cho cây lúa như đắp đập, đào mương, đào ao,làm cọn nước
Ngoài cây lương thực, cây rau xanh đồng bào Dao tiền còn trồng các loại câycông nghiệp như: cây chè, cây trầu, cây lai và một số cây khác có giá trị kinh tếcao như cây trúc, cây vầu, cây bồ đề Đặc biệt người Dao tiền có cây công nghiệptruyền thống là cây quế Cây quế được trồngnhiều ở tỉnh Yên Bái Sản phẩm quế
có quế thanh và quế chi Quế là sảnphần hàng hoá Nhiều gia đình người Dao tiềnlàm giàu bằng cây quế
b Chăn nuôi
Vùng đồng bào Dao tiền cư trú là vùng núi giữa, sẵn rừng, đồi cỏ, thung lũngcho nên khá thuận lợi cho phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm Những nơi đồngbào sống định cạnh, định cư chăn nuôi có điều kiện phát triển tốt, có gia đình nuôihàng chục con trâu, con bò, nhiều hộ còn nuôi cả ngựa, dê Lợn là con vật nuôi phổbiến nhất trong dân tộc Dạo tiền Nhà nào cũng nuôi vài con, có nhà nuôi vài bachục con Nhà nuôi nhiều lợn thường phân loại lợn để cho ăn theo từng khẩu phầnriêng Đồng bào Dao tiền cũng nuôi nhiều gà, vịt, ngỗng Ngoài ra còn có tập quánnuôi cá ở ao, ở ruộng Người Dao tiền nuôi gia súc, gia cầm vừa để phục vụ chosản xuất, vừa phục vụ cho cúng bái và ăn thịt
2.Thủ công nghiệp
a.nghề dệt vãi
+ Nghề thủ công chưa phát triển và chỉ là nghề phụ của gia đình, mang tính chất
tự nhiên theo mùa (nông nhàn) Sản phẩm thủ công chủ yếu để phục vụ sản xuấtnông nghiệp và sinh hoạt hàng ngày Kỹ thuật sản xuất còn thô sơ, số lượng và chấtlượng sản phẩm chưa cao vì phụ thuộc nhiều vào sự khéo léo của cá nhân
+ Nghề làm vải (trồng bông, kéo sợi, dệt vải và nhuộm chàm) đều phổ biến ởmỗi nhóm Dao Trừ một vài trường hợp đặc biệt như ở Lào Cai và Hà Giang, BắcKạn có một số nhóm Dao như Dao đỏ, Dao Lô gang chỉ trồng bông, làm sợi nhưngkhông dệt vải; đổi sợi lấy vải Khung cửi của người Dao còn khá thô sơ Dệt vải làcông việc riêng của phụ nữ nhưng không thường xuyên, người ta chỉ tranh thủ làmvào những ngày mưa gió không đi nương hoặc những ngày nhàn rỗi
VÍ DỤ : Lúc nông nhàn, phụ nữ dân tộc Dao tiền ở xã Hoa Thám (Nguyên Bình,Cao Bằng) thường quay sợi, xe tơ dệt vải rồi nhuộm, thêu nên những bộ trang phục
Trang 6với những hoa văn độc đáo, tinh tế, thể hiện đời sống văn hóa, tín ngưỡng của dântộc mình.
Người Dao tiền dùng kỹ thuật “nhuộm bao vải” (kỹ thuật Batik) để tạo họa văntrên trang phục bằng cách che chắn trước một phần vải để tạo hoa văn trước khinhuộm Sáp ong được đun nóng và lọc bỏ tạp chất Hoa văn được vẽ trên nền vảitrắng bằng những dụng cụ tự chế Các ống tre có đường kính to nhỏ khác nhau (từ1,5cm- 2cm), để in các hình tròn Các que hình tam giác để in các đoạn thẳng vàgóc, lá chít ép phẳng dùng làm cữ Khi sáp ong khô thì đem nhuộm chàm nhiềulần, cứ ngày đem phơi nắng, đêm ngâm chàm Cuối cùng, tấm vải sẽ được nhúngvào nước sôi, sáp ong bị tan ra và hiện lên các hoa văn trên nền chàm
d.Nghề làm đồ trang sức
+ Nghề làm đồ trang sức bằng đồng hay bạc cũng đã có từ lâu trong người Dao,song là nghề gia truyền nên lại càng ít người biết hơn nghề rèn Người thợ bạc cóthể làm được: vòng cổ, vòng tay, nhẫn, xà tích, các loại cúc và các đồ trang sứckhác dính trên quần áo Đồ trang sức thường được chạm nổi hoặc chạm chìm vớinhiều mô típ rất khéo léo Những sản phẩm này còn được các dân tộc khác ưachuộng, thường đến mua hoặc đổi bằng hiện vật
Trang 7cuốn sách cúng, sách hát, gia phả đã ghi từ lâu cũng là nhờ có giấy này, giấy còndùng làm pháo và hàng mã.
3.Săn bắt và hái lượn
a.Săn bắn
+ Săn bắn không chỉ là một nguồn cung cấp thêm thức ăn, cải thiện bữa ăn hàngngày mà còn là biện pháp bảo vệ mùa màng rất có hiệu quả, đồng thời còn là mộtnguồn giải trí vô cùng hứng thú đối với người Dao
Vũ khí săn có súng hỏa mai, súng kíp, nỏ tên thường, tên thuốc độc, nay còn cósúng săn hiện đại
Có hai hình thức săn: săn cá nhân và săn tập thể
-Săn cá nhân: lối săn này thường được tiến hành vào các buổi chiều Một ngườivới khẩu súng, sục sạo hết rừng này tới rừng khác, may gặp con gà rừng, con sóc,con chồn, đôi khi cũng gặp cả lợn rừng và gấu…
Ngoài lối đi săn “cầu may” này, người ta còn đi săn đêm Săn đêm cần có đènsoi, đèn đốt bằng dầu lửa, đèn pin Săn đêm cần phải tiến hành vào những tuần tốitrời
- Săn tập thể là một hình thức săn hấp dẫn nhất và được nhiều người tham gia.Sau khi phát hiện dấu chân con thú ở một cánh rừng nào đó hay thấy có thú pháhoại một đám nương nào thì cuộc săn được tiến hành Vũ khí có: súng, nỏ, giáo,mác, lưới săn và chó săn
-Ngoài cách săn bắn, người Dao còn sử dụng rộng rãi nhiều loại bẫy Nguyên lýcấu tạo các loại bẫy thường giống nhau nhưng rất phong phú về mặt loại hình: cắp,bẫy đè, bẫy nỏ hoặc súng, bẫy chọc,…
b.Hái lượm
- Lâm thổ sản là một nguồn lợi đáng kể Vào những năm mùa màng bị thất bát,
củ nâu, củ mấu, bột nhúc, củ mài, các thứ măng, rau rừng đã giúp đồng bào vượtqua những ngày thiếu thốn Ngoài ra, đồng bào còn thu hái nấm hương, mộc nhĩ,cánh kiến và các loại hạt có dầu, khai thác gỗ, tre, nứa, song, mây các loại dượcliệu quý cung cấp cho vùng đồng bằng và xuất khẩu
-Trước đây việc thu lượm lâm thổ sản hoàn toàn mang tính chất tự nhiên nên kếtquả không được bao nhiêu mà tác dụng phá hoại và lãng phí lại rất lớn Ngày nay,
Trang 8nhà nước đã khuyến khích và hướng dẫn việc khai thác, chế biến, bảo quản nênnguồn lợi ngày càng tăng, góp phần cải thiện đời sống đồng bào.
4 Trao đổi hàng hóa:
Kinh tế dân tộc Dao là kinh tế tự cấp tự túc, tuy nhiên đồng bào có một số sảnphẩm đem bán ở chợ địa phương, đó là sản phẩm quế và các loại lâm thổ sản Thịtrường quê chủ yếu là Trung Quốc Vào mùa quế các thương lái Trung Quốc đếntận gốc quế ăn hàng Các loại lâm thổ sản có măng khô, mộc nhĩ, nấm hương, sápong, cánh kiến, Và các loại lâm thổ sản này chủ yếu tiêu thụ tại thị trường địaphương
B) VĂN HÓA VẬT THỂ
1) LÀNG XÓM
Người Dao có hai loại hình cư trú là cư trú tập trung và phân tán Sự khác biệtnày là do điều kiện canh tác và thế đất nơi cư trú Tuy nhiên, đến nay một số nơiđiều kiện canh tác và cảnh quan đã thay đổi nhưng người ta vẫn giữ lại tập quán
cũ
Loại hình cư trú phân tán, làng xóm kiểu này thấy rõ nhất ở những nhóm Daochuyên sống bằng nương rẫy du canh như: Dao Quần Chẹt, Dao Đỏ, Dao ThanhY… Mỗi điểm tụ cư chỉ mươi nóc nhà, nhà nọ cách nhà kia khá xa, có khi vài km
sự kết hợp các hộ trong các cư điểm khá lỏng lẻo vì nhà phải “chạy theo” nươngrẫy
Loại hình cư trú tập trung tập trung phổ biến ở những nhóm Dao đã định cư.Đặc biệt là ở nhóm Dao Tiền, nhà nọ liền kề nhà kia Có nơi các nhà trong làng còn
có số như đường phố
Dù với loại hình định cư nào, ở độ ca nào đối với người Dao cũng cần có nhữngđiều kiện nhất định: nơi khuất gió, ca ráo, gần nguồn nước, có bãi để chăn nuôi,gần rừng để kiếm chất đốt và rừng còn là nguồn thực phẩm tự nhiên ( măng rau,
củ, tôm , cá chim muông…) gần bà con thâ thích Một trong những điều kiện đượccoi là quan trọng nhất, đó là nguồn cung cấp nước – có khả năng đưa nước về tậnnhà, ít nhất là về tới xóm
Trang 92 )NHÀ CỬA
a )KHÁI QUÁT
Dao là một trong những dân tộc có cả 3 lọa hình nhà ở: nhà đất, nhà nửa sàn –nửa đất và nhà sàn Song nhà ở bất cứ nhóm Dao cũng có đủ 3 loại hình nhà nhưvậy
Dù là loại hình nhà nào thì vật liệu xây dựng chính vẫn là thảo mộc ( tranh, tre,
gỗ, dây rừng…) những vật liệu này thường kiếm được ngay tại nơi cứ trú
Dụng cụ được dung trong việc làm nhà khá đơn giản, trước đây công cụ chủ yếu
là cây rìu, con rựa quen thuộc của công việc nương rẫy Gần đây, đồng bào mới cóthem các loại cưa ,đục và bào Cũng giống như nhiều cư dân thiểu số khác, ngườiDao chưa có thợ chuyên làm nhà Mà mỗi khi có ai làm nhà mới thì bà con lốixóm tới giúp, mỗi người 1 việc nên hoàn tất được một ngôi nhà trong vài ngàykhông khó khan gì Với người Dao, trong việc làm nhà, đặc biệt là người Dao Tiền,phụ nữ cũng có thể làm được những công việc mà ở các cư dân khác thường dànhcho đàn ông như: cưa, bào, đục… Tập quán giúp đỡ nhau trong việc xây cất nhà
đã được hình thành từ lâu trong người Dao Người ta không chỉ giúp công mà còngiúp vật liệu, tiền, gạo, thịt, thường là thịt lợn ướp chua, rượu… Sau này chủ nhà
có thì trả không phải lãi, nếu nghèo quá thì thôi
Trang 10Vẫn là vì kèo 2 cột nhưng có tiến bộ hơn về mặt kĩ thuật nắp ráp Người takhông dung Ngoãn tự nhiên mà đã có mộng ở đầu quá giang.
Vì kèo 2 cột nhưng lại có thêm 1 sợi dây néo chỏm kèo với quá giang để giữ cho 2đầu kèo dưới cắm chắc vào đầu quá giang
Trang 112 Vì kèo 4 cột.
Để mở rộng lòng nhà, người ta tang khẩu độ của vì kèo bằng cách thêm 2 cộtvào vì kèo 2 cột 2 cột bên ngòai này được liên kết với 2 cột bên trong bằng xàngang Kiểu vì kèo này cũng có 1 số dạng khác nhau
Đến nay ngoài 1 số kiểu vì kèo được giới thiệu, người Da còn tiếp thu nhiềukiểu vì kèo của người Tày và người Việt
Nhà gồm 5 gian 2 gian đầu hồi có cùng kích thước còn 3 gian giữa kích thướclại khác nhau Nhà có 4 cửa ra vào không có cửa sổ
Trang 12Gian hồi bên phải, góc nhà phía trước kê 1 bàn gỗ nhỏ Giáp vách hậu là giườngcủa vợ chồng chủ nhà Bên trên giường này là giáp mái lá, có 1 gác nhỏ để các giỏiđựng quần áo
Gian thứ 2 có bếp, trên bếp có dựa treo để sấy thóc trước khi đem giã, các đồnan, hạt giống, thịt khô,… Bên cạnh giường chủ nhà là giường dành cho khách Gian thứ 3 được ngăn đôi theo chiều dọc nhà Nửa phía sau hẹp hơn nửa phíatrước, bên trong có các hũ rượu hoãng và thịt ướp chua Còn nửa phía trước đểtrống, đến bữa người ta đặt bàn ở đây Trên đoạn vách ngăn giữa gian này với gianthứ 4 treo 1 bàn thờ nhỏ đan bằng nứa Gian thứ 4 có chạn bát, cối gỗ, cầu để gạo
và cám lợn, bếp nấu thức ăn cho lợn đặt ở giữa nhà Gian thứ 5 cũng tức là gian hồibên trái có giường của con gái, khung cửi và 1 phản gỗ nhỏ Kề với thềm trướcnahf có chuồng gà, chuồng lợn và 1 mảnh đất nhỏ được rà kín để thả lợn
Chú giải
GC: Vợ chồng chủ nhà / BB: Bàn gỗ nhỏ / BC: Bếp / GK: Giường khách
RH, TƯ: Rượu hoãng, thịt ướp chua / TT: Bàn thờ /CB: Chạn bát / CG: Cối gỗCC: Cầu để gạo và cám lợn / BP: Bếp nấu tức ăn cho lợn
KC: Khung cửi / PN: Phản gỗ nhỏ / NL: Chuồng lợn / NG: Chuồng gà /
SP: Sàn phơi / GG: Giường của con gái
ĐTL: Nơi thả lợn
Trang 132.Riêng người Dao Tiên có cách chọn đất khá độc đáo:
Được ngày tốt, chủ nhà đến miếng đất định chọn làm lễ cúng thần đất và giatiên rồi lấy một quả trứng gà, viết một số hàng chữ ( dạng chữ Hán phát âm Dao )xung quanh tượng trưng cho người, gia súc, tài sản, tổ tiên sau đó đục ở đầu nhỏcủa quả trứng một lỗ rồi hơ quả trứng đó lên lửa để trứng sôi làm cho lòng trắngtrào ra ngoài Nếu trứng trào ra mà không trúng vào dòng chữ nào thì là điềm tốt.Nếu trứng vào hàng chữ nào đó thì điềm ấy bị phạm không tốt Nếu trứng vào chữ
“ người “ thì người trong gia đình sẽ gặp ốm đau, chết chóc Nếu vào chữ “ gia súc
“ thì không chăn nuôi được Nếu vậy người ta lại phải tìm nơi khác Một số nhómDao sống gần người Tày, Nùng hoặc người Việt khi làm nhà mới người ta phải nhờthầy địa lí xem tuổi và tìm hướng nhà
3 Hình thức nhà cổ xưa nhất của người dao tiền
+ Theo những người Dao Tiền ở một số nơi cho biết thì người Dao ở nhà đất đárất lâu đời Vì rằng có ở nhà đất thì mời có chỗ để làm lễ cúng Bàn Vương( ôngthủy tôt của người Dao) Chỉ với một lí do như vậy rõ rang là chưa đủ kết luận nhàđất là loại hình nhà ở xưa nhất của người Dao Song nếu căn cứ vào hình thức kếtcấu bộ khung nhà, điều kiện cư trú và sản xuất của các nhóm Dao thì thấy rằng nhàđất có khả năng cổ hơn nhà nửa sàn – nửa đất và nhà sàn Và nếu xét về mối quan
hệ về nguồn gốc và văn hóa giữ người Dao và Hmông và Pà Thẻn thì thấy rằng Hmông và Pà Thẻn đều là cư dân ở nhà đất Do đó cũng cho phép chúng ta nghĩ rằngnhà đất là loại hình xưa nhất của người Dao
Với loại hình nhà đất, dù ở nhóm Dao nào cũng có thể nhận thấy một số đặcđiểm chung:
Phần nhà phiá sau dành cho các phòng ngủ hoặc đặt giường ( nếu không chiaphòng )
Bàn thờ tổ tiên đặt ở vị trí trung tâm của nhà và bao giờ cũng gần nơi dành chongười chủ gia đình Nhà thường có hai bếp là bếp chính và bếp phụ dành chokhách về mùa giá lạnh Và có hai loại bếp là bếp kín (bếp lò) và bếp hở ( bếp có bahòn kê hoặc kiềng) Nhà có rất ít cửa sổ có thể nói là không có cửa sổ
+ Loại hình nhà nửa sàn – nửa đất chủ yếu ở những người Dao sống bằng nươngrẫy du canh trên nền đất dốc Nương rẫy chỉ sử dụng được vài năm lại phải bỏ đikhai thác nơi khác Nếu rẫy xa nhà quá người ta phải chuyển nhà theo – nhà chạytheo nương rẫy Cho nên cỗ ở chỉ tạm thời không cần bỏ ra công sức để san nền.Nhà làm dựa vào sườn núi và có them sàn thay cho giường nằm Do đó mà loại
Trang 14hình nhà nửa sàn – nửa đất đá ra đời Nhà nửa sàn – nửa đất, một biến dạng củanhà đất để thích ứng với điều kiện sản xuất du canh và cư trú trên nền đất dốc.+Còn loại hình nhà sàn là loại hình nhà ở mới xuất hiện ở người Dao Loại hìnhnày chỉ phổ biến ở những người Dao đã đinh canh định cư và làm ruộng nước ởvùng thấp và đặc biệt là ở những nơi cận cư với người Tày Nùng
+ Gần đây, những người Dao đã định canh định cư không chỉ tiếp thu kiểu nhàngười Tày mà ngày càng nhiều người làm nhà đất theo kiểu nhà người Việt Nhữngnhà này không chỉ có sự thay đổi ở ngay cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt
3> TRANG PHỤC CỦA NGƯỜI DAO TIỀN
a.Trang phục nam giới:
Bộ thường phục của nam giới Dao xưa kia gồm: khăn đội đầu màu chàm hoặcchàm đen, áo ngắn màu chàm, cổ đứng, xẻ tà, ống tay dài và hẹp, 2 đến 4 túi, càikhuy vải ở ngực, quần chân què, cạp lá tọa, màu chàm hoặc màu đen, ống rộng vừaphải, dài đến mắt cá chân Hiện nay, đàn ông Dao ở mọi lứa tuổi đa số đều mặcquần áo theo kiểu người Kinh
Lễ phục thầy cúng Dao gồm: áo (3 loại: dài đến mắt cá chân, dài quá gối màuchàm thêu hoa văn cây thông, chân chó, hoa lá và ấn Bà Vương, áo đỏ không tay,thân nửa dưới loe rộng hơn, may kiểu áo chui đầu,…),dây lưng (màu đỏ, tím,vàng,
ở mỗi đầu dây có đính 6-7 mảnh vải vuông,…), váy (chàm dạng hở, cạp dây rút,gấu xòe, trang trí hoa văn chữ thập, chim và hoa lá,…), mũ (bằng để lễ Phật, nhọn
để lễ thánh), xà cạp (trắng, thêu hoa văn chữ thập, hình chim,…) và dây buộc mũ Dân tộc Dao tiền là dân tộc có nền văn hoá đặc sắc riêng biệt Trang phục củangười Dao Tiền cầu kì, tinh tế nhưng phù hợp với tập quán lao động sản xuất củamình Khác với người Dao Đỏ hoạ tiết trong trang phục chủ yếu là màu đỏ thìngười Dao Tiền màu sắc chủ đạo trong trang phục là màu chàm và màu trắng rấttinh tế nhưng nhã nhặn, hài hoà
Người Dao Tiền luôn có ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc thông qua các trang phụccầu kì, tinh tế và độc đáo rất riêng không trộn lẫn với bất cứ dân tộc nào
Từ xưa tới nay, trang phục của người Dao Tiền trở nên đặc sắc một phần là nhờ nghệ thuật trang trí và kỹ thuật nhuộm chàm Đây là hai yếu tố cơ bản để làm nên một bộ trang phục đẹp, ngoài ra, sự kết hợp hai màu sắc chủ đạo là màu chàm và màu trắng cũng góp phần tạo nên cá tính riêng mà không phải tộc người nào cũng
có được
Công đoạn làm vải như sau, cây bông sau khi mang về nhà thì đun qua nước sôi,
Trang 15ngâm vào nước lạnh rồi vớt ra đùm thành con Dụng cụ chủ yếu giúp hoàn thànhtrang phục là chiếc khung dệt- vật cần thiết trong mỗi gia đình người Dao Chỉ với hai thoi sợi chính, phụ nữ Dao Tiền dệt thành những mảnh vải vuông khoảng 30 đến 40cm một chiều.
Để tạo hoa văn trước tiên người ta dùng dụng cụ vẽ Đó là chiếc bút gắn ngòi đồng nhưng cũng có khi chỉ là những chiếc que tre bẻ thành hình tam giác Loại to để tỉatót hoa lá, loại vừa chuyên vẽ hình vuông, hình tròn chim, ốc Sau khi nấu chảy sápong họ sẽ nhúng đầu bút vẽ hoa văn lên vải Vẽ xong đem tấm vải đó đi nhuộm chàm, khi các công đoạn nhuộm chàm hoàn tất họ đem ngâm vào nước nóng để sáp tan ra Những chỗ trước đây có vẽ sáp ong không nhuốm chàm nên chỉ để lại một màu xanh lơ hài hoà đẹp mắt
Một bộ trang phục hoàn chỉnh của người Dao gồm: Áo, yếm, xà cạp, dây lưng, khăn vấn đầu, váy dài cùng đồ trang sức vàng bạc Duy nhất trong cộng đồng người Dao chỉ có người Dao Tiền là mặc váy Người Dao Tiền rất tự hào về điều đó
b.Trang phục nữ giới:
Phụ nữ Dao Tiền để tóc dài, chải sáp ong và cuốn lên Ở Hòa Bình và Phú Thọphụ nữ Dao Tiền đội khăn màu chàm nhưng ở Cao Bằng và Tuyên Quang lại độikhăn trắng Giống như Dao Đỏ trong lễ cưới và khi có đám chay người ta cũng đội
mũ đặc biệt nhưng nhỏ hơn và khung mũ được làm bằng tóc phết sáp ong Ngoàikhung mũ được phủ một cái khăn thêu, xung quanh thành mũ đính nhiều mảnh bạcnhỏ hình tròn và những ngôi sao bằng bạc Áo của phụ nữ Dao Tiền cùng kiểu với
áo của người Dao Đỏ nhưng ít thêu và nẹp ngực nhỏ hơn Cổ áo phía sau lưng đính
7 hoặc 9 đồng tiền Riêng áo mặc trong ngày cưới, ngày có đám chay, thường là áokép Áo ngoài thêu nhiều hơn áo trong Yếm của phụ nữ Dao Tiền làm bằng vải,hình tam giác có thêu thêm các hoa văn đơn giản Phụ nữ Dao Tiền mặc váy (váy
hở không khép mí) bằng vải chàm gồm 6 bức: mỗi bưc là một khổ vải dài chừng80cm (tùy người mặc cao hay thấp mà có kích thước khác nhau), rộng khoảng 30 -35cm Vòng cạp khoảng 100cm Về phía dưới gấu có hoa văn màu xanh lơ in bằngsáp ong ( Hoa ăn xanh lơ được tạo ra bằng cách in sáp ong lên vải trắng, sau đóđem nhượm nước chàm nhiều lần đến khi được màu như ý thì nhúng vải ấy vàonươc sôi để tan sáp ong) Xà cạp (làm bằng vải trắng, thêu theo hoa văn màu đenhình xương cá, cây, chim ) Phụ nữ Dao Tiền cũng có rất nhiều đồ trang sức bằngbạc Có người đeo tới 10 - 12 cái nhẫn, vòng cổ cũng rất nhiều Túi đựng trầu cau,ngoài tác dụng thực tế nó còn là một thứ đồ trang sức đặc biệt mà người đàn bàDao Tiền nào cũng có
Trang 164) ẨM THỰC CỦA NGƯỜI DAO TIỀN
a) ẨM THỰC NGƯỜI DAO NÓI CHUNG
Dân tộc Dao làm nghề trồng trọt lúa nương là chính (chỉ có một số ít làm ngô),cho nên thường ngày họ chỉ ăn cơm với rau xanh, măng rừng Mặc dù người Dao
có chăn nuôi nhiều gà lợn nhưng bữa ăn hằng ngày không có mấy thịt, thịt đượcdùng làm trong lễ cúng và hay dùng trong các dịp ma, chay, cưới xin,
Người Dao để dành thịt bằng cách phơi khô hay sấy khói; đặc biệt là món thịtướp chua có thể để lâu hàng chục năm vẫn tốt Để làm món thịt ướp chua, ngườiDao nấu cơm nếp, ủ với men rượu, rau răm, lá trầu không, riềng đem ủ 10 ngày.Lợn mổ xong pha thịt ra từng miếng nhỏ khoảng nửa kilogam, không rửa, xát vớimuối Sau đó đem thịt xát với hỗn hợp ủ, xếp vào các chum Sau khi thịt được xếpngay ngắn vào chum, trên cùng chét thêm một lớp cơm nguội dày và dùng tay lènthật chặt Mỗi chum thịt sau khi đã bịt chặt được úp ngược lên một chiếc đế đựngđầy tro bếp Làm như vậy để trong quá trình thịt lên chua, mỡ và nước từ thịt sẽchảy ngược xuống ngấm vào tro, như thế thịt sẽ không bị hỏng
Thường ngày, người Dao ăn cơm (n’áng), ngày tết lễ họ ăn xôi (hang biộtchoang) Khi có đám như cấp sắc, đám ma, vào nhà mới,…họ ăn cơm tẻ đồ Trướckhi đồ, họ luộc qua gạo tẻ bằng nước sôi Ngoài cơm, xôi, họ ăn cháo ngô, cháogạo tẻ, các loại củ quả
Đồ ăn thường ngày của người Dao gồm: thịt sào (ò ztráo/ thịt gà sào với gừngnghệ, thịt lợn, thịt trâu, thịt bò, thịt dê, xương sống lợn băm nhỏ,…khi sào các loạithịt, họ tra thêm một chút rượu trắng, quế, sả, thảo quả,…; Thịt luộc (ó chệp/ thịt
Trang 17gà luộc, thịt lợn luộc,…); Thịt hầm (ó wần/ hầm xương lợn, thịt gà già, da trâu bò,
…), với đu đủ, khoai sọ, măng, xu hào…, gia vị là rượu trắng, hồ tiêu, sả, riềng,gừng…; Thịt nấu (ó chấu/ thịt lợn, thịt gà, đậu phụ, trứng, xương lợn với bí đao, cánấu canh,…); Món thịt rán (ó chin/ trứng, đậu phụ, thịt lợn,…); Nướng (ó chí/ thịtlợn, cá sấu, chuột,…), trước khi rán sát mật, muối, kẹp vào que tre, nướng trên thanhồng;…Gần giống người Mông, người Dao ở nhiều địa phương thuộc các tỉnh CaoBằng, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái… cũng ăn thắng cố Món này thường làm bằngthịt, ruột, gan, tiết, lòng của dê, lợn, trâu, bò.Trong các dịp lễ tết đối với ngườiDao, không thể thiếu món thịt quay, bún (pún), bánh (dúa/ bánh trưng, bánh giầy,bánh rán, bánh gio, bánh trôi, bánh chay, bánh đúc, bánh sừng bò, bánh tái(dua ít),
…) Tiệc cưới, thường có các món xôi, thịt lợn luộc, thịt gà thiến, xương lợn nấuvới măng, hoặc giá đậu tương,…Cỗ trong lễ cấp sắc hay có thịt lợn, thịt gà, cásuối, đặc biệt là thịt sóc Cỗ trong đám ma phải có thịt lợn luộc, thịt lợn sào, rau cảinấu, đu đủ hoặc hoa chuối rừng nấu với xương lợn
Đối với người Dao, khi làm lễ cấp sắc, cúng Bà Vương, tết nhảy, đám cưới, đámma,…đều phải có rượu để cúng tế, và đãi khách Ngoài rượu trắng, họ còn có rượunếp cái (tíu cam/ không cất), rượu hoẵng (wãng),…Hàng ngày họ uống nước nấuvới loại rễ, lá cây rừng, hiện nay nhiều gia đình uống nước chè, trà,…Đàn ông Daohay hút thuốc lào thuốc lá vê (hốp ziên), thuốc do các nhà máy sản xuất
b> ẨM THỰC NGƯỜI DAO TIỀN NÓI RIÊNG
Với việc người dân Dao Tiền làm nương là chính nên trong ẩm thực của ngườingười Dao Tiền không thể thiếu các món làm từ gạo Tiêu biểu một loại bánhchưng đen chay ngày tết của người Dao Tiền Vân Hồ tỉnh Sơm La, đây là loại bánhkhông thể thiếu trong dip tết Tục gói bánh chưng đen này do cha ông chuyền lại,
từ lâu đời Bánh có mày đen biểu tưởng cho sự mùa màng bội thu, đời sống ngàycâcng no ấm Ngoài ra bánh chưng đen còn biểu thị tấm lòng hiếu thuận củanhững người còn sống đối với ông bà tổ tiên Thành phần để gói làm lên loại bánh
là lá dong, lạt, gạo nếp; trong mâm cỗ cúng tổ tiên không thể thiêu loại bánh này.Gạo nếp gói bánh là loại thơm ngon, còn phần rơm mới tạo lên màu đen cho bánh.Đặc biệt mung 2 tết người Dao tiền ni đây nhà lào cung có đồ lễ thịt thú rừng vàbánh chưng đen để chúc tết hỏi thăm nhau để tạo sự đoàn kết Bánh chưng đen làlinh hồn ngày tết của người Dao Tiền nơi đây
Trang 18Bánh chưng đen của người Dao tiền Vân Hồ
Vời nối sống ở lơi hẻo lánh, việc săn chim, chuột và các con thú dữ vai trò rấtquan trong , nó ảnh hưởng phong tục tập quán của người Dao Tiền Sự đặc biệt nàymón ăn trong ngày tết của người Dao Tiền ở tỉnh Hòa Bình, đó món thịt chuột đểcúng ông bà tổ tiên Theo quan niệm ăn gì thờ nấy, các ngày lễ tết, người Dao Tiền
đã dùng thịt chuột để cúng tổ tiên Đến dịp lễ tết gia đình người Dao không bắtđược chuột phải đi mua của các nhà trong bản Trước đây chưa có tủ lạnh thì chuộttreo lên gác bếp Thịt chuột ngoài việc cúng tổ tiên còn cúng Thành hoàng
Món thịt chuột ở Việt Nam từng lên báo nước ngoài
Miếu thờ Thành hoàng của người Dao Tiền, xã Tân Pheo
Trang 19Nói đến đặc sản của người Dao tiền không thể không nhắc đến thịt lợn muốichua Đây là đặc sản tiếp đón những người khách lần đầu đến với gia đình họ Thịtlợn muối chua là đặc sản nổi tiếng của người Dao Tiền ở Tuyên Quang Thịt lợnmuối chua là món ăn rất dân dã, mang đậm màu sắc của người dân nơi đây Thànhphần Thịt lợn, mối tinh, cơm muội Trải quan một quá trình ủ ướp tạo lên món thịtchua với hương vị khó quên, đặc biệt thịt này để lâu hàng năm không bị mất màu
và mùi vị Ngoài thị muối chua thì người Dao Tiền có một móm làm tự gạo đó làxôi thập cẩm Gạo chia thành nhiều phần , gạo làm xôi màu tím ngâm vào nước lácây gạo cẩm; gạo làm xôi màu vàng ngâm vào chậu nước nghệ Người Daotiền cáo bí quyết riêng khi ngâm gạo để xôi đều màu không đậm cũng không nhạt.Khi tạo được các xôi màu hộ chỗn lẫn các màu với nhau thành xôi thập cẩm
Thịt lợn muối chua của người Dao Tiền
Đối với đồ uống của người Dao Tiền, tiêu biểu với lét đặc trưng riêng rượuhoắng của người Dao Tiền ở Na Hang Đây là loại rượi riêng của người Dao tiềnnơi đây, được làm từ gạo nếp ngâm qua đêm, đổ sôi và dùng men riêng của ngườiDao Tiền; lên men 4 đến 5 ngày đem ra ép, rượu cho vào bếp ủ than xung quanh.Đây là thức uống thương xuyên trong mỗi bữa cơm , được sử dụng trong ngày lễtết cưới xin, được làm từ những thành quả lương rãy của họ
Trang 20Người đàn ông La Chí uống rượu bằng sừng Châu
Khi có khách đến nhà chơi gia chủ sẽ đem những đặc sản quanh nhà như lơn nếu nhà nào mà nuôi lợn bên cạnh nhà càng nhiều thì chứng tỏ gia đình đó sungtúc, khá giả Việc mời khách đó là nét đẹp truyền thống của họ
C )Ứng xử trong ăn uống nói chung của người Dao
Theo tập quán, cứ đến bữa ăn chính, tất cả các thành viên trong gia đình đềuphải ngồi vào mâm cùng ăn uống Về vị trí ngồi, hàng được gọi là phía trên là nơingồi của đàn ông, còn hàng phía dưới hoặc tiếp giáp bếp là chỗ ngồi của phụ nữ vàtrẻ con Việc chia ra thành nhiều mâm để ăn uống thường chỉ xảy ra khi trong nhà
có khách hoặc các thành viên quá đông, không đủ chỗ ngồi ăn cùng mâm Tuy vậy,hiện nay cũng có một số gia đình thích chia ra thành 2 mâm để ăn uống cho thuậntiện Khi đó, mâm trong gian bếp có bà, mẹ cùng con dâu và các cháu nhỏ, cònmâm trong gian khách có ông, bố cùng các con trai và các cháu trai lớn tuổi
Trong ăn uống của người Dao, khi mọi người ngồi vào mâm phải chờ cho đủ cảgia đình mới được cầm bát đũa Người Dao có thói quen trong bữa ăn mời, nhườngnhịn và gắp thức ăn cho nhau Bố mẹ gắp cho ông bà và con cái, ông bà gắp chocác cháu nhỏ Khi thịt gà dù to hay bé đều đành bộ gan cho ông bà, đùi chân chonhững đứa trẻ bé nhất, còn đầu cánh để cho những đứa lớn hơn Trong bữa ăn, nếu
có khách chủ nhà cũng không quên mời và luôn tay gắp miếng ăn ngon cho khách.Đúng theo tập quán trước kia, người Dao vừa ăn cơm vừa uống rượu, kháchthường nhấc chén uống rượu mỗi khi chủ nhà nâng chén mời nhưng không chạmchén Do vậy, khách cần dựa theo khả năng của mình mà uống nhiều hay ít mỗi khinhấc chén uống rượu Khi uống cạn chén khách cứ tụ nhiên để cho chủ nhà rótrượu xuống Nếu cảm thấy không muốn uống nữa thì lấy tay đẩy nhẹ miệng chailên mỗi khi thấy chủ nhà định rót rượu xuống chén của mình Khi ăn cơm xonghoặc đang ăn không được để đũa lên miệng bắt, bởi vì họ quan niệm rằng chỉ trongnhững ngày ma chay hoặc xới cơm cúng vong hồn người chết mới được để đũanhư vậy
Đối với các nghi lễ của người Dao như đám cưới , vào nhà mới, đám ma, có một
số món ăn thường được chế biến theo chuẩn mực đã được tập quán cộng đồng quy