Mặc dù người Dao có chăn nuôi nhiều gà lợn nhưng bữa ăn hằng ngày không có mấy thịt, thịt được dùng làm trong lễ cúng và hay dùng trong các dịp ma, chay, cưới xin,.... Đối với người Dao
Trang 1֎ Nhóm:
֎ Chủ đề: Văn Hóa dân tộc Dao Tiền.
Trang 31 Phân loại:
•Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng,
Dao sừng, Dao Dốt lảy, Dao
Dốt zhang, Dao Ðại bản)
•Dao Quần chẹt (Dao Tam
đảo, Dao Nga hoàng, Dụ
Cùn)
•Dao Lô gang (Dao Thanh
phán, Dao Cóc Mùn)
•Dao Tiền (Dao Ðeo tiền,
Dao Tiểu bản, Dao Sơn đầu)
•Dao Quần trắng (Dao Họ),
Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn
(Dao Tuyển, Dao áo dài).
2 Phân bố:
•Dân tộc Dao cư trú chủ yếu
ở biên giới Trung, Lào và ở một số tỉnh trung
Việt-du và ven biển Bắc bộ Việt Nam
•Cụ thể, đa phần tại các tỉnh
như Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lai Châu, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Thừa Thiên-Huế…
Trang 4⃰ Người Dao cư trú trên cả 3 vùng địa hình: vùng cao, vùng giữa, và vùng thấp.
•Vùng cao có nhiều núi đá vôi thuộc các tỉnh Cao
Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Quảng Ninh và các vùng cao Tây Bắc Vùng này núi non hiểm trở, độ cao rung bình từ 800m đến 1.000m, đất feralit núi có mùn, khí hậu mát mẻ, độ ảm cao do mưa nhiều Ở vành đai này có nhiều người Dao Đỏ, một bộ phận Dao Tiền và một
số ít Dao Làn Tẻn.
•Vùng giữa là vùng có núi đá vôi xen vói núi đát
thuộc thượng du Bác Bộ và Trung Bộ có độ cao khoảng 400m đến 600m
Trang 5Vành đai này có đất feralit núi, tương đối thấp, khí hậu và thực vật thuộc miền nhiệt đới Vùng này là địa bàn cư trú chủ yếu của người Dao Quần Chẹt, Dao Lô Giang, Dao Tiền, Dao Thanh Y.
•Vùng thấp, vùng chuyển tiếp giữa núi và dồng
bằng, có độ cao khoảng 200m trở xuống Trước đây vùng này hầu như chỉ có nhóm Dao Quần Trắng, nhưng nay có thêm một số nhóm Dao như: Dao Quần Chẹt, Dao Tiền, Dao Làn Tẻn.
Trang 63 TRANG PHỤC CỦA NGƯỜI DAO TIỀN
Trang phục nam giới:
Bộ thường phục của nam
giới Dao xưa kia gồm: khăn
đội đầu màu chàm hoặc
chàm đen, áo ngắn màu
chàm, cổ đứng, xẻ tà, ống
tay dài và hẹp, 2 đến 4 túi,
cài khuy vải ở ngực, quần
chân què, cạp lá tọa, màu
chàm hoặc màu đen, ống
rộng vừa phải, dài đến mắt
cá chân Hiện nay, đàn ông
Dao ở mọi lứa tuổi đa số đều
mặc quần áo theo kiểu
người Kinh.
Trang phục nữ giới:
Phụ nữ Dao Tiền để tóc dài, chải sáp ong và cuốn lên Ở Hòa Bình và Phú Thọ phụ
nữ Dao Tiền đội khăn màu chàm nhưng ở Cao Bằng và Tuyên Quang lại đội khăn trắng Giống như Dao Đỏ trong lễ cưới và khi có đám chay người ta cũng đội mũ đặc biệt nhưng nhỏ hơn và khung mũ được làm bằng tóc phết sáp ong Ngoài khung mũ được phủ một cái khăn thêu, xung quanh thành
Trang 7Lễ phục thầy cúng Dao
gồm: áo (3 loại: dài đến
mắt cá chân, dài quá gối
màu chàm thêu hoa văn
cây thông, chân chó, hoa
lá và ấn Bà Vương, áo đỏ
không tay, thân nửa dưới
loe rộng hơn, may kiểu áo
chui đầu,…),dây lưng
và nẹp ngực nhỏ hơn Cổ áo phía sau lưng đính 7 hoặc 9 đồng tiền Riêng áo mặc trong ngày cưới, ngày có đám chay, thường là áo kép Áo ngoài thêu nhiều hơn áo trong Yếm của phụ nữ Dao Tiền làm bằng vải, hình tam giác có thêu thêm các hoa văn đơn giản Phụ nữ Dao Tiền
Trang 9• Phụ nữ Dao Tiền cũng có rất nhiều đồ trang sức
bằng bạc Có người đeo tới 10 - 12 cái nhẫn, vòng
cổ cũng rất nhiều Túi đựng trầu cau, ngoài tác dụng thực tế nó còn là một thứ đồ trang sức đặc biệt mà người đàn bà Dao Tiền nào cũng có.
Trang 104 ẨM THỰC
⸙ Dân tộc Dao làm nghề trồng trọt lúa nương là chính (chỉ có một số ít làm ngô), cho nên thường ngày họ chỉ
ăn cơm với rau xanh, măng rừng Mặc dù người Dao
có chăn nuôi nhiều gà lợn nhưng bữa ăn hằng ngày không có mấy thịt, thịt được dùng làm trong lễ cúng và hay dùng trong các dịp ma, chay, cưới xin,
⸙ Người Dao để dành thịt bằng cách phơi khô hay sấy khói; đặc biệt là món thịt ướp chua có thể để lâu hàng chục năm vẫn tốt Để làm món thịt ướp chua, người Dao nấu cơm nếp, ủ với men rượu, rau răm, lá trầu không, riềng đem ủ 10 ngày Lợn mổ xong pha thịt ra từng miếng nhỏ khoảng nửa kilogam, không rửa, xát với muối Sau đó đem thịt xát với hỗn hợp ủ, xếp vào
Trang 11các chum Sau khi thịt được xếp ngay ngắn vào chum, trên cùng chét thêm một lớp cơm nguội dày và dùng tay lèn thật chặt Mỗi chum thịt sau khi đã bịt chặt được úp ngược lên một chiếc đế đựng đầy tro bếp Làm như vậy
để trong quá trình thịt lên chua, mỡ và nước từ thịt sẽ chảy ngược xuống ngấm vào tro, như thế thịt sẽ không
bị hỏng.
⸙ Thường ngày, người Dao ăn cơm (n’áng), ngày tết lễ
họ ăn xôi (hang biột choang) Khi có đám như cấp sắc, đám ma, vào nhà mới,…họ ăn cơm tẻ đồ Trước khi đồ,
họ luộc qua gạo tẻ bằng nước sôi Ngoài cơm, xôi, họ
ăn cháo ngô, cháo gạo tẻ, các loại củ quả Đồ ăn thường ngày của người Dao gồm: thịt sào (ò ztráo/ thịt gà sào với gừng nghệ, thịt lợn, thịt trâu, thịt bò, thịt dê, xương
Trang 12sống lợn băm nhỏ,…khi sào các loại thịt, họ tra thêm một chút rượu trắng, quế, sả, thảo quả,…; Thịt luộc (ó chệp/ thịt gà luộc, thịt lợn luộc,…); Thịt hầm (ó wần/ hầm xương lợn, thịt gà già, da trâu bò,…), với đu đủ, khoai sọ, măng, xu hào…, gia vị là rượu trắng, hồ tiêu, sả, riềng, gừng…; Thịt nấu (ó chấu/ thịt lợn, thịt
gà, đậu phụ, trứng, xương lợn với bí đao, cá nấu canh,
…); Món thịt rán (ó chin/ trứng, đậu phụ, thịt lợn,…); Nướng (ó chí/ thịt lợn, cá sấu, chuột,…), trước khi rán sát mật, muối, kẹp vào que tre, nướng trên than hồng;
…Gần giống người Mông, người Dao ở nhiều địa phương thuộc các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái… cũng ăn thắng cố Món này thường làm bằng thịt, ruột, gan, tiết, lòng của dê, lợn, trâu, bò.
Trang 13Trong các dịp lễ tết đối với người Dao, không thể thiếu món thịt quay, bún (pún), bánh (dúa/ bánh trưng, bánh giầy, bánh rán, bánh gio, bánh trôi, bánh chay, bánh đúc, bánh sừng bò, bánh tái(dua ít),…) Tiệc cưới, thường có các món xôi, thịt lợn luộc, thịt gà thiến, xương lợn nấu với măng, hoặc giá đậu tương,…Cỗ trong lễ cấp sắc hay có thịt lợn, thịt gà, cá suối, đặc biệt
là thịt sóc Cỗ trong đám ma phải có thịt lợn luộc, thịt lợn sào, rau cải nấu, đu đủ hoặc hoa chuối rừng nấu với xương lợn Đối với người Dao, khi làm lễ cấp sắc, cúng Bà Vương, tết nhảy, đám cưới, đám ma,…đều phải
có rượu để cúng tế, và đãi khách Ngoài rượu trắng, họ còn có rượu nếp cái (tíu cam/ không cất), rượu hoẵng (wãng),…Hàng ngày họ uống nước nấu với loại rễ, lá
Trang 14cây rừng, hiện nay nhiều gia đình uống nước chè, trà,
…Đàn ông Dao hay hút thuốc lào thuốc lá vê (hốp ziên), thuốc do các nhà máy sản xuất.
5 Ngôn ngữ
•Tiếng nói thuộc ngữ hệ Mông – Dao, xét về mặt ngôn
ngữ chia làm 2 phương ngữ: kiềm miền (Dao đại bản, Dao tiểu bản) và kìm mùn (Dao quần trắng và Dao làn tẻ)
•Chữ viết: dùng chữ Hán để ghi chép các văn tự chữ
quốc ngữ nhưng ít người biết, người Dao đã nôm hóa chữ Hán.
Trang 156 Lễ Hội
a Lễ cấp sắc (Lễ quá tang)
•Là thủ tục không thể thiếu của đàn ông người Dao,
có nhiều bậc: 3 đèn, 7 đèn, 12 đèn Ông thầy trong lễ cấp sắc là thầy cao tay, ngày tháng được chọn cẩn thận, có thể làm cho thủ tục một người hoặc vài người.
•Những người Dao Tiền ở tỉnh Cao Bằng nói chung,
với sự tham gia của cả dòng họ nhưng tập trung ở nhà trưởng họ Ở đây thông thường lễ cấp sắc là 3 đèn tổ chức cho 3 người thụ lễ (mỗi người 3 đèn: đỉnh đầu và 2 vai-9 đèn).
Trang 16b.Lễ tẩu sai (lễ trưởng thành):
•Đây là một nghi lễ đặc biệt, quan trọng nhất trong
vòng đời của người Dao Tiền nó có ý nghĩa rất sâu sắc Trong lễ cấp sắc 12 đèn thì người Dao Tiền gọi là
“ Tẩu Sai” Đây là cấp sắc cao nhất phải trải qua một quá trình học tập, rèn luyện Người nào được cấp sắc
12 đèn sẽ được cộng đồng rất trọng vọng sẽ trở thành
“ sư phụ” là thầy cúng cao cấp, đủ tiêu chuẩn để làm các nghi lễ quan trọng.
•Để chuẩn bị nghi lễ Tẩu Sai thì Trưởng họ phải bàn
bạc cùng các hộ gia đình để xác định thời gian tiến hành Khi chọn được giờ đẹp trưởng họ cùng với các bậc cao niên lựa chọn người đàn ông đã trải qua lễ cấp sắc 3 đèn trên tinh thần tự nguyện để thụ lễ
Trang 17Lựa chọn được rồi sẽ chuẩn bị đồ dùng học tập, quần
áo học các chữ ở sách cúng để đủ sự thông tuệ sau này.
•Lễ hội này được chia hai lễ hội nhỏ là Sìn Pè Đàng và
tẩu sai Lễ sìn pè đàng được tiến hành sau khi chuẩn bị xong quần áo, rượu gạo, rau cỏ nhu yếu phẩm, hương, giấy viết sớ; lễ hội này được tổ chức trước lễ cấp sắc 12 đền tầm 1-3 tháng Mục đích của nghi lễ này thông báo
tổ tiên, Tam Thanh Ngọc Hoàng đã chuẩn bị đại lễ Nghi lễ này được tiến hành 2 ngày 1 đêm với 3 thầy cúng Xong nghi lễ này dòng họ bước vào quá trình trai giới(vợ chồng không được ngủ với nhau) Khoảng thời gian trống giữa hai nghi lễ này họ tập trung chuẩn bị đồ
lễ, quần áo cho lễ tẩu sai.
Trang 18Đối với lễ tẩu sai thì có 14 thầy cúng, các thầy cúng có hai loại sơ cõi âm và cõi dương Thời gian lễ tẩu sai được tiến hành 3 – 5 ngày đêm với nhiều thủ tục như : lễ dâng lợn, cúng tổ tiên, thần thánh, cúng báo thổ công
Đây là một nghi lễ đã được bảo tồn đến bây giờ, hiện tai nghi Lễ Tẩu Sai của người Dao tiền có những thay đổi không còn nặng về lễ nghĩa hình thức như xưa, thời gian hành lễ được rút còn 2-3 ngày đêm, mức chi phí cho lễ cúng vừa đủ , không còn những quy định nghiêm ngặt như ngày xưa như: người ngoài dòng họ được phép tham dự quan sát.
Sau lễ Tẩu sai này, những người đệ tử sẽ trở thành những đại pháp sư ở bên cõi âm, khi chết đi linh hồn của
họ sẽ cùng đoàn tụ với tổ tiên, trở thành các đại tướng
Trang 19quân giúp ông tổ Bà Vương điều hành các công việc của cộng đồng tổ tiên Cũng tại lễ Tẩu sai này, những người
đệ tử thụ lễ sẽ được cấp 12 ngọn đèn, 120 binh mã.
Lễ Tẩu sai của dòng họ Triệu ở xã Hoa Thám, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng được tổ chức kéo dài 5 ngày 4 đêm với nhiều thủ tục, lễ thức
Trang 21Các thầy cúng thực hiện nghi lễ tâm linh chạy lần lượt trên bụng người từng đệ tử.
Trang 22Nghi lễ Tẩu sai vừa khẳng định sự trưởng thành và vị thế của người đàn ông, đồng thời chứng nhận cho các cặp vợ chồng mãi bên nhau khi sang thế giới bên kia.
c Lễ đặt tên (quá tang):
Đối với người Dao Tiền lễ đặt tên giữ vai trò rất quan trọng, bởi đó là mốc đánh dấu sự trưởng thành của các chàng trai Lễ này được thức hiện đối với con trai Dao Tiền từ 10 tuổi trở lên Ngày lễ đặt cùng với gia đình họ hàng, nghi lễ gồm có gà, rượu, gạo và 4 con lợn to Nghi lễ bắt đầu từ sáng đến chiều, gia đình phải dậy từ 2-3 giờ sáng, làm hai hông xôi để làm bánh nếp, mỗi hông là 100 chiếc bánh Gia đình làm thịt gà và hai con lợn để đãi khách Hai người có uy tín nhất đến cúng một đêm
Trang 23Đúng 12 giờ đêm đầu tiên đứa bé ở cùng ba mẹ đẻ ăn hết 1 con gà Buổi lễ dưới sự chứng kiến của bà con hàng xóm Khi có tiếng trống lúc này thầy mo và đứa
bé nhảy chòe cho tới sáng Người ta thực hiện hát cháo chèo Đến ngày hôm sau đi tìm thầy để lam lễ đặt tên Thầy mo thay nhau đọc bài cúng, 6 người 3 nam
3 nữ cùng hát đối Kết thúc lễ đặt tên gia đình chia thịt lợn cho 4 thầy cúng, người giúp việc, khách Gần như người Dao Tiền ở các vùng khác nhau nhưng trình tự thủ tục lễ đặt tên không có gì thay đổi, vẫn mang tính truyền thống và được bảo tồn rất tốt .
d Lễ cúng miếu làng:
Được cúng theo lịch định sẵn, lễ vật có: gạo, rượu,
Trang 24hương, hoa, gà, lợn, vàng mã Miếu được dựng cạnh làng, bản Trên đàn cúng có 3 bát hương… Bát giữa cúng thần hộ mệnh cho dân làng, bát bên trái – thần
hộ mệnh gia súc, bát phải cúng ma trời, phù hộ lúa gạo hoa màu.
e Lễ cúng hồn lúa:
Ngày cúng được chọn kỹ, mâm cúng có gà luộc, 1 chén nước, 1 ngọn đèn, 3 bát hương, 3 chén rượu, 3 hoặc 5 bát cơm nếp, tiền vàng âm phủ Cạnh mâm cúng có một xọt và một gói bánh dầy, một cụm lúa nếp, ba nén hương 5 ngày sau lấy bánh trong xọt ra
ăn để chống lại bệnh tật.
Trang 25•Ví dụ: Chàng trai hát: Thấy bông hoa nở bên bờ
kia/Muốn sang hái mà không có thuyền Cô gái đáp: Anh muốn ngắt đừng lo anh ạ / Hái lá làm thuyền bơi sang lấy.
Đối với người Dao Tiền ở Tuyên Quang ngoài hát Páo dung còn hát những làn điệu Páo dung đề cao tinh thần lao động sáng tạo, đạo đức, lẽ sống.
Trang 26⃰ Tín ngưỡng, tôn giáo:
a Tín ngưỡng
Đồng bào tin rằng mọi vật đều có linh hồn “hòn” Khi chết thành ma “miến” Người ta chia làm 2 loại :
ma lành, ma dữ Ma lành là ma, thần thánh giáng phúc, bảo vệ cuộc sống con người Ma dữ là những loại ma sông, ma suối,… gây hại cho người và động vật Đồng bào tin rằng người ta có 12 hồn hoặc 3 hồn
7 vía Hồn ở đầu là đào vần, ở mắt: ngạo vần, mũi : pi vần, tai: nhị vần, miệng: hấu vần, ngực: hiốc vần, bụng: tủ vần,… Mỗi nhóm Dao lại có quan niệm riêng
về hồn chính khác nhau.
Trang 27b Tôn giáo
•Người Dao có nhiều tàn dư của tôn giáo nguyên
thủy, được biết đến với: tô tem giáo, bái vật giáo, sa man giáo, ma thuật giáo.
•Tô tem giáo: Niềm tin vào mối liên hệ giữa một nhóm
người với một loài động vật, cây cỏ, hiện tượng Người Dao nhận Bà Vương là thủy tổ - một con Long Khuyển
•Thứ hai, bái vật giáo là tín ngưỡng thờ cúng, người
ta tin vào những thuộc tính siêu nhiên của những vật chất Người Dao có hệ thống tranh thờ, họ coi như các vị thần trong nhà
Trang 28• Thứ ba, sa man giáo, quan niệm một người nào đó
có khả năng đặc biệt giao tiếp với thần linh Và người Dao rất coi trọng thầy cúng.
7 Phong tục,tập quán
a Hôn nhân (đám cưới)
• Theo phong tục cổ xưa của người Dao Tiền, đôi nam
nữ yêu nhau sẽ làm lễ cưới sau khi chàng trai hết hạn ở rể trả ơn cho bố mẹ cô gái đã có công sinh thành dưỡng dục vợ mình (thời gian ở rể thường từ
1 năm rưỡi đến 2 năm) Trong lễ cưới, họ làm lễ
“stré miến” (tiếng dân tộc), khi đó cô dâu chính thức trở thành người nhà chú rể Để làm lễ “stré miến”, chàng trai mang lễ vật đến nhà cô gái cầu thân.
Trang 29• Ngày nay, tục ở rể nhiều nơi đã không còn nên lễ
“stré miến” của người Dao Tiền đã được giản lược, nhà trai và nhà gái chỉ định ngày dạm hỏi, xem số mệnh cô dâu, chú rể có hợp hay không và cùng bàn
về vấn đề tổ chức tiệc mừng
• Với người Dao Tiền, tiệc mừng của cả hai bên đều
do nhà trai lo liệu, tùy số lượng khách mời mà gia đình nhà gái yêu cầu nhà trai mang thực phẩm và quà thách cưới sang.
• Người Dao Tiền sống quây quầy bên nhau đã bao
đời nên mọi hoạt động đều mang tính cộng đồng rất cao Theo độ tuổi và kinh nghiệm, từng gia đình được huy động phụ giúp đám cưới, công việc này sẽ được thay đổi luân phiên khi các gia đình khác có đám cưới
Trang 30Những người phụ đám cưới hay đến dự đám cưới đều là những vị khách quý của gia chủ Sau khi nhà trai chuẩn bị tươm tất, lễ rước dâu được tiến hành .
•Nhà trai thành lập đội dẫn dâu, gồm: 1 quan lang, 1
bà dẫn dâu, 1 phù dâu và nhóm thanh niên khỏe mạnh gánh rượu, thịt, lễ vật qua nhà gái xin dâu Với người Dao Tiền, phù dâu đóng vai trò quan trọng như người bạn đồng hành chia sẻ cùng cô dâu suốt hành trình cũng như trong các ngày diễn ra lễ cưới.
•Đám rước dâu sau khi về đến nhà chồng, cô dâu chú
rể sẽ làm lễ ra mắt bố mẹ chồng cùng họ hàng.Theo tục truyền, khi nhận dâu, gia đình nhà trai phải chuẩn bị của hồi môn cho đôi vợ chồng trẻ mà chủ yếu là