- Thứ nhất, trình độ hiểu biết pháp luật nhất định, theo quy định của“Luật luật sư” hiện hành, kiến thức pháp luật “trình độ luật sư trở lên tại cơ sở giáo dục đại học” hoặc “ trình độ đ
Trang 1ĐỀ TÀI: SO SÁNH ĐÀO TẠO LUẬT VÀ NGHỀ LUẬT TRUNG QUỐC VÀ
NHẬT BẢN
A ĐẶT VẤN ĐỀ
Nếu như Trung Quốc có quá trình lịch sử phát triển lâu đời với nền văn minh trải dài và lịch sử pháp luật Trung Quốc được chia thành 2 giai đoạn lớn:
Lịch sử pháp luật Trung Quốc truyền thống
Lịch sử pháp luật Trung Quốc hiện đại
Thì Nhật Bản lại là một trong những nước ra đời muộn hơn nhiều, nhưng cũng không thua kém gì về phát triển kinh tế- xã hội Ngày nay Nhật Bản là 1 trong những nước công nghiệp hoá- hiện đại hoá hàng đầu Thế giới Vậy nhờ đâu mà hai quốc gia này lại phát triển đến vậy? Đó chính là nhờ vào hệ thống pháp luật chặt chẽ, tiến bộ Như thế, liệu rằng giữa hai quốc gia này có gì giống nhau trong việc đào tạo luật và nghề luật hay không? Ngoài ra, chúng còn có điểm khác nhau cơ bản gì và nguyên nhân dẫn tới đặc điểm như thế nào?
I Đào tạo luật ở Trung Quốc
1 Nguồn gốc
Luật sư có nguồn gốc từ La Mã cổ đại Việc kiện tụng ở Rome của Đảng Cộng hòa (510 hoặc 509-30 trước Công nguyên) phải được thực hiện theo các thủ tục luật định theo thông báo của lãnh sự hoặc viên chức pháp lý Khi luật lệ và thông báo tiếp tục gia tăng và trở nên phức tạp hơn, các đương sự cần sự hỗ trợ của những người am hiểu luật pháp trong việc tranh tụng, đặc biệt là trong các cuộc tranh luận tại tòa án (thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên), người bào chữa nên là trường hợp cần thiết
Vào cuối thế kỷ thứ 5 sau Công Nguyên, người bào chữa phải học luật ở các thành phố lớn và có bằng cấp Họ dần dần thành lập các ngành công nghiệp, thành lập các nhóm chuyên nghiệp của riêng mình và trở thành luật sư toàn thời gian
2 Nội dung
Hiện nay, tất cả các trường cao đẳng và đại học lớn đều mở ngành luật, họ rất coi trọng nguồn dự trữ nhân tài pháp luật, hệ thống đánh giá nhân tài pháp luật cũng ngày càng hoàn thiện hơn
Xét về các thuộc tính của “luật sư”, nó bao gồm:
Trang 2- Thứ nhất, trình độ hiểu biết pháp luật nhất định, theo quy định của
“Luật luật sư” hiện hành, kiến thức pháp luật “trình độ luật sư trở lên tại cơ sở giáo dục đại học” hoặc “ trình độ đại học các chuyên ngành khác trong cơ sở giáo dục đại học "Trình độ học vấn trên có kiến thức pháp luật";
- Thứ hai là đạt trình độ thông qua "kỳ thi kiểm tra năng lực chuyên môn pháp luật" quốc gia;
- Thứ ba là đạt chứng chỉ hành nghề khi được sự chấp thuận của tổ chức
cơ quan hành chính tư pháp quốc gia;
- Thứ tư là cung cấp các dịch vụ pháp lý cho xã hội và sử dụng nó như một nghề nghiệp
Do đó, luật sư là người hành nghề đã vượt qua kỳ thi kiểm tra năng lực chuyên môn nghiệp vụ pháp luật quốc gia, được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư theo quy định của pháp luật được ủy thác hoặc chỉ định cung cấp dịch vụ pháp lý cho các bên Bản chất của luật sư là người làm dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp, cung cấp các dịch vụ pháp lý cho xã hội
Rào cản không thể tránh khỏi khi tham gia vào nghề luật sư là kỳ thi tư pháp quốc gia, đây là kỳ thi kiểm tra năng lực quốc gia được tổ chức thống nhất để tham gia vào các ngành nghề luật sư cụ thể
Kỳ thi kiểm tra trình độ chuyên môn nghiệp vụ pháp lý
Tiền thân của kỳ thi nâng cao năng lực nghiệp vụ pháp luật là kỳ thi kiểm tra năng lực tư pháp quốc gia Kỳ thi cấp chứng chỉ nghề được thiết lập theo các quy định liên quan của Luật Trừng phạt Hành chính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Luật Xem xét Hành chính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và các Biện pháp Thi hành của Quốc phục Kiểm tra năng lực nghiệp vụ pháp lý Các thẩm phán, công tố viên, luật sư, công chứng viên, cố vấn pháp lý, trọng tài (pháp lý) và các cơ quan chính phủ tham gia vào việc xem xét các quyết định xử phạt hành chính, xem xét lại hành chính và các quyết định hành chính phải vượt qua kỳ kiểm tra năng lực chuyên môn pháp lý Tỷ lệ đậu hàng năm của kỳ thi tư pháp quốc gia nói chung là khoảng 10% tổng số ứng cử viên của cả nước
Nội dung kiểm tra tư pháp
Nội dung kiểm tra chính của kỳ thi gồm: lý luận luật, luật áp dụng, các quy định pháp luật hiện hành, hành nghề luật sư và đạo đức nghề nghiệp luật sư Kỳ thi tư
Trang 3pháp quốc gia thông qua đề xuất và đánh giá thống nhất trên toàn quốc và kết quả được thông báo bởi Văn phòng kiểm tra năng lực chuyên môn nghiệp vụ pháp lý thống nhất quốc gia của Bộ Tư pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Kết quả kiểm tra trình độ chuyên môn nghiệp vụ pháp lý thống nhất toàn quốc có giá trị một lần Những người đã vượt qua kỳ thi tư pháp quốc gia sẽ được Bộ Tư pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cấp các chứng chỉ liên quan thống nhất và có thể làm luật sư, thẩm phán, công tố viên và công chứng viên Trường hợp người làm bài không đồng ý với điểm bài thi thì có thể xin xác minh điểm theo thủ tục quy định Những người vượt qua kỳ thi kiểm tra tư pháp quốc gia sẽ được Bộ Tư pháp cấp “Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ pháp lý”
Các môn thi
o Câu hỏi khách quan
Có hai phần của bài trắc nghiệm khách quan của Kỳ thi kiểm tra năng lực chuyên môn nghiệp vụ pháp lý thống nhất trên toàn quốc Đề thi được chia thành giấy kiểm tra 1 và đề thi 2 Mỗi giấy thi có 100 câu hỏi trắc nghiệm và
số điểm là 150 điểm, trong đó có 50 câu hỏi trắc nghiệm và mỗi câu hỏi 1 điểm, mỗi đề thi có 50 câu hỏi trắc nghiệm và câu hỏi trắc nghiệm không xác định, mỗi câu 2 điểm Tổng điểm của hai bài thi là 300 điểm Thời gian làm bài: 180 phút
Các môn thi cụ thể là:
- Bài 1: Lý luận nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc, luật học, hiến pháp, lịch sử pháp luật Trung Quốc, luật quốc tế,
hệ thống tư pháp và đạo đức nghề nghiệp pháp lý, luật hình sự, luật tố tụng hình sự, luật hành chính và tố tụng hành chính luật
- Bài 2: luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ, Luật thương mại, Luật kinh tế, Luật tài nguyên môi trường, Luật lao động và an sinh xã hội, Luật quốc tế tư nhân, Luật kinh tế quốc tế, Luật tố tụng dân sự (bao gồm cả
hệ thống trọng tài)
o Câu hỏi chủ quan
Phần trắc nghiệm chủ quan là một phần, bao gồm câu hỏi phân tích tình huống, câu hỏi văn bản pháp luật, câu hỏi tự luận,… Thang điểm là 180 điểm Các môn thi cụ thể là: lý luận nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc, luật học, hiến pháp, luật hình sự, luật tố tụng hình sự, luật dân sự, luật thương mại, luật tố tụng dân sự (bao gồm cả hệ thống trọng tài), luật hành chính và luật tố tụng hành chính, hệ thống tư pháp và đạo đức nghề nghiệp pháp lý Thời gian làm bài đối với câu hỏi chủ quan là 240 phút
Trang 4II Đào tạo luật ở Nhật Bản
1 Để trở thành người có chức danh tư pháp ở Nhật Bản phải qua khoá đào tạo tại Học Viện Tư pháp Nhật Bản.
Sau khi chế độ phong kiến cuối cùng – Chế độ EDO - sụp đổ năm 1867, nước Nhật bước vào thời kỳ Minh Trị cách tân, mở rộng cánh cửa ra thế giới, đặc biệt là các nước Âu - Mỹ
Trong thời kỳ đầu, từ năm 1886 đến 1922, việc đào tạo thẩm phán, kiểm sát viên và luật sư được đào tạo theo chương trình riêng Việc thi tuyển những chức danh này cũng được tổ chức theo những chương trình riêng
Từ năm 1923 đến năm 1946, Nhật Bản bắt đầu tổ chức kỳ thi chung cho các chức danh tư pháp Tuy nhiên, chỉ có kỳ thi là được tổ chức chung, còn sau
đó, các thẩm phán và kiểm sát viên tương lai được đào tạo chương trình riêng, học viên luật sư được đào tạo chương trình riêng
Từ năm 1947 đến nay, các chức danh này không chỉ dự kỳ thi tư pháp quốc gia mà còn được đào tạo một chương trình chung giống nhau Đây là kết quả quá trình nước Nhật nhận thức rằng để nâng cao chất lượng tư pháp, phải nâng cao một cách đồng đều chất lượng của tất cả các chức danh tư pháp mà không phải chỉ là thẩm phán hay kiểm sát viên
2 Kỳ thi tư pháp quốc gia được tổ chức mỗi năm một lần, do Uỷ ban quản
lý kỳ thi tư pháp của Bộ Tư pháp thực hiện
Đây cũng là một điểm đặc sắc trong việc tổ chức đào tạo các chức danh tư pháp ở Nhật Bản Bởi lẽ Học Viện Tư pháp thuộc Toà án tối cao, nhưng tổ chức thi tuyển lại do Bộ Tư pháp thực hiện (theo chế độ tam quyền phân lập, Tòa án là cơ quan tư pháp, trong khi đó, Bộ Tư pháp lại thuộc cơ quan hành pháp) Người Nhật hiện đại giải thích: quy định này có lẽ nhằm tạo một cơ chế kiểm soát chất lượng giữa các cơ quan khác nhau
- Để có thể tham dự kỳ thi tư pháp quốc gia, người dự thi cần phải nộp
đơn Đây là điều kiện duy nhất của người dự tuyển Không có điều kiện
nào khác, thậm chí không giới hạn về độ tuổi cũng như bằng cấp chuyên môn Lịch sử thi tuyển các chức danh tư pháp cũng đã ghi nhận một thí sinh 12 tuổi thi đỗ kỳ thi tư pháp quốc gia Thậm chí, người có tiền án, tiền sự cũng có quyền tham gia kỳ thi tư pháp, dĩ nhiên là phải có mặt để
dự thi Bất kể ai cho rằng mình có thể thi đậu kỳ thi tư pháp quốc gia đều
có quyền dự thi
Việc không hạn chế điều kiện dự thi kỳ thi tư pháp quốc gia xuất phát từ quan điểm: nước Nhật cần người tài thực sự để có thể thực hiện tốt quyền tư
Trang 5pháp Mà người tài thì có thể do được đào tạo, học hành, nhưng có thể là bằng con đường tự học, tự trưởng thành của người đó
Thực tế, kỳ thi tư pháp quốc gia là một kỳ thi quá khó khăn (nhiều học viên tư
pháp phải dự tới hơn 10 kỳ thi tư pháp quốc gia mới trúng tuyển), nên phần lớn thí sinh dự tuyển (nếu không nói là tất cả), đều có bằng cử nhân (có thể là cử nhân luật hoặc cử nhân một chuyên ngành khác) Người không có bằng cử nhân tham dự kỳ thi tư pháp quốc gia chỉ chiếm một số lượng rất ít (vài người trong một năm)
Dẫu sao, việc quy định điều kiện dự thi tư pháp quốc gia như hiện tại đã làm cho việc học đại học Luật ở Nhật Bản, xét về lý thuyết gần như chẳng cần thiết và không có ý nghĩa Thực tế, ở Nhật bản đã có rất nhiều những cơ sở luyện thi cho
kỳ thi tư pháp mà chỉ chú trọng ôn luyện kỹ thuật thi cử chứ không dạy luật Hiện tại, người Nhật cũng nhận thấy sự bất hợp lý và thiếu khoa học trong cơ chế thi tuyển tư pháp
Mặt khác, để chương trình đào tạo Đại học luật và đào tạo các chức danh tư pháp
gắn kết với nhau, bắt đầu từ 2006, nước Nhật bắt đầu áp dụng điều kiện dự thi bắt
buộc người dự thi phải có bằng cao học luật Để có bằng cao học luật (thời gian
học 2 năm), cần phải có bằng đại học luật hoặc một bằng đại học khác
3 Kỳ thi tư pháp quốc gia có nhiều vòng thi, diễn ra gần như hết năm Do
vậy để có khoá học viên tư pháp, kỳ thi tư pháp phải được tổ chức từ năm trước
Vòng thi sơ khảo kiểm tra kiến thức pháp luật cơ bản là vòng thi đầu tiên
dành cho những người không có bằng cử nhân Hàng năm, kỳ thi tư pháp quốc gia chỉ có một vài thí sinh là phải dự tuyển vòng sơ khảo
Vòng thi chính bao gồm:
- Thi trắc nghiệm: có ba môn thi là Hiến pháp, Luật dân sự, Luật hình sự Mỗi bài thi phải làm trong khoảng 3h đồng hồ Kỳ thi thường được tổ chức vào ngày chủ nhật và thứ hai của tháng 5 trong năm
- Thi viết bài luận: vòng này có năm môn thi gồm Hiến pháp, Luật dân sự, Luật hình sự, Luật thương mại, Luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hình sự Mỗi môn phải viết hai bài Kỳ thi viết được tổ chức vào trung tuần tháng
7 hàng năm, thường trong các ngày từ ngày 17 đến ngày 20
- Thi vấn đáp là kỳ thi cuối cùng Các môn thi vấn đáp cũng gồm 5 môn thi giống như kỳ thi viết Mỗi môn có hai giám khảo.Do các vòng thi đầu rất khó khăn, nên những thí sinh vào đến vòng thi vấn đáp đều là những thí sinh rất xuất sắc
Người thi trượt ở vòng thi vấn đáp có quyền chỉ phải thi lại vòng thi này (vấn đáp) vào kỳ thi tư pháp của năm tiếp theo nếu người này vẫn có nguyện vọng tiếp tục dự thi tư pháp Người thi trượt ở các vòng thi khác thì phải tham dự lại toàn bộ các vòng thi từ đầu Không có hạn chế nào cho số lần dự
Trang 6thi kỳ thi tư pháp quốc gia Việc một người phải qua 8 đến 10 kỳ thi tư pháp quốc gia mới trúng tuyển không phải là chuyện hiếm ở Nhật Bản
Một điểm nữa là học viên học viên tư pháp được nhận lương từ Nhà nước Nước Nhật quan niệm đây là những người sẽ góp phần bảo vệ nền công lý, bảo vệ sự ổn định của xã hội, sự phát triển của đất nước, vì vậy những học viên của Học viên tư pháp được coi là những công chức dự bị và họ được hưởng mức lương của công chức dự bị
Trong chương trình đổi mới đào tạo tư pháp tại Nhật bản, áp dụng từ 2006, kỳ thi
tư pháp quốc gia chỉ có một vòng thi, gồm thi trắc nghiệm và thi vấn đáp được tổ chức một lần
Thường thì người trúng tuyển sẽ tham dự ngay khoá đào tạo của học viện tư pháp Nhưng cũng có người nhiều năm sau mới tham dự khoá học Có người sau khi nghỉ hưu mới bắt đầu tham dự khoá học Nghĩa là kết quả của kỳ thi tư pháp quốc gia có giá trị bảo lưu suốt đời
4 Học viện tư pháp thuộc Toà án tối cao Nhật Bản thực hiện thời gian đào tạo cho một khóa là 18 tháng, phân bổ như sau:
- 3 THÁNG HỌC TẠI TRƯỜNG
- 12 THÁNG THỰC TẬP
- 3 THÁNG HỌC TẠI TRƯỜNG
- THI TỐT NGHIỆP
3 tháng thực tập xét xử hình sự
3 tháng thực tập kiểm sát
3 tháng thực tập luật sư
3 tháng thực tập xét xử dân sự
Đặc điểm chung của chương trình đào tạo là đây là một chương trình đào tạo chung Trong suốt quá trình học, học viên sẽ chưa biết mình sau khi tốt nghiệp, sẽ là thẩm phán, luật sư hay kiểm sát viên Tất cả các kỹ năng của cả ba chức danh này đều được học như nhau Quy định này xuất phát
từ quan niệm cho rằng, để nền tư pháp phát triển, trình độ và năng lực của ba chức danh tư pháp là thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư phải đồng đều, phải được đào tạo trong một điều kiện như nhau
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I Những điểm giống nhau.
Trang 71 Đào tạo luật.
Có thể thấy rằng tuy có sự khác biệt về lịch sử hình thành, chế độ chính trị văn hóa xã hội song việc đào tạo luật ở Trung Quốc và Nhật Bản cũng có một số điểm tương đồng cụ thể:
- Phương pháp đào tạo luật tương tự như đào tạo luật ở các nước có hệ thống pháp luật thuộc dòng họ Civil Law
- Nội dung giảng dạy của hai quốc gia đề thiên về lí thuyết là chủ yếu, các
trường đại học chú trọng tới giảng các đạo luật, bộ luật (pháp luật thành văn)
mà không chú trọng tới thực hành
- Quá trình đào tạo gồm có đại học và sau đại học Ngoài ra còn có quá trình học nghề
- Đều tổ chức kì thi luật quốc gia với mức độ khó và tỉ lệ đỗ rất thấp Năm
1980, ở Nhật có hơn 20000 người dự thi thì chỉ có gần 500 người thi đỗ Ở Trung Quốc, năm 2002 chỉ có 6.68% thí sinh đỗ; năm 2003, 2004, tỉ lệ này lần lượt là 8.75%, 11.22% Những năm gần đây, hai quốc gia này đều đang cải cách quá trình đào tạo luật để nâng cao số lượng cũng như chất lượng của người hành nghề luật
- Để có đủ tiêu chuẩn đề hành nghề luật sư đều phải học cao học lên tiến sĩ
hoặc thạc sĩ với các khóa học thông thường là 2 năm.
2 Nghề luật.
Đối với hai quốc gia Trung Quốc, Nhật Bản nói riêng và thế giới nói chung đều công nhận rằng nghề luật là một nghề danh giá, đáng nể trọng và những người theo học nghề luật là những con người tài giỏi Những người hành nghề luật đòi hỏi phải có các kĩ năng cá nhân lớn, phải biết hùng biện, thuyết trình, suy luận…và phải rất thông minh
- Nghề luật đều được hiểu là thẩm phán, công tố viên hoặc luật sư Và thẩm phán cũng có thể được chọn ra từ đội ngũ các luật sư giỏi
- Sau khi đã đủ các tiêu chuẩn hành nghề luật, có thể làm việc tại các tòa án, viện kiếm sát, văn phòng luật sư…hay hành nghề độc lập
- Những luật sư này sẽ chính thức trở thành các ứng cử viên để trở thành thẩm
phán, rất ít trường hợp chưa qua đào tạo tại chuyên ngành mà được làm thẩm phán.
Trang 8II Những điểm khác biệt.
1 Đào tạo luật.
Thứ nhất, ở Nhật Bản việc đào tạo luật gần giống với các nước thuộc dòng họ
civil law, chủ yếu là đào tạo cử nhân luật Sinh viên khoa luật phải dự thi đầu vào các môn khoa học xã hội: tiếng Nhật, lịch sử thế giới, lịch sử Nhật Bản, địa lý, ngoại ngữ Trong khi chương trình đào tạo luật ở Nhật Bản chia làm 2 giai đoạn và kéo dài 4 năm thì ở Trung Quốc chương trình đào tạo thống nhất và kéo dài 3 năm
Ở Nhật Bản, giai đoạn đầu là giảng dạy các môn giáo dục đại cương, giai đoạn hai
là giai đoạn học các môn chuyên ngành được đào tạo trong 2 năm Đây có thể coi
là thời gian quá ngắn ngủi để một sinh viên có thể am hiểu sâu sắc về luật còn ở Trung Quốc, trong 3 năm đào tạo cử nhân luật thì sinh viên sẽ được giảng dạy nhiều bộ luật, đạo luật khác nhau, ít có thời gian đào sâu kiến thức chuyên ngành
Thứ hai, tuy nhiên để khắc phục sự cố này thì ở Nhật Bản sau khi tốt nghiệp cử
nhân luật có thể tham gia chương trình đào tạo sau đại học Chương trình đào tạo này cũng được chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn đầu là giai đoạn lấy bằng thạc sĩ luật học kéo dài 2 năm và để kết thúc khóa học sinh viên phải viết luận văn thạc sĩ, nếu được hội đồng chấp nhận mới được cấp bằng; giai đoạn hai, đào tạo tiến sĩ kéo dài
3 năm, kết thúc khóa học bằng cách viết luận án tiến sĩ và phải bảo vệ thành công luận án đó Còn ở Trung Quốc ngoài cách học cao học để có bằng thạc sĩ hoặc tiến
sĩ, còn có thể dành ra 2 năm thực tập theo nghề luật tìm kiếm kinh nghiệm và sau
đó sẽ tham dự kì thi do đoàn luật sư tổ chức 2 lần 1 năm Vượt qua nó, bạn sẽ được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư
Thứ ba, nếu như ở Nhật Bản phương pháp đào tạo chủ yếu là thuyết trình với
các lớp học tới hơn 500 sinh viên Giờ thảo luận các sinh viên chia thành từng nhóm nhỏ gồm khoảng 20 sinh viên để làm việc nhóm Còn ở Trung Quốc thì phương pháp chủ yếu là tiến hành giảng dạy lý thuyết trên lớp
2 Nghề luật.
- Như đã nói ngay tư ban đầu thì nghề luật là một nghề danh giá do vậy để được hành nghề luật thì các cử nhân luật ở Nhật bản sẽ phải tham dự một kì thi khó
Trang 9khăn Trong kì thi ấy tỷ lệ trượt là rất lớn, nhiều học viên phải thi 10 lần mới trúng tuyển Tháng 4/2004 Nhật Bản thực hiện cải cách từ đó nước Nhật sẽ có những Law school đầu tiên đào tạo cao học luật, năm 2006 Nhật Bản có những Master luật dự kì thi tư pháp quốc gia Kì thi có nhiều vòng thi ngặt nghèo diễn ra gần như hết năm Sau khi đỗ học viên sẽ được học tại viện nghiên cứu và đào tạo luật do Toà án tối cao tổ chức Trong 4 tháng đầu và 4 tháng cuối học viên sẽ học tại viện,
16 tháng ở giữa học viên được học 8 tháng tại tòa án, 4 tháng ở viện công tố và văn phòng luật sư Sau đó học viên phải tham dự kì thi tốt nghiệp, sau khi tốt nghiệp học viên được công nhận có đủ phẩm chất và năng lực hành nghề luật sư
- Còn đối với Trung Quốc, để trở thành luật sư, ứng cử viên phải có được phẩm chất nghề nghiệp bằng 2 cách là vượt qua kì thi luật quốc gia hoặc được các cơ quan có thẩm quyền của ngành tư pháp công nhận Giống như Nhật Bản, kì thi quốc gia được đánh giá cao về mức độ khó và tỷ lệ đỗ thấp Sau khi đỗ kì thi này học viên phải thực tập tại một văn phòng luật sư hoặc công ty luật Sau khi kết thúc khóa thực tập học viên sẽ được cấp chứng chỉ để có thể hành nghề luật sư Giấy phép hành nghế luật cần được đăng kí lại hằng năm tại văn phòng tư pháp tỉnh, thành phố hay khu tư trị Một luật sư chỉ có thể hành nghề tại một văn phòng luật
sư tại một thời điểm
III Nguyên nhân và giải thích.
Nguyên nhân đầu tiên dẫn tới sự giống nhau trong đào tạo luật và nghề luật ở
Trung Quốc và Nhật Bản là do cả 2 nước đều coi trọng người học luật, coi người học luật là những người tài giỏi vì vậy nghề luật là nghề danh giá Thứ hai là do chương trình đào tạo của Trung Quốc và Nhật Bản được thiết kế tương tự như ở các nước thuộc dòng họ civil law Nguyên nhân cuối cùng đó là do trong lịch sử phát triển của mình Nhật Bản cũng chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Quốc, khởi đầu là chữ viết, tiếp đó là đến tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, pháp luật Những đạo luật đầu tiên của Nhật Bản cũng được xây dựng dựa trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm các đạo luật của Trung Quốc
Vậy nguyên nhân nào lại dẫn tới sự khác nhau giữa hai quốc gia này Chúng ta
có thể thấy một số nguyên nhân chủ yếu sau:
Trang 10Thứ nhất do lịch sử hình thành và phát triển cũng như điều kiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia là không tương đồng đã dẫn tới sự hình thành của các hệ thống pháp luật khác nhau
Thứ hai do ở Nhật Bản đã có lúc chịu sự ảnh hưởng và cạnh tranh của hệ thống pháp luật Mỹ và hệ thống pháp luật Pháp, Đức vì vậy khó có thể xác định chính xác cội nguồn của hệ thống pháp luật từ dòng họ common law hay civil law Hay nói chính xác hơn hệ thống pháp luật Nhật Bản chính là sự lai tạp của common law
và civil law Còn ở Trung Quốc có thể nói đây là một quốc gia với 2 chế độ và 3 hệ thống pháp luật phức tạp
IV Ưu điểm, hạn chế.
Tuy mỗi quốc gia đều có cách thức, phương pháp đào tạo riêng cho đào tạo luật
và nghề luật song ở mỗi quốc gia Trung Quốc hay Nhật Bản ta đều có thể nhận thấy nó có những ưu điểm cũng như các hạn chế của nó
Điểm hạn chế rõ nét có thể thấy ở cả hai quốc gia này đó là cách thức giảng dạy quá thiên về lý thuyết, sinh viên không có cơ hội thực hành, cúng như thời gian đào tạo chuyên ngành quá ngắn ngủi làm cho sinh viên không hiểu rõ về kiến thức chuyên ngành
Tuy nhiên ở mô hình đào tạo luật và nghề luật ở Nhật Bản nhất là thời gian đào tạo tại các học viện tư pháp, học viên sẽ được học chương trình đào tạo chung nên khi học, học viên sẽ chưa biết sau này mình sẽ làm gì, điều này tạo cơ hội lựa chọn ngành nghề cho học viên sau khi tốt nghiệp ra trường và có thể làm việc trong mọi công việc
Còn ở Trung Quốc, để được hành nghề luật phải trải qua kì thi quốc gia khó khăn, ngặt nghèo hay phải được các cơ quan có thẩm quyền tư pháp công nhận Điều này cho thấy cơ chế tuyển chọn luật sư kĩ càng, đảm bảo đúng với sự tôn vinh của xã hội
C KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Từ những đặc điểm cơ bản của hệ thống pháp luật Nhật Bản nói chung và đào tạo luật cũng như nghề luật nói riêng, cũng như nhìn nhận dưới góc độ so sánh, đối chiếu với các đặc trưng của đạo luật và nghề luật ở Trung Quốc, có thể thấy rằng ở