tìm hiểu mã số vạch của hàng hóa vận chuyển phân phối và cách phân loại bao bì thực phẩm.Xã hội ngày càng phát triển, mức sống của con người cũng ngày càng được nâng cao kéo theo đó nhu cầu về các sản phẩm phục vụ cho cuộc sống cũng ngày càng phức tạp, đa dạng hơn. trong đó lựa chọn sản phẩm thực phẩm tốt,an toàn là điều vô cùng quan trọng.Ngoài thành phần dinh dưỡng và cảm quan của sản phẩm thì bao bì và nhãn mác của hàng hóa cũng là yếu tố vô cùng quan trọng để thu hút người tiêu dùng. Nhưng trên nhãn hàng hóa có một phần mà ít người tiêu dùng quan tâm tới đó là mã số mã vạch của hàng hóa (MSMV). MSMV không nhằm mục đích cho người tiêu dùng đọc, cũng không ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa, nhưng MSMV được hệ thống máy Scanner đọc và máy tính ghi nhận vào bộ nhớ và sao lục đặc tính quy cách hàng hóa, về giá cả, số lượng nhập, số lượng xuất, lưu kho và thời gian tương ứng.Trong bài tiểu luận này thì nhóm em sẽ xét tìm hiểu về mã số mã vạch của hàng hóa vận chuyển, phân phối. kèm theo cách phân loại bao bì thực phẩmGiới thiệu lịch sử phát triển mã số mã vạch của hàng hóa:Mã số mã vạch đầu tiên được chế tạo và đưa vào sử dụng trên thế giới từ những năm thập kỷ 70 của thế kỷ 20. Do yêu cầu phát triển sản xuất và kinh doanh thương mại. Công nghệ mã số mã vạch ngày càng được nghiên cứu hoàn thiện, phát triển. Được dụng rộng rãi trong đa ngành kinh tế và trên toàn thế giới.Năm 1973 tổ chức MSMV đầu tiên được thành lập, đó là Hội đồng mã thống nhất của Mỹ (viết tắt tên tiếng Anh là UCC).
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM
KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
BÀI TIỂU LUẬN
phân phối và cách phân loại bao bì thực phẩm.
GVHD: Đỗ Vĩnh Long
Thành Viên Nhóm
1 Nguyễn Thị Thùy Dung 3030160079
2 Kiều Mai Thanh Tuyền 2005170207
3 Lê thị Thúy Hậu 2005170360
4 Huỳnh Thị Như Thảo 2005170167
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
Giới thiệu lịch sử phát triển mã số mã vạch của hàng hóa: 2
I Cấu tạo mã số mã vạch của hàng hóa vận chuyển, phân phối hay đơn vị gởi đi 3
1 Định nghĩa: 3
2 Đặc điểm của MSMV được chia làm hai phần: 3
3 Phân loại 4
3.1 Mã số các đơn vị gởi đi EAN-14 hoặc DUN-14: 4
3.2 Mã vạch các đơn vị gửi đi dùng mã ITF-14 6
3.3 Mã vạch bổ trợ ITF-6 8
II Phân loại bao bì 10
1 Phân loại bao bì theo kích thước 10
2 Phân loại bao bì theo thực phẩm 10
3 Phân loại bao bì theo vật liệu cấu tạo 17
3.1 Vật liệu kim loại 17
3.2 Vật liệu thủy tinh 19
3.3 Vật liệu gốm sứ 21
3.4 Vật liệu xenlulo (giấy) 23
3.5 Vật liệu chất dẻo 25
4.Phân loại theo vị trí tương đối của sản phẩm 28
5.Phân loại bao bì theo tính năng kỹ thuật của bao bì 28
Trang 3CÔNG NGHỆ BAO BÌ VÀ ĐÓNG GÓI THỰC PHẨM
Xã hội ngày càng phát triển, mức sống của con người cũng ngày càng được nângcao kéo theo đó nhu cầu về các sản phẩm phục vụ cho cuộc sống cũng ngày càngphức tạp, đa dạng hơn trong đó lựa chọn sản phẩm thực phẩm tốt,an toàn là điều
vô cùng quan trọng
Ngoài thành phần dinh dưỡng và cảm quan của sản phẩm thì bao bì và nhãn máccủa hàng hóa cũng là yếu tố vô cùng quan trọng để thu hút người tiêu dùng Nhưngtrên nhãn hàng hóa có một phần mà ít người tiêu dùng quan tâm tới đó là mã số mãvạch của hàng hóa (MSMV) MSMV không nhằm mục đích cho người tiêu dùngđọc, cũng không ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa, nhưng MSMV được hệthống máy Scanner đọc và máy tính ghi nhận vào bộ nhớ và sao lục đặc tính quycách hàng hóa, về giá cả, số lượng nhập, số lượng xuất, lưu kho và thời gian tươngứng
Trong bài tiểu luận này thì nhóm em sẽ xét tìm hiểu về mã số mã vạch của hànghóa vận chuyển, phân phối kèm theo cách phân loại bao bì thực phẩm
Giới thiệu lịch sử phát triển mã số mã vạch của hàng hóa:
Mã số mã vạch đầu tiên được chế tạo và đưa vào sử dụng trên thế giới từ nhữngnăm thập kỷ 70 của thế kỷ 20 Do yêu cầu phát triển sản xuất và kinh doanhthương mại Công nghệ mã số mã vạch ngày càng được nghiên cứu hoàn thiện,phát triển Được dụng rộng rãi trong đa ngành kinh tế và trên toàn thế giới
Năm 1973 tổ chức MSMV đầu tiên được thành lập, đó là Hội đồng mã thống nhấtcủa Mỹ (viết tắt tên tiếng Anh là UCC)
Trang 4Năm 1977, Hội mã số vật phẩm Châu âu (EAN) ra đời do sáng kiến của 12 nướcChâu Âu Đến năm 1984 đổi thành EAN International Là một tổ chức phi lợinhuận, hoạt động trên cơ sở trung lập với mục đích chính là đẩy mạnh áp dụng hệthống EAN trên toàn cầu Trong tất cả các ngành kinh tế xã hội nhằm cung cấpngôn ngữ chung cho thương mại quốc tế.
I Cấu tạo mã số mã vạch của hàng hóa vận chuyển, phân phối
hay đơn vị gởi đi.
Các sản phẩm được đóng trong các thùng to, có MSMV để tiện quản lý xuất nhập
dễ dàng bằng máy tính và máy scanner Do đó việc quản lí số lượng hàng hóa trởnên đơn giản, nhanh chóng và chính xác hơn
1 Định nghĩa:
- MSMV: mã số mã vạch là một trong những công nghệ nhận dạng và thuthập dữ liệu tự động dựa trên nguyên tắc Đặt cho đối tượng cần quản lý mộtdãy số (hoặc dãy chữ và số) Sau đó thể hiện dưới dạng mã vạch để máyquét có thể đọc được Trong quản lý hàng hóa người ta gọi dãy số và dãyvạch đó là mã số mã vạch của hàng hóa
- Theo TCVN 6939 : 1996 – đơn vị gửi đi là một tập hợp ổn định và thốngnhất một số đơn vị tiêu thụ dùng để dễ dàng vận chuyển, lưu kho
- Theo TCVN 6939 : 1996 – đơn vị tiêu dùng là đơn vị hàng hóa để bán chongười tiêu dùng thông qua các quầy bán lẻ
2 Đặc điểm của MSMV được chia làm hai phần:
Trang 63 Phân loại
3.1 Mã số các đơn vị gởi đi EAN-14 hoặc DUN-14:
Mã số EAN-13 của đơn vị tiêu thụ được dùng làm cơ sở để lập mã đơn vị gởi điEAN-15 Mã này được thêm vào một chữ số nữa đứng đằng trước, được gọi là số
VL ( Logical Variant) tạo thành mã EAN -14 hay DUN – 14 ( Distribution UnitNumber)
Mã đơn vị gửi đi có dạng tiêu chuẩn gồm:
- 1 chữ số mới ( VL – Logical Variant ) gồm 3 loại: 0,1÷8 và 9:
+ Số VL là 0 đối với trường hợp một mặt hàng chỉ có một loại đơn vị gửi đi
và đơn vị này có thể bán lẽ tại quâỳ hàng ( ví dụ: 1 thùng mì tôm 30 gói)+ Số VL từ 1-8 đối với loại hàng hóa có nhiều loại đơn vị gửi đi Số VLcàng lớn khi số lượng bên trong vật phẩm đơn vị gởi đi càng tăng
+ Số VL là 9 trong các trường hợp:
Kiện hàng chứa nhiều loại mặt hàng khác nhau
Hàng hóa trong thùng sẽ được phân chia bao gói thành đơn vị bán lẽ ( nhưrau quả tươi sống, thủy sản , thịt gia súc, gia cầm,…) Sau thu hoạch đượcphân loại sơ bộ và đóng gói bao bì, phân phối đến các công ty bán sĩ và lẻ.các mặt hàng này được đóng gói xử lí thành đơn vị bán lẻ có khối lượng xácđịnh
- 12 chữ số vật phẩm của đơn vị tiêu thụ ( mã quốc gia, mã doanh nghiệp, mãsản phẩm)
Trang 8Cấu Tạo Mã EAN – 14 hay DUN – 14 từ mã EAN – 13:
Số VL được thêm vào 12 chữ số của mã EAN – 13 số kiểm tra
Cấu tạo mã EAN – 14 hay DUN – 14 từ mã EAN – 8:
Số VL 5 con số 0 thêm vào 7 con số của mã EAN – 8 số kiểm tra
Nhà cung cấp các đơn vị gửi đi cung cấp cho các đối tác buôn bán của mình danhsách các số VL này và mô tả chi tiết ý nghĩa của nó
Số VL càng lớn có nghĩa là sẽ có nhiều đơn vị tiêu thụ bên trong đơn vị gửi đi
Số VL được thêm vào đầu tiên bên trái của mã EAN – 13 hay EAN – 8 ( EAN-8
đã thêm 5 số 0 vào phía trước )
Trang 9Ví dụ về lập mã đơn vị gửi đi của một mặt hàng
TT Tên sản
phẩm
Đặc điểm,kích thướcthùng
Số vậtphẩmđóng gói
Khốilượngmột đơnvị
Mã số
1 Ca cao
bột
Gói bằngplastic
1 gói 200g 893526879137C
2 Ca cao
bột Thùngnhỏ
250x250x200 10 gói 2,0 kg 1893526879137C1
3 Ca cao
bột thùnglớn
400x300x100 20 gói 4 kg 2893526879137C2
3.2 Mã vạch các đơn vị gửi đi dùng mã ITF-14
-Thực tế đã sử dụng phổ biến một loại mã vạch gọi là mã IFT ( interleave two offive- tức là 2,5 xen kẽ)
- Mã ITF có cấu trúc tổng thể như hình vẽ , từ trái sang phải gồm:
Trang 10-Trong mã vạch này mỗi con số được thể hiện bằng 5vạch (hoặc khoảng trống),trong đó có 2 vạch rộng(hoặc khoảng trống rộng).
- Mã vạch ITF mã hóa một số chẵn các con số (vd như 10, 12, 14,…), trong đó mãvạch ITF mã hóa 14 con số được sử dụng rộng rãi nhất nên có tên riêng là mã ITF-14
- Khi in trên các vật liệu đơn vị gửi đi người ta sẽ dùng mã ITF-14 thay thế cho mãEAN-14 vì mã EAN-14 đòi hỏi chất lượng in cao
- Khi in mã ITF-14, để chỉ thị chất lượng in của mã vạch người ta dùng chữ H Nếu
2 nét đứng của chữ H này dính vào nhau thì chứng tỏ rằng chất không đạt yêu cầuphải in lại
*Quy định về kích thước của mã vạch ITF-14
Khung viền mã dày 4,8mm
Chiều cao của số ghi dưới mã vạch là 5,72mm
Trang 113.3 Mã vạch bổ trợ ITF-6
* Mã vạch bổ trợ ITF-6 cho mã số EAN/DUN-14 có số VL9:
Các đơn vị gửi đi có thể có số lượng thay đổi , ví dụ:
- Các đơn vị sẽ được chia và đóng bao bì lại trước khi đem bán lẻ như thịt giasúc , gia cầm, rau quả…
- Các đơn vị tiêu thụ có số lượng thay đổi , chẳng hạn các sản phẩm đóng gói
sơ bộ sau quá trình sản xuất , thu hoạch
- Khi thực hiện các đơn đặt hàng qui định rõ số lượng (nghành dệt đặt theomét, kính đặt theo m2…)
Trong các trường hợp này , số lượng sản phẩm sẽ được phân định lại được biểu thịbằng mã bổ trợ; mã này được đặt bên phải mã chính
Mã dùng để phân định các đơn vị gửi đi có số lượng thay đổi là EAN/DUN-14được thể hiện bằng mã vạch ITF-14 phối hợp với mã ITF-6 bổ trợ để phân định sốlượng
* Các quy tắc khi dùng mã bổ trợ ITF-6:
- Mã bổ trợ bao gồm 5 chữ số và số kiểm tra; mã thể hiện số lượng phân định sảnphẩm chứa trong đơn vị gửi đi
- Số kiểm tra C được tính toán theo phương pháp tính số C đã trình bày
- Đơn vị đo lường là đơn vị ảo ( chứa trong file dữ liệu ) và nhà sản xuất phảithông báo cho khách hàng của họ cùng với số phân định và các đặc tính của đơn vịgửi đi
- Các kích thước có gạch chân thay đổi phụ thuộc vào độ phóng đại M
- Độ phóng đại mã ITF-6 bổ trợ nằm trong khoảng 0,625-1,2
Trang 12-Độ phóng đại mã ITF-6 bổ trợ nằm trong khoảng 0,625÷1,2.
Ví dụ: Một doanh nghiệp gửi đi một lô hàng; trong lô hàng đó có trọng lượng 173
kg Mã bổ trợ có thể thể hiện như sau: 17300 1 Như vậy, 5 số có thể hiện số lượng
là 17300, số kiểm tra đã tính là 1 Theo quy tắc dùng mã bổ trợ, doanh nghiệp sẽthông báo cho đối tác buôn bán của mình thông tin “ điểm chỉ số thập phân là 3con số tính từ tái sang”, “đơn vị đo lường là ki lô gam” cùng với thông tin cần thiếtkhác về sản phẩm
n: số cặp số trong mã, trường hợp này là 3
Lưu ý: Kích thước mã được tính dựa theo chiều rộng vùng trống nên dùng Kíchthước mã bao gồm cả khung viền sẽ là kích thước tính như trong bảng cộng thêm9,6mm
Trang 13* Điểm đặt mã ITF:
- Nếu điều kiện cho phép, nên in mã trên cả 4 mặt đứng của thùng kiện hàng, nếukhông phải in trên 2 mặt đứng sát nhau, nên tránh trường hợp chỉ in một mã trênchỉ một mặt thùng Có thể đặt mã ở vị trí dễ nhìn thấy khi xếp kho, phân phối…
- Mã cần được in đứng, theo chiều đứng của hộp.(các vạch thẳng góc với mặt đáythùng) - Nếu đơn vị gửi đi bằng bao nhựa trong, phải đảm bảo máy scan khôngquét nhầm số (do bị lớp plastic bóng phản xạ ánh sang gây ra nhầm lẫn)
- Để đảm bảo chất lượng in và quét mã sau này, nên in mã ITF có độ phóng đại lớn
từ 1,0 – 1,2
II Phân loại bao bì
1 Phân loại bao bì theo kích thước
Một cách tổng quát người ta phân thành hai loại theo kích cỡ:
Bao bì lớn: là loại bao bì đóng gói lớn để dễ dàng khuân vác, vận chuyển, không
phải sử dụng một cách riêng lẻ theo khẩu phần Bao bì lớn chứa nhiều đơn vị sảnphẩm bán lẻ trong đó thường là thùng carton, thùng gỗ lớn, thùng phuy,container,
Bao bì nhỏ: là bao bì đóng gói để tiêu thụ trực tiếp trong mỗi lần sử dụng theo
khẩu phần hay trong một thời gian, giá cả thích hợp với từng loại thực phẩm
Ví dụ: chai nước mắm, chai dầu ăn, gói mì ăn liền, gói thuốc lá,
2 Phân loại bao bì theo thực phẩm
- Các loại thực phẩm khác nhau sẽ có sự khác nhau về đặc tính dinh dưỡng, đặcđiểm cấu trúc, màu sắc, mùi vị, hàm ẩm, Do đó, khả năng xâm nhập và sinh
Trang 14trưởng của vi sinh vật vào thực phẩm cũng khác nhau Sản phẩm thực phẩm vôcùng đa dạng về chủng loại, có thể phân loại bao bì theo loại thực phẩm:
+ Bao bì của sản phẩm bánh
+ Bao bì của sản phẩm nước ngọt có gas, nước ép quả
Bao bì nước giải khát:
Đối với các sản phẩm nước ngọt có gas đặc điểm của sản phẩm này là có chứa
CO2 Nên loại bao bì chứa các loại sản phẩm này thường là các chai thủy tinh trongsuốt, lon nhôm hai mảnh, các chai nhựa plastic
Trang 15Đối với các sản phẩm nước giải khát có nguồn gốc từ tự nhiên như nước ép tráicây thì trong sản phẩm có rất nhiều các chất dinh dưỡng khác nhau nên đặc biệtnhạy cảm với ánh sáng Nên loại bao bì thường dùng cho sản phẩm này trên thịtrường là bao bì giấy nhiều lớp.
+ Bao bì của sản phẩm bia
Bia và các sản phẩm rượu không qua chưng cất vẫn còn giữ các chất dinh dưỡng
có trong nguyên liệu nên đặc điểm của các sản phẩm này là rất nhạy cảm với oxy
và ánh sáng Ngoài ra bia là một loại sản phẩm có CO2 Nên các loại sản phẩm nàycần loại bao bì có khả năng chống thấm khí, có khả năng chịu lực và có khả năngcản quang tốt Nên các loại bao bì trong sản xuất bia thường dùng trên thị trường làcác chai thủy tinh tối màu (xanh hoặc nâu), lon nhôm hai mảnh, trong các thùngbốc, trong chai nhựa tối màu,
Trang 16
+ Bao bì của sản phẩm rượu
Các loại bao bì trong sản xuất rượu không qua chưng cất thường dùng chai thủytinh tối màu Ngoài ra, các sản phẩm này, còn được đóng gói trong các túi, hộp,chai plastic, các vật liệu bằng gốm sứ,
+ Bao bì của sản phẩm sữa tươi, sữa bột và các sản phẩm khác từ sữa
Trang 18+ Bao bì của sản phẩm dầu thực vật
Dầu thực vật tuy có hàm lượng chất béo cao nên dễ bị ảnh hưởng của oxy và ánhsáng tuy nhiên trong quá trình sản xuất dầu người ta đã bổ sung các chất chống oxyhóa vào trong dầu nên bao bì sử dụng trong sản xuất dầu ăn thường làm bằng vậtliệu là plastic trong suốt
+ Bao bì của sản phẩm trà, cà phê, cao cao
Trang 19
+ Bao bì của sản phẩm kẹo cứng, kẹo mềm, mứt và chocolate.
+ Bao bì của sản phẩm rau quả tươi sống, các sản phẩm khác từ rau quả
+ Bao bì của sản phẩm bột, đường, ngũ cốc
Trang 20
+ Bao bì của sản phẩm thủy sản đông lạnh.
- Thực tế, nhiều chủng loại thực phẩm khác nhau được bao gói cùng một loại bao
bì, sử dụng cùng một kỹ thuật đóng gói hoặc một loại thực phẩm có thể đóng trongbao bì bằng các loại vật liệu khác nhau sao cho những loại bao bì này đáp ứngđược tính năng đặc trưng của thực phẩm chứa đựng
Ví dụ: như sản phấm cá, thịt, thủy sản, rau quả, sữa bột, bơ, bánh kẹo, nước giảikhát có gas, nước ép quả, chứa đựng trong bao bì bằng kim loại
- Sản phẩm nước giải khát có thể chứa đựng trong bao bì bằng plastic, kim loại,thủy tinh, bao bì ghép nhiều lớp,
Trang 21- Do đó phân loại bao bì theo loại thực phẩm không thể hiện được tính năng đặctrưng của từng vật liệu bao bì.
3 Phân loại bao bì theo vật liệu cấu tạo
3.1 Vật liệu kim loại
3.1.1 Giới thiệu
Bao bì kim loại trở thành một ngành công nghệ vào thế kỷ XIX và phát triển mạnhnhất vào đầu thế kỷ XX Nó vẫn tiếp tục phát triển nhờ ngành luyện kim và cơ khíchế tạo máy chế tạo ra vật liệu kim loại tính năng cao và thiết bị đóng bao bì luônđược cải tiến Nhu cầu ăn liền cho những vùng xa,nơi không thể cung cấp thựcphẩm tươi sống hoặc đáp ứng nhu cầu của một số đối tượng do điều kiện sống vàđiều kiện công tác không có thời gian chế biến ngay càng tăng Bao bì kim loạichứa đựng thực phẩm ăn liền ra đời đã đáp ứng được yêu cầu trên, có thể bảo quảnthực phẩm trong thời gian 2-3 năm thuận tiện cho chuyên chở phân phối xa
Vật liệu kim loại để làm bao bì là các loại: nhôm, lá thép, lá sắt phủ thiếc (quen gọi
là sắt tây) Để tránh sự xâm nhập các chất có hại từ vỏ bao là kim loại (bị ăn mòn,rỉ, ) vào thực phẩm người ta phải tráng mặt trong bao bì kim loại với lớp vecni,lớp màng chất trùng hợp hay phải thụ động hóa kim loại
Trang 22
3.1.2 Ưu điểm
- Không bị ảnh hưởng bởi sốc nhiệt nên có thể gia, nhiệt làm lạnh nhanh
- Độ bền cơ học cao
- Đảm bảo độ kín, không thấm ướt
- Phải có bao bì ngoài, màng co hay màng carton để đóng hàng vận chuyển xa
- Chống ánh sáng thường cũng như tia cực tím tác động vào thực phẩm
- Bao bì kim loại có tính chất chịu nhiệt độ cao và khả năng truyền nhiệt cao do đóthực phẩm các loại có thể đóng hộp thanh trùng tiệt trùng với chế độ thích hợp đảmbảo vệ sinh an toàn
- Bao bì kim loại có bề mặt tráng thiếc tạo ánh sáng bóng có thể được in và tránglớp vecni để bảo vệ lớp in không bị trầy xước
- Quy trình sản xuất đồ hộp và đóng hộp được tự động hóa hoàn toàn, gia công bao
bì với cường độ cao, độ chính xác cao
- Nhẹ thuận lợi cho vận chuyển
- Hầu hết vật liệu lá kim loại (nhôm, sắt, thép) phải là nhập ngoại
3.1.3 Nhược điểm
- Độ bền hóa học kém hay bị rỉ và bị ăn mòn
- Không thể nhìn được sản phẩm bên trong
- Nặng và đắt hơn bao bì có thể thay thế nó là plastic
- Tái sử dụng bị hạn chế
Trang 233.1.4 Ứng dụng
Bao bì bằng kim loại được ứng dụng nhiều để bao gói sản phẩm thực phẩm, dượcphẩm, mỹ phẩm Trong công nghiệp thực phẩm được dùng để làm:
- Các loại lon chịu áp lực (nhôm, sắt) đựng bia, nước ngọt có ga
- Các loại hộp đựng bánh kẹo, sữa khô, chè khô, hạt khô, đóng hộp thịt, cá, rauquả
- Làm bao bì ngoài cho các sản phẩm rượu chai
- Làm nắp đậy cho chai, lọ thủy tinh (nắp chai bia, nắp đồ hộp)
- Người ta thường sản xuất bao bì kim loại ở dạng hộp hình trụ hoặc hình hộp chữnhật
- Kích thước của hộp tùy thuộc vào từng loại sản phẩm và tùy thuộc vào thói quensản xuất của từng quốc gia Tuy nhiên ngày nay do công nghiệp thực phẩm pháttriển mạnh mẽ và sự giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng nên người ta dần dần tiếntới sự thống nhất kích thước mang tính tiêu chuẩn hóa để có thể sử dụng với máymóc đóng hộp hiện đại các loại vật liệu đã được sản xuất sẵn phù hợp với nhữngphương tiện vận tải
3.2 Vật liệu thủy tinh
3.2.1 Giới thiệu
Thủy tinh được tạo ra từ các sản phẩm có sẵn trong thiên nhiên như cát, bột Soda,
đá vôi và thủy tinh vụn Phương pháp được sử dụng để tạo các chai lọ thủy tinh dùđược cải tiến phù hợp với mục đích thương mại nhưng về cơ bản vẫn như đã từnglàm hàng nghìn năm nay từ thời Ai Cập
Với sự chủ động về nguồn nguyên liệu và công nghệ silicat ngày càng phát triểnnên bao bì thủy tinh luôn thay đổi về chất lượng lẫn kiểu dáng phù hợp với sự phát