Khái quát về hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp 1.1 Khái quát về tiêu thụ sản phẩm Trong nền kinh tế thị trường, chỉ có những doanh nghiệp sản xuất cái màthị trường cần thì mới
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM
1 Khái quát về hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
1.1 Khái quát về tiêu thụ sản phẩm
Trong nền kinh tế thị trường, chỉ có những doanh nghiệp sản xuất cái màthị trường cần thì mới có khả năng tiêu thụ được sản phẩm của mình Thực chấtcủa quá trình tiêu thụ sản phẩm là chuyển dịch quyền sở hữu hàng hoá từ ngườisản xuất sang người tiêu dùng
Tiêu thụ được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng được hiểu chungnhất là khâu trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng
Dưới góc độ xã hội, tiêu thụ nằm ở khâu lưu thông hàng hoá trong quátrình tái sản xuất sản phẩm xã hội: Sản xuất – phân phối – trao đổi – tiêu dùng,
là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng Hoạt động tiêu thụ sẽ giúpthực hiện được chức năng giá trị của hàng hoá và đảm bảo cho quá trình tái sảnxuất xã hội được liên tục
Bên cạnh đó, dưới góc độ một doanh nghiệp thì tiêu thụ sản phẩm là mộtquá trình phức tạp bao gồm nhiều khâu: từ việc nghiên cứu thị trường, xác địnhnhu cầu khách hàng đến việc tổ chức sản xuất, thực hiện các hoạt động tiêu thụ,xúc tiến bán hàng,… nhằm mục tiêu đạt doanh số và lợi nhuận cao Hay nói mộtcách khác là doanh nghiệp phải thực hiện các hoạt động marketing để tiêu thụđược những sản phẩm đã sản xuất ra
1.2 Mục tiêu
Tuyệt đại đa số các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường khi tiến hànghoạt động tiêu thụ sản phẩm đều nhằm vào một số mục tiêu cơ bản sau:
Tăng thị phần của doanh nghiệp
Tăng doanh thu và lợi nhuận
Trang 2Duy trì và phát triển uy tín kinh doanh của – tài sản vô hình của doanhnghiệp
Tăng năng lực sản xuất kinh doanh và cạnh tranh
Doanh nghiệp có thể vay vốn, nhận tài trợ hay nhận góp vốn để đầu tư chosản xuất kinh doanh, nhưng chỉ có tiêu thụ sản phẩm tốt mới là biện pháp cơbản nhất để bù đắp chi phí, bảo đảm kinh doanh có lãi, tích luỹ nội bộ và tái đầu
tư Nhiều doanh nghiệp có những sản phẩm mà họ cho là rất tốt và thực tế là tốtthật, nhưng lại không tiêu thụ được do không phù hợp với nhu cầu, do sự kémcỏi trong khâu tiêu thụ Điều này làm ứ đọng sản phẩm, làm đình trệ quá trìnhquay vòng vốn, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Cácdoanh nghiệp ngày nay phải thường xuyên tổ chức và quản lý hoạt động tiêu thụhợp lý, có hiệu quả thì mới mong đạt được những mục tiêu cơ bản của mình
1.3 Vai trò của hoạt động tiêu thụ sản phẩm với các doanh nghiệp
Tiêu thụ sản phẩm là một khâu rất quan trọng của quá trình sản xuất và táisản xuất
Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp cứ liên tụclặp đi lặp lại từ khâu mua sắm các yếu tố đầu vào , sắp xếp và phân bố các yếu
tố đó, rồi tiến hành sản xuất ra sản phẩm, cuối cùng là tổ chức tiêu thụ sảnphẩm Nếu không thành công thì rõ ràng sẽ làm ngừng trệ quá trình sản xuấtkinh doanh và đương nhiên vốn của doanh nghiệp không vô hạn cho nên họkhông thể cứ sản xuất mà không tái tạo được nguồn lực Ở đây, tiêu thụ sảnphẩm sẽ đem lại sự tái tạo đó, bởi vì nó đảm bảo bù đắp các hao phí về nguồnlực đã bỏ ra để sản xuất và còn đem lại lợi nhuận, phục vụ cho việc tái sản xuất
và tái sản xuất mở rộng
1.4 Ý nghĩa hoạt động tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm giúp cho doanh nghiệp thực hiện được mục đích chính
là lợi nhuận Lợi nhuận là mục tiêu cơ bản, trước mắt và lâu dài chi phí cho mọi
Trang 3hoạt động của doanh nghiệp Lợi nhuận càng cao thì doanh nghiệp càng có điềukiện thực hiện các mục tiêu khác.
Tiêu thụ sản phẩm tạo điều kiện nâng cao vị thế của doanh nghiệp trênthương trường Thông qua hoạt động tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp có điềukiện giới thiệu hàng hoá với khách hàng, có cơ hội phục vụ khách hàng, tạo uytín cho doanh nghiệp và niềm tin của khách hàng vào sản phẩm Mặt khác bánđược nhiều sẽ giúp doanh nghiệp thu hút, lôi kéo được nhiều khách hàng quantâm đến, tăng uy tín, đảm bảo sự tồn tại và phát triển lâu dài trên thị trường củadoanh nghiệp
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm thành công tạo thế đứng vững chắc của doanhnghiệp trên thị trường trong sự cạnh tranh khốc liệt từ các đối thủ Cạnh tranhtrong cơ chế thị trường là tất yếu khách quan và cần thiết, cùng với sự phát triểncủa nền kinh tế - xã hội cạnh tranh ngày càng văn minh, tinh hoa và khốc liệthơn, doanh nghiệp nào không đáp ứng được yêu cầu của cạnh tranh thù sẽ bịđào thải và rút lui khỏi thị trường cạnh tranh Do đó phần lớn các biện pháp đểthích ứng với cạnh tranh trong các doanh nghiệp được tập trung chủ yếu ở khâutiêu thụ sản phẩm
2 Nội dung công tác tiêu thụ sản phẩm trong doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp phải tự giải quyết các vấn đề
cơ bản của sản xuất kinh doanh Việc tiêu thụ sản phẩm không đơn thần là bánnhững cái mình sản xuất ra mà nó được hiểu theo nghĩa rộng là tổng thể cácbiện pháp marketing nhằm mục tiêu thu được lợi nhuận cao nhất cho doanhnghiệp
Nội dung cơ bản của công tác tiêu thụ sản phẩm bao gồm
2.1 Nghiên cứu thị trường
Theo quan điểm marketing thì thị trường bao gồm tất cả các khách hàngtiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay ước muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng
Trang 4tham gia trao đổi để thoả mãn mong muốn Nghiên cứu thị trường là khâu đầutiên của hoạt động sản xuất kinh doanh, đó là tìm kiếm và khai thác các cơ hộikinh doanh xuất hiện trên thị trường nhằm xác định khả năng bán của một haymột nhóm hàng Trên cơ sở đó doanh nghiệp sẽ có các biện pháp nhằm thoảmãn tối đa nhu cầu của thị trường, nâng cao số lượng hàng hoá bán ra Thịtrường thích hợp với doanh nghiệp là thị trường phù hợp với mục đích và khảnăng của doanh nghiệp Đối với một doanh nghiệp thương mại hay doanhnghiệp sản xuất, việc xác định được đâu là phân khúc thị trường và đâu là thịtrường mục tiêu của doanh nghiệp mình giúp doanh nghiệp phát triển đúnghướng, đánh đúng điểm cần đánh Trong đó thị trường mục tiêu bao gồm nhữngkhách hàng mà người làm marketing muốn tập trung nỗ lực của mình vào đó vàphân khúc thị trường là hành động chia thị trường thành các nhóm nhỏ, mỗinhóm có những đặc điểm và nhu cầu riêng, còn các thành viên trong cùng mộtnhóm thì có các nhu cầu và mong muốn tương tự nhau Việc nghiên cứu thịtrường không bị giới hạn bởi thị trường hiện tại của doanh nghiệp mà còn mởrộng ra phân đoạn thị trường mới đầy triển vọng.
2.2 Lập kế hoạch tiêu thụ
Kết quả nghiên cứu thị trường nhằm tăng mức tiêu thụ và tần suất tiêu thụcủa thị trường hiện tại, đồng thời tìm kiếm khách hàng mới cho sản phẩm củamình
Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp: phân tích tình hình tiêu thụ củanăm trước, kỳ trước Đơn đặt hàng và các hợp đồng tiêu thụ đã được ký kết.Cân đối quan hệ cung cầu Dự đoán xu hướng thay đổi của thị hếu, sở thích,năng lực sản xuất của doanh nghiệp
Chương trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp không chỉ đề ra các mụctiêu bán hàng cần đạt được mà còn xác định trình tự thực hiện và những điềukiện để thực hiện những mục tiêu đó
Trang 5Kế hoạch tiêu thụ phải xác định được:
Thị trường tiêu thụ sản phẩm: thị trường truyền thống, thị trường mới, thịtrường tiềm năng
Danh mục các mặt hàng sản phẩm hoặc sản phẩm sẽ tiêu thụ trong kỳ kếhoạch
Chất lượng, quy cách và số lượng tiêu thụ
Tổng doanh thu từ tiêu thụ sản phẩm
2.3 Nội dung kế hoạch tiêu thụ sản phẩm
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp nhằm thoả mãn một số mụctiêu bao gồm thâm nhập thị trường mới, tăng sản lượng tối đa hoá lợi nhuận haygiải phóng hàng tồn…Những mục tiêu đó được cụ thể hoá những nhiệm vụ sau:Sản lượng hàng bán: từng mặt hàng được bán cho khách hàng nào, khốilượng bán là bao nhiêu, bán khi nào
Chi phí bán hàng: bao gồm các loại chi phí có liên quan đến việc bán hànghoá( bao gồm cả chi phí cho hoạt động marketing)
Lợi nhuận: Tính theo từng mặt hàng và tính cho toàn bộ sản phẩm
Tiến độ tiêu thụ sản phẩm: tiến độ tiêu thụ sản phẩm liên quan đến tiến độsản xuất và cung ứng vật tư, kỹ thuật của doanh nghiệp cho nên cần được hoạchđịnh chi tiết và tuân thủ nghiêm ngặt
Những điều kiện liên quan đến tiêu thụ sản phẩm: địa điểm giao hàng, hìnhthức thanh toán, phương thức vận chuyển, tỷ lệ chiết khấu…, tất cả được xácđịnh rõ ràng trong kế hoạch tiêu tiêu thụ sản phẩm
Dự kiến biến động ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm: thời tiết,các nhà cung ứng đầu vào, phương tiện vận chuyển, thị trường vốn… doanhnghiệp phải dự kiến trước những nguồn lực cần thiết cho hoạt động tiêu thụ sản
Trang 6phẩm, cũng như biến động có thể xảy ra, để từ đó có cách kế hoạch dự phòng
và biện pháp ứng phó trong trường hợp cần thiết
2.4 Tổ chức thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm
Doanh nghiệp cần tổ chức bộ máy tiêu thụ sản phẩm hoàn chỉnh và đượcchuyên môn hoá để tăng hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm Tuỳ theo quy
mô của thị trường, số lượng, chủng loại các mặt hàng, mục tiêu kinh doanh củadoanh nghiệp mà tổ chức bộ máy tiêu thụ phải thoả mãn các tiêu thức sau: gọnnhẹ, cơ cấu đơn giản, linh hoạt, thích ứng cao với yêu cầu của thị trường, phùhợp với mục tiêu đề ra , phát huy năng lực tập thể, hoạt động đồng nhất có hiệuquả
Hàng hoá sau khi sản xuất ra phải được tiêu thụ trên thị trường Một thực
tế cho thấy rằng hàng hoá không bán được không phải do nguyên nhân về chấtlượng và giá cả mà do khâu tổ chức tiêu thụ còn kém Do đó để thực hiện tốtcác hoạt động tiêu thụ doanh nghiệp phải chú ý đến các nội dung sau:
Trang 72.4.1 Tổ chức bộ máy thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm
2.4.1.1 Nhiệm vụ
- Tổ chức mạng lưới tiêu thụ, thực hiện các dịch vụ trước và sau kháchhàng
- Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện quá trình tiêu thụ sản phẩm
- Ký kết hợp đồng và theo dõi việc thực hiện quá trình tiêu thụ sản phẩm
- Giới thiệu, hướng dẫn sử dụng sản phẩm, nắm bắt các thông tin từ kháchhàng phản hồi giúp doanh nghiệp có các biện pháp thích ứng với các biến độngdiễn ra trên thị trường
- Đánh giá hiệu quả hoạt động của công tác tiêu thụ sản phẩm theo từnggiai đoạn
2.4.1.2 Bộ máy tiêu thụ sản phẩm
Bộ máy tiêu thụ sản phẩm phù hợp sẽ đảm bảo thực hiện nhiệm vụ và mụctiêu đề ra, phản ứng nhanh nhạy với sự thay đổi của thị trường, thúc đẩy quátrình sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế Các bộ phận phụ trách việc tiêu thụtừng khu vực thị trường, bộ phận phụ trách khâu bán hàng, vận chuyển, thựchiện quảng cáo theo dõi tiến độ tiêu thụ… được giao cho các công việc cụ thểtrong nhiệm vụ thực hiện tiêu thụ sản phẩm
2.4.2 Tổ chức bán hàng
Tuỳ theo điều kiện, đặc điểm sản xuất kinh doanh và đặc tính của sảnphẩm mà doanh nghiệp lựa chọn các hình thức bán hàng cho phù hợp như: bánhàng trực tiếp, bán hàng qua hợp đồng kinh tế, bán hàng qua điện thoai, mạnginternet…
Các bước tổ chức bán hàng:
Trang 8- Tiến hành vận chuyển sản phẩm hàng hoá tới các cửa hàng ở từng khuvực Riêng với các đại lý, tuỳ theo điều kiện trong hợp đồng đã ký mà vậnchuyển và tính toán.
- Bố trí trang thiết bi cần thiết trong cửa hàng, sắp xếp trình bày sản phẩmsao cho thuận tiện, hợp lý, tạo thuận lợi cho bán hàng Các đại lý cũng có nhữngcách làm nhằm mục đích trên theo quan điểm và khả năng của họ
- Tuyển chọn và đào tạo, bố trí người bán hàng – là những người tiếp xúctrực tiếp với khách hàng, nên có vai trò quan trọng trong việc tiêu thụ sảnphẩm Trong có chế thị trường phân phối hàng hoá ở các doanh nghiệp là hoạtđộng tác nghiệp mở đầu tạo điều kiện chủ động cho hoạt động bán hàng, đápứng tối đa nhu cầu của thị trường đảm bảo lợi nhuận tạo uy tín cho khách hàng
2.4.3 Hoạt động giao dịch, ký kết hợp đồng
Cùng với việc bán hàng tới tận tay người tiêu dùng, doanh nghiệp tìm kiếm
và thực hiện bán hàng qua hợp đồng tiêu thụ Hình thức bán hàng này tạo điềukiện cho doanh nghiệp bán sản phẩm với khối lượng lớn hơn nhiều và là cơ sởxây dựng quan hệ làm ăn lâu dài, thiết lập kênh khách hàng truyền thống Trướckhi ký hợp đồng doanh nghiệp phải xác định rõ mục tiêu yêu cầu của cuộc đàmphán Kết quả của một cuộc đàm phán thành công là hợp đồng tiêu thụ sảnphẩm được ký kết Đối tượng ký kết hợp đồng với doanh nghiệp là các đơn vị
và cá nhân có nhu cầu và đủ tư cách pháp nhân Bước tiếp theo của việc ký hợpđồng là tiến hành giao hàng và thanh toán theo các điều kiện đã thoả thuận tronghợp đồng Các hợp đồng thường sử dụng là: hợp đồng đại lý tiêu thụ, hợp đồnggia công, hợp đồng liên doanh, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, phân chia lợinhuận
Doanh nghiệp cần sắp xếp các công việc cần làm theo hợp đồng đã ký,theo dõi thực hiện, giải quyết kịp thời vướng mắc, đảm bảo uy tín của doanhnghiệp
Trang 92.4.4 Các biện pháp hỗ trợ tiêu thụ
Dịch vụ trước bán hàng: Gồm các dịch vụ giới thiệu sản phẩm, quảng cáo,chào hàng, tham gia hội chợ triển lãm, tham gia hội nghị khách hàng, tìm hiểucách bao gói phù hợp với thị hiếu của khách hàng và các dịch vụ kèm theo đểgợi mở nhu cầu của khách hàng mua và sử dụng sản phẩm của doanh nghiệpmình
Dịch vụ trong bán hàng: Góp phần thoả mãn tối đa nhu cầu của người muagồm giới thiệu sản phẩm, hướng dẫn lựa chọn hàng hoá, hướng dẫn sử dụnghàng hoá Dịch vụ trong khi bán hàng nhằm tác động vào tâm lý của người tiêudùng và sự tin cậy của doanh nghiệp
Dịch vụ sau bán hàng: là các hoạt động bao gồm việc bảo hành sản phẩm,
tư vấn Dịch vụ sau bán hàng nhằm nâng cao uy tín sản phẩm của doanh nghiệp,củng cố lòng tin của người tiêu dùng khi mua và sử dụng sản phẩm so doanhnghiệp sản xuất
2.4.5 Kiểm tra và đánh giá thực hiện kế hoạch tiêu thụ
Sau mỗi kỳ kinh doanh, doanh nghiệp đánh giá kết quả tiêu thụ đã đạtđược thông qua các chỉ tiêu sau:
Tổng sản lượng: là tổng số lượng các mặt hàng mà doanh nghiệp đã tiêu
Trang 10n
Doanh thu = Q i P i
i =1
Trong đó: Pi là giá bán mặt hàng thứ i
Đánh giá hiệu quả hoạt động tiêu thụ có thể dựa vào chỉ số doanh thu:
Chi phí bán hàng Doanh thu Chi phí bán hàng
3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm, trong đó có một sốyếu tố ảnh hưởng chủ yếu sau:
3.1 Nhân tố khách quan
Môi trường tác nghiệp
Các yếu tố thuộc về khách hàng: Trong nền kinh tế thị trường, khách hàng
là trung tâm của các hoạt động mua bán Nhu cầu tự nhiên, nhu cầu mongmuốn, mức tiêu thụ, thói quen, tập tính sinh hoạt, phong tục tập quán… củangười tiêu dùng là những yếu tố tác động trực tiếp đến số lượng sản phẩm hànghoá tiêu thụ Trong đó, thu nhập của người tiêu dùng có tính chất quyết địnhlượng hàng mua Thông thường thu nhập của người tiêu dùng tăng lên thì nhucầu mua sắm và tiêu dùng cũng tăng lên
Các yếu tố thuộc về đối thủ cạnh tranh
Hiểu được khách hàng của mình thôi thì chưa đủ, còn phải quan tâm đếnđối thủ cạnh tranh
Những đối thủ cạnh tranh được hiểu là một nhóm doanh nghiệp chào bánmột hay một nhóm sản phẩm có khả năng thay thế nhau Chúng ta có thể phânthành bốn mức độ cạnh tranh căn cứ vào mức độ thay thế của sản phẩm: cạnhtranh nhãn hiệu, cạnh tranh ngành, cạnh tranh công dụng, cạnh tranh chung
Trang 11Hiểu được các đối thủ cạnh tranh của mình là điều kiện cực kỳ quan trọng
để có thể thiết lập kế hoạch marketing có hiệu quả Doanh nghiệp phải thườngxuyên so sánh các sản phẩm của mình, giá cả, các kênh và hoạt động khuyếnmãi của mình đối với các đối thủ cạnh tranh Nhờ vậy mà doanh nghiệp có thểphát hiện được những lĩnh vực mà mình có ưu thế cạnh tranh hay bị bất lợitrong cạnh tranh Từ đó có thể đưa ra được những chính sách tiêu thụ có hiệuquả và đứng vững trước đòn tấn công của đối thủ cạnh tranh Như vậy, doanhnghiệp cần phải phát hiện ra được các đối thủ cạnh tranh của mình, chiến lượcmarketing của họ, xác định được các mục tiêu, đánh giá các mặt mạnh, mặt yếucủa đối thủ cạnh tranh Trên cơ sở đó doanh nghiệp hoàn thiện chiến lược củamình để dành ưu thế trước những hạn chế của đối thủ cạnh tranh, đồng thờitránh thâm nhập vào những nơi mà đối thủ mạnh Mặc dù vậy, doanh nghiệpvẫn phải bảo đảm cân đối những vấn đề khách hàng và đối thủ cạnh tranh vàđịnh hướng theo thị trường thực sự
Nhân tố về xã hội – môi trường gồm có môi trường kinh tế, môi trườngpháp luật chính trị, môi trường văn hoá - xã hội, môi trường tự nhiên, môitrường công nghệ… Cụ thể cho một số môi trường như sau:
Môi trường pháp luật, chính trị và các thể chế kinh tế: Các chính sáchthuế khoá, bảo trợ… của Nhà nước đối với sản xuất kinh doanh và tiêu thụ cũng
là một nguyên nhân tác động mạnh mẽ đến mức sản xuất kinh doanh và mứctiêu thụ Nhà nước sử dụng công cụ, chính sách tài chính như thuế và lãi suất đểkhuyến khích hay hạn chế việc sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng sản phẩm, hànghoá
Môi trường công nghệ
Với tốc độ phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, ngày càng cónhiều công nghệ mới phục vụ cho ngành sản xuất hàng hoá với những tính năng
kỹ thuật mới, hiện đại, cho năng suất cao.Và với sự canh tranh gay gắt trên thị
Trang 12trường, với những yêu ngày càng cao về chất lượng hàng hoá của người tiêudùng thì việc đổi mới công nghệ là điều tất yếu.
Trên đây là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất kinhdoanh nói chung và tiêu thụ sản phẩm nói riêng của doanh nghiệp Ngoài ra cònnhững yếu tố khác tác động gián tiếp đến quá trình tiêu thụ sản phẩm của doanhnghiệp như: đường lối chính sách của nhà nước, sự phát triển cơ sở hạ tầng giaothông, điện lực…
Đứng trước sự tác động của nhiều yếu tố, doanh nghiệp phải tính toán đầy
đủ các tác động của từng nhân tố và tìm ra cách giải quyết tối ưu Có như vậydoanh nghiệp mới đẩy mạnh được tiêu thụ sản phẩm, nâng cao hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp
3.2 Những yếu tố thuộc về doanh nghiệp
Hàng hoá tiêu dùng trong kỳ chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân như
số lượng, chất lượng sản phẩm hàng hoá, giá bán sản phẩm và việc tổ chức côngtác tiêu thụ
Số lượng sản phẩm, hàng hoá: Doanh nghiệp muốn đạt được khối lượngtiêu thụ cao thì trước hết phải có đủ sản phẩm hàng hoá để tiêu thụ
Khối lượng SP,
HH bán ra =
Số lượng SP,
HH tồn khođầu kỳ
+
Số lượng SP,HHmua vào hoặc
SX trong kỳ
-Số lượng SPtồn kho cuối kỳQua mối liên hệ trên, ta thấy rõ khối lượng sản phẩm, hàng hoá tiêu thụtrong kỳ phụ thuộc vào số lượng sản phẩm, hàng hoá tồn kho đầu kỳ, sản xuấttrong kỳ và số lượng sản phẩm tồn kho cuối kỳ Khi phân tích các nguyên nhânphải xem xét, so sánh số tồn kho đầu và cuối kỳ với lượng dự trữ cần thiếtthường xuyên, dự trữ thời vụ và lượng dự trữ bảo hiểm Có thể tính ra hệ sốquay vòng hàng tồn kho (hệ số quay kho)
Trang 13Hệ số quay kho =
Giá thành (giá vốn) SP,
HH tiêu thụGiá trị hàng tồn khoThời gian 1
Lượng sản phẩm, hàng tồn kho đầu kỳ hay cuối kỳ phản ánh tình hình tiêuthụ, nó cho biết khả năng và xu thế tiêu thụ của mỗi loại sản phẩm, hàng hoácủa doanh nghiệp Từ đó, quyết định mức sản xuất hoặc mua vào trong kỳ