Một mặt giảm được áp lực học hành, thi cử từ việc giảm đầu môn học, tránh được sự trùng lặp về nội dung; mặt khác nâng cao chất lượng dạy và học, phát huy được năng lực của học sinh tron
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1. Lời giới thiệu:
Tích hợp là “lắp ráp, nối kết các thành phần của một hệ thống để tạo nên một
hệ thống đồng bộ”(Từ điển Tiếng Việt online: http://tratu.soha.vn) Đó là kiểu tư duy nhận ra mối liên hệ giữa các yếu tố trong một hệ thống và thấy được mối quan
hệ giữa các vấn đề trong các lĩnh vực của đời sống
Trong dạy học, tích hợp đó là nối kết các đơn vị kiến thức trong cùng một bộ môn và các bộ môn với nhau trong một chương trình giáo dục “Dạy học tích hợp
là quá trình dạy học trong đó giáo viên tổ chức hoạt động để học sinh huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới từ đó phát triển những năng lực cần thiết” (Nhóm nghiên cứu Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, 2012) Khoa học và đời sống ngày càng phát triển làm cho khối lượng kiến thức trở nên khổng lồ theo cấp số nhân Hơn nữa, thời đại của công dân toàn cầu, con người cần nhiều kĩ năng khác nhau để phát triển bản thân nhằm giải quyết các vấn đề phức hợp từ thực tế Cho nên việc tích hợp các môn học, tích hợp nhiều nội dung của một môn học là một xu thế mà cũng là một yêu cầu Một mặt giảm được áp lực học hành, thi cử từ việc giảm đầu môn học, tránh được sự trùng lặp về nội dung; mặt khác nâng cao chất lượng dạy và học, phát huy được năng lực của học sinh trong việc lĩnh hội kiến thức kĩ năng và vận dụng chúng vào thực tế đời sống; tránh kiểu lĩnh hội kiến thức một cách thụ động, thiếu tính tích cực, năng động, sáng tạo ở học sinh (viết tắt là HS); nặng nề lí thuyết, hàn lâm trong nội dung học tập Đó là cách học “Không nhồi nhét kiến thức, không bắt nhớ máy móc, cần biết quên các cụ thể chi tiết, chỉ nhớ cách làm, cách xử lý vấn đề giúp học sinh tự học, tự khám phá, kích thích sáng tạo”, (PGS.TS Đỗ Ngọc Thống)
Chính vì lẽ đó, dạy học theo quan điểm tích hợp là một xu hướng tất yếu của dạy học hiện đại, là biện pháp để tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh
“Tích hợp là một tiến trình tư duy và nhận thức mang tính chất phát triển tự nhiên của con người trong mọi lĩnh vực hoạt động khi họ muốn hướng đến hiệu quả của chúng ( ), là vấn đề của nhận thức và tư duy của con người, là triết lý chi phối, định hướng và quyết định thực tiễn hoạt động của con người Lý thuyết tích hợp được ứng dụng vào giáo dục trở thành một quan điểm lý luận dạy học phổ biến trên thế giới hiện nay Xu hướng tích hợp còn được gọi là xu hướng liên hội đang được thực hiện trên nhiều bình diện, cấp độ trong quá trình phát triển các chương trình giáo dục (TS.Hoàng Thị Tuyết, Khoa Giáo dục Tiểu học - Đại học Sư phạm TP.HCM) Tóm lại, dạy học tích hợp là cách đào tạo theo định hướng năng lực, hướng tới hành động và giải quyết vấn đề (điều mà chúng ta đang hướng tới), thay
Trang 2vì định hướng nội dung như trước đây và hiện nay chúng ta đang làm Năm 2015,
đề án đổi mới toàn diện chương trình giáo dục chính là để nắm bắt cho xu thế đó
Thực tế giảng dạy trong trường phổ thông những năm gần đây, xu thế tích hợp thể hiện ở những cấp độ và hình thức khác nhau Trong môn Ngữ văn, đó là ba phân môn không còn tách riêng biệt thành ba cuốn sách giáo khoa (viết tắt là SGK)
mà tích hợp thành một cuốn là “Ngữ văn Trong các cuộc thi, có thi soạn giáo án điiện tử e-Learning, soạn giáo án tích hợp…dành cho giáo viên; thi Khoa học Tự nhiên, Khoa học Xã hội, vận dụng kiến thức liên môn giải quyết tình huống thực tiễn, các cuộc thi Olympic và trực tuyến khác…dành cho học sinh Tích hợp còn được đề cập trong các đợt bồi dưỡng cán bộ quản lí và giáo viên hàng năm, trong các cuộc hội thảo giáo dục của các cơ quan chuyên môn và các chuyên gia… Như vậy, có thể thấy dạy học tích hợp là xu thế của giáo dục thế giới hình thành từ đầu thế kỉ XX, đã và đang được áp dụng trong cả dạy học phổ thông & chuyên nghiệp, nhất là dạy nghề ở Việt nam Gần đây, Bộ GD và ĐT thực hiện “Hội thảo: Dạy học tích hợp- dạy học phân hóa trong chương trình phổ thông” Trong đó hội thảo đã chỉ ra “những khuyết tật, trì trệ của nền giáo dục Việt Nam như chương trình - sách giáo khoa nặng về truyền thụ kiến thức, thiếu thực hành, không chú trọng hình thành năng lực cá nhân, thiếu môn học cốt lõi để hình thành nhân cách, kỹ năng sống hội nhập trong xã hội hiện đại” Các chuyên gia nhận định: “Để đạt được những thành tựu nổi bật về giáo dục, các quốc gia phát triển trên thế giới đều đi theo xu hướng dạy học tích hợp và phân hóa, coi việc phát triển năng lực người học là tiêu chí hàng đầu” Xu hướng dạy học này vừa khắc phục được tình trạng quá tải, nhồi nhét kiến thức hiện nay đồng thời “còn giảm đầu môn học, tránh sự trùng lắp về nội dung, giảm thời lượng học tập nhưng vẫn đảm bảo chất lượng đầu ra”. ( http://www.sggp.org.vn/giaoduc/2012/12/306509/ ) Để thích ứng với thời bùng nổ công nghệ số, những tiến bộ vượt bậc về khoa học kỹ thuật, đòi hỏi con người hiện đại phải có tư duy năng động, giải quyết mọi vấn đề theo hướng tổng thể, không giới hạn trong khuôn khổ của một lĩnh vực hay khoa học nào
Như vậy, qua các thông tin được tiếp cận, những kiến thức được bồi dưỡng, tôi đã triển khai thực hiện dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn 9 Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy việc thực hiện còn những hạn chế nhất định Mà nguyên nhân phần lớn ở nội dung tích hợp trong sách giáo khoa chưa được nhiều; bản thân giáo viên được đào tạo từ phổ thông đến chuyên nghiệp còn nặng về lí thuyết, học lệch nên nền tảng kiến thức cốt lõi phổ thông của các bộ môn liên quan bị hổng Hơn nữa, tôi cũng nhận thấy, cùng với xu thế dạy học tích hợp và tích cực là phương pháp kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực đòi hỏi nội dung tích hợp
cần được thực hiện thường xuyên và rõ ràng hơn qua mỗi bài học Vì vậy, tôi đã
vừa thực hiện dạy học theo nội dung tích hợp vừa rút ra những kinh nghiệm cho bản thân qua những năm giảng dạy, mở rộng, nâng cao nội dung tích hợp cho bộ môn Ngữ văn 9 mà không làm mất đặc trưng bộ môn mang tính nghệ thuật này.
Trang 32 Tên sáng kiến: DẠY HỌC TÍCH HỢP TRONG MÔN NGỮ VĂN 9
3 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
- “Dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn 9” được áp dụng trong dạy học môn Ngữ văn 9 cấp THCS nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
- Sáng kiến hướng đến nội dung tích hợp ở mức độ cao hơn, rộng hơn những gì đã được Bộ GD và ĐT triển khai trong chương trình và dựa trên quan điểm tích hợp
của giáo dục Việt Nam Dù nội hàm tích hợp được hiểu trong sáng kiến này là nội
dung dạy học nhưng cũng có thể hiểu đó như là một phương pháp dạy học, một cách dạy học theo định hướng năng lực người học
4 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Sáng kiến được áp
từ năm học 2011-2012
5 Mô tả bản chất của sáng kiến:
5.1 Về nội dung của sáng kiến:
5.1.1.Quan điểm tích hợp và các hình thức tích hợp:
Dạy học tích hợp được biết đến từ đầu thế kỉ XX và có ba quan điểm tích hợp làm cơ sở cho các cách tiếp cận tích hợp khác nhau Đó là:
Một là, tích hợp đa môn (The Multidisciplinary Integration) Tích hợp đa
môn được thực hiện theo cách tổ chức các chuẩn từ các môn học xoay quanh một chủ đề, đề tài, dự án, tạo điều kiện cho người học vận dụng tổng hợp những kiến thức của các môn học có liên quan Có nhiều phương án/hình thức khác nhau để tạo nên một chương trình tích hợp đa môn, bao gồm:
- Tích hợp trong nội bộ môn học (Intradisciplinary Approach): Theo phương
án này, các môn, các phân môn vẫn được học riêng rẽ, nhưng trong quá trình giảng dạy, tích hợp được thực hiện thông qua việc loại bỏ những nội dung trùng lắp, khai thác sự hỗ trợ giữa các phân môn, giữa các phần trong một phân môn/môn học Trong môn Ngữ văn để khai thác một văn bản, người học tất cả những gì có liên quan như các văn bản cùng chủ đề, đề tài; cùng tác giả, cùng thể loại, cùng hoàn cảnh lịch sử sáng tác, cùng phong cách sáng tác …Ngày nay có một phân nhánh nghiên cứu trong là Văn học so sánh bắt nguồn từ sự tích hợp này.Thông qua kiểu tích hợp nội bộ môn học, người học đạt được hiểu biết về các mối quan hệ giữa những phân môn khác nhau và mối quan hệ giữa chúng với thế giới
-Tích hợp kiểu lồng ghép (Fusion) Theo cách tích hợp này, các kỹ năng,
kiến thức và thái độ được lồng ghép vào chương trình các môn học thường ngày Việc tích hợp các nội dung môi trường, dân số, tư tưởng Hồ Chí Minh, kĩ năng sống, hướng nghiệp, pháp luật…trong các cuộc thi gần đây là hình thức lồng ghép Ngoài ra trong một buổi học, tiết học, cuộc thi để đạt được bộ 3 mục tiêu kiến thức
Trang 4– kĩ năng- thái độ; hình thành kĩ năng vi tính & kĩ năng khai thác Internet cũng là những hình thức tích hợp lồng ghép
-Học tập dịch vụ (Service Learning) Học tập dịch vụ liên quan đến các dự
án cộng đồng (như y tế, giáo dục, văn hóa, kinh tế, môi trường, pháp luật…) được thực hiện trong suốt thời gian học ở lớp Người ta nhận thấy học tập dịch vụ giúp nâng cao mức điểm trung bình của các HS tham gia, gắn liền thực tế cộng đồng nên tỉ lệ bỏ học giảm, điểm số tăng, tỉ lệ học nghề tăng Các chương trình như thế nuôi dưỡng cho HS thái độ gắn kết tham gia với công đồng, mài sắc các kĩ năng sống (Living skills) và chuẩn bị cho các em vào đời để làm việc Trong chương trình giáo dục hiện nay của Việt Nam cũng có một số tiết nhất định về hoạt động ngoại khóa, các lớp học kĩ năng sống do các tổ chức giáo dục thực hiện…
- Các Góc học tập/ Các môn học song hành (Learning Centers/Parallel
Disciplines).Đây là một cách thức tích hợp phổ biến trong đó một đề tài hoặc một chủ đề được đưa qua lăng kính cùa vài lĩnh vực môn học khác nhau Ở tiểu học,
HS thường trải nghiệm ở các góc học tập trong lớp Với mỗi chủ đề, ở mỗi góc học tập có một hoạt động cho phép HS tìm hiểu từ góc nhìn của một môn khác nhau như :Toán, Ngôn ngữ, Lịch sử, Đạo đức Khi HS di chuyển qua các góc học tập để hoàn thành những hoạt động, họ lĩnh hội khái niệm về chủ đề dưới lăng kính của nhiều môn học
- Các bài học dựa vào chủ đề (Theme-Based Units) Đó là mức độ cao hơn
của dạy song hành, bằng cách lập ra một đơn vị bài học đa môn với tên gọi là “Đơn
vị bài học dựa vào chủ đề” Thường có hơn ba lĩnh vực môn học liên quan đến việc học/nghiên cứu một đơn vị bài học theo chủ đề và bài học này thường được kết thúc bằng một hoạt động đạt đến mức tích hợp cao nhất, ví dụ như một sản phẩm hay bài thu hoạch nào đó Đơn vị bài học (units) kéo dài trong dăm ba tuần, được tiến hành ở một khối lớp hoặc toàn trường có thể tham gia vào Nó có thể độc lập với kế hoạch học tập thường xuyên Hình thức này thường gặp ở dạng học tập đi thực tế nhưng ít gặp ở Chương trình dạy học của Việt nam
Hai là, tích hợp liên môn (Interdisciplinary Integration) Theo cách tiếp cận
tích hợp liên môn, giáo viên tổ chức chương trình học tập xoay quanh các nội dung học tập chung: các chủ đề, các khái niệm và kĩ năng liên môn Họ kết nối các nội dung nằm trong các môn học để nhấn mạnh các khái niệm và kỹ năng liên môn Trong môn Ngữ văn, để khai thác một văn bản, người ta có thể dùng kiến thức Lịch sử, Địa lý, GDCD, Âm nhạc, Mĩ thuật, Anh văn…thậm chí là các môn Khoa học tự nhiên khác để tìm hiểu Ngoài ra, tích hợp liên môn còn được hiểu như là phương án trong đó nhiều môn học liên quan được kết lại thành một môn học mới với một hệ thống những chủ đề nhất định xuyên suốt qua nhiều cấp lớp Sắp tới đây, đổi mới sách giáo khoa chúng ta sẽ có bộ môn “Khoa học tự nhiên” liên môn của các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học, Công nghệ; môn “Khoa học xã hội” liên môn của các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, GDCD
Ba là, tích hợp xuyên môn (Transdisciplinary Integration) Trong cách tiếp
cận tích hợp xuyên môn, giáo viên tổ chức chương trình học tập xoay quanh các
Trang 5vấn đề gắn liền thực tiễn Học sinh phát triển các kĩ năng sống khi họ áp dụng các
kĩ năng môn học và liên môn vào ngữ cảnh thực tế của cuộc sống Hai con đường dẫn đến tích hợp xuyên môn: học tập theo dự án (project-based learning) và thương lượng chương trình học (negotiating the curriculum) Trong đó học tập theo dự án, học sinh được cho cơ hội giải quyết một vấn đề của địa phương Qua mỗi đề tài, học sinh tìm tòi, khám phá dưới sự tổ chức của giáo viên, cùng chia sẻ, trao đổi và trưng bày kết quả học tập Còn thương lượng chương trình học (negotiating the curriculum), những vấn đề/câu hỏi của học sinh đặt ra sẽ hình thành nên cơ sở của chương trình học, thời gian thường dài
5.1.2 Tích hợp trong môn Ngữ văn 9:
Trong môn Ngữ văn 9, nội dung tích hợp thể hiện: tích hợp ngang (giữa các phân môn với nhau), tích hợp dọc (giữa các cấp học) & tích hợp liên môn (các môn ngoài Văn mà tôi gọi là tích hợp rộng) Cụ thể:
5.1.2.1.Tích hợp ngang :
Là tích hợp giữa ba phân môn Văn - Tiếng Việt -Tập làm văn trong một cuốn
có tên chung là “Ngữ văn” Trước đây, ba phân môn này được tách thành ba cuốn SGK khác nhau Mỗi một đơn vị bài học sẽ khai thác ba phân môn này trong một chỉnh thể thống nhất xen kẽ, có liên quan đến nhau và nối kết với các kiến thức liên của khối/cấp khác Phân môn Văn khai thác các văn bản văn học bằng kiến thức Tiếng Việt và Tập làm văn; phân môn Tiếng Việt dùng ngữ liệu từ các văn bản để hình thành kiến thức & rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ; phân môn Tập làm văn dùng hình thành kiến thức về các kiểu văn bản và rèn luyện kĩ năng tạo lập văn bản qua các văn bản Văn chương Ví dụ, một tác phẩm truyện ngắn sẽ được tìm hiểu bằng những hiểu biết về ngữ nghĩa, từ vựng, phép tu từ trong Tiếng Việt cùng kiến thức về ngôi kể, nhân vật, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, các hình thức trần thuật của phần Tập làm văn Và việc hình thành kiến thức Tiếng Việt sẽ lấy mẫu từ văn bản, rèn luyện kĩ năng tạo lập văn bản qua các kiểu văn bản đã học ở phần Văn
Tuy vậy, cùng một cấp học, môn Ngữ văn 9 cũng có thể hiểu tích hợp ngang
là tập hợp các yếu tố có một điểm chung nào đó như: cùng một chủ đề hay đề tài, cùng tác giả, cùng hoàn cảnh sáng tác, cùng không gian- thời gian văn hóa, …hoặc nội dung kiến thức tiếng Việt Dựa vào điểm này, tôi đã xây dựng thành các chuyên
đề thực hiện trong giảng dạy tự chọn và bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng Học sinh giỏi
Ví dụ 1: Học sinh sử dụng kiến thức Tiếng Việt và Tập làm văn để tìm hiểu
và rèn luyện các nhóm văn bản sau:
- Văn bản của tác giả Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh (trong chương trình
THCS): Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, Những trò lố hay là Varen & Phan
Trang 6Bội Châu, Rằm tháng Giêng, Ngắm trăng, Cảnh khuya, Tức cảnh Pác Bó, Đi đường, Thuế máu để thấy mỗi tác phẩm được sáng tác trong một hoàn cảnh khác
nhau, mục đích khác nhau nhưng đều mang đặc điểm chung của một phong cách nghệ thuật hóm hỉnh mà không kém phần trí tuệ, một phong thái ung dung, luôn hướng đến ánh sáng lạc quan
-Văn bản về Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh (trong chương trình THCS):
Đêm nay Bác không ngủ (Minh Huệ), Đức tính giản dị của Bác Hồ (Đặng Thai Mai), Viếng lăng Bác (Viễn Phương), Phong cách Hồ Chí Minh (Lê Anh Trà) để
thấy được điểm chung về một vị lãnh tụ thiên tài, một tâm hồn thanh cao và tấm lòng tôn kính của mọi người dành cho Bác
-Văn bản có yếu tố chiến tranh: Đồng chí (Chính Hữu), Bài thơ về tiểu đội
xe không kính (Phạm Tiến Duật), Bếp lửa (Bằng Việt), Ánh trăng (Nguyễn Duy), Làng (Kim Lân), Lặng lẽ Sa Pa (Nguyễn Thành Long), Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng), Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê) để thấy chiến tranh được
thể hiện như thế nào qua mỗi tác phẩm và ảnh hưởng của nó đến mỗi nhân vật nói riêng và cuộc sống nói chung
-Văn bản về tình cảm gia đình: Nói với con (Y Phương), Chiếc lược ngà
(Nguyễn Quang Sáng), Bếp lửa (Bằng Việt), Mây và sóng (R.Ta go) để thấy được
vai trò ý nghĩa của tình cảm gia đình và nghệ thuật thể hiện nó của các tác giả
-Các tác phẩm trung đại: Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ),
Truyện Kiều (Nguyễn Du), Truyện Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu) để thấy
được số phận, phẩm chất của các nhân vật, đồng thời là đặc trưng nghệ thuật trung đại trong việc xây dựng nhân vật như: cốt truyện thường dựa vào tích có sẵn hay thực tế lịch sử, ngôn ngữ khuôn mẫu ước lệ, nhân vật thiên về hành động hơn là miêu tả nội tâm, kết cấu theo hướng có hậu, ngôi kể số 3 thường bình luận khi kết thúc truyện
Ví dụ 2: Tích hợp kiến thức phần Văn và Tiếng Việt để tìm hiểu:
- Đặc trưng các tác phẩm thuộc truyện ngắn như :cốt truyện, nhân vật, sự kiện, tình huống, ngôi kể, đối thoại, miêu tả nội tâm, nghị luận, biểu cảm
- Văn nghị luận: Nghị luận xã hội (sự việc hiện tượng đời sống và tư tưởng đạo lí), nghị luận văn học (về tác phẩm truyện và thơ), trong đó tích hợp với những văn bản đã học nhằm củng cố lại kiến thức và kĩ năng
Ví dụ 3: Sử dụng các nội dung từ các văn bản văn chương để tìm hiểu và
vận dụng tìm hiểu một tình huống thực tế thuộc các chuyên đề:
-Chuyên đề về hội thoại: Các thành phần biệt lập, các phương châm hội thoại…
-Chuyên đề từ vựng: Sự phát triển từ vựng, nghĩa tường minh và hàm ý, thuật ngữ
Trang 75.1.2.2 Tích hợp dọc:
Tích hợp dọc là cách vận dụng quan điểm tích hợp trong cùng một phân môn/bộ môn với nhau ở các cấp độ:
- Giữa các phân môn với nhau trong cùng một khối (lớp), tức là bài/nhóm bài trước với bài/nhóm bài sau; hoặc khác khối và khác cấp học theo chiều dọc từ trên xuống
- Rộng hơn chính là tích hợp nội dung của bộ môn đó theo các cấp học tạo thành hình xoáy trôn ốc (hay hình nón) mà lớp sau/ cấp sau luôn nâng cao hơn lớp trước/ cấp trước Theo các chuyên gia, chương trình của Bộ GD-ĐT hiện tại có tích hợp như thế nhưng chưa thực sự rõ ràng và liên tục
Về một khía cạnh nào đó, tích hợp theo chiều dọc là hệ thống hóa các kiến thức có liên quan với nhau sao cho HS có thể nắm bắt vấn đề một cách hệ thống Khi thực hiện tích hợp dọc, các kiến thức được nhắc lại, được liên hệ móc nối với nhau giúp HS khắc sâu, nhớ lâu nội dung bài học mà ta thường gặp trong các bài tổng kết và sơ đồ hóa bằng Phương pháp dạy học (viết tắt là PPDH) sử dụng Bản
đồ tư duy (Mindmap) Trong chương trình Ngữ văn 9 có nhiều bài tổng kết, hệ thống hóa lại kiến thức của cả cấp học Chỉ riêng phần Văn đã có một số bài tổng kết cả cấp học về tác phẩm truyện, thơ, văn học nước ngoài, văn bản nhật dụng Đó
là dạng tích hợp cùng khối Chỉ riêng phần tác phẩm truyện đã được tích hợp theo chiều xoáy trôn ốc từ các tác phẩm truyện dân gian được học ở lớp 6 (với các truyện cười, ngụ ngôn, cổ tích, truyền thuyết ngắn gọn quen thuộc) đến các tác phẩm hiện đại (có độ dài và độ khó tăng dần) ở các lớp tiếp theo chiều lịch sử văn học Ở mức độ rộng hơn là tích hợp giữa các cấp học với nhau Bậc THCS luôn kế thừa và nâng cao những kiến thức đã học ở Tiểu học Học sinh Tiểu học được làm quen với kiểu văn bản miêu tả và kể chuyện đơn giản, vốn quen thuộc và dễ tiếp nhận, đến các kiểu văn bản biểu cảm, nghị luận, thuyết minh và điều hành, vốn khó hơn cùng việc nâng cao ở văn tự sự ở cấp THCS
Nhận thức được vấn đề này cùng với việc nắm rõ chương trình môn Ngữ văn khối THCS, tôi đã lưu ý thực hiện nội dung tích hợp, luôn cho học sinh nhắc lại mỗi khi cần thiết, phù hợp Cụ thể:
Phần Văn: Vì các văn bản đều thuộc một thể loại nào đó, ra đời trong một
hoàn cảnh nhất định Cho nên khi tìm hiểu, tôi đều tích hợp về thủ pháp nghệ thuật đặc trưng thể loại, kiểu văn bản, đề tài, chủ đề đã học Truyện dân gian tích hợp các loại truyện ngụ ngôn, truyện cười, truyền thuyết, cổ tích lớp 6 với truyện hiện đại với các thể loại như truyện ngắn, tiểu thuyết, kí dàn trải từ lớp 6-9; truyện trung đại là truyện thơ Nôm, truyện truyền kì, tiểu thuyết chương hồi lớp 9 với các tác phẩm cùng loại thể tự sự khác, các thể thơ Đường luật với thể thơ dân tộc như lục bát, song thất lục bát ; các thể văn nghị luận trung đại như cáo, hịch, chiếu, biểu ở lớp 8 với nghị luận hiện đại thuộc lớp 7, 9 ; thơ 5 chữ,7 chữ, 8 chữ với thơ lục bát, thơ tự do được học giữa các lớp với thơ Đường luật thuộc lớp
Trang 87,8 Ví dụ như văn bản nghị luận, thuộc loại văn bản nhật dụng như “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới” của Vũ Khoan lớp 9, học sinh được so sánh với “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn lớp để thấy sự giống nhau về các yếu tố nghị luận, nghệ thuật lập luận, nhưng khác nhau về ngôn ngữ, cách sử dụng dẫn chứng, giọng điệu…
Phần Tiếng Việt: Tích hợp các kiến thức về từ vựng, ngữ pháp được tích
hợp giữa các lớp với nhau Các phương châm hội thoại, các thành phần biệt lập ở lớp 9 cần tích hợp với kiến thức về nghĩa của từ lớp 6, mục đích nói lớp 8, cấu tạo câu lớp 6 và 8…
Phần Tập làm văn chú trọng đến các kĩ năng tạo lập 6 kiểu văn bản, trong
đó có tự sự (lớp 6,8,9) và nghị luận (lớp 7,8,9) được học nhiều hơn cả, lớp sau nâng cao hơn lớp trước trên cở sở nhắc lại, xâu chuỗi
5.1.2.3 Tích hợp rộng (tích hợp liên môn): Nếu gọi tích hợp ngang là trục
hoành thì tích hợp dọc là trục tung Nhưng bộ môn Ngữ văn nói chung và các lĩnh vực khoa học khác luôn nằm trong mối quan hệ biện chứng với nhau Không có môn nào là tách rời, đứng biệt lập Vì vậy còn một trục khác tạo thành một hướng
tích hợp khác như trục thứ 3 tạo thành hệ tọa độ của không gian 3 chiều là tích hợp
liên môn và thực tế đời sống Tôi gọi đó là tích hợp rộng vì chữ “liên môn” chỉ bó
hẹp trong phạm vi các môn liên quan trong trường phổ thông, chưa bao quát được thực tiễn vốn biến đổi và sinh động vô cùng Do đó tích hợp rộng giúp HS hình thành và rèn luyện kĩ năng và thói quen khả năng kết nối dựa trên mối quan hệ phổ biến biện chứng giữa các sự vật hiện tượng Từ đó có cái nhìn đa diện, toàn vẹn, sâu sắc trước mỗi vấn đề và giải quyết nó hiệu quả hơn Đó cũng có thể coi là một phương pháp đào tạo người học theo định hướng năng lực, hướng đến giải quyết các vấn đề thực tiễn bằng kiến thức và kĩ năng phức hợp Trong quá trình giảng dạy, kiến thức của các bộ môn liên quan như Lịch sử, Địa lí, GDCD, Âm nhạc, Mĩ thuật, Anh văn cùng với các kiến thức về khoa học, nghệ thuật và đời sống được tích hợp linh hoạt, phù hợp với thời lượng, nội dung học tập Đây là nội dung tích hợp rộng, có nhiều mối liên hệ theo nhiều hướng khác nhau, đòi hỏi giáo viên phải chủ động, linh hoạt trong xử lí nội dung, có hiểu biết rộng, kĩ năng kết nối liên tưởng độc đáo, sáng tạo, làm cho hoạt động dạy học đỡ nhàm chán, đơn điệu Điều
đó không chỉ giúp HS củng cố kiến thức bài học mà còn mở rộng biên độ tư duy
Để giải quyết được nội dung tích hợp và đảm bảo thời lượng chương trình, tôi luôn chọn những đơn vị bài học mà tôi cho là quan trọng, mang đặc trưng bộ môn, có thể gọi là kiến thức cốt lỗi, thường được học thành nhiều tiết, hay được khai thác trong các đề kiểm tra, kiểm định để thực hiện Đồng thời những nội dung khác có thể giảm tải, lướt qua
5.1.2.4 Một số nội dung tích hợp trong môn Ngữ văn 9:
Trang 9Từ nội dung tích hợp theo 3 hướng như trên, tôi đã xây dựng cho mình một bảng những nội dung có thể tích hợp vào những đơn vị bài học mà tôi cho là quan trọng Cụ thể như sau:
Phần Văn:
Tiết
theo
PPC
T
TÊN BÀI
HỌC
NỘI DUNG CÓ THỂ TÍCH HỢP
Tiết
1,2:
Phong cách
Hồ Chí Minh
Các văn bản của tác giả Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh
và của các tác giả khác viết về Bác, các mốc lịch sử hoạt động cách mạng, các câu chuyện về cuộc đời hoạt động cách mạng trong cuốn” Vừa đi vừa kể chuyện” của T Lan, phong trào học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đức tính giản dị, khiêm tốn, tinh thần tự học, lòng yêu nước, yêu thương con người, làm việc có kế hoạch, tình đoàn kết hữu nghị…mà HS học trong môn GDCD, các tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng khác về Hồ Chí Minh như bài thơ, bức tranh, bài hát, bộ phim…
Tiết
16,17
:
Chuyện người
con gái Nam
Xương
Truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”, bài thơ “Lại viếng đền Vũ thị”, vở kịch “Chiếc bóng oan khiên”, di tích lịch
sử văn hóa đền Vũ Nương, thời kì lịch sử nội chiến Nam Bắc triều, thể loại truyền kì trong văn học Trung Quốc như “Liêu trai chí chị”, tập “Truyền kì mạn lục”, lối hành văn biền ngẫu trong truyện trung đại, ngôn ngữ dùng điển tích trong thơ văn Trung Quốc…Vấn đề chiến tranh, giữ gìn hạnh phúc gia đình, sự tha thứ độ lượng, vai trò người phụ nữ trong gia đình, quan hệ mẹ chồng nàng dâu, cách nhìn của con cái về cha mẹ…
Tiết
26,27
Tiết
28
Tiết
31:
Tiết
36,37
:
Truyện Kiều
của Nguyễn
Du
Chị em Thuý
Kiều
Cảnh ngày
xuân
Kiều ở lầu
Ngưng Bích
Đặc điểm thời đại lịch sử Nguyễn Du sống từ thế kỉ XVIII-XIX, các địa danh nơi Nguyễn Du từng sống như
Hà Tĩnh, Thái Bình, Thăng Long, Trung Quốc, nguồn gốc “Kim Vân Kiều truyện” và danh phận Thanh tâm tài nhân, thể thơ lục bát và quá trình hình thành chữ Nôm, các tác phẩm nghệ thuật như bài thơ, bức tranh, bài hát,
vở kịch, truyện kể, câu đối, bắt nguồn từ tác phẩm và các hình thức nghệ thuật khác như: vịnh, tập, lẩy, bói, ngâm…, ảnh hưởng của Truyện Kiều với đời sống qua các nhân vật điển hình như Tú bà, Mã Giám Sinh, Thúy
Trang 10Vân, Thúy Kiều, Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến, Đạm Tiên,Từ Hải… câu thơ trở thành câu ca dao tục ngữ dân gian…, các tác phẩm thơ trung đại với ngôn ngữ ước lệ, giầu điển cố điển tích, các địa danh trên đất Trung Quốc như sông Tiền Đường, Lâm Tri, Vô Tích, hình ảnh lầu xanh, lầu hồng, chuẩn đẹp của người phụ nữ trong xã hội hiện đại, người phụ nữ Việt Nam trong nạn buôn bán người hiện nay…
Tiết
45:
Đồng chí Hoàn cảnh lịch sử thời kì chống Pháp 1946-1954, những
bài thơ cùng đề tài cùng thời kì như “Nhớ” (Hồng Nguyên), cùng tác giả: “Ngày về”, hoàn cảnh sáng tác bài thơ, tranh ảnh minh họa, chiến thắng Khoan Bộ trong chiến dịch Việt Bắc 1940
Tiết
46:
Bài thơ về tiểu
đội xe không
kính
So sánh với “Đồng chí” về nội dung (tình đồng đội, tinh thần lạc quan, mục đích chiến đấu, điều kiện chiến đấu…) và nghệ thuật (ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu, phép tu từ…) và các tác phẩm cùng chủ đề như “Những ngôi sao xa xôi” hay có liên quan đến đề tài chiến tranh như: Chiếc lược ngà, Làng, Bếp lửa, Ánh trăng…, các hình ảnh, bài thơ, bộ phim về đường Trường Sơn như: Khoảng trời hố bom (Lâm Thị Mỹ Dạ), Gửi em cô thanh niên xung phong, Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây (Phạm Tiến Duật), phim “Ngã ba Đồng Lộc” của Lưu Trọng Ninh
Tiết
51,52
:
Đoàn thuyền
đánh cá
Hoàn cảnh lịch sử đất nước những năm miền Bắc xây dựng CNXH, vài nét địa lí về vùng mỏ Quảng Ninh, những tác giả và tác phẩm nổi tiếng trong phong trào Thơ mới, sự chuyển biến trong cảm hứng thơ của Huy Cận qua chủ đề bài thơ, những tác giả cùng quê Hà Tĩnh được học trong chương trình THCS
Tiết
56,
57:
Bếp lửa Hoàn cảnh lịch sử những năm chống Mĩ, tác động của
chiến tranh đối với cuộc sống hai bà cháu, tình cảm gia đình trong các tác phẩm cùng đề tài: Mây và sóng (tình mẫu tử), Chiếc lược ngà (tình cha con), Nói với con (tình cha con)
Tiết
61:
Ánh trăng Hoàn cảnh lịch sử trước và sau năm 1975, một số tác
phẩm tiêu biểu của Nguyễn Duy như: Ngồi buồn nhớ mẹ
ta xưa, Đò Lèn, Nhìn từ xa đất nước…, thể thơ 5 chữ, nghệ thuật tự sự đặc biệt
Tiết
62,
thời kì :“Đồng chí”, cùng đề tài “Lòng yêu nước” (I